|
|
|
|
|
|
|
MICHAEL LEWIS:
Successful People Like Me Were Actually Just Really Lucky
|
MICHAEL LEWIS: Những
người thành công như tôi thực ra chỉ là may mắn
|
|
Julia La Roche
|
Julia La Roche
|
|
Jun. 5, 2012
|
5/6/2012
|
|
|
|
|
Michael Lewis says that he's really, really lucky.
He graduated from Princeton University with a degree in
art history and soon after enrolled in graduate school at the London School
of Economics.
Lewis eventually landed a job on Wall Street at Salomon
Brothers and would later become a very famous, award-winning author
("Liar's Poker," "The Blind Side" and
"Moneyball").
However, during his remarks at Princeton's Baccalaureate
he said that all his fame and fortune are a matter of luck and the same goes
for other successful people.
|
Michael Lewis nói rằng ông thực sự, thực sự may mắn.
Ông tốt nghiệp Đại học Princeton về lịch sử nghệ thuật và
ngay sau đó ghi danh theo học cao học tại Trường Kinh tế London.
Lewis cuối cùng tìm công việc ở phố Wall tại Salomon
Brothers và sau đó sẽ trở thành một tác giả rất nổi tiếng từng đoạt giải
thưởng ("Trò Poker của kẻ dối trá," "Bên mù" và "Kim
cầu").
Tuy nhiên, trong phát biểu của mình tại lễ tốt nghiệp Tú
tài Princeton, ông nói rằng toàn bộ danh tiếng và sản nghiệp của ông chỉ là vấn
đề may mắn và những người thành công khác cũng thế thôi.
|
|
These are two of his key points.
He said that
success is "always rationalized" because successful people don't
want to acknowledge that they were actually just really lucky. What's more is, the world doesn't want to
realize that either.
|
Đây là những điểm chính của ông.
Ông cho biết sự
thành công đó là "luôn được hợp lý hóa" bởi vì những người thành
công không muốn thừa nhận rằng họ thực sự chỉ là người may mắn. Ngoài ra, thế
giới cũng không muốn chấp nhận điều đó.
|
|
Lewis told the Princeton graduates that if
they are successful then they should recognize that they also were very
lucky. That said, "You owe a
debt, not just to your Gods. You owe a
debt to the unlucky."
Here's his speech he gave. [via Princeton University]
|
Lewis nói với
các sinh viên tốt nghiệp Princeton rằng nếu họ thành công thì họ nên nhận ra
rằng họ cũng đã rất may mắn. Điều đó nói rằng, "Bạn nợ một món nợ, không
nợ vị thần may mắn của bạn mà là nợ
một món nợ với những kẻ không may mắn."
Đây là bài phát biểu của mình ông đã đọc tại
Đại học Princeton.
|
|
"Don't Eat
Fortune's Cookie"
Michael Lewis
June 3, 2012
Thank you. President Tilghman. Trustees and Friends.
Parents of the Class of 2012. Above all, Members of the Princeton Class of
2012. Give yourself a round of applause. The next time you look around a church
and see everyone dressed in black it'll be awkward to cheer. Enjoy the
moment.
|
Đừng xơi chiếc bánh
may mắn
Michael Lewis
June 3, 2012
Xin cảm ơn. Cảm ơn hiệu trưởng Tilghman. Cảm ơn thân hữu bạn
bè. Cảm ơn các phụ huynh khóa 2012. và trên hết, xin cảm ơn các bạn sinh viên
Princeton khóa 2012. Xin các bạn tự
thưởng cho mình một tràng pháo tay. Lần sau, khi bạn nhìn xung quanh nhà thờ
và thấy mọi người mặc toàn đồ đen, sẽ chẳng có gì mà reo vui đâu. Hãy tận
hưởng những khoảnh khắc này đi.
|
|
Thirty years ago I sat where you sat. I must have listened
to some older person share his life experience. But I don't remember a word
of it. I can't even tell you who spoke. What I do remember, vividly, is
graduation. I'm told you're meant to be excited, perhaps even relieved, and
maybe all of you are. I wasn't. I was totally outraged. Here I’d gone and
given them four of the best years of my life and this is how they thanked me
for it. By kicking me out.
|
Ba mươi năm trước tôi ngồi học ở chỗ các bạn đã ngồi. Tôi
chắc hẳn đã nghe một người lớn tuổi hơn kể chuyện đời mình. Nhưng tôi chẳng
nhớ lời nào cả. Tôi cũng chẳng nhớ ai đã nói. Cái mà tôi nhớ, một cách sống
động nhất, là việc tôi tốt nghiệp. Người ta bảo tôi phải cảm thấy hứng thú,
có lẽ phải cảm giác nhẹ nhõm, và có thể là toàn thể các bạn cũng được dạy như
thế. Tôi chẳng cảm thấy gì trong số đó. …Tôi đã đến và hiến cho nơi đây bốn
năm đẹp nhất cuộc đời và đây là cách mà nơi đây nói lời cảm ơn với tôi. Bằng
cách… đá tôi ra.
|
|
At that moment I was sure of only one thing: I was of no
possible economic value to the outside world. I'd majored in art history, for
a start. Even then this was regarded as an act of insanity. I was almost
certainly less prepared for the marketplace than most of you. Yet somehow I
have wound up rich and famous. Well, sort of. I'm going to explain, briefly,
how that happened. I want you to understand just how mysterious careers can
be, before you go out and have one yourself.
|
Lúc đó tôi chỉ chắc có mỗi một việc: Tôi chẳng thể có giá
trị gì cho thế giới bên ngoài hết. Điều trước tiên cần nói, tôi học lịch sử
mỹ thuật. Ngay cả thời đó thì theo học ngành này đã được coi là điên. Tôi gần
như chắc chắn là được chuẩn bị ít hơn cho thị trường so với hầu hết các bạn.
Thế mà thế nào tôi lại trở nên giàu có và nổi tiếng. Thật ra, chỉ gần như là
thế. Tôi sẽ giải thích ngắn gọn cho các bạn, điều đó đã xảy ra như thế nào.
|
|
I graduated from Princeton without ever having published a
word of anything, anywhere. I didn't write for the Prince, or for anyone
else. But at Princeton, studying art history, I felt the first twinge of
literary ambition. It happened while working on my senior thesis. My adviser
was a truly gifted professor, an archaeologist named William Childs.
|
Tôi muốn các bạn nhận ra con đường sự nghiệp có thể lắt
léo đến mức nào, trước khi các bạn rời khỏi ghế nhà trường và đi trên con
đường này. Tôi tốt nghiệp từ Princeton mà chưa bao giờ xuất bản được bất cứ
một con chữ nào, bất cứ ở đâu. Tôi không viết cho Prince**, hay cho bất cứ
đơn vị nào. Nhưng ở Princeton, học lịch sử mỹ thuật, tôi cảm nhận được cú
hích đầu tiên từ niềm đam mê văn học của mình. Giáo sư hướng dẫn của tôi là
một người rất có tài năng, ông là một nhà khảo cổ học, tên là William Childs.
|
|
The thesis tried to explain how the Italian sculptor
Donatello used Greek and Roman sculpture — which is actually totally beside
the point, but I've always wanted to tell someone. God knows what Professor
Childs actually thought of it, but he helped me to become engrossed. More
than engrossed: obsessed. When I handed it in I knew what I wanted to do for
the rest of my life: to write senior theses. Or, to put it differently: to
write books.
