MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Monday, June 18, 2012

Half-free trade in Vietnam Mậu dịch nửa Tự do tại Việt Nam



Half-free trade in Vietnam

Mậu dịch nửa Tự do tại Việt Nam
By M Goonan
M Goonan

HANOI - When a number of Vietnamese travelers returned from abroad with sex toys in their luggage, customs officers were at a loss over how to react. Importing the objects for commercial purposes is illegal in Vietnam, but it was not clear to the trade authorities if there was a regulation against import for personal use.


Khi một số khách du lịch Việt Nam trở về nước với những đồ chơi tình dục trong hành lý của mình, các nhân viên hải quan đã bối rối không biết xử lý ra sao. Nhập khẩu những món hàng này với mục đích thương mại thì không hợp pháp tại Việt Nam, nhưng cơ quan công lực lại không rõ là có luật lệ nào cấm đoán việc nhập khẩu chúng để sử dụng cá nhân hay không.

After local media pumped up the story, the government announced in October a new ban against all sex toys entering Vietnam. That restriction built on a previous import prohibition against "debauched and reactionary products" to include objects that could have negative impacts on the population's "dignity, education and social security".

Sau khi giới truyền thông địa phương thổi phồng câu chuyện, vào tháng Mười chính quyền đã công bố một lệnh mới cấm mọi đồ chơi tình dục được nhập vào Việt Nam. Việc cấm đoán này dựa trên một lệnh khác dùng để cấm “những sản phẩm phản động đồi trụy” bao gồm những mặt hàng có thể dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đối với “phẩm giá, giáo dục và an ninh xã hội” của quần chúng.


Like many of Vietnam's trade-curbing laws, the new code leaves much open to interpretation. While substantial improvements have been made in recent years to the country's trade and investment-related legislation, vague provisions like the new ban on sex toys raise concerns among foreign chambers of commerce and their respective governments about Vietnam's commitment to free trade.

Cũng như nhiều luật lệ giới hạn thương mại khác của Việt Nam, điều lệ mới có thể được hiểu theo nhiều cách. Trong khi đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm vừa qua đối với luật lệ liên quan đến thương mại và đầu tư, những điều khoản như lệnh cấm đồ chơi tình dục ở trên đã tăng thêm quan ngại từ những hiệp hội kinh doanh và chính phủ nước ngoài về sự cam kết của Việt Nam trong vấn đề tự do mậu dịch.

Since acceding to the World Trade Organization (WTO) in January 2007, Vietnam has harmonized many of its customs and other trade-related laws to international standards. For instance, valuation of goods is now consistent with General Agreement on Tariffs and Trade (GATT) customs codes, modernizing a system that was previously widely prone to corruption and often unduly high levies.

Kể từ khi gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng Giêng năm 2007, Việt Nam đã chỉnh đổi những luật lệ liên quan đến hải quan và thương mại để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ như việc thẩm định giá trị hàng hoá hiện đã đồng nhất với các điều luật về hải quan của Hiệp ước Chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT), hiện đại hoá một hệ thống mà trước đây thường dễ bị tham nhũng với những mức thuế cao đầy cứng nhắc.


Other trade codes, however, are still at odds with WTO requirements. In particular, foreign investors here complain that the process of obtaining and presenting so-called "automatic" import licenses, certain of which are not concerned with quality or safety standards, adds unnecessary time and costs to trade. As one American businessman who requested anonymity put it: "If it's automatic, why does it need a license?"

Tuy nhiên những luật lệ thương mại khác vẫn không phù hợp với yêu cầu của WTO. Cụ thể là những nhà đầu tư nước ngoài ở đây than phiền rằng quá trình xin và trình cái gọi là giấy phép nhập khẩu “tự động”, chắc chắn là không phải vì sự quan tâm đến tiêu chuẩn chất lượng và an toàn, đã làm tăng thêm thời gian và chi phí không cần thiết cho thương mại. Như một doanh nhân người Mỹ dấu tên nói: “Nếu đã là tự động, thì sao lại phải cần giấy phép?”


The legal inconsistencies, critics say, are geared specifically to limit imports and build up trade surpluses. As Western economies, including the United States, falter under debt burdens, many are now pushing for better access to developing world markets to narrow their trade deficits. US President Barack Obama has pledged to double the value of US exports by 2015 from 2009 levels.


Các nhà chỉ trích nói việc không nhất quán về luật lệ được thiết lập để đặc biệt giới hạn nhập khẩu và tăng cường nhập siêu. Khi các nền kinh tế phương Tây, bao gồm cả Hoa Kỳ, đang chậm bước vì những gánh nặng nợ nần, nhiều nước đang thúc đẩy việc thâm nhập vào các thị trường của những nước đang phát triển để giảm bớt nạn thâm thủng mậu dịch. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã cam kết tăng gấp đôi giá trị hàng hoá xuất khẩu của Hoa Kỳ vào năm từ 2009 đến 2015.


That's bringing many of Vietnam's trade laws under sharp new scrutiny. As part of the so-called 2007 Trade and Investment Agreement (TIFA), US trade officials periodically review Vietnam's WTO commitments and propose various ways to enhance bilateral trade and investment. That includes US negotiations now under way with Vietnam to join the trade-promoting Trans Pacific Partnership, a US-led initiative targeting eight Pacific nations.


Điều này đang đặt nhiều luật lệ thương mại của Việt Nam dưới cái nhìn khắt khe hơn. Là một phần trong cái gọi là Hiệp định Thương mại và Đầu tư 2007, các quan chức thương mại Hoa Kỳ xem xét định kỳ những cam kết về WTO của Việt Nam và đề xuất những phương cách khác nhau nhằm tăng cường quá trình thương mại và đầu tư song phương. Việc này bao gồm những thảo luận của Hoa Kỳ gần đây với Việt Nam để tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương nhằm phát triển thương mại, một đề xuất của Hoa Kỳ nhắm vào các quốc gia Thái Bình Dương.


The US ran a US$11.2 billion trade deficit with Vietnam in 2010, driven by US imports of Vietnam-produced apparel, furniture and footwear, according to official US trade statistics. Certain of those flows could be in jeopardy if the two sides fail to reach a new agreement soon on customs cooperation, import licensing laws, biotechnology policies and sanitary measures, including provisions that have inhibited US beef exports to Vietnam.


Hoa Kỳ có một lượng thâm thủng mậu dịch đến 11,2 tỉ Mỹ kim với Việt Nam trong năm 2010, tác động bởi việc Hoa Kỳ nhập những mặt hàng may mặt, bàn ghế và giày dép từ Việt Nam, căn cứ theo dữ liệu thống kê mậu dịch của Hoa Kỳ. Chắc chắn những nguồn hàng này sẽ bị đe doạ nếu hai bên không đạt được một thoả thuận mới về hợp tác hải quan, luật lệ về giấp phép nhập khẩu, chính sách về công nghệ sinh học và các biện pháp vệ sinh, bao gồm các điều khoản đã ngăn cản thịt bò Mỹ nhập vào Việt Nam.

US and European traders here also carp about a new government program that nominally aims to streamline trade processes by allowing them to submit export applications on-line, but in practice still requires them to present hard copies to customs authorities before they are allowed to send their products overseas.

Các nhà thương mại Hoa Kỳ và châu Âu cũng lên án một chương trình mới của chính phủ mà bề ngoài có vẻ nhằm để đơn giản hoá quá trình thương mại bằng cách cho phép họ nộp đơn xin xuất khẩu trực tuyến, nhưng trên thực tế vẫn bắt buộc họ phải nộp hai bản giấy cho quan thuế trước khi họ được phép chuyển hàng ra nước ngoài.


Broad discretion
From national security to international commerce, Vietnam maintains many laws that are open to broad interpretation, giving authorities a large measure of arbitrary discretion. Despite Vietnam's WTO commitments, there are still various arcane customs laws on the books. Many are often twisted by unscrupulous customs officers for personal gain, according to international investors and traders.

Tùy tiện suy diễn

Từ an ninh quốc gia cho đến thương mại quốc tế, Việt Nam vẫn còn giữ nhiều luật lệ có thể được hiểu theo nhiều cách, cho phép nhà cầm quyền có thể tự do suy diễn theo ý mình. Bất chấp những cam kết của Việt Nam đối với WTO, họ vẫn lưu hành những luật lệ hải quan khó hiểu. Nhiều luật lệ thường xuyên bị các quan chức hải quan vô liêm sĩ bóp méo để trục lợi, các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế cho biết.

Frederick Burke, a senior partner at Baker and McKenzie law firm in Ho Chi Minh City, believes that's inhibiting trade and investment. "Some customs officers are operating on bad faith. They'll take any rule and twist it and treat it the way they want until they get what they want," said Burke. "It's a systemic thing and has to be stopped. That kind of person is going to stop Vietnam being a competitor in international markets."

