|
|
|
5 Things the
Pentagon Isn't Telling Us About the Chinese Military
|
Năm điều Lầu Năm Góc
không nói rõ về quân đội Trung Quốc
|
BY TREFOR MOSS | MAY 23, 2012
|
TREFOR MOSS | 23/5/2012
|
Here's what you
won't find in the Defense Department’s latest report on China's military
rise.
|
Đây là những điều
người ta không tìm thấy trong báo cáo mới nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ về sự trỗi
dậy của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự.
|
Think of it like an
iceberg: The top lies in plain sight, but a lot more hides beneath the
surface.
|
Hãy nghĩ về nó như
một tảng băng trôi: phần trên trông chẳng có gì, nhưng ẩn giấu nhiều điều hơn
ở bên dưới bề mặt.
|
In its annual appraisal of the Chinese military published
last week, the U.S. Department of Defense seems to be describing an object it
finds both familiar and mysterious. The report certainly answers many of the
important issues concerning China's military, including its attempts to
develop an anti-ship ballistic missile and its continuing fixation on Taiwan.
|
Trong bản đánh giá thường niên về quân đội Trung Quốc phát
hành tuần qua, Bộ Quốc phòng Mỹ dường như đang mô tả một đối tượng vừa quen
thuộc, lại vừa bí ẩn. Tất nhiên, bản báo cáo đã giải đáp được nhiều vấn đề
quan trọng liên quan đến quân đội Trung Quốc, bao gồm nỗ lực của quốc gia này
nhằm phát triển loại tên lửa đạn đạo đối hạm và duy trì vây hãm Đài Loan.
|
Yet for many crucial aspects of China's strategy, the
Pentagon seems like it's just guessing. Here are the five most important
questions about Beijing's defense strategy that remain stubbornly unanswered.
|
Tuy nhiên, về những khía cạnh chủ yếu trong chiến lược của
Trung Quốc, Lầu Năm Góc dường như chỉ mới phỏng đoán. Sau đây là 5 câu hỏi
quan trọng nhất về chiến lược quốc phòng của Bắc Kinh vẫn chưa có câu trả
lời.
|
1. What are China's
long-term defense spending plans?
Although China's official 2012 defense budget is $106
billion, an 11 percent increase over last year and a fourfold increase from a
decade ago, the Pentagon places China's total military spending at somewhere between
$120 and $180 billion. "Estimating actual PLA military expenditures is
difficult because of poor accounting transparency and China's still
incomplete transition from a command economy," the report notes,
referring to the People's Liberation Army.
|
1. Kế hoạch chi tiêu
quốc phòng dài hạn của Trung Quốc cụ thể ra sao?
Dù ngân sách quốc phòng chính thức năm 2012 của Trung Quốc
là 106 tỷ USD, tăng 11% so với năm ngoái, và tăng gấp bốn lần so với một thập
niên trước đây, Lầu Năm Góc cho rằng tổng mức chi tiêu quân sự của Trung Quốc
ở khoảng từ 120 tỷ USD đến 180 tỷ USD. “ Khó ước tính mức chi tiêu thực sự
của Quân đội Giải phóng Nhân nhân Trung Quốc (PLA) do sự thiếu minh bạch
trong giải trình số liệu, và Trung Quốc vẫn chưa hoàn tất giai đoạn chuyển
tiếp từ một nền kinh tế chỉ huy”, bản báo cáo lưu ý khi nhắc đến PLA.
|
There have been no credible estimates of Beijing's
long-term defense spending plans. On its current trajectory, China could
overtake the United States as the world's biggest military spender in the
2020s or 2030s -- but there are too many unknown variables to accurately
predict if this will happen. Is the PLA budget pegged to the growth of the
wider economy, or have China's generals been promised double-digit growth
even if the country suffers an economic downturn? Will growth slow once certain
modernization milestones have been achieved, or are there no plans to close
the PLA checkbook? What's clear is that the more funding the PLA receives,
the closer it will come to achieving parity with the U.S. military.
|
Vẫn không có đánh giá nào đáng tin cậy về kế hoạch chi
tiêu quốc phòng dài hạn của Bắc Kinh. Theo đường hướng hiện nay, Trung Quốc
có thể vượt Mỹ để trở thành nước chi tiêu quân sự lớn nhất thế giới vào thập
niên 2020 hay 2030 – nhưng có quá nhiều ẩn số chưa biết được để dự đoán chính
xác liệu điều này có xảy ra hay không. Có phải ngân sách PLA được gắn liền
với sự tăng trưởng của nền kinh tế được mở rộng, hoặc giới tướng lĩnh Trung
Quốc được hứa hẹn tỷ lệ gia tăng 2 con số cho ngân sách quân sự ngay cả khi
Trung Quốc hứng chịu tình trạng kinh tế xuống dốc? Liệu mức tăng trưởng ngân sách quân sự sẽ
chậm lại một khi cột mốc hiện đại hóa nào đó đã đạt được, hay không có kế
hoạch nào khóa sổ những tập chi phiếu của PLA? Những gì rõ ràng là, một khi PLA nhận được
càng nhiều ngân khoản, họ sẽ càng tiến gần đến vị thế ngang bằng với quân đội
Mỹ.
|
2. What is China's
nuclear strategy?
The Pentagon concludes that "China's nuclear arsenal currently
consists of about 50-75 silo-based, liquid-fueled and road-mobile,
solid-fueled ICBMs." The Pentagon doesn't attempt to estimate the total
number of nuclear weapons that China possesses, although it's generally
assumed to have a much smaller nuclear arsenal than the U.S. cache of over
5,000 nukes. Nonetheless, theories that Beijing possesses or plans to develop
a much bigger nuclear weapons stockpile just won't die down. Speculation last
year that China may have as many as 3,500 nuclear warheads -- predicated on
rumors of a sprawling network of underground tunnels -- has been reliably
trashed, but some still argue that Beijing sees a strategic opportunity in
building a nuclear arsenal that could match or even exceed that of the United
States in the coming decades.
|
2. Chiến lược hạt
nhân của Trung Quốc là gì?
Lầu Năm Góc kết luận “Kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc
hiện gồm khoảng 50-75 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) cơ động hoặc chứa
trong hầm ngầm, sử dụng các loại nhiên liệu rắn hoặc lỏng”. Lầu Năm Góc không
cố gắng ước đoán tổng số lượng vũ khí hạt nhân Trung Quốc sở hữu, mặc dù
Trung Quốc thông thường được cho là có kho vũ khí hạt nhân nhỏ hơn nhiều so với
kho vũ khí của Mỹ, vốn có hơn 5.000 đầu đạn hạt nhân. Tuy nhiên, vẫn tồn tại
ý kiến cho rằng Bắc Kinh đang sở hữu hoặc có kế hoạch phát triển kho vũ khí
hạt nhân lớn hơn nhiều. Năm vừa qua, có sự suy đoán là Trung Quốc có thể sở
hữu đến 3.500 đầu đạn hạt nhân – dựa vào tin đồn về mạng lưới chằng chịt các
đường hầm dưới lòng đất [chứa vũ khí hạt nhân] – đã bị vứt hẳn vào sọt rác,
nhưng một số người vẫn cho rằng Bắc Kinh đang nhìn thấy cơ hội chiến lược
trong việc xây kho vũ khí hạt nhân, có thể bắt kịp hoặc thậm chí vượt qua Mỹ
trong những thập niên sắp tới.
|
China currently has only two Jin-class Type 094 nuclear-powered
ballistic missile submarines (SSBNs) in service, the Pentagon tells us, and
the missiles designed to arm the subs are not yet operational (though when
they are, they will be nuclear-capable). Two submarines aren't much of a
strategic deterrent for an aspiring superpower, but the true scope of the
SSBN fleet that China plans to build remains unknown.
|
Trung Quốc hiện có 2 tàu ngầm loại 094 lớp Tấn, sử dụng
năng lượng hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN) được đưa vào biên chế tác
chiến, Lầu Năm Góc cho hay, các tên lửa được thiết kế để trang bị cho loại
tàu ngầm này vẫn chưa được đưa vào vận hành chính thức (mặc dù khi đưa vào
hoạt dộng, các tên lửa này có thể mang đầu đạn hạt nhân). Nếu chỉ tính riêng
2 tàu ngầm loại này thì không phải là nhiều cho thế trận ngăn chặn chiến lược
của một cường quốc đang có nhiều tham vọng, nhưng quy mô thực sự của hạm đội
tàu ngầm SSBN mà Trung Quốc lên kế hoạch xây dựng vẫn còn là ẩn số.
|
3. What is the Chinese
navy up to?