|
Đề tài khoá luận tốt nghiệp của tôi là đề xuất một lời
giải cho việc tại sao nhà điêu khắc người Ý Donatello sử dụng nền điêu khắc
Hy Lạp và Roman- hoàn toàn không liên quan đến ý tưởng chính, nhưng tôi luôn
muốn nói cho mọi người biết. Không ai rõ là GS Childs nghĩ gì, nhưng ông đã
làm tôi hứng thú với đề tài này. Hơn cả hứng thú, tôi bị ám ảnh. Khi tôi nộp
bài thì tôi rõ điều tôi muốn làm cả đời tôi: Viết khóa luận tốt nghiệp. Hoặc,
nói cách khác: Viết sách.
|
|
Then I went to my thesis defense. It was just a few yards
from here, in McCormick Hall. I listened and waited for Professor Childs to
say how well written my thesis was. He didn't. And so after about 45 minutes
I finally said, "So. What did you think of the writing?"
|
Rồi tôi bảo vệ đề tài tốt nghiệp. Tại hội trường McCormick chỉ cách
đây vài bước. Tôi lắng nghe và chờ GS Childs lên tiếng rằng khóa luận của tôi
viết hay dở ra sao. Ông chẳng nói gì. Và thế là sau 45 phút tôi mới hỏi, “GS
nghĩ gì về bài viết của em?”
|
|
"Put it this way" he said. "Never try to
make a living at it."
|
“Như thế này nhé” ông nói. “Đừng bao giờ cố lập nghiệp
bằng nghề viết.”
|
|
And I didn't — not really. I did what everyone does who
has no idea what to do with themselves: I went to graduate school. I wrote at
nights, without much effect, mainly because I hadn't the first clue what I
should write about. One night I was invited to a dinner, where I sat next to
the wife of a big shot at a giant Wall Street investment bank, called Salomon
Brothers. She more or less forced her husband to give me a job. I knew next
to nothing about Salomon Brothers. But Salomon Brothers happened to be where
Wall Street was being reinvented—into the place we have all come to know and
love.
|
Và tôi không cố thử, không thật sự như vậy. Tôi đã chọn
việc mà tất cả mọi người không biết phải làm gì sau khi ra trường chọn làm:
Học tiếp trường cao học. Tôi viết sách ban đêm, mà không có hiệu quả lắm, lý
do chính vì tôi không biết tôi cần phải viết về cái gì. Một hôm tôi được mời
đến dự một bữa tối, tôi ngồi ngay cạnh bà vợ của một ông lớn ở một ngân hàng
đầu tư ở Wall Street, gọi là Salomon Brothers. Bà ta nói với chồng mình cho
tôi một chân làm việc. Tôi chẳng biết tí gì về Salomon Brothers. Nhưng
Salomon Brothers may mắn là nơi Wall Street được cải tổ — thành nơi chúng ta
đều biết đến và yêu mến.
|
|
|
|
|
When I got there I was assigned, almost arbitrarily, to
the very best job in which to observe the growing madness: they turned me
into the house expert on derivatives. A year and a half later Salomon
Brothers was handing me a check for hundreds of thousands of dollars to give
advice about derivatives to professional investors.
|
Khi tôi đến đó, tôi được bổ nhiệm, gần như là ngẫu nhiên,
vào một vị trí có thể quan sát được sự phát triển kinh hoàng: Họ biến tôi
thành chuyên gia tại chỗ về chứng khoán phái sinh. Một năm rưỡi sau Salomon
Brothers gửi cho tôi tấm séc trị giá một trăm ngàn đô la để tôi tham vấn về
chứng khoán phái sinh cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp.
|
|
Now I had something to write about: Salomon Brothers. Wall
Street had become so unhinged that it was paying recent Princeton graduates
who knew nothing about money small fortunes to pretend to be experts about
money. I'd stumbled into my next senior thesis.
|
Bây giờ thì tôi có cái để mà viết rồi: Salomon Brothers.
Wall Street đã đảo điên đến mức nó trả một khoản tài sản nho nhỏ cho các sinh
viên Princeton mới ra trường không biết tí tẹo nào về tài chính để làm ra vẻ
là chuyên gia về tiền bạc. Tôi nhảy tiếp tới đề tài tốt nghiệp tiếp theo của
mình.
|
|
I called up my father. I told him I was going to quit this
job that now promised me millions of dollars to write a book for an advance
of 40 grand. There was a long pause on the other end of the line. "You
might just want to think about that," he said.
"Why?"
|
Tôi gọi điện cho cha tôi. Tôi nói tôi sẽ bỏ việc mà lúc đó
người ta hứa trả tôi hàng triệu đô la để viết một cuốn sách với số tiền ứng
trước 40 ngàn đô. Đầu dây bên kia ngừng lại không nói gì một thời gian khá lâu.
“Con nghĩ lại cho kỹ về việc đó nhé,” cha tôi nói.
“Tại sao?”
|
|
"Stay at Salomon Brothers 10 years, make your
fortune, and then write your books," he said.
I didn't need to think about it. I knew what intellectual
passion felt like — because I'd felt it here, at Princeton — and I wanted to
feel it again. I was 26 years old. Had I waited until I was 36, I would never
have done it. I would have forgotten the feeling.
|
“Ở lại Salomon Brothers 10 năm, dành dụm tiền nong, sau đó
thì hẵng viết sách,” ông nói.
Tôi không cần nghĩ lại nữa. Tôi biết niềm đam mê từ trí
tuệ cảm giác như thế nào- vì tôi đã biết nó như thế nào ở đây, tại Princeton-
và tôi muốn tìm lại cảm giác đó. Lúc đó tôi 26 tuổi. Nếu tôi mà đợi đến năm
36, tôi sẽ không bao giờ muốn làm việc này. Tôi hẳn sẽ quên cảm giác đó.
|
|
The book I wrote was called "Liar’s Poker." It sold a million copies. I was 28 years
old. I had a career, a little fame, a small fortune and a new life narrative.
All of a sudden people were telling me I was born to be a writer. This was
absurd. Even I could see there was another, truer narrative, with luck as its
theme.
|
Cuốn sách tôi viết mang tên “Liar’s Poker”. Cuốn sách bán
ra được một triệu bản. Tôi lúc đó 28 tuổi. Tôi có sự nghiệp, chút danh vọng,
một khoản tài sản nho nhỏ và một câu chuyện về cuộc sống mới. Tự dưng mọi
người nói với tôi rằng tôi sinh ra là để viết sách. Việc này thật vô cùng đột
ngột. Ngay cả khi tôi có thể thấy một câu chuyện khác, chân thực hơn, mà may
mắn là phông nền chủ đạo.
|
|
What were the odds of being seated at that dinner next to
that Salomon Brothers lady? Of landing inside the best Wall Street firm from
which to write the story of an age? Of landing in the seat with the best view
of the business? Of having parents who didn't disinherit me but instead
sighed and said "do it if you must?" Of having had that sense of
must kindled inside me by a professor of art history at Princeton? Of having
been let into Princeton in the first place?