Frederick Burke, một thành viên cao cấp thuộc tổ hợp luật sư Baker and McKenzie tại Thành phố Hồ Chí Minh tin rằng điều này ngăn cản quá trình thương mại và đầu tư. “Một số quan chức hải quan làm việc với ý đồ xấu. Họ dùng bất cứ điều luật nào và tuỳ tiệc bóp méo cho đến khi đạt được điều mình muốn,” Burke nói. “Đây là một tệ nạn mang tính hệ thống và cần phải chấm dứt. Loại người này đang cản trở Việt Nam cạnh tranh trên thị trường thế giới.”
Burke noted a personal example where his mother used a local publishing house to print a book about San Francisco she planned to produce in Vietnam for global export. She was required by customs to display the Vietnamese publishing house's insignia on the book's front cover even though it would not be available for sale in Vietnam.


Burke dẫn ra một ví dụ mà ông đã trải qua khi mẹ ông mướn một nhà xuất bản in một cuốn sách về San Francisco mà bà dự định sẽ sản xuất tại Việt Nam và xuất ra nước ngoài. Bà bị ngành hải quan yêu cầu phải đóng huy hiệu của nhà xuất bản Việt Nam trên bìa trước của cuốn sách mặc dù nó sẽ không được bán tại Việt Nam.


To be sure, the ease of doing business in Vietnam has improved markedly in the dramatic transition from an isolationist, centrally planned economy in the 1980s to a more outward-oriented and market driven one at present. Imports, exports and other commercial exchanges once confined to Soviet bloc countries are now geared towards the wider world, although Vietnam is still considered a "closed" economy in several respects.


Rõ ràng là việc làm ăn tại Việt Nam đã trở nên dễ dàng hơn một cách đáng kể trong quá trình chuyển hoá đầy kịch tính từ một nền kinh tế khép kín, tập trung trong những năm 1980 thành một nền kinh tế hướng ngoại với xu hướng thị trường hiện nay. Xuất nhập khẩu và những trao đổi thương mại từng chỉ giới hạn trong những quốc gia thuộc khối Xô Viết giờ đây đang hướng đến một thế giới rộng hơn, mặc dù Việt Nam vẫn được xem là một nền kinh tế “đóng cửa” trong nhiều khía cạnh.


The resumption of bilateral relations with the US in 1995, a bilateral trade agreement with the US in 2001, and WTO accession have all helped to integrate Vietnam into the global economy and contributed to several years of fast, trade-driven gross domestic product (GDP) growth. Vietnam is currently the world's biggest exporter of cashew nuts, the second-largest exporter of coffee and rice, and is quickly moving up the value-added ladder in various manufactures.


Việc phục hồi quan hệ song phương với Hoa Kỳ vào năm 1995, một hiệp định thương mại song phương cũng với Hoa Kỳ trong năm 2001, và việc gia nhập WTO đều đã giúp Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đóng góp vào một số năm với mức tăng trưởng cao nhờ xu hướng thị trường. Việt Nam hiện là nhà xuất khẩu hạt điều đứng đầu thế giới, đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê và gạo, và đang nhanh chóng leo lên bậc thang sản xuất các mặt hàng giá trị khác.


One explanation for the convoluted and contradictory trade codes is that the government desperately needs to maintain a healthy trade surplus to bolster the national finances. The local currency, the dong, continues to slump against the US dollar in market response to high inflation, which has surged in stretches by over 20% in recent years, rising debts at inefficient state enterprises and dwindling foreign reserves.


Một giải thích cho những điều luật thương mại rắc rối và mâu thuẫn trên là chính phủ đang tuyệt vọng muốn giữ nguyên tình trạng nhập siêu mạnh mẽ để củng cố nền tài chính quốc gia. Tiền đồng nội tệ vẫn tiếp tục bị tụt giá so với đồng Mỹ kim khi thị trường phản ứng với nạn lạm phát gia tăng, vốn đã nhảy vọt đến 20% trong những năm gần đây, việc nợ nần gia tăng tại những công ty nhà nước thiếu hiệu quả cũng như quỹ dự trữ ngoại tệ đang cạn dần.


Foreign direct investment is down over 20% so far this year, putting additional pressure on national coffers. In response, Prime Minister Nguyen Tan Dung last month ordered the establishment of a new advisory committee to oversee fiscal and monetary policy. The central bank, meanwhile, has signaled plans to consolidate the unwieldy banking sector, which some analysts suggest could be teetering towards crisis.


Trong năm nay đầu tư nước ngoài trực tiếp đã giảm hơn 20%, làm tăng thêm áp lực vào quỹ dự trữ quốc gia. Để đối phó, tháng trước Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh thành lập một uỷ ban cố vấn chuyên xem xét các chính sách tiền tệ và ngân sách. Trong khi đó ngân hàng trung ương đã phát tín hiệu về những kế hoạch nhằm củng cố lại lĩnh vực ngân hàng khó bấp bênh mà các nhà phân tích cho rằng có thể dẫn đến khủng hoảng.


To maintain confidence in Vietnam's direction, traders and investors here argue the government should prioritize trade law reforms. The economic stakes are high: many multinational manufacturers have established major facilities here in recent years, despite bureaucratic red tape, laggard infrastructure and the government's inability to manage macroeconomic stability.


Để giữ vững niềm tin đối với hướng đi của Việt Nam, các doanh nhân và nhà đầu tư ở đây lập luận rằng chính phủ cần phải ưu tiên việc cải cách luật thương mại. Hiện trạng kinh tế đang rất nghiêm trọng: trong những năm gần đây nhiều nhà sản xuất đa quốc gia đã thiết lập các cơ sở lớn tại đây, bất chấp những cản trở quan liêu từ chính quyền, cơ sở hạ tầng lạc hậu và chính phủ không có khả năng quản lý sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.


According to a paper published this year by the American Chamber of Commerce, foreign invested manufacturing accounted for 42% of all production and more than half of total exports in 2010. The combination of high economic growth rates and low wages, as well as rising labor rates in China, have attracted foreign manufacturing investors to Vietnam, the paper noted.


Theo một báo cáo được đưa ra trong năm nay của Phòng Thương mại Hoa Kỳ, ngành sản xuất với vốn nước ngoài chiếm đến 42% tổng số hàng hoá làm ra và hơn phân nửa tổng số hàng xuất khẩu trong năm 2010. Sự tổng hợp của tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và lương thấp, cũng như giá lao động đang tăng tại Trung Quốc đã hấp dẫn các nhà đầu tư sản xuất nước ngoài vào Việt Nam, báo cáo cho biết.


That's included technology companies such as Intel and Canon, both of which have recently established their largest global production operations in Vietnam. Intel's chip operation here is valued at over $1 billion, while Nokia will complete a $280 million plant by next year. Regional players such as India's Tata Steel have also begun to invest heavily in Vietnam.

Họ bao gồm những công ty công nghệ như Intel và Canon, cả hai vừa qua đều đã thiết lập những cơ sở sản xuất lớn nhất thế giới tại Việt Nam. Dây chuyền sản xuất mạch của Intel có giá trị hơn 1 tỉ Mỹ kim, trong khi Nokia sẽ hoàn thành nhà máy trị giá 280 triệu Mỹ kim trong năm tới. Những đối thủ trong khu vực như Tata Steel của Ấn Độ cũng đã bắt đầu đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam.

These major multinational investments reflected an earlier confidence in Vietnam's commitment to its WTO obligations and pursuit of free trade. Customs bureau corruption and contradictory trade laws, however, still represent substantial downside risks. If Vietnam genuinely intends to maximize its trade potential, authorities will need to issue soon clearer trade rules and regulations on more items than just "deviant" adult toys.

Những đầu tư đa quốc gia tầm cỡ này phản ánh sự tin tưởng trước đây vào sự cam kết của Việt Nam về nghĩa vụ của mình đối với WTO và việc theo đuổi thương mại tự do. Tuy nhiên nạn quan liêu tham nhũng của ngành hải quan và những luật lệ thương mại mâu thuẫn vẫn tạo ra những rủi ro tiêu cực lớn. Nếu Việt Nam thật sự mong muốn mở rộng tiềm năng thương mại của mình một cách tối đa, chính quyền cần phải sớm đưa ra những luật lệ thương mại rõ ràng hơn về những mặt hàng khác hơn là chỉ những món đồ chơi “đồi trụy” của người lớn.

M Goonan, a pseudonym, is a Vietnam-based freelance journalist.
M Goonan là bút danh của một nhà báo tự do tại Việt Nam.