American analysts often use the term "string of
pearls" to describe Beijing's supposed strategy of establishing a
network of foreign naval bases, especially in the Indian Ocean, but the
Chinese don't. The latest Pentagon report does not discuss whether China
plans to create a U.S.-style network of permanent forward bases for the PLA
Navy.
|
3. Năng lực của hải
quân Trung Quốc ra sao?
Giới chuyên gia phân tích Mỹ thường dùng thuật ngữ “chuỗi
ngọc trai” để mô tả chiến lược được cho là của Bắc Kinh nhằm thiết lập mạng
lưới các căn cứ hải quân ở nước ngoài, đặc biệt ở Ấn Độ Dương, nhưng người
Trung Quốc lại không công khai điều này. Bản báo cáo mới nhất của Lầu Năm Góc
lại không bàn luận về việc liệu Trung Quốc có kế hoạch hình thành mạng lưới
các căn cứ tấn công thường trực kiểu Mỹ cho lực lượng hải quân PLA hay không.
|
Nonetheless, there is no shortage of speculation that
China will eventually deploy military forces to port facilities it has
constructed in places like Burma, Pakistan, and Sri Lanka. The Seychelles has
invited China to use its ports as resupply points for Chinese ships, but
Beijing has insisted that this is not the establishment of a first foreign
base, unconvincingly calling it a "re-supply port." The "places
or bases" debate has already been running for some years, and it will
continue to rumble on while Beijing remains tight-lipped about its long-range
ambitions.
|
Tuy nhiên, không thiếu lời đồn đoán là cuối cùng Trung
Quốc sẽ triển khai lực lượng quân sự đến các cơ sở hải cảng mà Trung Quốc đã
xây dựng tại một số nơi như Miến Điện, Pakistan và Sri Lanka. Đảo quốc
Seychelles từng mời Trung Quốc sử dụng hải cảng của họ làm các điểm tiếp tế
cho tàu bè Trung Quốc, nhưng Trung Quốc vẫn khăng khăng đó không phải là sự
thiết lập căn cứ ở nước ngoài đầu tiên, họ gọi đây chỉ là “cảng tiếp tế”,
nhưng nghe không thuyết phục cho lắm. Cuộc tranh cãi chung quanh cách gọi
“căn cứ hay địa điểm” diễn ra cả vài năm nay, và nó sẽ tiếp tục ồn ào trong
lúc Bắc Kinh vẫn kín tiếng về những tham vọng lâu dài của mình.
|
The Pentagon report also struggles to shed light on
China's future aircraft carrier program, beyond the existence of the single
ex-Soviet carrier that is currently undergoing sea trials. "Some
components of China's first indigenously produced carrier may already be
under construction," it suggests, adding that "China likely will
build multiple aircraft carriers and associated support ships over the next
decade." That's guesswork. It's unknown whether China envisages merely a
couple of working aircraft carriers as floating trophies designed to
symbolize the country's arrival as a world power, a handful of combat-capable
carriers to drive home its territorial claims in the South China Sea, or a
larger number of U.S.-style carrier battle groups with a mission to project
force globally.
|
Báo cáo của Lầu Năm Góc cũng cố gắng soi rọi chương trình
tàu sân bay tương lai của Trung Quốc, vượt ra ngoài việc Trung Quốc hiện sở
hữu chiếc tàu sân bay do Liên Xô cũ chế tạo, đang trải qua quá trình chạy thử
trên biển. Bản báo cáo chỉ ra rằng “Một số bộ phận có thể đang được chế tạo
cho chiếc tàu sân bay đầu tiên do chính Trung Quốc sản xuất trong nước”, báo
cáo này còn bổ sung thông tin “Trung Quốc có khả năng sẽ đóng nhiều tàu sân
bay và đội tàu hộ tống trong thập niên tới”. Đó chỉ là sự phỏng đoán. Không
rõ liệu Trung Quốc có dự trù chỉ đóng một vài tàu sân bay như là chiến tích
nổi trên biển, được thiết kế làm biểu tượng cho việc Trung Quốc đã vươn đến
vị trí cường quốc thế giới, chỉ cần một vài tàu sân bay có năng lực tác chiến
nhằm tăng cường yêu sách chủ quyền lãnh hải của họ trên biển Đông, hay thành
lập một lượng lớn nhóm tàu sân bay tấn công kiểu Mỹ với sứ mệnh phô diễn lực
lượng ở quy mô toàn cầu.
|
4. What kind of
space capabilities is China developing?
China is becoming increasingly proficient in space. The
report mentions that China is assembling its own GPS-style satellite network,
blasted the Tiangong-1 spacelab into orbit in 2011, and has developed a
ground-launched anti-satellite missile to improve its counter-space capabilities.
But the Pentagon neglects to mention one of China's most ambitious space
programs: the development of the Shenlong spaceplane and the possible
associated development of advanced propulsion systems, whose existence
increases the risk of a military space race with the United States.
|
4. Loại hình năng
lực không gian mà Trung Quốc đang phát triển là gì?
Trung Quốc ngày càng trở nên tiến bộ trong lĩnh vực không
gian. Bản báo cáo đề cập, Trung Quốc đang hình thành mạng vệ tinh kiểu GPS
cho riêng họ, phóng tàu vũ trụ Thiên Cung 1 vào quỹ đạo hồi năm 2011, đã phát
triển được tên lửa chống vệ tinh phóng từ mặt đất nhằm cải thiện năng lực đối
kháng trong không gian. Nhưng Lầu Năm Góc không đề cập đến một trong những
chương trình không gian tham vọng nhất của Trung Quốc: đó là chương trình
phát triển máy bay không gian Thần Long và kết hợp phát triển hệ thống lực
đẩy tiên tiến, sự tồn tại của chương trình này làm tăng nguy cơ chạy đua quân
sự trong không gian với Mỹ.
|
It is not yet known whether Shenlong is anything more than
a hi-tech experiment. But because of Shenlong's military potential, any
information about it could allay or exacerbate growing fears within the U.S.
military that the PLA Air Force has more than a passing interest in space
operations.
|
Chưa biết liệu máy bay không gian Thần Long có tiến triển
xa hơn cuộc thử nghiệm công nghệ cao hay không. Nhưng do tiềm năng quân sự
của máy bay không gian Thần Long, nên bất kỳ thông tin nào về nó cũng có thể
làm dịu đi hoặc làm nghiêm trọng thêm nỗi lo ngại đang gia tăng trong quân
đội Mỹ rằng, lực lượng không quân PLA đang chú trọng nhiều hơn đến các hoạt
động không gian.
|
5. Paper tiger or
fire-breathing dragon?
There are many other imponderables in China's military.
Chinese cyber-espionage has been effective in obtaining foreign military
secrets, but it's unclear how much of this know-how has been successfully and
usefully absorbed into China's own military programs and doctrines. The
overhaul of the Chinese defense industry has revolutionized the country's
indigenous capabilities, but how close has China really got to ironing out
the kinks in its military-industrial structures and processes?
|
5. Con hổ giấy hay
rồng phun lửa?