|
Cơ hội để được ngồi cạnh phu nhân Salomon Brothers đó là
bao nhiêu? Cơ hội để có việc làm ở một công ty Wall Street số một để viết
truyện ở tuổi đó là bao nhiêu? Cơ hội để có được vị trí với tầm nhìn tốt nhất
với ngành tài chính như thế là bao nhiêu? Cơ hội để có được cha mẹ, người
không từ bỏ con mà chỉ thở dài nói “nếu phải làm thì làm đi” là bao nhiêu? Cơ
hội có được cái cảm giác thôi thúc đã nhen nhóm trong tôi từ một GS lịch sử
mỹ thuật ở Princeton là bao nhiêu? Và trước tiên, cơ hội được nhận vào
Princeton học là bao nhiêu?
|
|
This isn't just false humility. It's false humility with a
point. My case illustrates how success is always rationalized. People really
don’t like to hear success explained away as luck — especially successful
people. As they age, and succeed, people feel their success was somehow
inevitable. They don't want to acknowledge the role played by accident in
their lives. There is a reason for this: the world does not want to
acknowledge it either.
|
Trường hợp của tôi minh họa cho việc làm sao người ta luôn
lý giải thành công. Mọi người- đặc biệt là những người thành công- không muốn
nghe sự thành công được giải thích bằng sự may mắn. Khi họ già, họ thành
công, người ta cảm thấy thành công là lẽ tất nhiên. Họ không muốn thừa nhận
vai trò của những biến cố bất ngờ trong đời. Có một lý do cho việc này: Thế
giới cũng không muốn thừa nhận sự may mắn.
|
|
I wrote a book about this, called "Moneyball."
It was ostensibly about baseball but was in fact about something else. There
are poor teams and rich teams in professional baseball, and they spend
radically different sums of money on their players.
|
Tôi viết một cuốn sách về vấn đề này, tựa đề là “Moneyball”
. Nội dung cuốn sách có vẻ như nói về bóng chày nhưng thực chất không phải.
Trong thế giới bóng chày chuyên nghiệp, có các câu lạc bộ giàu và các câu lạc
bộ nghèo, và họ chi những khoản tiền rất khác nhau cho các cầu thủ của mình.
|
|
When I wrote my book the richest team in professional
baseball, the New York Yankees, was then spending about $120 million on its
25 players. The poorest team, the Oakland A's, was spending about $30
million. And yet the Oakland team was winning as many games as the Yankees —
and more than all the other richer teams.
|
Khi tôi viết cuốn sách này, đội bóng chày chuyên nghiệp
giàu nhất, New York Yankees, chi khoảng 120 triệu đô la cho 25 cầu thủ của
mình. Đội nghèo nhất, Oakland A, chi 30 triệu. Nhưng kỳ lạ thay đội Oakland
cũng có số trận thắng bằng đội Yankees- và hơn tất cả những đội giàu hơn còn
lại.
|
|
This isn't supposed to happen. In theory, the rich teams
should buy the best players and win all the time. But the Oakland team had figured
something out: the rich teams didn't really understand who the best baseball
players were. The players were misvalued.
|
Việc này đáng ra là không thể. Trên lý thuyết, các đội
giàu đã mua các cầu thủ tốt nhất và thắng ở tất cả các trận. Nhưng đội
Oakland đã phát hiện ra một điều: Các câu lạc bộ giàu có không thật sự hiểu những
cầu thủ tốt nhất là ai. Các cầu thủ bị định giá sai.
|
|
And the biggest single reason they were misvalued was that
the experts did not pay sufficient attention to the role of luck in baseball
success. Players got given credit for things they did that depended on the
performance of others: pitchers got paid for winning games, hitters got paid
for knocking in runners on base. Players got blamed and credited for events
beyond their control. Where balls that got hit happened to land on the field,
for example.
|
Và lý do lớn duy nhất mà họ bị định giá sai là những nhà
chuyên môn không chú ý đúng mức tới vai trò của sự may mắn tới sự thành công
trong môn bóng chày. Các cầu thủ được tính công trạng cho những việc họ làm
mà phụ thuộc vào phong độ của những người khác: Những cầu thủ giao bóng được
thưởng vì thắng trận, các cầu thủ đập bóng được thưởng vì chạy tới căn cứ
trước các cầu thủ chạy…
|
|
Forget baseball, forget sports. Here you had these corporate
employees, paid millions of dollars a year. They were doing exactly the same
job that people in their business had been doing forever. In front of millions of people, who
evaluate their every move. They had statistics attached to everything they
did. And yet they were misvalued — because the wider world was blind to their
luck.
|
Gác chuyện bóng chày, chuyện thể thao lại. Ở đây bạn có
các nhân viên công sở, trả hàng trăm triệu đô la một năm. Họ làm đúng cái
việc mà những người cùng nghề với họ đã làm hàng đời. Trước hàng triệu người,
những người đánh giá từng cử động của họ. Họ có thống kê với từng việc họ
làm. Vậy mà họ vẫn bị định giá sai- vì thế giới bên ngoài không nhìn thấy sự
may mắn của họ.
|
|
This had been going on for a century. Right under all of
our noses. And no one noticed — until it paid a poor team so well to notice
that they could not afford not to notice. And you have to ask: if a
professional athlete paid millions of dollars can be misvalued who can't be?
If the supposedly pure meritocracy of professional sports can't distinguish
between lucky and good, who can?
|
Điều này đã xảy ra hàng thế kỷ. Ngay trước mắt chúng ta.
Và không ai để ý – cho đến khi nó giúp một câu lạc bộ nghèo nàn nhiều đến mức
mà mọi người không thể không để ý. Và anh phải hỏi: nếu một cầu thủ chuyên
nghiệp được trả hàng triệu đô la mà còn có thể bị định giá sai, thì ai tránh
được việc này? Nếu chủ nhĩa nhân tài thuần túy trong thể thao chuyên nghiệp
vẫn không thể phân biệt được giữa vận may và tài năng, thì ai có thể làm được
việc này?
|
|
The "Moneyball" story has practical
implications. If you use better data, you can find better values; there are
always market inefficiencies to exploit, and so on. But it has a broader and
less practical message: don't be deceived by life's outcomes. Life's
outcomes, while not entirely random, have a huge amount of luck baked into
them.
|
Câu chuyện “Moneyball” có các ứng dụng thực tế. Nếu bạn sử
dụng số liệu tốt hơn, bạn có thể tìm được những giá trị tốt hơn; luôn tồn tại
điểm yếu của thị trường có thể khai thác, vân vân. Nhưng nó mang một thông
điệp rộng hơn và ít thực tiễn hơn: Đừng có bị đánh lừa bởi thành quả của cuộc
sống. Thành quả của cuộc sống, tuy là không hoàn toàn ngẫu nhiên, một phần
quyết định lớn là do may mắn.
|
|
Above all, recognize that if you have had success, you
have also had luck — and with luck comes obligation. You owe a debt, and not
just to your Gods. You owe a debt to the unlucky.
|
Trên hết, hãy công nhận rằng nếu bạn thành công, thì bạn
có cả may mắn nữa - và với may mắn đó bạn có trách nhiệm. Bạn chịu một khoản
nợ, và khoản nợ đó không phải với thần may mắn mà là khoản nợ với những kẻ
kém may mắn.
|
|
I make this point because — along with this speech — it is
something that will be easy for you to forget.
|
Tôi nêu ra điểm này bởi vì, theo giòng bài diễn văn này,
nó sẽ là cái các bạn dễ quên nhất.