Translated by Diên Vỹ



http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MK16Ae01.html

China's Looming Economic Crisis Mối đe doạ khủng hoảng kinh tế ở Trung Quốc



Workers strike at Honda factory in China in 2010
Công nhân đình công tại nhà máy Honda ở Trung Quốc trong năm 2010

China's Looming Economic Crisis

Mối đe doạ khủng hoảng kinh tế ở Trung Quốc
By James Nolt
November 17, 2011
James Nolt
17/11/2011

Foreign Policy
Foreign Policy


China's economy has been growing at a phenomenal pace in recent decades, averaging around 10 percent a year. Few people seemed to worry, therefore, when the Chinese government announced recently that GDP growth in the third quarter of 2011 slowed to “only” 9.1 percent. Almost any country in the world would envy such growth. Yet beneath the continued robust appearances, there are signs that China is heading toward a crash reminiscent of the one that brought down the U.S. economy during 2007-2008.

Nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển qua những bước thần kỳ trong những thập kỷ gần đây với GPD trung bình 10% mỗi năm. Bởi thế một số người đã lo lắng khi chính phủ Trung Quốc gần đây vừa công bố rằng mức tăng trưởng GPD trong quý ba 2011 vừa qua đã giảm xuống "chỉ" ở mức 9.1%, dù hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều sẽ ghen tỵ với tỉ lệ này. Tuy nhiên, bên dưới vẻ tăng trưởng khỏe mạnh đó đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang đi vào vết xe đổ của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ vào năm 2007-2008.

China too is facing a real estate bubble financed by an unregulated shadow banking system that is just lately starting to get squeezed between tightening government regulation of credit and sharply falling export sales. If real estate prices finally start to tumble, the shock to bullish Chinese investors could collapse the shadow banking system, drive many smaller businesses under, and create severe unemployment problems. Although the U.S. Congress is still fixated on the supposed problem of an undervalued currency, a serious slowdown of the Chinese economy could have worse implications for the world economy than the much touted exchange rate issue.

Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với bong bóng bất động sản được cấp vốn bởi hệ thống cho vay lãi chợ đen thiếu kiểm soát mà gần đây bắt đầu bị o ép giữa quy định thắt chặt tín dụng của chính phủ và sự giảm mạnh doanh số xuất khẩu. Nếu giá bất động sản cuối cùng sụt giảm, thì cú sốc cho những nhà đầu tư mạnh tayTrung Quốc có thể làm sụp đổ hệ thống cho vay chợ đen, kéo theo nhiều danh nghiệp nhỏ lẻ, và tạo nên nhiều vấn đề thất nghiệp nghiêm trọng. Dù quốc hội Mỹ vẫn còn kiên định với vấn đề tiền tệ thì suy thoái nghiêm trọng của nền kinh tế Trung Quốc có thể có những tác động tồi tệ cho nền kinh tế thế giới hơn các vấn đề chuyển đổi tỷ giá hối đoái.

Americans must start to think more broadly about the role of the Chinese economy in an increasingly troubled world economy and not consider only the bilateral U.S.-China economic relationship in isolation from the rest of the world. Since 2007 the world economy has been rattled by a series of structural failures worse than any since the 1930s. This is a dangerous time. The Great Depression was not a single crisis but a snowballing series of interlinked crises that each pulled the world deeper into depression. The links among various crises in the world today are even tighter than then because of the much greater integration and interdependence of the global financial system and its greater role in real economies everywhere.

Người Mỹ phải bắt đầu suy nghĩ rộng hơn về vai trò của kinh tế Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới vốn ngày càng khó khăn mà không chỉ xem xét đến mối quan hệ kinh tế song phương Mỹ-Trung trong sự cô lập với phần còn lại của thế giới. Từ năm 2007 nền kinh tế thế giới đã rung chuyển bởi một loạt các sự đổ vỡ được đánh giá là tồi tệ hơn bất kỳ vụ nào kể từ những năm 30 thế kỷ trước. Có thể thấy thời điểm hiện tại đang là thời điểm nguy hiểm. Cơn Đại Suy Thoái này không chỉ là cơn khủng khoảng đơn lẻ, mà còn là một loạt các cuộc khủng hoảng tăng nhanh liên kết với nhau kéo thế giới chìm sâu hơn vào cơn suy thoái. Sự liên kết giữa các cơn khủng hoảng khác nhau ngày nay thậm chí còn chặt chẽ hơn vì hệ thống tài chính toàn cầu này liên kết rộng sâu hơn, phụ thuộc lẫn nhau và có vai trò lớn hơn trong các nền kinh tế thế giới.


Currency Conflict

The view from Washington is that the main problem is China's overvalued currency, the RMB or yuan. Congress is urging the Chinese government to let the RMB rise in value against the dollar, which would make everything made in China more expensive to Americans and everything made in United States cheaper in China. This could conceivably stimulate jobs in the U.S. as we sell more to China. China, though, would lose jobs by selling less to the United States.

Xung Đột Tiền Tệ

Cái nhìn từ Washington về vấn đề chính hiện nay là đồng Nhân Dân Tệ (NDT) của Trung Quốc. Quốc hội Mỹ đang thúc đẩy chính phủ Trung Quốc đẩy mệnh giá đồng NDT đối trọng với đồng Đô La nhằm tăng giá trị các mặt hàng từ Trung Quốc và giảm giá trị mặt hàng làm từ Mỹ sao cho rẻ hơn. Điều này có thể kích thích việc làm tại Mỹ khi sẽ bán được nhiều hàng hoá hơn sang Trung Quốc. Tuy vậy Trung Quốc sẽ mất nhiều công ăn việc làm khi bán hàng ít hơn Mỹ.


However, if the RMB rises sharply against the dollar, China's loss of jobs is more certain than America's gain. Most Chinese exports to the United States are labor-intensive products such as shoes and clothing that are not likely to be made in America even if Chinese prices for these things rise. Faced with more expensive Chinese products, American consumers will simply shift our purchases to other low-wage countries such as India, Pakistan, Indonesia, and Vietnam. China would lose jobs, but America is unlikely to gain many. We would gain some jobs as our products become cheaper for Chinese consumers, allowing us to sell more, but as I argue below, the structure of Chinese demand favors products from Europe and Japan more than those made in America anyway, so our gain would not be large.

Nếu đồng NDT nổi dậy mạnh mẽ đối trọng với đồng Đô La, thì nạn mất việc làm tại Trung Quốc là dễ thấy hơn việc Mỹ tăng số lượng việc làm. Hầu hết Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa qua Mỹ đều là các mặt hàng nặng về lao động như giày dép và quần áo vốn là những thứ thường không có khả năng được làm tại Mỹ kể cả khi giá trị mặt hàng Trung Quốc tăng lên. Đối diện với các mặt hàng xa xỉ Trung Quốc, người tiêu dùng Mỹ sẽ đơn giản chuyển sang mua hàng từ các nước có thu nhập thấp như Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, và Việt Nam. Trung Quốc sẽ mất lượng lớn việc làm, nhưng Mỹ thì không có khả năng tăng nhiều. Mỹ sẽ tăng được lượng việc làm khi hàng hóa Mỹ trở nên rẻ hơn cho người tiêu thụ Trung Quốc, điều đó cho phép Mỹ bán nhiều hơn, nhưng cũng như tranh luận bên dưới, nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốc hướng nhiều về các mặt hàng đến từ Châu Âu và Nhật Bản hơn từ Mỹ, vì vậy số lượng việc làm tăng được ở Mỹ sẽ không đáng kể.

On the other hand, a decline in the value of the dollar (the flip side of the rise in the RMB), such as Congress demands, would make all Americans somewhat poorer and less able to afford foreign-made goods, including oil. American interest rates would also rise, increasing the cost of our public and private debt and slowing our economy, perhaps counteracting any job gains from increased exports. Our current low interest rates depend in part on strong Chinese (and Japanese and Arab) demand for our government debt, demand that is largely driven by the Chinese central bank's purchase of U.S. government bonds as its main method of preventing the RMB from rising. Selling RMB to buy dollars restrains the dollar value of the RMB. Those dollars are then mostly used to purchase U.S. government bonds, financing our debt. If China stops funding our debt, who will pick up the tab? Interest rates would rise to coax other investors to replace the Chinese. If Congress does manage to provoke the sharp rise in the RMB, we may all regret it.