Còn nhiều vấn đề khác không thể lường được liên quan đến
quân đội Trung Quốc. Hoạt động gián
điệp không gian ảo của Trung Quốc tỏ
ra hiệu quả trong việc thu thập bí mật quân sự của nước ngoài, nhưng không rõ
có bao nhiêu bí quyết công nghệ có được qua hoạt động gián điệp này được ứng
dụng hữu ích và thành công vào các chương trình, học thuyết quân sự của Trung
Quốc. Sự đổi mới của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc đã làm cuộc cách
mạng đối với năng lực chế tạo nội địa của quốc gia này, nhưng thực sự Trung
Quốc phải tiếp cận ở mức độ nào để giải quyết những trở ngại trong quá
trình và cấu trúc công nghiệp-quân sự?
|
All of the unknowns feed into one larger question: Is the
PLA worth the hype? China's military is untested; it hasn't fought a major
campaign since a disastrous war with Vietnam in 1979. In the event of
conflict, would its performance live up to the nation's expectations, or
would disadvantages like corruption and inexperience critically undermine its
war-fighting capability? Is the 21st-century PLA even designed to be used, or
does it exist to prop up and counterbalance the Communist Party domestically
in a world where Beijing calculates that large-scale warfare is increasingly
unlikely? Maybe the answers to these questions are buried in some secure
vault at the Pentagon, but they're not in its latest report.
|
Tất cả những ẩn số này đã tạo nên một câu hỏi lớn hơn:
Liệu PLA có đáng được thổi phồng? Quân đội Trung Quốc chưa trải qua thử
thách; cho đến nay PLA chưa phải giao chiến trong chiến dịch lớn nào kể từ
cuộc chiến ác liệt với Việt Nam hồi năm 1979. Trong trường hợp xảy ra xung
đột, liệu năng lực của quân đội Trung Quốc có thể hiện xứng đáng với niềm
mong đợi của đất nước, hay những nhược điểm như tham nhũng và thiếu kinh
nghiệm chiến đấu sẽ làm xói mòn trầm trọng khả năng tham chiến của đội quân
này? PLA của thế kỷ 21 thậm chí được hoạch định làm chỗ dựa vững chắc, là
công cụ ổn định tình hình trong nước cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong bối
cảnh thế giới mà Bắc Kinh tính toán rằng tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn
đang ngày càng khó có thể xảy ra? Có lẽ phần giải đáp cho các câu hỏi trên đã
được giấu kín dưới những tầng hầm kiên cố trong Lầu Năm Góc, nhưng chúng lại
không xuất hiện trong báo cáo mới nhất này.
|
Trefor Moss is a
Hong Kong-based journalist and a former Asia-Pacific editor of Jane's Defence
Weekly.
|
Ông Trefor Moss là
nhà báo thường trú tại Hồng Kông, ông từng là biên tập viên Châu Á-Thái Binh Dương
của tạp chí Jane’s Defence Weekly.
|
Translated by Nguyễn Tâm
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/05/23/5_things_the_pentagon_isn_t_telling_us_about_the_chinese_military?page=0,4
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, May 27, 2012
5 Things the Pentagon Isn't Telling Us About the Chinese Military Năm điều Lầu Năm Góc không nói rõ về quân đội Trung Quốc
Why Asia Wants America Vì sao châu Á cần Mỹ?
|
|
|
|
Why Asia Wants
America
|
Vì sao châu Á cần
Mỹ?
|
|
By Sen. John McCain
|
TNS. John McCain
|
|
May 22, 2012
|
22/5/2012
|
|
The United States is still the partner of choice for many
Asian nations, says Sen. John McCain. But Washington needs to put aside its
political bickering.
|
Thượng nghị sĩ John McCain nói rằng Hoa Kỳ vẫn là đối tác được
nhiều nước châu Á lựa chọn. Nhưng Washington cần phải đặt chuyện tranh cãi
chính trị của mình sang một bên.
|
|
I met this month with a business delegation from Malaysia,
and one of them said to me: “Senator McCain, when we look at America these
days, you seem totally dysfunctional. Your political system seems incapable
of making the basic decisions to fix your fiscal problems and project resolve
to the world.” And by the way, he said, “some in Asia are citing these
failings to undermine the confidence that your friends still have in you.” I
couldn’t disagree with him.
|
Trong tháng này, tôi đã gặp một phái đoàn doanh nghiệp đến
từ Malaysia, một người trong số họ đã nói với tôi rằng: “Thượng nghị sĩ
McCain, khi chúng tôi nhìn vào nước Mỹ hiện giờ, dường như các ông hoàn toàn
bị rối loạn. Hệ thống chính trị của các ông dường như không có khả năng đưa
ra các quyết định cơ bản để khắc phục các vấn đề tài chính và cho thế giới
thấy quyết tâm để giải quyết vấn đề“. Và nhân tiện, ông ấy cũng đã nói thêm:
“Một số người ở châu Á sử dụng những thất bại đó để phá hoại lòng tin mà bạn
bè của các ông vẫn còn tin vào các ông“. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông ta.
|
|
This is an enormous problem. And it raises doubts about
our commitment in the Asia-Pacific region. While it’s wrong to speak of a
“pivot” to Asia, the idea that we must rebalance U.S. foreign policy with an increasing
emphasis on the Asia-Pacific region is undoubtedly correct. The core
challenge we face is how to make this rebalancing effort meaningful, because
at the moment, amid all of our political and fiscal problems, we run the risk
of over-promising and under-delivering on our renewed commitment across the
Pacific.
|
Đây là một vấn đề rất lớn. Và điều này làm gia tăng nghi
ngờ về sự cam kết của chúng ta trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong
khi nói về việc “chuyển hướng” sang châu Á là sai lầm, nhưng ý kiến về việc
chúng ta phải cân bằng lại chính sách đối ngoại của Mỹ, chú trọng hơn nữa vào
khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì hoàn toàn đúng. Nhưng thách thức quan
trọng mà chúng ta phải đối mặt đó là, làm cách nào để cho nỗ lực tái cân bằng
này có ý nghĩa, bởi vì vào lúc này, giữa lúc chúng ta đang gặp khó khăn về
các vấn đề chính trị và tài chính, kết quả là chúng ta hứa hẹn quá nhiều, mà
thực hiện thì quá ít các cam kết mới của chúng ta ở Thái Bình Dương.
|
|
It’s difficult to overstate the gravity of the choices
before us right now. We face immediate decisions that will determine the
vector of American power in the Asia-Pacific region – diplomatically,
economically, and militarily – for decades to come. We have to get our
bearings right. If we fail, we’ll drift off course and fall behind. However,
if we get these big decisions right, we can create the enduring conditions to
expand the supply of American power, to strengthen American leadership, and
to secure America’s national interests across the Pacific.
|
Khó có thể phóng đại tính nghiêm trọng về những sự lựa
chọn đặt ra cho chúng ta hiện nay. Chúng ta phải đối mặt với các quyết định
tức thời, sẽ định hướng cho sức mạnh của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình
Dương – về mặt ngoại giao, kinh tế, và quân sự – trong nhiều thập niên tới.
Chúng ta phải đi đúng hướng. Nếu đi sai đường, chúng ta sẽ bị vuột khỏi tiến
trình và bị tụt lại phía sau. Tuy nhiên, nếu những quyết định lớn này được
quyết định đúng, chúng ta có thể tạo ra các điều kiện bền vững để mở rộng sức
mạnh của Mỹ, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Mỹ, và để bảo đảm lợi ích quốc
gia của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương.
|
|
After all, while the context in Asia is changing, U.S.
interests in Asia have not. We still seek the same objectives we always have:
the ability to prevent, deter, and if necessary, prevail in a conflict; the
defense of U.S. allies; the extension of free trade, free markets, free navigation,
and free commons in air, sea, space, and now cyber. And above all, the
maintenance of a balance of power that fosters the peaceful expansion of
human rights, democracy, rule of law, and the many other values that we share
with increasing numbers of Asian citizens.
|
Cuối cùng, trong bối cảnh châu Á đang thay đổi, lợi ích
của Mỹ ở châu Á vẫn không có gì thay đổi. Chúng ta vẫn vươn tới các mục tiêu
tương tự như chúng ta vẫn luôn hướng tới, đó là khả năng phòng ngừa, ngăn
chặn, và nếu cần, đánh bại trong một cuộc xung đột, bảo vệ các đồng minh của
Mỹ, mở rộng tự do thương mại, thị trường tự do, tự do lưu thông, và tự do
trên vùng trời, vùng biển, không gian, và bây giờ là không gian mạng. Và trên
hết, duy trì sự cân bằng quyền lực để thúc đẩy việc mở rộng nhân quyền, dân
chủ, pháp luật, và các giá trị khác một cách hòa bình, những giá trị mà chúng
ta chia sẻ với những người dân châu Á ngày càng tăng.