|
|
I now live in Berkeley, California. A few years ago, just
a few blocks from my home, a pair of researchers in the Cal psychology
department staged an experiment. They began by grabbing students, as lab
rats. Then they broke the students into teams, segregated by sex. Three men,
or three women, per team. Then they put these teams of three into a room, and
arbitrarily assigned one of the three to act as leader. Then they gave them
some complicated moral problem to solve: say what should be done about
academic cheating, or how to regulate drinking on campus.
|
Bây giờ tôi sống ở Berkeley, California. Vài năm trước,
chỉ cách nhà tôi vài bước, hai nhà nghiên cứu ở phân viện nghiên cứu Tâm lý
Cal (California) đã dàn dựng một thí nghiệm. Họ bắt đầu bằng cách tập hợp các
sinh viên, làm chuột bạch. Sau đó họ chia sinh viên ra làm các nhóm, phân
loại theo giới tính. Ba nam, hoặc ba nữ, mỗi nhóm. Sau đó họ cho các nhóm này
vào trong một căn phòng, và ngẫu nhiên chọn một trong ba người làm nhóm
trưởng. Sau đó họ giao cho các nhóm này một số vấn đề về đạo đức nan giải: Ví
dụ như phải làm gì với gian lận trong học đường, hoặc làm sao chỉnh đốn việc
uống rượu trong ký túc xá.
|
|
Exactly 30 minutes into the problem-solving the
researchers interrupted each group. They entered the room bearing a plate of
cookies. Four cookies. The team consisted of three people, but there were these
four cookies. Every team member obviously got one cookie, but that left a
fourth cookie, just sitting there. It should have been awkward. But it
wasn't. With incredible consistency the person arbitrarily appointed leader
of the group grabbed the fourth cookie, and ate it. Not only ate it, but ate
it with gusto: lips smacking, mouth open, drool at the corners of their
mouths. In the end all that was left of the extra cookie were crumbs on the
leader's shirt.
|
Sau đúng 30 phút họp nhóm các nhà nghiên cứu dừng các nhóm
lại. Các nhóm sinh viên được cho vào một phòng có một cái đĩa bánh. Bốn cái
bánh. Các nhóm có ba người, nhưng có bốn cái bánh. Mỗi người trong nhóm dĩ
nhiên là có một cái bánh, nhưng còn thừa một cái bánh thứ tư ở trên đĩa. Như thế
thì thật là nan giải. Nhưng thực tế là không. Với một sự kiên định hiếm có,
người được chọn ngẫu nhiên làm trưởng nhóm sẽ lấy cái bánh thứ tư lên và ăn.
Không chỉ ăn, mà thậm chí còn ăn một cách khoái trá: Miệng nhai, mồm há, nước
miếng ở hai bên mép. Tàn cuộc, cái còn lại là… vụn bánh ở trên áo của người
trưởng nhóm.
|
|
This leader had performed no special task. He had no
special virtue. He'd been chosen at random, 30 minutes earlier. His status
was nothing but luck. But it still left him with the sense that the cookie
should be his.
|
Người trưởng nhóm chẳng làm điều gì khác người cả. Họ
chẳng có cái khả năng đặc biệt gì. Họ được chọn ngẫu nhiên, 30 phút trước.
Cái danh của họ chẳng gì ngoài sự may mắn. Dù thế những người đó vẫn có cảm
giác cái bánh phải là phần của họ.
|
|
This experiment helps to explain Wall Street bonuses and
CEO pay, and I'm sure lots of other human behavior. But it also is relevant
to new graduates of Princeton University. In a general sort of way you have
been appointed the leader of the group. Your appointment may not be entirely
arbitrary. But you must sense its arbitrary aspect: you are the lucky few.
Lucky in your parents, lucky in your country, lucky that a place like
Princeton exists that can take in lucky people, introduce them to other lucky
people, and increase their chances of becoming even luckier. Lucky that you
live in the richest society the world has ever seen, in a time when no one
actually expects you to sacrifice your interests to anything.
|
Nghiên cứu này giúp giải thích những khoản hoa hồng và
khoản tiền trả cho CEO ở Wall Street, và tôi chắc rằng còn giả thích được cho
nhiều hành vi khác của con người. Nhưng nó cũng có liên quan tới những bạn
mới tốt nghiệp Đại học Princeton. Nói chung các bạn đã được bố trí làm người
dẫn đầu. Vị trí của các bạn có thể không hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhưng các bạn
phải cảm nhận được phần ngẫu nhiên trong đó: Các bạn là một số nhỏ may mắn. May
mắn ở gia đình có điều kiện, may mắn ở đất nước có điều kiện, may mắn là một
nơi như Princeton tồn tại để nhận những người may mắn, được giới thiệu với
những người may mắn khác, và tăng thêm khả năng càng trở nên may mắn. May mắn
các bạn sống ở một xã hội thịnh vượng nhất thế giới, ở một thời điểm mà không
ai trông đợi các bạn phải hy sinh điều các bạn thích làm để làm bất cứ việc
gì khác.
|
|
All of you have been faced with the extra cookie. All of
you will be faced with many more of them. In time you will find it easy to
assume that you deserve the extra cookie. For all I know, you may. But you'll
be happier, and the world will be better off, if you at least pretend that
you don't.
|
Tất cả các bạn đã được cho cái bánh thừa. Tất cả các bạn
sẽ còn gặp nhiều cái bánh thừa nữa. Trong lúc các bạn sẽ dễ dàng cho rằng
mình xứng đáng được hưởng cái bánh đó. Với tất cả những gì tôi biết, bạn có
quyền đó. Nhưng bạn sẽ hạnh phúc hơn, và thế giới sẽ tốt đẹp hơn, nếu ít nhất
bạn làm ra vẻ là bạn không xứng đáng.
|
|
Never forget: In the
nation's service. In the service of all nations.
|
Đừng quên: Vì tổ
quốc Phục vụ. Vì Thế giới Phục vụ.***
|
|
Thank you.
And good luck.
|
Cảm ơn các bạn.
Và chúc may mắn.
|
|
|
* Ở Hoa Kỳ, người ta
gọi khóa học theo năm tốt nghiệp chứ không gọi theo năm vào học.
** Prince là tên
ngắn gọn của The Princetonian, nội san trường Princeton.
** “In the nation’s
service. In the service of all nations.” Đây là khẩu hiệu chính thức của Đại
học Princeton.
|
|
Read more:
http://www.businessinsider.com/michael-lewis-princeton-commencement-remarks-2012-6#ixzz1yavKIrnC
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Saturday, June 23, 2012
MICHAEL LEWIS: Successful People Like Me Were Actually Just Really Lucky MICHAEL LEWIS: Những người thành công như tôi thực ra chỉ là may mắn
Friday, June 22, 2012
Old-Fashioned Diplomacy in the Twitter Age Ngoại giao kiểu xưa trong thời đại ‘twitter’
|
|
|
|
Old-Fashioned
Diplomacy in the Twitter Age
|
Ngoại giao kiểu xưa
trong thời đại ‘twitter’
|
|
An exclusive
interview with the secretary of state.
|
Phỏng vấn độc quyền
Ngoại trưởng Hoa Kỳ
|
|
INTERVIEW BY SUSAN
B. GLASSER
Foreign Po
|
Người phỏng vấn:
Susan B. Glasser
Foreign Po
|
|
JULY/AUGUST 2012
|
Số tháng 7/ tháng 8
năm 2012
|
|
Amid her high-stakes negotiating over the fate of blind
Chinese dissident Chen Guangcheng, Secretary of State Hillary Clinton sat
down for an interview with Foreign Policy Editor in Chief Susan B. Glasser in
Beijing.