Mặt khác, sự suy giảm giá trị của đồng Đô La (trái ngược với sự gia tăng của đồng NDT), như là quốc hội Mỹ đòi hỏi, sẽ khiến tất cả người Mỹ phần nào nghèo hơn, và ít có khả năng làm các mặt hàng tại nước ngoài, bao gồm cả dầu. Lãi suất Mỹ cũng sẽ tăng lên, tăng cả chi phí nợ công và tư nhân và làm chững lại nền kinh tế Mỹ, và có lẽ cản trở thúc đẩy việc làm từ gia tăng xuất khẩu. Lãi xuất thấp hiện tại của Mỹ phụ thuộc một phần vào sự mạnh mẽ của Trung Quốc(cùng Nhật Bản và Ả Rập) có nhu cầu vào nợ nần của chính phủ Mỹ, phần lớn thúc đẩy bởi ngân hàng trung ương Trung Quốc mua trái phiếu chính phủ Mỹ như phương pháp chính của việc ngăn chặn sự gia tăng đồng NDT. Việc bán đồng NDT để mua đồng Đô La đã kiềm chế lại giá trị của đồng NDT so với đồng Đô La. Những đồng Đô La đó sau cùng cũng được sử dụng chủ yếu để mua trái phiếu chính phủ Mỹ và cấp vốn nợ cho Mỹ. Nếu Trung Quốc ngừng cấp vốn nợ đó, thì ai sẽ đứng thay? Lãi xuất sẽ tăng lên để kích thích các nhà đầu tư khác nhằm thế chỗ Trung Quốc. Nếu quốc hội Mỹ tìm cách kích động đồng NDT gia tăng mạnh thì tất cả người Mỹ sẽ phải hối tiếc.


In any case, the “problem” of an overvalued RMB is gradually being solved even without congressional action. Since 2005 the nominal value of the RMB has risen 30 percent against the dollar. Meanwhile, the real cost of Chinese goods has risen even faster because Chinese inflation has exceeded.

Trong bất kỳ trường hợp nào, việc đồng NDT được định giá cao đang dần được giải quyết ngay cả không có sự hành động của quốc hội Mỹ. Từ năm 2005, giá trị hư thực của đồng NDT đã tăng 30% so với đồng Đô La. Trong khi đó, chi phí thực tế của hàng hóa trung quốc đã thậm chí tăng nhanh hơn vì lạm phát Trung Quốc đang vượt mức.

U.S. inflation by anywhere between 7 percent and 20 percent during the same period (depending on the measure of inflation), further reducing the competitiveness of Chinese goods in the American market. Rising relative Chinese costs are likely to continue, since the cost of labor in China's export sector has increased more than 30 percent since the beginning of last year. In fact, precisely because China's exports compete with those of so many other countries, China is not fully able to pass on its rising costs to foreign consumers through higher prices. Chinese exporters are suffering a profit squeeze instead, which will drive many of them out of business – even more if the RMB value rises sharply.

Lạm phát Mỹ cùng thời kỳ nằm trong khoảng 7% đến 20% (tùy thuộc vào mức đo lạm phát), đẩy mạnh việc giảm khả năng cạnh tranh hàng hóa Trung Quốc tại thị trường Mỹ. Việc gia tăng chi phí tương đối của Trung Quốc đang có thể tiếp tục, kể từ lúc chi phí lao động trong lĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng hơn 30% kể từ đầu năm ngoái. Trong thực tế, chính vì lượng xuất khẩu Trung Quốc đang phải cạnh tranh với rất nhiều quốc gia khác nên Trung Quốc không thể vượt qua hoàn toàn chi phí gia tăng tới người tiêu dùng nước ngoài thông qua giá cả cao hơn. Xuất khẩu Trung Quốc đang bị dồn ép lại lợi nhuận để thay vào đó sẽ đẩy nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đi đến phá sản, chậm phí nhiều hơn nếu đồng NDT gia tăng mạnh.

China and Europe

China's economic relationship with tottering Europe is even more crucial to the health of the world economy than its relationship with America. China exports to the United States quite a lot more than it imports, not because the Chinese are stubbornly resisting buying American goods, but because the United States does not manufacture so much of what China imports most: factory machinery and railroad equipment. Europe, however, does. Tour any Chinese factory (I have toured scores of them) and you will see plenty of machines made in Germany, Italy, Britain, and Japan. Decades ago, before the rise of China, the United States had already declined as a major world supplier of productive machinery. Yet China, because of its very fast growth rate, high savings rate, and high investment spending, needs factory and transportation equipment more than the farm, consumer and entertainment goods and services that the United States typically exports. Although Boeing does sell lots of airliners to China, it is Europe, not America, that benefits most directly from a healthy Chinese economy.

Trung Quốc và Châu Âu

Mối quan hệ kinh tế Trung Quốc với một Châu Âu lung lay thậm chí còn quan trọng cho sự khoẻ mạnh của nền kinh tế thế giới hơn mối quan hệ song phương giữa Trung Quốcvà Mỹ. Trung Quốcxuất khẩu tới Mỹ nhiều hơn lượng nhập khẩu, không phải vì Trung Quốcđang ngoan cố chống việc hàng hóa Mỹ, mà bởi vì nước Mỹ không sản xuất nhiều những Trung Quốc cần nhập như: các nhà máy sản xuất máy móc và thiết bị đường sắt. Tuy nhiên Châu Âu thì lại có thế đáp ứng. Tham quan bất kỳ nhà máy Trung Quốc nào (tác giả đã quan sát thực tế) và bạn sẽ thấy rất nhiều máy móc được làm tại Đức, Ý, Anh, và Nhật Bản. Cách đây nhiều thập kỷ, trước khi Trung Quốc đi lên, Mỹ đã từ chối làm nhà cung cấp chính trên thế giới cho việc sản xuất máy móc. Nhưng Trung Quốc (với tốc độ tăng trưởng rất nhanh, cùng tỷ lệ tiết kiệm cao, và chi tiêu đầu tư cao) đang cần nhà máy và các thiết bị vận chuyển hơn so với các hàng hóa nông sản, tiêu dùng, vui chơi giải trí, và các dịch vụ mà Mỹ thường xuất khẩu. Và dù hãng Boeing đã bán rất nhiều máy bay chở khách tới Trung Quốc, thì chính Châu Âu chứ không phải Mỹ mới hưởng lợi trực tiếp từ một nền kinh tế Trung Quốc khỏe mạnh.


Yet now, because of the ongoing debt crisis and economic slowdown in Europe, European imports from China have recently fallen rather drastically. This, added to the export-profit squeeze mentioned above, could help trigger an economic crisis in China. Any slowdown in China will, in turn, dramatically reduce Chinese demand for imports from Europe of investment goods such as machinery and transportation equipment (since any slowdown in growth disproportionately decreases demand for investment goods), throwing European economies deeper into crisis in what could become a vicious circle of declining trade demand on both sides.


Tuy nhiên, hiện nay, vì cuộc khủng hoảng nợ nần đang diễn ra, và nền kinh tế ở Châu Âu đang chững lại, nên Châu Âu đã giảm khá mạnh việc nhập khẩu từ Trung Quốc. Điều này, cộng với sự o ép lợi nhuận xuất khẩu đã được đề cập bên trên, có thể làm kích hoạt cuộc khủng hoảng kinh tế Trung Quốc. Bất kỳ sự suy giảm nào ở Trung Quốc cũng sẽ lần lượt làm giảm đáng kể nhu cầu của Trung Quốc với việc nhập khẩu từ Châu Âu các mặt hàng đầu tư như máy móc, thiết bị vận chuyển (từ bất kỳ sự suy giảm tăng trưởng không cân đối khiến nhu cầu với hàng hóa đầu tư giảm lại), ném những nền kinh tế Châu Âu vào sâu hơn các cuộc khủng hoảng mà có thể trở thành một vòng tròn lẩn quẩn của sự suy giảm nhu cầu thương mại ở cả hai bên.




Europe is a much bigger market for U.S. goods than China could possibly be, regardless of the dollar-RMB exchange rate. A sinking Europe would plunge the U.S. economy back into recession and wreck havoc (again) on the U.S. financial system. The direct effect of a crisis in the Chinese economy looks less severe to the United States than the indirect effect it could have in pushing Europe over the brink.

Châu Âu là một thị trường rộng lớn cho hàng hóa Mỹ, lớn hơn nhiều so với thị trường Trung Quốc, bất kể tỷ giá giữa đồng Đô La và NDT. Một Châu Âu chìm sâu sẽ đẩy nền kinh tế Mỹ chìm vào suy thoái, và tàn phá (một lần nữa) vào hệ thống tài chính Mỹ. Tác động trực tiếp của một cuộc khủng hoảng trong nền kinh tế Trung Quốc có vẻ ít nghiêm trọng đối với Mỹ hơn so với tác động gián tiếp có thể có trong việc đẩy Châu Âu đến bên bờ vực.

Bubble Burst?

China's potential decline is, in the end, more worrisome than the competitive pressures of China's dizzying rise. As mentioned above, China's impending crisis looks superficially like that of the United States a few years ago. It has many of the same ingredients: a housing bubble, a ballooning unregulated and unstable shadow banking system, and a turn toward credit tightening that may be just enough to burst the bubble, collapse the shadow banking system, and throw the economy in reverse. Similar to the U.S. case, the Chinese government would certainly step in to rescue the large, official, too-big-to-fail government-owned banks, but the consequences of collapsing the shadow banking system could be severe.

Bong bóng vỡ tung?