|
|
None of these interests is directed against any other
country, including China. The continued peaceful development of China is in
our interest. We reject the notion that the United States wants to contain
China or that we seek a new Cold War in Asia, where countries are forced to
choose between the United States and China.
|
Tất cả những lợi ích này không có điểm nào chống lại bất
kỳ nước nào khác, kể cả Trung Quốc. Trung Quốc tiếp tục phát triển hòa bình
đó là lợi ích của chúng ta. Chúng ta phản đối khái niệm cho rằng Hoa Kỳ muốn
kiềm chế Trung Quốc, hoặc [cho rằng] chúng ta đang nhắm tới một cuộc chiến
tranh lạnh mới ở châu Á, nơi mà các nước buộc phải lựa chọn giữa Hoa Kỳ và
Trung Quốc.
|
|
In short, the question we must answer is: Can we in the
United States make the big strategic decisions right now that will position
us for long-term success in Asia?
|
Tóm lại, câu hỏi mà chúng ta cần phải trả lời là: chúng ta
ở Hoa Kỳ, có thể ra các quyết định chiến lược lớn ngay bây giờ, các quyết
định sẽ mang lại sự thành công cho chúng ta về lâu về dài ở châu Á?
|
|
One of those big decisions pertains to trade. It’s often
said that the business of Asia is business, but when it comes to trade, the
United States has been sitting on the sidelines, and Asia is sprinting
forward without us. After four years, this administration still hasn’t
concluded or ratified a single free trade agreement of its own making. It
took them until last year just to pass the FTAs with Korea, Colombia, and
Panama that the Bush administration had concluded. Meanwhile, since 2003,
China has secured nine FTAs in Asia and Latin America alone. It’s negotiating
five more, and it has four others under consideration.
|
Một trong những quyết định lớn liên quan đến thương mại.
Người ta thường nói rằng công việc của châu Á là kinh doanh, nhưng khi nói
đến thương mại, thì Hoa Kỳ đứng bên lề, và châu Á đang tiến về phía trước mà
không có chúng ta. Sau bốn năm, chính phủ này (ND: ý nói chính phủ Obama) vẫn
chưa ký hay phê chuẩn một hiệp định thương mại tự do nào cho riêng mình. Mãi
cho đến năm ngoái, họ mới thông qua Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Hàn
Quốc, Colombia và Panama mà chính phủ Bush đã đúc kết trước đó. Trong khi đó,
từ năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc đã ký chín hiệp định thương mại tự do với
châu Á và châu Mỹ Latin. Họ đang đàm phán thêm năm hiệp định khác, và đang
xem xét bốn hiệp định nữa.
|
|
And it isn’t just China. The Japanese prime minister
announced this month that he wants Japan to begin negotiations on a free
trade area with China and South Korea. India is now negotiating an FTA with
the European Union. And yet, we won’t even conclude a narrower Bilateral
Investment Treaty with India, let alone a full FTA, as we should. As of last
year, one report found that Asian countries had concluded or were negotiating
nearly 300 trade agreements – none of which included the United States of
America. The launch of the Trans-Pacific Partnership has brightened this
picture a bit, but a deal may be years off – if it happens at all.
|
Và không chỉ Trung Quốc. Trong tháng này, Thủ tướng Nhật
Bản cũng đã tuyên bố rằng ông muốn Nhật Bản bắt đầu đàm phán một khu vực
thương mại tự do với Trung Quốc và Hàn Quốc. Ấn Độ đang đàm phán một hiệp ước
thương mại tự do với Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không hoàn thành
hiệp ước đầu tư song phương hẹp với Ấn Độ, nói gì đến hiệp ước thương mại tự
do đầy đủ mà chúng ta nên có. Hồi năm ngoái, một báo cáo cho thấy các nước
châu Á đã ký hoặc đang thương lượng gần 300 hiệp ước thương mại, không có
hiệp ước nào trong số đó mà Mỹ đã tham gia. Việc khởi động Hiệp ước Đối tác
xuyên Thái Bình Dương đã làm cho hình ảnh của chúng ta sáng sủa hơn một chút,
nhưng để đi đến một thỏa thuận, có thể phải mất thêm nhiều năm nữa, nếu có
điều đó xảy ra.
|
|
Instead, we should be moving forward with a bilateral
trade agenda, starting with India and Taiwan. We should also move more
aggressively on a multilateral track. The Trans-Pacific Partnership splits
the ASEAN countries. We either need to bring all of the ASEAN countries into
the Trans-Pacific Partnership or push for a formal U.S.-ASEAN free trade
agreement. The bottom line is that U.S. long-term strategic and economic
success requires an ambitious trade strategy in Asia.
|
Thay vào đó, chúng ta nên đi tới một nghị trình thương mại
song phương, bắt đầu với Ấn Độ và Đài Loan. Chúng ta cũng nên hành động tích
cực hơn trong môi trường đa phương. Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã
chia rẽ các nước ASEAN. Chúng ta, hoặc là đưa tất cả các nước ASEAN vào Quan
hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, hoặc là thúc đẩy một hiệp ước tự do thương
mại chính thức giữa Mỹ-ASEAN. Điểm mấu chốt là, thành công về kinh tế và chiến lược lâu dài của Mỹ đòi
hỏi một chiến lược thương mại đầy tham vọng ở châu Á.
|
|
A second decision with enormous implications is our
regional force posture. We all share the same goals – strengthening the
U.S.-Japan alliance, while maintaining our strategic commitments in the
Asia-Pacific region through a robust presence of forward-deployed military
forces. Like many of you, however, some of us on the Senate Armed Services
Committee were critical of the previous plan to realign U.S. forces on
Okinawa and Guam, which had become totally unaffordable. The costs of the
Guam move alone had doubled in seven years to more than $20 billion.
|
Một quyết định thứ hai có tác động lớn đó là, việc bố trí
lực lượng của chúng ta trong khu vực. Tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng mục
tiêu: tăng cường quan hệ liên minh Mỹ – Nhật, trong khi vẫn duy trì các cam
kết chiến lược của chúng ta trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thông qua
sự hiện diện mạnh mẽ của các lực lượng quân sự triển khai về phía trước. Tuy
nhiên, cũng như nhiều người trong số quý vị, một số vị trong Ủy ban Quân vụ
Thượng viện đã chỉ trích kế hoạch trước đó là, tổ chức lại lực lượng Hoa Kỳ ở
đảo Okinawa và đảo Guam, kế hoạch này hoàn toàn không có khả năng chi tiêu.
Chỉ riêng kinh phí bố trí binh lính ở đảo Guam không thôi cũng đã tăng gấp
đôi trong bảy năm, lên tới hơn 20 tỷ đô la.
|
|
This crisis actually presents an opportunity for a broader
look at our regional force posture. Some Asian countries are showing new
interest in a greater rotational presence of U.S. forces in the region. The
recent agreement to rotate 2,500 U.S. Marines through Australia could serve
as a model for similar activities elsewhere, such as the Philippines.
Ultimately, these and other new developments offer an opportunity to think
creatively and comprehensively about a new regional force posture, which
should include a fresh approach to the realignment on Okinawa and Guam.
That’s why the Congress included a provision in last year's National Defense
Authorization Act for an independent assessment of these force posture
questions.
|
Cuộc khủng hoảng này thực sự là một cơ hội để chúng ta có
một cái nhìn rộng hơn về việc sắp xếp lại lực lượng trong khu vực. Một số
nước châu Á thể hiện sự quan tâm mới đối với sự luân chuyển lớn của lực lượng
Hoa Kỳ trong khu vực. Thỏa thuận gần đây là đưa 2.500 lính thủy quân lục
chiến Mỹ tới Úc, có thể xem như một mô hình cho các hoạt động tương tự ở
những nơi khác, chẳng hạn như Philippines. Cuối cùng, những điều này và những
phát triển mới khác đã tạo cơ hội để có được suy nghĩ sáng tạo và toàn diện
về việc sắp xếp lại lực lượng quân sự trong khu vực, việc sắp xếp này bao gồm
những thay đổi mới, trong việc tổ chức lại binh lính trên đảo Okinawa và đảo
Guam. Đó là lý do vì sao quốc hội nên có một điều khoản trong Đạo luật Ủy
nhiệm Quốc phòng hồi năm ngoái, cho một đánh giá độc lập về những câu hỏi
liên quan đến việc bố trí lực lượng này.
|
|
It remains unclear how the recent Joint Statement of the
U.S.-Japan Security Consultative Committee will fit into this requirement for
a broader assessment of our regional force posture. At this time, the Joint Statement
raises more questions than it answers – among them, questions on cost
estimates, logistical requirements, force sustainment, master plans, and how
this proposal relates to a broader strategic concept of regional operations.