|
Giữa các đàm phán cấp cao về số phận của nhà bất đồng
chính kiến Trung Quốc khiếm thị Chen Guangcheng, Ngoại trưởng Mỹ
Hillary Clinton trả lời một cuộc phỏng vấn của Susan B. Glasser, chủ bút Foreign
Policy, ở Bắc Kinh.
|
|
On the plight of Chen Guangcheng: It was a very personally
poignant tale. I have followed this guy. I've talked about him. I've raised
him with the Chinese. He has an incredible, almost -- whatever the Chinese
equivalent of a Horatio Alger story is. So we were … guided by his choices
and our values. And we tried very hard to understand what he wanted. And he
came into the embassy saying from the very beginning, "I don't want to
leave my country. I want to stay in China. But I want to be able to pursue my
studies. I want to live a more meaningful life instead of being kept
imprisoned in my house in my province in my home village."
|
Về cảnh ngộ của ông Trần Quang Thành: đây là một câu
chuyện rất thương tâm. Tôi theo dõi câu chuyện của anh ấy. Tôi đã nói chuyện
với anh ấy. Tôi nêu vấn đề của anh ấy với [chính phủ] Trung Quốc. Anh ấy có
một cuộc đời gần như khó có thể tin được, gần giống như câu chuyện về Horatio
Alger. Nên chúng tôi … bị các sự chọn lựa của anh ấy và các giá trị của chúng
ta dẫn dắt. Và chúng tôi cố gắng hết sức để tìm hiểu anh ấy muốn gì. Và anh
ấy đã vào sứ quán Mỹ, ngay từ đầu anh ấy đã nói rằng: “Tôi không muốn rời xa
quê hương. Tôi muốn ở lại Trung Quốc. Nhưng tôi muốn theo đuổi chuyện học hành
của tôi. Tôi muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn thay vì bị giam cầm ở
trong nhà tôi, tại ngôi làng của tôi ở tỉnh nhà”.
|
|
Actually, I thought that was a very courageous and
thoughtful response. And we worked to understand what he wanted, and then we
worked with the Chinese to create the circumstances in which he could pursue
that, including having his family with him. He hadn't seen his son for a
year, I think. And he never -- I mean, he was in such a terrible dilemma
because when he escaped, he couldn't take his wife and his daughter; he
couldn't obviously get his son. So he's alone in Beijing; he needs medical
treatment. He actually broke his foot coming over the wall. And so he wanted
his family reunified. He wanted everybody to be able to live as normally as
possible and for him to pursue his studies. And we saw this as an opportunity
not only to work with the Chinese government on his particular case, but to
really extend our intensive dialogue about human rights and rule of law.…
Because he was clear that he didn't hold the national authorities
responsible. He really focused his ire and fear on the local authorities who
had mistreated him. And he had this idea that if only the authorities in
Beijing knew what was happening to him, they would help me and my family. And
I thought that was an interesting observation from a more sophisticated guy,
with more outreach to the outside world than the average Chinese person would
have.
|
Thực ra, tôi nghĩ đó là một phản ứng rất can đảm và có suy
nghĩ. Và chúng tôi cố gắng tìm hiểu xem anh ấy muốn gì, và rồi chúng tôi làm
việc với [các giới chức] Trung Quốc để tạo cơ hội cho anh ấy theo đuổi các
ước muốn đó, gồm cả việc mang theo gia đình anh ấy. Tôi nghĩ, anh ấy đã không
gặp mặt đứa con trai cả năm rồi. Và anh ấy không bao giờ – tôi muốn nói rằng,
anh ấy ở trong tình trạng vô cùng khó xử khi anh ấy trốn thoát, đã không thể
mang theo vợ và con gái; dĩ nhiên anh ấy không thể mang theo đứa con trai.
Nên anh ấy có một mình ở Bắc Kinh; anh ấy cần chữa bệnh. Thực ra, anh ấy đã
bị gãy chân khi nhảy qua tường. Và vì thế anh ấy muốn đoàn tụ với gia đình.
Anh ấy muốn mọi người được sống bình yên và để anh ấy theo đuổi việc học
hành. Và chúng tôi nhận ra đây là một cơ hội không những để làm việc với
chính phủ Trung Quốc về trường hợp đặc biệt của anh ấy, mà còn thực sự mở rộng,
gia tăng đối thoại của chúng tôi về nhân quyền và pháp quyền… Bởi vì anh ấy
xác định rõ ràng là anh ấy không đổ trách nhiệm cho nhà nước. Sự khó chịu và
nỗi sợ hãi của anh ấy thực ra tập trung vào chính quyền địa phương, những kẻ
đã hành hạ anh ấy. Và anh ấy nghĩ rằng, nếu chính quyền Bắc Kinh biết những
gì xảy ra với anh ấy, họ sẽ giúp đỡ anh và gia đình anh. Và tôi nghĩ đây là
một lời nhận xét rất lý thú từ một anh chàng rất tỉ mỉ, có mối liên hệ với
thế giới bên ngoài nhiều hơn một người Trung Quốc bình thường.
|
|
On her 2009 remarks about human rights being just one part
of the agenda with China: I didn't realize it was going to be controversial
as much as it turned out to be. Because to me, if human rights is over here,
where it is separate and apart from everything else they care about and we
care about, I don't think you have the level of influence over what you're
trying to both advocate and achieve when it comes to human rights. And I also
have a very strong belief -- I mean, I was here 17 years ago saying women's
rights are human rights and the Chinese violate women's rights all the time,
and they pulled the plug on broadcasting my speech. And so it's not like I
was coming to the Chinese new to this.
|
Liên quan đến phát biểu của bà hồi năm 2009 về nhân quyền
chỉ là một phần của nghị trình với Trung Quốc: Tôi đã không ý thức rằng
chuyện này (nhân quyền) sẽ gây tranh cãi như đã xảy ra. Bởi vì đối với tôi,
nếu nhân quyền có ở đây, nơi mà nó tách riêng và xa khỏi mọi thứ khác mà họ
quan tâm đến và chúng ta quan tâm đến, tôi không nghĩ anh có khả năng
ảnh hưởng đến điều mà anh đang cố gắng
cổ suý và đạt được khi nói tới nhân quyền. Và tôi cũng có một niềm tin rất
lớn – tôi muốn nói là, tôi đã có mặt ở đây 17 năm trước để nói về nữ quyền,
cũng là nhân quyền và nhà cầm quyền thường xuyên vi phạm nữ quyền và họ đã
không phát hình bài diễn văn của tôi. Và như vậy là tôi đến Trung Quốc cũng
chẳng phải mới mẻ gì về chuyện này.
|
|
I have been an advocate for human rights and women's
rights as long as they've known of me, and I had heated arguments with Jiang
Zemin over Tibet. So I also needed to send a signal to them saying,
"Look, I'm now secretary of state. I carry this whole portfolio, and
human rights is an important, essential part of it, but there's a lot of
other business we have to get done." So yes, am I going to raise human
rights? Absolutely. But I'm also going to be raising economic issues and Iran
and North Korea and all the rest of it. So that was certainly the signal I
was sending to them, that I'm somebody you can do business with and I will
forever disagree with you on all the things I've already told you I disagree
with you about for the past 20 years, but I'm going to represent the entire portfolio.