Và cuối cùng, một Trung Quốc suy giảm tiềm năng thì đáng lo ngại hơn so với một Trung Quốc tăng trưởng chóng mặt và đầy áp lực cạnh tranh. Như đã đề cập ở trên, cuộc khủng hoảng sắp xảy ra ở Trung Quốc bề ngoài trông như ở Mỹ cách đây vài năm. Nó có các thành phần giống nhau: bong bóng nhà đất, hệ thống ngân hàng mờ ám phình to không kiểm soát và điều chỉnh, và các quy định thắt chặt tín dụng đủ để làm vỡ toang bong bóng làm sụp đổ hệ thống ngân hàng bóng đen thảy nền kinh tế vào hướng đảo ngược. Tương tự như trường hợp của Mỹ, chính phủ Trung Quốc chắc chắn sẽ bước chân vào để giải cứu các ngân hàng được xem là có quy mô, có tính hợp thức, quá-lớn-để-thất-bại, hoặc thuộc sỡ hữu chính phủ. Nhưng dù vậy, những hậu quả của sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng bóng đen có thể sẽ rất khắc nghiệt.


The most obvious part of this prognosis is the housing bubble. I have lived in China for more than four years now and travelled to many cities here. All of China's cities are festooned with forests of building cranes, adding huge new blocks of high-rise apartment buildings in every corner of every city. It is the most impressive construction boom the world has ever seen. Tens of millions of workers, most of them migrants from rural China, labor on these projects. This gargantuan effort is less impressive in the evening, when you can see that the vast majority of the newly-constructed apartment blocks are nearly empty. Few lights illuminate these largely uninhabited dwellings. Despite the massive increase in supply, housing prices have continued to soar, so that few working families can afford to buy an apartment. Most of those that are purchased are bought by speculators investing in rising prices rather than families wishing to reside in them. As soon as prices peak and turn down, speculator demand will plummet. Rents are so low in relation to purchase prices that rental income alone is not enough to make these tens of millions of new apartments attractive as investments. Only ever-rising prices have made them attractive. Any reversal of prices could cause speculator-fueled demand to fall precipitously.


Sự rõ ràng dễ thấy trong điều dự đoán này là bong bóng nhà đất. Tác giả bài viết đã sống ở Trung Quốc trong hơn bốn mươi năm nay và đã đi đến nhiều thành phố ở đây. Tất cả các thành phố Trung Quốc đều được "trang hoàng" với những rừng cần trục xây dựng, những khu nhà chung cư cao tầng quy mô trong mọi ngõ ngách của mỗi thành phố. Đó là sự bùng nổ xây dựng ấn tượng nhất mà thế giới đã từng biết. Hàng chục triệu công nhân, mà hầu hết di cư từ nông thôn Trung Quốc làm việc trong các dự án này. Nỗ lực khổng lồ này dù vậy trông ít ấn tượng hơn vào ban đêm, khi bạn có thể thấy phần lớn các khu chung cư mới xây gần như trống chỗ. Rất ít đèn chiếu sáng trong những căn phòng không có người ở. Mặc dù có sự gia tăng lớn trong việc cung cấp, giá nhà đất vẫn tiếp tục tăng cao, do đó chỉ có vài gia đình công nhân có đủ khả năng mua được căn hộ. Hầu hết những căn hộ đó được mua bởi các nhà đầu cơ đầu tư vào việc tăng giá hơn là có nhu cầu cư trú tại đó. Ngay khi giá cả đạt đến cao điểm và rớt xuống, nhu cầu đâu cơ sẽ rớt theo. Hiện tại giá tiền thuê nhà rẻ hơn nhiều so với giá tiền mua nhà, chính vì thế số tiền thu được từ việc cho thuê không đủ để đầu tư xây thêm hàng chục triệu căn hộ mới. Chỉ trừ khi giá tiền lên thì mới đủ để giúp vụ đầu tư này thu hút hơn. Bất kỳ việc đảo ngược giá nào cũng sẽ làm cho nhu cầu của giới đầu cơ rơi xuống chóng mặt.


The direct consequences of a fall of housing prices may not be as drastic as in the United States, because many of the speculators are small owners who have been allocated at least some of their apartments by the government as part of its redevelopment policies. Not all of the housing speculators are heavily leveraged. But those who have borrowed heavily from the shadow banking sector. Falling real estate prices could cause speculators to sell into a falling market, accelerating its fall. Some will not recover enough from the falling sales prices to repay their loans. As in the United States, those who go bankrupt will surrender their properties to financiers who must also cast them onto the market to remain sufficiently liquid in a declining market. Conceivably the Chinese government could halt the fall by buying apartments itself and through government-owned banks, but this would sustain prices at too high a level. Prices need to fall a lot if sufficient number of non-speculative buyers are to be found.


Hậu quả trực tiếp của việc sụp đổ giá nhà đất có thể không quyết liệt như ở Mỹ, bởi nhiều nhà đầu cơ là chủ sở hữu nhỏ đã được giao ít nhất là một số căn hộ bởi chính phủ như là một phần của chính sách tái phát triển. Không phải tất các nhà đầu cơ nhà đất đang rơi vào bẫy nặng, mà là những người đã vay mượn số lượng lớn từ ngân hàng bóng đen. Giảm giá bất động sản có thể khiến các nhà đầu cơ bán lại vào thị trường suy sụp, làm tăng tốc độ sụp đổ của nó. Một số sẽ không kịp hồi phục từ việc giảm giá bán để trả nợ vay. Cũng như tại Mỹ, những người phá sản sẽ giao lại tài sản cho các nhà quản lý tài chính, là những người sẽ phải đưa khối tài sản đó ra thị trường đang suy giảm để duy trì sự thả lỏng. Một cách dễ hiểu, chính phủ Trung Quốccó thể ngăn chặn sự sụp đổ bằng cách mua các căn hộ riêng thông qua các ngân hàng chính chủ, nhưng điều này cũng sẽ duy trì giá cả ở mức rất cao. Mức giá cần phải giảm lại nhiều nếu muốn có đủ số người mua không phải là các nhà đầu cơ.


A fall of housing prices sufficient to make these vast blocks of new housing affordable to Chinese consumers (obviously desirable public policy) is likely to collapse the shadow banking sector, which not only provides credit for much real estate speculation but also funds hundreds of thousands of small and medium-sized businesses unable to obtain credit from the larger government-owned banks. As in the United States in the run-up to the 2007-2008 crisis, the shadow banking system has exploded in size recently. This shadowy system has several components, including off-balance sheet loans from official banks, unofficial loans by large non-financial corporations that can borrow from official banks and then re-lend in the shadow market at higher interest rates, and various unofficial lenders, including rich individuals, pawn brokers, and even gangsters. Because it is so shadowy, the exact size of this sector is difficult to know, but foreign banks estimate it issues at least one-fifth of all Chinese loans and has grown very rapidly recently, especially as the government has tried to rein in lending by its official banks. Despite continuing rapid GDP growth, deposits in official banking accounts are this year more than 20 percent lower than last year as funds from rich and middle class investors are siphoned off into higher-interest “wealth management products” that help fund the unregulated shadow sector.


Việc suy giảm giá nhà đất đủ để làm cho các khu nhà đất rộng lớn này trở nên rẻ hơn cho người tiêu dùng Trung Quốc (đang rõ ràng mong muốn chính sách công cộng) nhưng lại có khả năng gây nên sụp đổ hệ thống cho vay chợ đen, nơi không chỉ cung cấp tín dụng cho đầu cơ bất động sản mà còn hỗ trợ cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn không thể có được tín dụng từ các ngân hàng lớn của chính phủ. Như việc đổ vỡ hệ thống ngân hàng chợ đen ở Mỹ gần đây trong khủng hoảng 2007 2008. Hệ thống chợ đen này có một số thành phần, bao gồm các khoản vay không cân đối từ ngân hàng chính, các khoản vay không hợp thức bởi các công ty phi tài chính lớn mượn từ các ngân hàng hợp thức và rồi cho mượn lại trong thị trường chợ đen với lãi xuất cao hơn, và những người cho vay thuộc tầng lớp, bao gồm các nhà giàu có, môi giới cầm đồ, và chậm chí cả bọn băng đảng côn đồ. Bởi hệ thống này còn nằm trong bóng tối nên rất khó để biết được chính xác về nó, nhưng các ngân hàng nước ngoài ước lượng rằng nó chiếm ít nhất một phần năm các khoản vay của Trung Quốc và đã phát triển rất nhanh chóng gần đây, đặc biệt khi chính phủ cố gắng kiềm chế cho vay từ các ngân hàng chính. Mặc dù GDP tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng, tiền gửi trong tài khoản ngân hàng chính năm nay thấp hơn năm ngoái hơn 20% kinh phí từ các nhà đầu tư thuộc lớp giàu và trung bình, và bị thất thoát vào lãi suất cao hơn thuộc "các sản phẩm quản lý tài sản" để trợ giúp quỹ khu vực bóng đen không kiểm soát.