We need to get these important decisions right. And that’s why, even as we
seek additional details on the Joint Statement, Congress won’t make any major
funding decisions until we receive and evaluate the independent assessment on
Asia-Pacific force posture that is required by law.
|
Vẫn chưa rõ tuyên bố chung gần đây của Hội đồng Tư vấn An
ninh Mỹ – Nhật sẽ phù hợp với yêu cầu đánh giá sâu rộng hơn về việc bố trí
lực lượng của chúng ta trong khu vực như thế nào. Hiện tuyên bố chung đó đặt
ra nhiều câu hỏi hơn là có được câu trả lời – trong đó, các câu hỏi về ước
tính chi phí, các yêu cầu hậu cần, duy trì lực lượng, các kế hoạch lớn, và đề
nghị này liên quan đến khái niệm chiến lược rộng lớn hơn của các hoạt động
trong khu vực như thế nào. Chúng ta cần thực hiện đúng những quyết định quan
trọng này. Và đó là lý do tại sao, ngay cả khi chúng ta tìm thêm chi tiết trong
bản tuyên bố chung, quốc hội sẽ không có bất kỳ quyết định tài trợ lớn nào
cho đến khi chúng ta nhận được và đánh giá các đánh giá độc lập về tình hình
lực lượng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, theo quy định của pháp luật.
|
|
A similar, and far larger, decision that we must also get
right is our defense spending. The Asia-Pacific region is primarily a
maritime theater, so our ability to project military power there depends
mostly on the U.S. Navy. And yet, the Navy is still short of its own goal of
313 ships. What’s worse, the administration now proposes to retire seven
cruisers earlier than planned, to phase out two major lift ships needed by
the Marine Corps, and to delay the acquisition of one large-deck amphibious
ship, one Virginia-class attack submarine, two Littoral Combat Ships, and
eight high-speed transport vessels. We are now retiring ships faster than we
are replacing them. Cuts to our naval capabilities such as these, without a
plan to compensate for them, only put our goals in the Asia-Pacific region at
greater risk.
|
Một quyết định tương tự và lớn hơn nhiều mà chúng ta cũng
cần phải quyết định đúng, đó là chi tiêu quốc phòng. Khu vực châu Á – Thái
Bình Dương chủ yếu là một đấu trường trên biển, nên khả năng phô trương sức
mạnh quân sự của chúng ta phần lớn phụ thuộc vào Hải quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên,
Hải quân vẫn thiếu 313 tàu so với chỉ tiêu. Điều tệ hại hơn là chính quyền
hiện nay đề xuất loại bỏ 7 tàu tuần dương sớm hơn dự định, loại bỏ 2 tàu vận
chuyển loại lớn mà lực lượng Thủy quân Lục chiến cần, và hoãn việc mua lại
một chiếc tàu đổ bộ có boong lớn, một tàu ngầm tấn công loại Virginia, 2 tàu
chiến duyên hải, và tám tàu vận tải tốc độ cao. Hiện chúng ta loại bỏ các con
tàu nhanh hơn là chúng ta có thể thay thế chúng. Cắt giảm khả năng hải quân
như thế mà không có một kế hoạch bù lại, sẽ đặt mục tiêu của chúng ta ở khu
vực châu Á-Thái Bình Dương vào rủi ro lớn hơn.
|
|
And all of this is before the potential impact of
sequestration. The cuts to our defense budget required under sequestration
would be nothing less than a unilateral act of disarmament that would ensure
the real decline of U.S. military power. A number of us in Congress have
offered proposals to avoid sequestration, but we don’t have a monopoly on
good ideas. We want to sit down with the president and work out a bipartisan
deal. But the president refuses to engage. He has no proposal to prevent what
his own Secretary of Defense has called “catastrophic” cuts to our national
defense. Unless the president gets engaged on this issue, he will preside
over the worst hollowing-out of our armed forces in recent memory.
|
Và tất cả những điều nói trên hiện đang đứng trước ảnh
hưởng luật mới. Việc cắt giảm ngân sách quốc phòng của chúng ta, nếu được
thực hiện theo quy định của luật mới này sẽ chẳng khác gì một hành động đơn
phương giải trừ quân bị, chắc chắn dẫn đến sự giảm sút thực sự về sức mạnh
quân sự của Mỹ. Một số vị trong quốc hội đã đưa ra đề nghị tránh chuyện tự
động cắt giảm ngân sách quốc phòng theo luật định, nhưng chúng ta không có
được độc quyền về những ý kiến hay (*). Chúng ta muốn ngồi xuống với Tổng
thống để cho ra một thỏa thuận lưỡng đảng, nhưng tổng thống đã từ chối tham
gia. Ông ấy không có đề nghị nào để ngăn chuyện cắt giảm ngân sách quốc phòng
mà Bộ trưởng Quốc phòng của ông gọi là những cắt giảm “chết người”. Trừ khi
tổng thống tham gia vào về vấn đề này, nếu không thì ông ấy sẽ làm tổng thống
trong thời kỳ các lực lượng vũ trang của chúng ta bị thiếu hụt tồi tệ nhất
trong giai đoạn lịch sử gần đây.
|
|
In addition to our military presence, we must sustain our
means of engaging diplomatically in Asia. And here, we have a better story to
tell – thanks largely to our Secretary of State, who is making U.S. diplomacy
more present and impactful than ever in the region. That said, we face major
tests now that will signal what role the United States will play in Asia and
how relevant we will be to Asia’s challenges.
|
Ngoài sự hiện diện quân sự, chúng ta cần duy trì các
phương diện ngoại giao ở châu Á. Và ở đây, chúng tôi có một câu chuyện hay
hơn để kể – cám ơn ngoại trưởng của chúng ta rất nhiều, bà đang làm cho chính
sách ngoại giao của Mỹ hiện diện trong khu vực và ảnh hưởng hơn bao giờ hết.
Điều đó nói rằng, chúng ta hiện phải đối mặt với những thử thách lớn, những
thử thách này báo hiệu cho biết Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò gì ở châu Á, cũng như
chúng ta liên quan đến những thách thức của châu Á như thế nào.
|
|
One such test is the South China Sea. The United States
has no claims in this dispute, and we shouldn’t take positions on the claims
of others. Nonetheless, this dispute cuts to the heart of U.S. interests in
Asia – not just because $1.2 trillion of U.S. trade passes through the South
China Sea every year, and not just because one claimant, the Philippines, is
a U.S. ally, but because it’s crucial for a rising Asia to avoid the dark
side of realpolitik, where strong states do as they please and smaller states
suffer. Ultimately, this dispute isn’t about China and the United States.
It’s about China’s relations with its neighbors. But we must support our
ASEAN partners – as they request it – so they can realize their own goals of
presenting a unified front and peacefully resolving their differences
multilaterally.
|
Một trong những thử thách đó là biển Đông. Hoa Kỳ không có
yêu sách trong vụ tranh chấp này, và chúng ta không nên đứng về phía bên nào
trong các nước tranh chấp. Tuy nhiên, việc tranh chấp này đi vào trọng tâm
lợi ích của Mỹ ở châu Á – không chỉ vì các thương vụ trị giá 1.200 tỷ của Mỹ
đi ngang qua biển Đông mỗi năm, và cũng không phải vì Philippines, một trong
các nước tranh chấp, là đồng minh của Mỹ, mà là vì rất quan trọng để một châu
Á đang trỗi dậy tránh được những mãng tối của chính sách thực dụng, nơi mà
những nước mạnh muốn làm gì thì làm và những nước yếu hơn thì phải chịu đựng.