|
Tôi là người cổ vũ cho nhân quyền và quyền của người phụ
nữ từ khi họ biết tôi, và tôi đã có những tranh luận kịch liệt với Giang
Trạch Dân về Tây Tạng. Nên tôi cũng cần gửi một tín hiệu tới họ rằng, “Này,
bây giờ tôi là ngoại trưởng Hoa Kỳ. Tôi mang toàn bộ hồ sơ ngoại giao này, và
nhân quyền là phần quan trọng, phần chủ yếu trong hồ sơ, nhưng có nhiều công
việc khác chúng ta cần phải hoàn tất”. Như thế, phải chăng tôi sẽ nêu lên vấn
đề nhân quyền? Dĩ nhiên. Tôi cũng sẽ nêu vấn đề kinh tế, vấn đề Iran và Bắc
Triều Tiên và tất cả những phần còn lại. Nên chắc chắn đó là tín hiệu mà tôi
gửi đến họ, rằng tôi là người mà họ có thể làm việc chung và tôi sẽ mãi mãi
bất đồng ý kiến với họ trên mọi phương diện mà tôi đã bất đồng ý kiến trong
20 năm qua, nhưng tôi sẽ đại diện cho toàn bộ hồ sơ.
|
|
On when to use the bully pulpit as secretary of state:
There's a whole symphony of different notes that can be played and need to be
played, depending on what you're trying to achieve. And so in this role,
which is a very broad one with a large portfolio of responsibilities, we have
to, I think, be strategic in how we communicate what we're trying to explain
to all the various audiences that are listening. I'm very outcomes-oriented
-- what's the best way to get there? Sometimes it's being diplomatic, and
sometimes it's being harsh. Some people criticize me for saying that Russia
and China's veto on Syria was despicable. Well, I think it got their
attention. So you just have to calibrate and figure out what is the end state
you're trying to get to, because there are times when being podium-pounding
and bully-pulpiting are on their own worthwhile or as part of a larger plan,
other times when it would be counterproductive. It depends upon what you're
trying to achieve.
|
Về vấn đề khi nào sử dụng quyền lực của ngoại trưởng: Có
cả một bản nhạc hòa tấu với nhiều nốt nhạc khác nhau để chơi và cần phải
chơi, tùy theo anh muốn đạt được điều gì. Và vì thế trong vai trò này, rất
rộng lớn và với một hồ sơ lớn về trách nhiệm, tôi nghĩ, chúng tôi phải có
chiến lược trong cách thức truyền đạt những gì chúng tôi cố gắng giải thích
cho tất cả những cử tọa khác nhau đang lắng nghe. Tôi là người định hướng kết
quả — đâu là phương cách tốt nhất để đến đó? Đôi khi ngoại giao, và đôi khi
cứng rắn. Vài người chỉ trích tôi khi nói rằng việc phủ quyết của Nga và
Trung Quốc trong vấn đề Syria là đáng khinh bỉ. Đúng thế, tôi nghĩ họ chú ý.
Vì thế anh phải điều chỉnh và nghĩ ra đâu là kết cuộc anh muốn đạt tới, bởi
vì có những lúc đập tay lên bàn và sử dụng sức mạnh, nó có giá trị riêng của
nó hay như một phần của kế hoạch lớn hơn, vào lúc khác có thể phản tác dụng.
Tùy thuộc vào những gì anh muốn đạt tới.
|
|
On Aung San Suu Kyi and the difficulty of navigating
between human rights icon and practical politician: When you move from this
icon advocate to now sitting in the parliament with men who she knows have
blood on their hands, that is such a psychic journey that she's had to make.
But politically now, she cannot be immune from the criticism that will come
because she is playing a political role. And it's fascinating. And I mean,
it's the clearest arc of change that we can watch in the world today. So yes,
it's hard. It's hard. When I was first lady, I could say anything I wanted to
say, and I often did, for better or worse. But some of it was strategic, and
part of my husband's agenda, and some of it was just what I thought and felt
and strongly believed.
|
Về vấn đề bà Aung San Suu Kyi và sự khó khăn trong việc
chuyển đổi giữa biểu tượng nhân quyền và chính trị gia thực tế: Khi anh đi từ
biểu tượng dân chủ này đến chỗ ngồi hiện tại trong quốc hội với những người
mà bà ấy biết rằng họ có bàn tay nhuốm máu, đó là cuộc hành trình đầy bí hiểm
mà bà ấy phải thực hiện. Nhưng trên phương diện chính trị, hiện tại, bà ấy
không thể tránh khỏi sự chỉ trích sẽ xảy ra, bởi vì bà ấy đang thể hiện vai
trò chính trị. Và điều đó thật hấp dẫn. Và tôi nghĩ rằng, đây là dấu hiệu rõ
nhất về sự thay đổi mà chúng ta có thể chứng kiến trên thế giới ngày nay.
Vâng, rất khó. Rất khó. Khi tôi là đệ nhất phu nhân, tôi có thể nói bất cứ
điều gì tôi muốn nói, và tôi thường nói, với kết quả tốt hay xấu hơn. Nhưng
một vài điều là chiến lược, và một phần nằm trong nghị trình của chồng tôi,
và vài phần khác chỉ là do tôi nghĩ, tôi cảm nhận và tin tưởng mãnh liệt.
|
|
When I was a senator, I had to represent the people of New
York but I also got to be an advocate on their behalf and on behalf of the
issues and interests that they had. And so I feel like I am consistent, but I
feel like the roles that I have been playing and the outcomes that I'm seeking
require different tactics all the time.[In talking with Aung San Suu Kyi],
what she was saying is "I now want to play a role." This is a
chance for her to try to put into practice everything she's been thinking
about and working on her entire adult life. But she is anxious to get in and
roll up her sleeves, and she has a lot of confidence in herself that somehow
she's going to be able to thread her way through all of these pitfalls and
help her country. It's very familiar to me. She could have been on a pedestal
her entire life. She didn't ever have to leave her compound. She could be
propounding great thoughts and calling people to their higher selves. But she
wants to be in the real world and see if she can make a difference.
|
Khi tôi là thượng nghị sĩ, tôi phải đại diện cho dân chúng
New York nhưng tôi cũng là người bênh vực cho họ và đại diện cho các vấn đề
và lợi ích của họ. Vì thế tôi cảm thấy tôi kiên định lập trường, nhưng tôi
cảm thấy các vai trò mà tôi đóng và các kết quả tôi đi tìm luôn đòi hỏi những
chiến thuật các nhau. [Nói chuyện với bà Aung San Suu Kyi], điều bà ấy nói là
“bây giờ tôi muốn có một vai trò”. Đây là cơ hội để bà ấy đưa mọi thứ vào
thực hành, những gì mà bà ấy đã và đang nghĩ đến cũng như đã và đang thực
hiện trong suốt cuộc đời từ khi bà ấy trưởng thành. Nhưng bà ấy lo lắng khi
bắt bước vào và xắn tay áo, và bà ấy có nhiều tự tin rằng, bằng cách nào đó,
bà ấy có thể vượt qua tất cả những cạm bẫy và giúp ích cho đất nước bà. Điều này
rất giống tôi. Bà ấy có thể ở trên bục cao cả đời. Bà ấy không cần phải rời
khỏi khu nhà của mình. Bà ấy có thể đưa ra những tư tưởng lớn và kêu gọi
lương tâm quần chúng. Nhưng bà ấy muốn đi vào thế giới thực và thử xem bà ấy
có thể thực hiện sự thay đổi được không.
|
|
On whether there's a pragmatic, "trust but
verify" Hillary approach to the world: Having come to this job from the
political world primarily, I have a certain level of understanding or
sensitivity to what people's political problems are, even in authoritarian
regimes, because everybody's got politics. They may not be electoral
politics, but you've got politics. You've got to keep an inner circle or a
regime or interest groups on your side. But I also think I've just had to
spend a lot of time trying to understand how people see and exercise power.