China's unemployment is politically sensitive, as about 150 million Chinese urban workers are rural migrants with limited rights in the cities they inhabit. Railroad construction workers alone number about six million, two-thirds of whom have recently been idled because of a slowdown in the previously frenetic pace of construction of new high-speed rail lines. The broader construction industry includes tens of millions who could be thrown out of work if the real estate boom subsides. Tens of millions more could lose their jobs if large numbers of small and medium-sized businesses are bankrupted by falling exports, the export profit squeeze, and high-cost or unavailable credit as the shadow banking system implodes.


Tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc là một vấn đề chính trị nhạy cảm, như khoảng 150 triệu công nhân đô thị Trung Quốc là những người nhập cư nông thôn với các quyền lợi giới hạn trong thành phố mà họ sinh sống. Chỉ riêng con số công nhân đường sắt đã vào khoảng sáu triệu, là hai phần ba trong số gần đây đã rỗi việc vì sự chùng lại sau các dự án xây dựng đường cắt cao tốc điên cuồng trước đó. Ngành công nghiệp xây dựng rộng hơn bao gồm hàng chục triệu người có thể bị ném ra khỏi công ăn việc làm nếu sự bùng nổ bất động sản giảm lại. Hàng chục triệu người nữa có thể bị mất việc nếu số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản bởi việc giảm xuất khẩu, việc bị co ép lợi nhuận xuất khảu, và chi phí cao hoặc tín dụng không có giá trị khi hệ thống ngân hàng bóng đen đổ vỡ.


The Chinese government responded to the slowdown of 2008 with a massive $600 million infrastructure spending program. Something on this scale might be done again to absorb some of the unemployment likely to occur when the housing bubble bursts. But it may be too little too late to avoid a significant downturn with serious implications for the fragile world economy, starting in Europe and spreading to the United States. Recent hopeful headlines nominate China as part of the bailout of Europe, but severe problems in the world's most robust economy may overwhelm whatever puny efforts it may be able to make toward a European debt bailout. These are indeed dangerous times.


Chính phủ Trung Quốc phản ứng với sự suy giảm của năm 2008 bằng một chương trình chi tiêu cho cơ sở hạ tầng lớn trị giá 600 triệu USD. Quy mô này có thể thành công lần nữa để ứng phó một số nạn thất nghiệp có thể xảy ra khi bong bóng nhà đất nổ tung. Tuy nhiên chính sách đó có thể quá trễ để tránh một cuộc suy thoái đáng kể với các tác động nghiêm trọng cho nền kinh tế thế giới vốn đang mỏng manh, bắt đầu từ Châu Âu và lan sang Mỹ. Những bài báo đầy hy vọng gần đây chỉ định Trung Quốc như là một phần của gói cứu trợ Châu Âu, nhưng các vấn đề nghiêm trọng trong nền kinh tế mạnh mẽ nhất của thế giới có thế áp đảo những nỗ lực bé nhỏ mà nó có thể hướng tới gói cứu trợ châu âu. Bởi vậy khoảng thời gian này thực sự là những thời gian đầy nguy hiểm.

Americans should be wary of pushing too hard for a free-floating RMB. In this turbulent global economy, anchors of relative stability should not be thrown away lightly. Any rapid appreciation of the RMB will especially devastate the very social forces most congenial to more liberal political reform in China: small and medium-sized export-oriented private businesses. China's state sector is easily buffered from severe adverse effects by the government's ample financial resources, but the shadow banking system and large segments of private business stand at the brink. In the longer term, during the next major American business upturn, it might be desirable to allow further depreciation of the dollar against the RMB and let dollar inflation rise, in part to reduce the real cost of servicing our ballooning debt to China. In effect the United States might eventually pay back its large foreign debt with dollars worth much less than those it borrowed. There is little China could do to counter a U.S. policy of inflating away much of the value of its accumulated debt. Now is not yet the time. The tottering global financial system is not in shape to suffer another major unexpected shock.

Người Mỹ nên phải cảnh giác việc thúc đẩy quá mạnh lên đồng NDT thả-nổi-tự-do. Trong nền kinh tế toàn cầu hỗn loạn này, những mỏ neo tương đối ổn định không nên bị ném đi một cách hời hợt. Bất kỳ sự đánh giá nhanh chóng nào về đồng NDT sẽ đặc biệt tàn phá các lực lượng xã hội đồng tình nhất để cải cách chính trị tự do hơn ở TQ: xuất khẩu nhỏ và vừa theo định hướng doanh nghiệp tư nhân. Trung Quốc có thể dễ dàng đệm từ những hiệu ứng bất lợi nghiêm trọng bởi nguồn tài chính phong phú của chính phủ, nhưng hệ thống ngân hàng bóng đen và những phân đoạn lớn gồm các doanh nghiệp tư nhân đang đứng bên bờ vực nguy hiểm. Về lâu dài, trong sự tăng lên của nền kinh doanh Mỹ, đây đó đang dấy lên mong muốn hạn chế sự xung đột giữa đồng Đô La và NDT và thúc đẩy gia tăng lạm phát đồng USD, một phần cũng để giảm chi phí thực từ nợ nần đang phình to của Mỹ với Trung Quốc. Nhờ vào đó, Mỹ cuối cùng có thể trả lại số nợ lớn từ nước ngoài khi đồng đô la giảm giá trị nhiều đi so với lúc mượn. Trung Quốc sẽ không thế làm được nhiều để chống lại chính sách đó của Mỹ. Tuy nhiên bây giờ chưa phải là thời điểm đúng lúc, khi hệ thống lung lay tài chính toàn cầu chưa hình hài khoẻ mạnh để phải chịu thêm một cú sốc bất ngờ nào nữa.

James Nolt is a senior fellow at the World Policy Institute, an assistant Dean at the NYIT School of Management in Nanjing, China, and a contributor to Foreign Policy In Focus.

James Nolt là một nghiên cứ viên cao cấp tại Viện Chính sách Thế giới, Phó Khoa trưởng Trường Quản lý NYIT của Nam Kinh, Trung Quốc, và cộng tác viên của Tiêu điểm Chính sách đối ngoại

Translated by Vô Thường


http://www.fpif.org/articles/chinas_looming_economic_crisis

Vietnam: a question of balance Việt Nam: một câu hỏi về sự cân bằng




Vietnam: a question of balance

Việt Nam: một câu hỏi về sự cân bằng
By Ben Bland

By Ben Bland

Leadership shows few signs of addressing inequality

Giới lãnh đạo biểu hiện ít dấu hiệu về tiếp cận bất bình đẳng

Schooled in the arts of Marxist-Leninist political discipline, Vietnam’s Communist rulers do not usually air their dirty linen in public. But, at a government forum on the country’s deepening economic crisis in Hanoi last month, tempers boiled over.

Được trui rèn nghệ thuật kỷ luật chính trị kiểu Mác-Lênin, lãnh đạo Việt Nam thường không để lộ chuyện không tốt trong nội bộ mình ra nơi công cộng. Tuy nhiên, tại một diễn đàn chính phủ bàn về cuộc khủng hoảng kinh tế đang trầm trọng hơn của đất nước ở Hà Nội trong tháng qua, những cơn thinh nộ đã phải dâng trào.

When one former central bank governor attempted to blame the country’s woes on developed world governments “captured by greedy financial institutions” he received a finger-wagging rebuke. Tran Xuan Gia, a steely former investment minister, urged Vietnam’s leaders to look inward to understand why their country suffers from the highest inflation rate in Asia. He warned that the country was on the verge of a debt crisis and urged the government to reform and sell off inefficient state-owned companies as soon as possible.

Khi một cựu thống đốc ngân hàng trung ương cố gắng đổ lỗi tai họa của đất nước là vì chính phủ các nước phát triển "bị các tổ chức tài chính tham lam nắm giữ", ông đã nhận lãnh một cử chỉ quở trách. Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng đầu tư, đanh thép kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải nhìn vào chính nội tình đất nước để hiểu lý do tại sao đất nước khốn khổ vì tỷ lệ lạm phát cao nhất châu Á. Ông cảnh báo rằng đất nước đang trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ và kêu gọi chính phủ phải cải cách và phải bán bỏ những công ty quốc doanh không hiệu quả càng sớm càng tốt.

Just five years ago, Vietnam was the darling of foreign investors in search of the next hot emerging market after China, where Soviet-style stagnation had been transformed into an economic boom by a reforming Communist party. Manufacturers from US chipmaker Intel to Canon, the Japanese electronics group, set up shop, enticed by the large, cheap labour force in a nation of nearly 90m people. Dozens of South Korean and Taiwanese contract manufacturers, making everything from wooden furniture to garments, migrated from southern China, where wages are three times higher. By 2010, Vietnam was the biggest source of footwear for Nike, the global sports brand.