Cuối cùng, vụ tranh chấp này không chỉ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, mà là mối
quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Nhưng chúng ta phải hỗ trợ
các đối tác ASEAN của chúng ta – khi họ yêu cầu – để họ có thể nhận ra mục
đích của họ về việc cho ra một mặt trận thống nhất và giải quyết những sự
khác biệt của họ một cách hoà bình, trên cơ sở đa phương.
|
|
Another major test for U.S. diplomacy is Burma. I’ve
traveled to Burma twice over the past year. And to be sure, they still have a
long way to go, especially in stopping the violence and pursuing genuine
reconciliation with the country's ethnic minority communities. But the
Burmese president and his allies in the government I believe are sincere
about reform, and they are making real progress.
|
Một thách thức lớn cho ngoại giao Mỹ là Miến Điện. Tôi đã
đi đến Miến Điện hai lần trong năm qua. Chắc chắn là họ vẫn còn một chặng
đường dài để đi tới, đặc biệt trong việc ngăn chặn bạo lực và theo đuổi tiến
trình hòa giải thật sự với cộng đồng các dân tộc thiểu số của đất nước. Nhưng
tôi tin là tổng thống Miến Điện và các đồng minh của ông trong chính phủ chân
thành trong cải cách, và họ đang tiến bộ thực sự.
|
|
For the past year, I’ve said that concrete actions by
Burma’s government toward democratic and economic reform should be met with
reciprocal actions by the United States that can strengthen these reforms,
benefit ordinary Burmese, and improve our relationship. Following the recent
election that brought Aung San Suu Kyi and the National League for Democracy
into the parliament, I think now is the time to suspend U.S. sanctions,
except for the arms embargo and targeted measures we maintain against
individuals and entities in Burma that undermine democracy, violate human
rights, and plunder the nation’s resources. This wouldn’t be a lifting of
sanctions, just a suspension. And this step, as well as any additional easing
of sanctions, would depend on continued progress and reform in Burma.
|
Trong năm qua, tôi đã nói rằng các hành động cụ thể của
chính phủ Miến Điện đối với cải cách dân chủ và kinh tế, cần được đáp lại
bằng các hành động đối ứng của Hoa Kỳ để có thể giúp gia tăng những cải cách
này, mang lại lợi ích cho những người Miến Điện bình thường, và cải thiện mối
quan hệ của chúng ta. Cuộc bầu cử mới đây đã đưa bà Aung San Suu Kyi và Liên
đoàn Quốc gia vì Dân chủ vào quốc hội, tôi nghĩ rằng bây giờ đã đến lúc nên
ngưng các biện pháp trừng phạt của Mỹ, ngoại trừ lệnh cấm vận vũ khí và các
biện pháp mà chúng ta duy trì, nhằm chống lại các cá nhân và các tổ chức ở
Miến Điện phá hoại nền dân chủ, vi phạm nhân quyền, và cướp bóc tài nguyên
của quốc gia. Đây không phải là dỡ bỏ lệnh trừng phạt, mà chỉ tạm dừng. Và
bước này cũng như bất kỳ sự nới lỏng các biện pháp trừng phạt, sẽ tùy thuộc
vào sự tiến bộ và cải cách liên tục ở Miến Điện.
|
|
We must also establish principled – and ideally binding –
standards of corporate social responsibility for U.S. business activities in
Burma. Aung San Suu Kyi has made the distinction between the right and the
wrong kinds of investment. The right investment would strengthen Burma’s
private sector, benefit its citizens, and ultimately loosen the military’s
control over the economy and the civilian government. The wrong investment
would do the opposite – entrenching a new oligarchy and setting back Burma’s
development for decades. For this reason, I’m not convinced that U.S.
companies should be permitted to do business at this time with state-owned
firms in Burma that are still dominated by the military.
|
Chúng ta cũng phải thiết lập các chuẩn mực mang tính
nguyên tắc, và cả ràng buộc về trách nhiệm cho các hoạt động kinh doanh của
Mỹ ở Miến Điện. Bà Aung San Suu Kyi đã nêu ra những điều phân biệt giữa các
loại đầu tư đúng và sai. Đầu tư đúng đắn sẽ đẩy mạnh khu vực kinh tế tư nhân
ở Miến Điện, mang lại lợi ích cho người dân Miến, và cuối cùng là nới lỏng sự
kiểm soát của quân đội đối với nền kinh tế và chính phủ dân sự. Đầu tư sai
lầm thì sẽ đi ngược lại, tạo ra một tập đoàn chính trị mới và đẩy lùi sự phát
triển của Miến Điện trong nhiều thập kỷ. Vì lý do đó, tôi tin rằng vào lúc
này các công ty Mỹ không nên được cấp giấp phép làm ăn với các công ty chính
phủ Miến Điện, hiện vẫn còn do quân đội điều hành.
|
|
|
|
|
U.S. businesses will never win a race to the bottom with
some of their Asian, or even European, competitors. And they shouldn’t try.
Rather, they should align themselves with Aung San Suu Kyi and the Burmese people
– who want the kinds of responsible investment, high labor and environmental
standards, and support for human rights and national sovereignty that define
American business at its best. Our goal should be to set the global standard
for corporate social responsibility in Burma – a standard that we, as well as
Aung San Suu Kyi, could use to pressure others to follow our lead, and that
could become the basis for new Burmese laws.
|
Cách doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không bao giờ thắng trong một
cuộc đua ngược dòng với một số đối thủ cạnh tranh ở châu Á, và ngay cả châu
Âu. Không nên cố đua như vậy. Thay vào đó, họ nên hợp tác với bà Aung San Suu
Kyi và người dân Miến Điện, những người muốn sự đầu tư có trách nhiệm, tiêu
chuẩn lao động và môi trường cao, và ủng hộ nhân quyền và chủ quyền quốc gia,
được xác định làm ăn với người Mỹ là tốt nhất. Mục tiêu của chúng ta là thiết
lập các tiêu chuẩn toàn cầu về trách nhiệm xã hội cho các tập đoàn công ty ở
Miến Điện, một tiêu chuẩn mà chúng ta, cũng như bà Aung San Suu Kyi, có thể
dùng để áp lực lên những công ty khác làm theo chúng ta, và điều đó có thể
trở thành cơ sở cho luật pháp mới Miến Điện.
|
|
These are all undoubtedly large challenges, and they will
require all of us to set aside political bickering and point-scoring in order
to advance some of our most vital national security interests. I am confident
we can come together and do this. I’m confident that the prophets of American
decline can once again be proved wrong. And I will tell you why – because
even as we work to sustain the supply of American power, the demand for
American power in Asia has never been greater.
|
Những thách thức này chắc chắn là lớn, và nó đòi hỏi tất
cả chúng ta phải đặt những tranh cãi chính trị và ghi điểm sang một bên, để
thúc đẩy một số lợi ích an ninh quốc gia quan trọng nhất của chúng ta. Tôi
tin tưởng rằng chúng ta có thể ngồi lại với nhau và làm điều này. Tôi tin
rằng các tiên đoán về suy sụp của Mỹ một lần nữa được chứng minh là sai. Và
tôi sẽ cho quý vị biết lý do tại sao – bởi vì ngay cả khi chúng ta làm việc
để giữ vững sức mạnh của Mỹ, nhu cầu về sức mạnh quân sự của Mỹ ở châu Á chưa
bao giờ lớn hơn như bây giờ.
|
|
For example, on my last visit to Burma, I met with the
president. He had most of his cabinet there, and after the meeting, I walked
over to shake their hands. As I went down the line, one of them said: “Fort Leavenworth,
1982.” Then another said: “Fort Benning, 1987.” And it went on like that. And
I realized: Many of these guys were former military officers who had been
part of our military exchange programs prior to our severing relations with
the Burmese military. Even after all this time, all of our troubled history,
they remembered America fondly, and they wanted to get closer to the United
States once again.
|
Ví dụ, trong chuyến đi thăm Miến Điện vừa rồi, tôi đã gặp
tổng thống Miến. Hầu hết các thành viên trong nội các của ông cũng có mặt ở
đó, và sau cuộc họp, tôi bước tới bắt tay họ. Khi tôi đi xuống, một người
trong số họ đã nói: “Fort Leavenworth, 1982″. Rồi một người khác nói: “Fort
Benning, 1987″. Và cứ tiếp tục như thế. Tôi nhận ra rằng: nhiều người trong
số những người này là các cựu sĩ quan quân đội, những người đã tham gia vào
các chương trình trao đổi quân sự của chúng ta, trước khi chúng ta cắt đứt
quan hệ với quân đội Miến Điện. Ngay cả sau một thời gian như thế, đã trải
qua giai đoạn lịch sử sóng gió như thế, nhưng họ vẫn nhớ đến Mỹ một cách trìu
mến, và họ muốn được gần gũi hơn với Mỹ.
|
|
Take another example: Why are dissidents and asylum
seekers in China running to the American embassy when they fear for their
safety? They aren’t going to the Russian embassy, or the South African
embassy, or even European embassies. Why is that? Is it because we are
powerful? Surely, but other nations also have great power. Is it because we
are a democracy that stands for the equal rights and dignity of all people?