And I wish that it were as hopeful and positive as everyone is crossing their
fingers for. But human nature being what it is, political pressures -- I can
watch and see how people are getting squeezed and moved. And what can we do
if it's something we don't care about? Well, that's their problem. But if
it's something we care about, what are the ways we can possibly try to
influence that and try to manage that? Sometimes it's by appealing to some
bigger vision, like where is it you're trying to go in your country, what are
you trying to accomplish? And sometimes it's by trying to set in motion
countering forces so that there's at least other voices being heard. I find
that the way the world works, and trying to get into it and figure out how you
can help people do more of what you want them -- namely, the United States
wants them -- to do is part of what I feel like my job is.
|
Về việc liệu có một cách tiếp cận thực tế, “tin tưởng
nhưng cần kiểm chứng”của bà Hillary với thế giới hay không: Bắt đầu đến với
công việc này chủ yếu từ thế giới chính trị, tôi có một số hiểu biết căn bản
hay cảm nhận về các vấn đề chính trị của quần chúng là gì, ngay cả trong
những chế độ độc tài, bởi vì ai cũng có [thái độ] chính trị. Có thể họ không
có chính trị bầu phiếu, nhưng anh có [thái độ] chính trị. Anh phải giữ một
nhóm thân tín hay một chế độ, hoặc nhóm lợi ích bên cạnh. Nhưng tôi cũng nghĩ
tôi phải bỏ ra nhiều thì giờ để cố tìm hiểu xem người ta nhận thức và thực
thi quyền lực thế nào. Và tôi mong muốn rằng mọi chuyện sẽ sáng sủa và lạc
quan như mọi người mong ước. Nhưng với bản chất con người, những sức ép chính
trị — tôi có thể quan sát và thấy người ta bị gây áp lực và thay đổi thế nào.
Và chúng tôi có thể làm gì nếu đó là điều chúng tôi chẳng hề quan tâm? Thôi
thì, đó là vấn đề của họ. Nhưng nếu đó là điều chúng tôi quan tâm, chúng tôi
có thể tác động và giải quyết chúng bằng cách nào? Đôi khi có thể giải quyết
bằng cách nhờ vả tới ý tưởng lớn nào đó, như anh cố gắng đi vào nước anh ở
chỗ nào, anh muốn đạt được việc gì? Và đôi khi giải quyết bằng cách khởi động
các lực phản kháng, để ít nhất những tiếng nói khác cũng được lắng nghe. Tôi
thấy cách thức thế giới hoạt động, cố gắng tham dự vào và tìm cách giúp người
khác làm được hơn những gì anh mong muốn họ làm – nói đúng ra, Hoa Kỳ mong
muốn họ làm – là một phần của những điều mà tôi cảm thấy như là công việc của
tôi.
|
|
On America the indispensable: We are totally indispensable.
But we have to be smart about how we define and use our power today, because
there's no problem that can be solved without us. But how we lead and what
we're trying to convey to the rest of the world is what I am focused on,
because it was easier for people to understand what was meant when you said
we were indispensable after the fall of the Berlin Wall and the breakup of
the Soviet Union and before the consolidation of the rise of not just China
but the other so-called BRICs. And the increasing role of nonstate actors,
transnational problems -- I mean, the way the world looked even in the '90s,
when I was looking at it closely from a different vantage point, is very
different than the way it looks now. But the constant is America's being an
indispensable power. But the challenge is: Are we going to be able to really
live up to that and lead the world in the 21st century in a way that furthers
our security, our interests, and our values? And that's what I've been trying
to do the last four years -- is to sort of get people focused on how we have
to spend a lot of time building the habits of cooperation, the institutions
and mechanisms of partnership, and furthering relationships and
understanding. That's really old-fashioned diplomacy operating in the Twitter
age, but I don't think there's any substitute for it.
|
Về vấn đề Hoa Kỳ là nước không thể thiếu: Hoa Kỳ hoàn toàn
là quốc gia không thể vắng mặt [trên thế giới]. Nhưng chúng ta phải khôn khéo
trong cách chúng ta định nghĩa và sử dụng sức mạnh của chúng ta ngày nay, bởi
vì không có vấn đề nào có thể được giải quyết nếu không có chúng ta. Nhưng
chúng ta lãnh đạo thế nào và điều gì chúng ta đang cố chuyển tải đến thế
giới, là điều mà tôi đang tập trung vào, bởi vì dễ dàng cho người ta hiểu
mình muốn nói gì khi anh nói rằng, chúng ta không thể thiếu sau sự sụp đổ của
Bức tường Berlin và sự tan rã của Liên Xô, và trước sự trỗi dậy vững mạnh,
không những của Trung Quốc mà còn của các nước gọi là BRIC (gồm Brasil, Nga,
Ấn Độ, Trung Quốc). Và vai trò gia tăng của những diễn viên không quốc gia,
những vấn đề liên quốc gia – tôi muốn nói rằng, tình hình thế giới trong thập
niên 90, khi tôi xem kỹ từ góc cạnh lợi thế khác, thì thấy khác rất nhiều so
với tình hình hiện nay. Nhưng rõ ràng Mỹ là một đất nước không thể thiếu.
Nhưng thách thức là: liệu chúng ta có thực sự làm đúng vai trò này và dẫn dắt
thế giới trong thế kỷ 21 theo cách tăng cường an ninh, các lợi ích và giá trị
của chúng ta hay không? Và đó là những gì tôi đã cố gắng làm trong 4 năm qua
–là làm cho mọi người chú ý vào cách thức mà chúng tôi đã bỏ nhiều thì giờ để
xây dựng thói quen hợp tác, các tổ chức và cơ chế quan hệ đối tác, và gia
tăng các mối quan hệ và sự hiểu biết. Đó là ngoại giao kiểu cổ xưa, hoạt động
trong thời đại ‘Twitter’, nhưng tôi nghĩ, không có kiểu ngoại giao nào khác
có thể thay thế phương pháp này.
|
|
On whether she
thinks about running for president in 2016: No.
|
Về việc bà có nghĩ
sẽ ra tranh cử tổng thống năm 2016: Không.
|
|
On what could persuade her to run: Nothing. It wouldn't
take -- it would take -- there is nothing it could take. I really -- I'm
flattered, I'm honored. I mean, God, I had -- I mean, the Chinese were
talking about it to me at the dinner Wednesday night, at the small dinner Dai
had. Saying things like, "Well, you know, I mean, 2016 is not so far
away…. You may retire but you're very young."
|
Về điều gì có thể thúc đẩy bà ra tranh cử tổng thống:
Không có điều gì cả. Không cần – cần là… không có gì có thể [thúc đẩy tôi].