Chỉ mới năm năm trước đây, Việt Nam là con cưng của các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm kiếm những thị trường mới nổi sau Trung Quốc, nơi một tình trạng trì trệ kiểu Liên Xô đã được chuyển thành cuộc nổ bùng về kinh tế nhờ một Đảng Cộng sản cải cách. Thu hút bởi một lực lưọng lao động lớn, giá rẻ trong một quốc gia gần 90 triệu dân, các nhà sản xuất từ nhà sản xuất chip Intel của Mỹ đến nhóm thiết bị điện tử Canon của Nhật Bản, đã thiết lập nhiều hãng xưởng. Hàng chục nhà sản xuất, hợp đồng Nam Hàn và Đài Loan, chế tạo tất cả mọi thứ từ đồ nội thất bằng gỗ đến hàng may mặc, chuyển đến từ miền nam Trung Quốc, nơi mức lương cao hơn gấp ba lần. Đến năm 2010, Việt Nam là nguồn chế tạo lớn nhất của giày Nike, thương hiệu thể thao toàn cầu.

At the same time, with one of the fastest-growing middle classes in Asia, Vietnam attracted a growing number of international portfolio investors and consumer brands keen to profit from surging domestic demand in this increasingly status-conscious country.

Đồng thời, với một trong các tầng lớp trung lưu phát triển nhanh nhất châu Á, Việt Nam đã thu hút một số lượng ngày càng tăng các nhà đầu tư quốc tế và những mặt hàng thương hiệu muốn tìm lợi nhuận từ nhu cầu gia tăng trong đất nước có tình trạng ý thức tình ngày càng tăng này.


But the Bentleys, iPhones and Louis Vuitton bags on show in central Hanoi and Ho Chi Minh City, while a sign of the country’s remarkable economic success, also hint at deeper, structural imbalances. The government’s focus on breakneck growth at the expense of economic stability has led to growing inequality, soaring inflation, a lack of confidence in the currency and fears of a banking crisis.

Tuy nhiên, trong khi các thương hiệu Bentley, iPhone và túi Louis Vuitton trưng bày ở trung tâm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là dấu hiệu cho sự thành công đáng kể về kinh tế của đất nước, thì đồng thời cũng là một gợi ý sâu xa hơn về sự mất cân bằng cấu trúc. Tập trung của chính phủ vào cuộc tăng trưởng chóng mặt bằng chi phí của kinh tế ổn định đã dẫn đến sự bất bình đẳng ngày càng tăng, lạm phát tăng cao, thiếu niềm tin vào tiền tệ và nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng ngân hàng.

Domestic overheating, coupled with the deterioration of the global economy, has forced many investors, foreign and Vietnamese, to revise their view of the country’s prospects. Deep-seated problems, such as corruption, poor education and infrastructure bottlenecks – all often overlooked by investors in the boom years – have moved into sharp focus.

Nội địa quá tải cùng với sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu đã buộc nhiều nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam phải xem xét lại quan điểm của họ về triển vọng của đất nước. Các vấn nạn sâu xa, chẳng hạn như tham nhũng, giáo dục người nghèo và cơ sở hạ tầng tắc nghẽn- thường được các nhà đầu tư bỏ qua trong những năm bùng nổ - hiện đã chuyển thành sự chú ý mạnh mẽ.


And with inflation driving wages higher but labour skills not advancing as quickly, fresh questions are arising. Among them is whether Vietnam’s Communist party can force through painful reforms needed to ensure they avoid the “middle-income trap” ensnaring the likes of Malaysia and Thailand, whose economies are a source of cheap labour but not yet makers of higher-value products.


Và với nạn lạm phát đẩy giá lương cao hơn nhưng kỹ năng lao động lại không tiến nhanh kịp, những vấn đề mới đã phát sinh. Trong số đó là Đảng Cộng sản Việt Nam có thông qua được những cải cách đau đớn cần thiết để tránh "bẫy thu nhập trung bình" tương tự đã đánh bẫy Malaysia và Thái Lan, nơi kinh tế là một nguồn lao động giá rẻ nhưng chưa được là những nhà sản xuất các sản phẩm có giá trị cao hơn hay không.


To many analysts, Vietnam serves as a warning of the pitfalls facing the region, even as Europe and the US struggle with their own economic crises. The Asian Development Bank has warned that Asia’s rise is not preordained – and that nations such as Vietnam, as well as China, will need to take tough political choices.


Đối với nhiều nhà phân tích, Việt Nam đang đóng vai trò như một lời cảnh báo về những cạm bẫy mà khu vực phải đối mặt, ngay cả với châu Âu và cuộc đấu tranh của Mỹ với cuộc khủng hoảng kinh tế của mình. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng sự trỗi dậy của châu Á không hề được định trước - và rằng các quốc gia như Việt Nam, cũng như Trung Quốc, sẽ cần phải có những lựa chọn chính trị khó khăn.


“The Vietnamese government is trying to use small plasters to stem a lot of bleeding,” says one senior Asian diplomat in Hanoi. “But in an increasingly competitive world, the risk is that investors just vote with their feet and go elsewhere.”


"Chính phủ Việt Nam đang cố gắng dùng những mảnh vá nhỏ để ngăn chặn việc mất máu quá nhiều", một nhà ngoại giao cấp cao châu Á tại Hà Nội nói. "Nhưng trong một thế giới ngày càng cạnh tranh, nguy cơ là các nhà đầu tư sẽ chỉ bỏ phiếu bằng đôi chân của mình và dời đi nơi khác".


That would further deplete already modest state coffers and create a significant jobs shortfall in a country where the government’s legitimacy derives from its ability to ensure employment for the fast-expanding workforce.


Điều đó sẽ tiếp tục làm cạn kiệt kho bạc vốn đã khiêm tốn của nhà nước và tạo ra một tình trạng thiếu hụt công ăn việc làm đáng kể trong một quốc gia mà tính hợp pháp của chính phủ xuất phát từ khả năng đảm bảo việc làm cho lực lượng lao động nhanh chóng mở rộng của mình.


The country’s potential as a leading Asian manufacturing hub – and its pitfalls – can be seen at Thang Long Industrial Park, built on paddy fields outside Hanoi by Japanese conglomerate Sumitomo and its Vietnamese state-owned partner. Opened in 2000, it quickly attracted Japanese companies keen to capitalise on cheap labour and develop an alternative production base to China, inc­reasingly prone to rising wages and outbreaks of nationalistic hostility.


Tiềm năng của đất nước như một trung tâm sản xuất hàng đầu châu Á - và những cạm bẫy của nó - có thể nhìn thấy tại Khu công nghiệp Thăng Long, được xây dựng trên cánh đồng bên ngoài Hà Nội bởi tập đoàn Sumitomo Nhật Bản và đối tác Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước của nó. Khai trương vào năm 2000, khu công nghiệp này nhanh chóng thu hút các công ty Nhật Bản muốn tận dụng lao động giá rẻ và phát triển một cơ sở sản xuất thay thế cho Trung Quốc, ngày càng ngả về khuynh hướng bị tăng lương và các bùng phát của niềm thù địch dân tộc.


The industrial park was full by 2009, with 55,000 people working for 95 mostly Japanese companies: assembling printers for Canon, refrigerators for Panasonic and the wing flaps for Boeing 737s. But persistently high inflation, today more than 20 per cent year on year, is taking its toll – in Thang Long and other industrial zones across Vietnam. At least 10 of the manufacturers at the park have been hit by wildcat strikes this year, according to Tomoyasu Shimizu, its general manager, as migrant workers struggle to survive on wages as low as 2m dong ($96) a month.


Năm 2009, khu công nghiệp đã đầy, với 55.000 công nhân làm việc cho 95 công ty chủ yếu là của Nhật Bản: lắp ráp máy in Canon, tủ lạnh Panasonic và cánh máy bay Boeing 737. Tuy nhiên, tình trạng lạm phát cao liên tục, ngày nay là đến hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái, đang gây khốn khổ - ở Thăng Long và các khu công nghiệp khác trên khắp Việt Nam. Theo Tompyasu Shimizu, tổng giám đốc khu công nghiệp, ít nhất có 10 nhà sản xuất ở công viên công nghiệp này đã bị ảnh hưởng bởi cuộc đình công tự phát trong năm nay, khi công nhân nhập cư phải vật lộn để tồn tại với mức lương thấp đến 2 triệu đồng (96 USD) một tháng.


Operating on slim margins, many factories are reluctant to boost wages – and are struggling to find workers. On the site’s noticeboard, Canon is offering inducements such as 5kg of free rice a month and cheap accommodation. This is in addition to monthly wages of 2.9m dong and a twice-yearly pay rise.

Hoạt động trên một lợi nhuận kém, nhiều nhà máy do dự không muốn tăng lương - và vẫn đấu tranh để tìm công nhân. Trên bảng thông báo của hãng, Canon chào mời những ưu đãi như 5kg gạo miễn phí một tháng và chỗ ở giá rẻ. Ưu đãi này là phần tăng thêm ngoài tiền lương 2.9 triệu đồng hàng tháng và tiền lương được tăng hai lần hàng năm.