Certainly, but these values are not ours alone.
|
Một ví dụ khác: Vì sao các nhà bất đồng chính kiến và
người xin tị nạn ở Trung Quốc lại chạy vào Đại Sứ quán Mỹ, khi sự an toàn của
họ bị đe dọa? Họ không chạy vào Đại Sứ quán Nga, hay Đại Sứ quán Nam Phi, hay
thậm chí các đại sứ quán châu Âu. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta mạnh? Chắc
chắn, nhưng các nước khác cũng là những cường quốc. Phải chăng vì chúng ta là
một nước dân chủ, bênh vực cho các quyền bình đẳng và nhân phẩm của tất cả
mọi người? Chắc chắn là như thế, nhưng các giá trị này là không phải chỉ có
mỗi chúng ta có.
|
|
So then why is it?
In short, it is because we marry our great power and our
democratic values together, and we act on this basis. It’s because, among the
community of nations, America still remains unique – exceptional – a
democratic great power that uses its unparalleled influence not just to
advance its own narrow interests, but to further a set of transcendent
values. Above all, this is why so many countries in Asia and elsewhere are
drawn to us – because we put our power into the service of our principles.
This is why, during my repeated travels through Asia, I meet person after
person, leader after leader, who wants America to be their partner of choice.
They don’t want less of America. They want more – more of our trade, more of
our diplomatic support, and yes, more of our military assistance and
cooperation.
|
Vậy thì vì lý do gì?
Tóm lại, đó là vì chúng ta ràng buộc sức mạnh vĩ đại và
các giá trị dân chủ của chúng ta lại với nhau, và chúng ta hành động dựa trên
cơ sở này. Đó là vì, trong cộng đồng các quốc gia, thì nước Mỹ vẫn là nước
độc nhất – một nước đặc biệt – một cường quốc dân chủ, sử dụng ảnh hưởng chưa
từng có không chỉ để nâng cao lợi ích hẹp hòi của mình, mà còn đẩy mạnh một
loạt các giá trị siêu việt. Trên hết, đây là lý do vì sao rất nhiều nước ở
châu Á và ở những nơi khác bị chúng ta hấp dẫn – bởi vì chúng ta đem sức mạnh
của chúng ta vào phục vụ cho những nguyên tắc của chúng ta. Đó là lý do tại
sao, trong các chuyến đi của tôi đến châu Á, tôi đã gặp hết người này đến
người, hết lãnh đạo này đến lãnh đạo khác, những người muốn chọn Mỹ làm đối
tác. Họ không muốn ít mà họ muốn nhiều hơn nữa từ Mỹ – thương mại nhiều hơn,
hỗ trợ ngoại giao của chúng ta nhiều hơn, và hỗ trợ quân sự và hợp tác của
chúng ta nhiều hơn.
|
|
At a time when most Americans say they are losing faith in
our government, we should remember that there are millions of people in the
world, especially in the Asia-Pacific region, who still believe in the United
States, and who still want to live in a world shaped by American power,
American values, and American leadership. With so many people counting on us
– and by no means counting us out – the least we can do is endeavor to be
worthy of the high hopes they still have in us.
|
Và vào lúc mà hầu hết người Mỹ nói rằng, họ đang mất niềm
tin vào chính phủ của chúng ta, chúng ta nên nhớ rằng, có hàng triệu người
trên thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, những người này vẫn
còn tin tưởng vào Hoa Kỳ, và họ vẫn muốn sống trong một thế giới được định
hình bởi sức mạnh của Mỹ, các giá trị Mỹ, và sự lãnh đạo của Mỹ. Với rất
nhiều người đang trông cậy vào chúng ta – và không có cách nào để loại chúng
ta ra ngoài – ít nhất chúng ta có thể làm là nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với
sự kỳ vọng mà họ đặt vào chúng ta.
|
|
John McCain is the
senior U.S. Senator from Arizona and Ranking Member of the Senate Armed
Services Committee. This article is based on remarks delivered at the Center
for Strategic and International Studies in Washington, DC this month.
|
Ông John McCain là
Thượng nghị sĩ cao cấp của Mỹ từ bang Arizona và là thành viên cao cấp của Ủy
ban Quân vụ Thượng viện. Bài viết này dựa trên bài phát biểu của ông tại
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Washington, DC trong tháng này.
|
|
|
|
|
|
Translated by Dương Lệ Chi
|
|
|
Ghi chú: Để hiểu
đoạn này, cần hiểu bối cảnh cắt giảm ngân sách ở Mỹ. Đề nghị đưa ra là sẽ cắt
1.200 tỉ trong 10 năm tới. Trong khi Đảng Cộng hòa muốn cắt ngân sách liên
quan đến các chương trình xã hội (non-security programs), thì Đảng Dân chủ
muốn cắt ngân sách liên quan đến các chương trình an ninh (security
programs), như ngân sách quốc phòng. Cả hai đảng không thể đi đến một thỏa
thuận, nên theo luật mới ra cách đây không lâu là sẽ tự động cắt, nghĩa là sẽ
chia đều ra, mỗi bên bị cắt phân nửa, non-security programs: 600 tỉ và
security programs: 600 tỉ, trong đó, ngân sách quốc phòng có thể bị cắt 500
tỉ.
Ông John McCain
thuộc Đảng Cộng hòa và đã từng là một sĩ quan hải quân, dĩ nhiên là ông phản
đối việc cắt giảm ngân sách quốc phòng. Ông nói: “Một số vị trong quốc hội đã
đưa ra đề nghị tránh chuyện tự động cắt giảm ngân sách quốc phòng theo luật
định, nhưng chúng ta không có được độc quyền về những ý kiến hay”. Câu này có
nghĩa là, ông cho chuyện không ủng hộ cắt giảm ngân sách quốc phòng của những
người trong quốc hội là ý kiến hay, bởi vì đó cũng là ý kiến của ông.
|
|
http://the-diplomat.com/2012/05/22/why-asia-wants-america/?all=true
|
|
China’s Expanding Core CỐT LÕI CỦA BÀNH TRƯỚNG TRUNG HOA
|
|
|
|
China’s Expanding
Core
|
CỐT LÕI CỦA BÀNH
TRƯỚNG TRUNG HOA
|
|
|
|
|
TOKYO – China is now engaged in bitter disputes with the
Philippines over Scarborough Shoal and Japan over the Senkaku Islands, both
located far beyond China’s 200-mile-wide territorial waters in the South
China Sea. Indeed, so expansive are China’s claims nowadays that many Asians
are wondering what will satisfy China’s desire to secure its “core
interests.” Are there no limits, or does today’s China conceive of itself as
a restored Middle Kingdom, to whom the entire world must kowtow?
|
TOKYO - Trung Hoa hiện đang tham gia trong các tranh chấp
dai dẳng với Phillipines trên bãi đá ngầm Scarborough (1) và với quần đảo
Senkaku (2) của Nhật Bản, cả hai đều có vị trí địa lý vượt ra xa ngoài vùng lãnh
hải rộng 200 dặm của Trung Hoa ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Thật vậy,
việc bành trướng của Trung Hoa như tuyên bố hiện nay làm nhiều người Châu Á
đang tự hỏi cái gì sẽ làm thỏa mãn được những tham vọng của Trung Hoa để bảo
đảm những "lợi ích cốt lõi" của mình. Có phải tham vọng Trung Hoa
là không có giới hạn hay là Trung Hoa hiện nay tự nhận thức rằng phải phục
hồi một Vương triều Trung Hoa mà cả thế giới phải khấu đầu?
|
|
So far, China has formally referred to Taiwan, Tibet, and
Xinjiang province as “core interests,” a phrase that connotes an assertion of
national sovereignty and territorial integrity that will brook no compromise.