Tôi thực sự — thật hân hạnh, thật vinh dự. Tôi nghĩ, Trời ơi, tôi – tôi muốn
nói rằng, người Trung Quốc nói chuyện này với tôi vào bữa ăn tối đêm thứ Tư,
tại bữa cơm tối giản dị mà ông Đới [Bỉnh Quốc] thết đãi. Họ nói những câu
như: “thực ra, bà biết, tôi muốn nói, năm 2016 không còn xa… Bà có thể về hưu
nhưng bà vẫn còn quá trẻ”.
|
|
On dealing with the White House: Well, first of all, I think
both the president and I made it very clear to everybody on both of our teams
that we were all on the same team. And he was the president, and we were
going to do our very best to serve him well. And he made it clear to his
people that I was the person he wanted to be secretary of state, and he
wanted to see a strong and effective partnership. And we really have been
able to produce that, and it's -- I mean, there is always going to be
tensions between any State Department and any White House or between any
bureaucracy and any other. That kind of goes with the territory. I know that
from long years of experience. But I think there has been a real
professionalism on both sides.
|
Về chuyện làm việc với Nhà trắng: Vâng, đầu tiên, tôi nghĩ
cả tổng thống và tôi đều vạch rất cho mọi người ở cả hai phía chúng tôi biết
rằng, tất cả chúng ta đều ở trong cùng một khối. Và ông ấy là tổng thống, và
chúng tôi cố gắng hết sức mình để phục vụ ông. Và ông ấy nói rõ với mọi người
[ở Nhà Trắng] rằng tôi là người mà ông muốn là ngoại trưởng, và ông muốn một
sự cộng tác tích cực và hiệu quả. Thực sự chúng tôi có thể làm được điều đó,
và đó là – tôi muốn nói là, luôn có sự căng thẳng giữa Bộ Ngoại giao và Nhà
trắng hay giữa bất cứ cơ quan chính quyền nào. Nó như kiểu lãnh địa. Tôi biết
được điều này do có nhiều năm kinh nghiệm. Nhưng tôi nghĩ cả hai phía đều
thật sự có tính chuyên nghiệp.
|
|
On whether she has any regrets (like the stalled Middle
East peace process): We all hope -- we would all hope for that someday. That
would be a great moment for the world. But so far, not yet. I mean, part of
the problem of taking this job at this time in history is that we had been so
preoccupied for totally understandable reasons -- and I say that as somebody
who was a senator from New York state -- on the war on terror, on al Qaeda,
and then had to pay a lot of attention to Iraq, Afghanistan. I mean, we were
really in need of making sure we could demonstrate to the whole world that if
we were going to be the indispensable nation, that meant we were
indispensable everywhere, not just in one or two places -- which is why I
went to Asia first and why I have put a big emphasis on developing these
institutional relationships with the rising powers, and why I've invested a
lot in having America involved in a lot of these regional and multilateral
organizations. Because it's a way of extending our influence, and in a time
of American budgetary stress and certainly war/foreign affairs weariness on
the part of a lot of the people in our country, it was important to say,
"Now look, we have to be active. We have to be engaged. We have to lead.
We will do it in new and different ways. We're not going to carry all the
burdens." That's why Libya was such an incredibly historical pivot for
us to put together a partnership of which we were clearly indispensable in
every way, but other people had to step up -- not only Europeans but Arabs.
|
Về việc bà có điều gì hối tiếc hay không (như tiến trình
hòa bình ở Trung Đông bị khựng lại): Tất cả chúng ta hy vọng – chúng ta hy
vọng điều này vào một ngày nào đó. Đó sẽ là thời điểm trọng đại cho thế giới.
Nhưng tới nay, vẫn chưa có. Tôi muốn nói rằng, một phần của vấn đề trong khi
đảm nhận công việc này, vào thời điểm lịch sử này là chúng tôi quá bận tâm vì
những lý do hoàn toàn dễ hiểu – và tôi nói rằng, một người đã từng là nghị sĩ
tiểu bang New York – trong cuộc chiến chống khủng bố, chống al Qaeda, và rồi
phải chú ý nhiều đến Iraq, Afghanistan. Tôi muốn nói rằng, thật sự chúng tôi
cần bảo đảm rằng chúng tôi có thể chứng tỏ cho toàn thế giới biết rằng chúng
tôi là quốc gia không thể thiếu, có nghĩa là chúng tôi không thể thiếu ở bất
cứ nơi đâu, không chỉ ở một hay hai chỗ — đó là lý do vì sao tôi đến châu Á
trước tiên và vì sao tôi đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển quan hệ thể chế
với các cường quốc đang trỗi dậy, và vì sao tôi đầu tư thật nhiều để Hoa Kỳ
tham gia vào nhiều tổ chức đa phương và trong khu vực này. Bởi vì đó là cách
mở rộng ảnh hưởng của chúng tôi, và trong thời gian Hoa Kỳ gặp khó khăn về
ngân sách và lẽ dĩ nhiên về phía nhiều người dân trên đất nước chúng tôi đã
mệt mỏi về ngoại giao/ chiến tranh, quan trọng để nói rằng: “Bây giờ hãy xem,
chúng ta phải tích cực. Chúng ta phải tham gia. Chúng ta phải dẫn đầu. Chúng
ta sẽ làm bằng cách thức mới và khác trước. Chúng ta sẽ không chịu đựng tất
cả mọi gánh nặng”. Đó là lý do vì sao Libya là sự thay đổi lịch sử khó tin
như vậy, để chúng ta cùng liên minh với nhau, mà chúng ta đã rõ là không thể
thiếu trên mọi phương diện, nhưng những nước khác phải tiến lên – không những
Âu Châu mà cả Ả Rập.
|
|
On what will keep her successor up at 3 a.m.: I'd say probably
everything. I mean, by the time whoever that is comes in, we'll see what the
situation is. But you have to deal with the urgent, the immediate, and the
long term all at once. I mean, pay attention to the headlines and the trend
lines. You can't act like climate change is not happening, proliferation is
not a problem, pandemic disease doesn't remain a threat. I mean, you have to
keep your eye on those long-term dangers, but you've got to deal with the
here and now too, every day.
|
Về điều gì sẽ làm người kế nhiệm bà thức tới 3 giờ sáng:
Tôi có thể nói là mọi thứ. Tôi muốn nói rằng, vào lúc ai đó đảm nhận chức vụ
này, chúng ta sẽ xem tình hình như thế nào. Nhưng anh phải giải quyết chuyện
cấp bách, chuyện tức thời, và chuyện lâu dài, tất cả mọi chuyện cùng một lúc.
Tôi muốn nói rằng, hãy chú ý tới tin nóng và các xu hướng (trend lines). Anh
không thể hành động như thể chuyện thay đổi thời tiết sẽ không xảy ra, chuyện
phổ biến [hạt nhân] không là vấn đề, bệnh truyền nhiễm không còn là mối đe
dọa. Tôi muốn nói rằng, anh phải lưu tâm đến các mối nguy hiểm trường kỳ đó.
Nhưng anh phải đương đầu với các vấn đề ở đây, cũng như các vấn đề hiện tại,
hằng ngày.
|
|
|
|
|
|
Translated by Trần Văn Minh
|
|
|
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/06/18/old_fashioned_diplomacy_in_the_twitter_age
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)