“Some companies have a higher salary but a bad working environment and it’s very expensive to live around here, so I need to be careful what I choose,” says Nguyen Manh Hung, a recently arrived 20-year-old worker. “But I had to come here because there are no jobs in my province.”

"Một số công ty có mức lương cao hơn nhưng môi trường làm việc lại xấu và khu vực sinh sống chung quanh rất đắt đỏ, vì vậy tôi cần phải cẩn thận với những gì mình lựa chọn", ông Nguyễn Mạnh Hùng, một công nhân 20 tuổi mới đến cho biết. "Nhưng tôi đã đến đây làm việc bởi vì tại địa bàn tỉnh của tôi không có công ăn việc làm gì cả".

. . .

Difficulties are in evidence across the country. A series of interest rate hikes, started this year as the government belatedly moved to get a grip on monetary policy, has delivered a hard blow to the economy. The key refinancing rate stands today at 15 per cent. Thousands of businesses have been forced to close, record numbers of strikes have broken out and bad debts have soared. Enquiries from new foreign investors have slowed dramatically, according to lawyers and consultants.

. . .

Những khó khăn là rõ ràng trên khắp đất nước. Một loạt tăng lãi suất đã bắt đầu trong năm nay khi chính phủ di chuyễn muôn màng về một chính sách tiền tệ, đã đánh một đòn nặng nề vào nền kinh tế. Mức lãi chính tái cấp vốn hiện đang ở 15%. Hàng ngàn doanh nghiệp đã buộc phải đóng cửa, các cuộc đình công nổ ra ở mức kỷ lục và các khoản nợ xấu đã gia tăng mạnh. Theo các luật sư và các nhà tư vấn, yêu cầu từ giới đầu tư nước ngoài mới đã chậm lại đáng kể.


Gross domestic product, which rose an average 8.1 per cent a year from 2003 to 2007, is forecast to slow to 6 per cent in the five-year period to 2012, according to the World Bank.

Tổng sản phẩm quốc nội, vốn tăng trung bình 8.1% một năm từ 2003-2007, được dự báo sẽ giảm đến 6% trong giai đoạn năm năm đến năm 2012, theo Ngân hàng Thế giới.




The grim global economic picture only adds to the problems of a country heavily dependent on the export of garments, shoes and commodities such as rice and coffee.


Bức tranh kinh tế toàn cầu ảm đạm chỉ làm nặng nề thêm các vấn nạn của một quốc gia phụ thuộc nhiều vào việc xuất khẩu hàng may mặc, giày dép và các mặt hàng như gạo và cà phê.


But, as Mr Gia, the former minister, made clear, officials cannot simply export the blame. The dramatic inflation problem owes much to a drive to breed a stable of industrial “national champions” that resulted in a large expansion in credit, much of it channelled to wasteful state-owned enterprises and favoured private businesses. In the past five years, total credit in the economy has doubled to 120 per cent of GDP.


Tuy nhiên, theo ông Giá, vị cựu bộ trưởng, đã vạch ra rõ ràng, các quan chức không thể cứ chỉ đơn giản xuất khẩu những lời đổ lỗi. Vấn nạn lạm phát đáng kể đa phần là do nỗ lực nuôi dưỡng sự ổn định của "các nhà quán quân quốc gia" về công nghiệp khiến dẫn đến sự mở rộng tín dụng, phần lớn lại chuyển vào các doanh nghiệp quốc doanh lãng phí và các doanh nghiệp tư nhân được ưu tiên. Trong năm năm qua, tổng tín dụng trong nền kinh tế đã tăng gấp đôi đến 120% GDP.


Rising prices have resulted, in effect, in “inflation taxing” of the population, says Dominic Mellor of the ADB in Hanoi. Food prices rose 32 per cent in the 10 months to October.

Tình trạng giá cả tăng cao dẫn đến hậu quả trong "thuế lạm phát" lên dân chúng, ông Dominic Mellor của ADB tại Hà Nội cho biết. Tinh đến tháng Mười, giá lương thực đã tăng 32% trong 10 tháng.

High inflation has also undermined confidence in the dong, which is pegged to the dollar and has been regularly devalued in recent years to ease pressure on the government’s limited foreign exchange reserves. The currency’s weakness has driven a flight to gold and dollars. Purchases of gold by the Vietnamese are among the world’s highest per head. This has helped the Vietnamese to weather the recent storm, thanks to the long-term gold bull run, but puts further downward pressure on the dong.

Lạm phát cao cũng làm suy yếu niềm tin vào tiền đồng, vốn bị kềm chế bởi đồng đô la và đã thường xuyên bị giảm giá trong những năm gần đây để giảm bớt áp lực giới hạn dự trữ ngoại tệ của chính phủ. Nhược điểm của tiền tệ đã thúc đẩy cuộc tháo chạy đến vàng và đô la. Mức mua vàng (tính theo đầu người) của người Việt Nam là một trong mức cao nhất thế giới. Điều này đã giúp người Việt Nam vượt qua được các cơn bão gần đây, nhờ con bò vàng chạy đường trường, nhưng lại tạo thêm áp lực làm suy giảm tiền đồng.

“The pace of reform has slowed,” says Ben Bingham, who recently left Vietnam after four years as the International Monetary Fund’s senior representative. “The government has found the [economic] environment more difficult to manage [since joining the World Trade Organisation in 2007] than it imagined.”

Tốc độ cải cách đã chậm lại ", ông Ben Bingham, người gần đây đã rời khỏi Việt Nam sau bốn năm làm đại diện cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết. "[Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO)] vào năm 2007, chính phủ đã thấy được rằng môi trường [kinh tế] là khó khăn hơn để quản lý so với trí tưởng tượng của họ".

Navigating Vietnam’s complex, slow and often corrupt bureaucracy is a demanding task. Multinationals such as India’s Tata Steel and Nokia, the Finnish mobile phone producer, have seen their high-profile manufacturing investments in Vietnam delayed by red tape and political infighting.

Giải quyết tình trạng quan liêu phức tạp, trì trệ và thường xuyên tham nhũng của Việt Nam là một nhiệm vụ khắt khe. Các công ty đa quốc gia như Tata Steel của Ấn Độ và Nokia, nhà sản xuất điện thoại di động Phần Lan, đã từng nhìn thấy những đầu tư sản xuất quan trọng của họ tại Việt Nam bị chậm trễ vị tệ quan liêu và đấu đá chính trị trong nội bộ.

The litmus test for Vietnam will be whether the government can finally reform the wasteful state-owned enterprises that dominate the economy.

Phép thử đối với Việt Nam sẽ là liệu chính phủ cuối cùng có thể cải cách được doanh nghiệp quốc doanh lãng phí đang chi phối nền kinh tế hay không.

Jonathan Pincus, who heads Harvard University’s economics teaching programme in Ho Chi Minh City, believes that – without urgently increasing the quality of education and infrastructure and cutting inefficient public spending – Vietnam will find it impossible to become an east Asian tiger like South Korea or Taiwan rather than a flagging crony capitalist state.

Jonathan Pincus, người đứng đầu chương trình giảng dạy kinh tế ở TP. Hồ Chí Minh của Đại học Harvard tin rằng - nếu không khẩn trương gia tăng chất lượng giáo dục, cơ sở hạ tầng và cắt giảm chi tiêu công cộng không hiệu quả -Việt Nam sẽ thấy mình chỉ là một loại quốc gia tư bản thân hữu suy yếu chứ không thể trở thành một con hổ ở phía đông châu Á như Nam Hàn Quốc hoặc Đài Loan.

“Vietnam is replicating the southeast Asian model of inward-looking conglomerates profiting from speculation and government favours like Thailand and Indonesia in the 1980s,” he says.

"Việt Nam sao chép mô hình Đông Nam Á của loại các đại công ty hướng nội, hưởng được lợi nhuận từ sự đầu cơ và đặc ân của chính phủ như Thái Lan và Indonesia trong những năm 1980," ông nói.

Mr Pincus believes the problems have become so entrenched that something big has to change if Vietnam is to live up to its huge potential.

Ông Pincus cho rằng các vấn nạn đã trở nên quá lớn đến mức một điều gì lớn lao cần phải thay đổi nếu Việt Nam muốn sống với tiềm năng to lớn của mình.

“The government is running out of scope for improvising and some hard decisions will have to be made,” he says.

"Chính phủ đang cạn nguồn ứng biến và sẽ phải thực hiện một số quyết định khó khăn", ông nói.




Translated by Lê Quốc Tuấn


http://www.ft.com/intl/cms/s/0/0ae832b0-15e1-11e1-a691-00144feabdc0.html#axzz1xh9AHcr0