Now China is attempting to apply the same term to the Senkaku Islands in its
dispute with Japan, and is perilously close to making the same claim for the
entire South China Sea; indeed, some Chinese military officers already have.
|
Cho đến nay, Trung Hoa đã chính thức gọi Đài Loan, Tây
Tạng và Tân Cương là những "lợi ích cốt lõi", một cụm từ bao hàm
một sự khẳng định chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ mà sẽ không cho
phép bất kỳ sự thỏa hiệp nào. Trung Hoa hiện thời đang cố gắng áp dụng các
thuật ngữ tương tự đối với quần đảo Senkaku trong tranh chấp với Nhật Bản, và
là hiểm họa sát sườn đối với những yêu sách tương tự cho toàn bộ biển Nam
Trung Hoa, thực sự là, một số sĩ quan quân đội Trung Hoa đã có quan điểm này.
|
|
The Senkaku Islands, located to the west of Okinawa in the
East China Sea and currently uninhabited, were incorporated into Japan by the
Meiji government in 1895. At one time, there were regular residents working
at a bonito-drying facility. In 1969, the United Nations Economic Commission
for Asia and the Far East (ECAFE) completed a seabed survey of the East China
Sea, and reported the possible presence of vast underground mineral
resources, including abundant oil and natural gas reserves near the Senkakus.
Two years passed before Taiwan and China claimed sovereignty over the
islands, in 1971, but the Japanese government’s stance has always been that
Japan’s sovereignty is not in question.
|
Quần đảo Senkaku, nằm ở phía tây Okinawa trên biển Đông
Trung Hoa và hiện đang không có người ở, đã sáp nhập vào Nhật Bản bởi chính
phủ Minh Trị vào năm 1895. Một thời ở đây, đã có cư dân thường xuyên làm việc
tại một cơ sở sản xuất cá ngừ khô. Năm 1969, Ủy ban Kinh tế của Liên Hợp Quốc
khu vực Châu Á và Viễn Đông (ECAFE) đã hoàn thành một cuộc khảo sát đáy biển
của vùng biển Đông Trung Hoa, và báo cáo có thể có sự hiện diện tài nguyên
khoáng sản dưới lòng đất rộng lớn, bao gồm cả trữ lượng dầu hỏa và khí tự
nhiên dồi dào gần quần đảo Senkaku. Mãi hai năm sau đó, năm 1971, Đài Loan và
Trung Hoa mới yêu sách chủ quyền trên các hòn đảo, nhưng lập trường của chính
phủ Nhật Bản đã luôn luôn khẳng định chủ quyền của Nhật Bản là không bàn cãi.
|
|
April, Tokyo Governor Shintaro Ishihara, a famous and
articulate patriot, announced that the metropolitan government that he leads
plans to acquire four of the Senkaku Islands, which are currently privately
owned by Japanese citizens. Donations for the purchase from the people of
Japan now exceed ¥700 million ($8.4 million).
|
Tháng tư vừa qua, Thống đốc Tokyo, Shintaro Ishihara, một
người yêu nước nổi tiếng và có tài hùng biện, thông báo rằng chính quyền thành
phố Tokyo đang có kế hoạch để có được bốn hòn đảo của quần đảo Senkaku, vốn
đang được sở hữu tư nhân bởi các công dân Nhật Bản. Số tiền ủng hộ cho việc
mua lại đảo từ người dân Nhật Bản đã vượt quá 700 triệu Yên Nhật (tương đương
8.4 triệu đô la Mỹ).
|
|
China reacted to Ishihara’s proposal with its usual
sensitivity: it refused to receive the scheduled visit of Ishihara’s son, who
is Secretary-General of Japan’s Liberal Democratic Party, the country’s main
opposition party.
|
Trung Hoa phản ứng với đề nghị của ông Ishihara với sự
nhạy cảm thông thường của họ: từ chối các chuyến thăm dự kiến của con trai ông Ishihara, người
đang là Tổng thư ký Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, một đảng đối lập chính của
nước Nhật.
|
|
Moreover, at a meeting in Beijing earlier this month
between Japanese Prime Minister Yoshihiko Noda and Chinese Premier Wen Jiabao
during a trilateral summit with South Korea, Wen mentioned the independence
movement in the Xinjiang Uyghur Autonomous Region and the Senkaku Islands in
the same breath. “It is important to respect China's core interests and
issues of major concern,” he emphasized.
|
Hơn thế nữa, tại một cuộc họp ở Bắc Kinh hồi đầu tháng này
giữa Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda và Thủ tướng Trung Hoa Ôn Gia Bảo
trong hội nghị thượng đỉnh ba bên với Hàn Quốc, Ôn Gia Bảo đề cập đến phong
trào độc lập trong khu vực tự trị của người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương và quần
đảo Senkaku trong cùng một ý nghĩa. "Điều quan trọng là phải tôn trọng
lợi ích cốt lõi và các vấn đề quan tâm lớn của Trung Hoa", họ Ôn nhấn
mạnh.
|
|
Until that moment, the Chinese government had never
applied the term “core interest” to the Senkaku Islands. Following Wen’s
statement, the trilateral summit deteriorated. While South Korean President
Lee Myung-bak held bilateral talks with Chinese President Hu Jintao, talks
between Noda and Hu, and a scheduled meeting between Keidanren Chairman
Hiromasa Yonekura and Chinese Foreign Minister Yang Jiechi, were also
canceled. The joint declaration issued at the summit was delayed a day, and
omitted all references to North Korea – a prime concern of both Japan and
South Korea.
|
Cho đến thời điểm đó, chính phủ Trung Hoa chưa bao giờ áp
dụng thuật ngữ "lợi ích cốt lõi" đối với quần đảo Senkaku. Sau
tuyên bố của Ôn Gia Bảo, hội nghị thượng đỉnh ba bên xấu đi. Nó làm cho cuộc
đàm phán song phương giữa Tổng thống Hàn Quốc Lý Minh Bác (Lee Myung-bak) đã
được chuẩn bị với Chủ tịch Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, và cuộc hội đàm giữa Noda
với Hồ, và một cuộc họp dự kiến giữa Chủ tịch Liên đoàn các Tổ
chức Kinh tế Nhật Bản (Keidanren), Hiromasa Yonekura và Bộ trưởng Ngoại giao
Trung Hoa Dương Khiết Trì, cũng đã được hủy bỏ. Tuyên bố chung được đưa ra
tại hội nghị thượng đỉnh đã bị trì hoãn một ngày, và bỏ qua tất cả các vấn đề
liên quan đến Bắc Triều Tiên - một mối quan tâm hàng đầu của cả Nhật Bản và
Hàn Quốc.
|
|
China’s brusque treatment of Japan’s leaders probably was
intended as a rebuke not only over the Senkaku Islands issue, but also for
hosting the Fourth General Meeting of the World Uyghur Congress in Tokyo in
May. Previously, such meetings had been held in Germany and the United
States, and this one, which stressed the importance of protecting human
rights and preserving the traditions, culture, and language of the Uyghur
people, received no official sanction or endorsement from the Japanese
government.
|
Cư xử thô bạo của lãnh đạo Trung Quốc đối với lãnh đạo Nhật
Bản có lẽ đã được dự định như là một lời khiển
trách không chỉ về vấn đề
quần đảo Senkaku, mà còn do việc Nhật Bản
đã đăng cai Cuộc họp Toàn thể lần thứ tư của Đại Hội người Duy Ngô Nhĩ Thế giới
tại Tokyo hồi tháng năm. Trước đó, các cuộc họp như vậy đã được tổ chức tại Đức và Hoa Kỳ, và
lần đại hội này, nhấn mạnh tầm quan trọng bảo vệ quyền con người và bảo tồn
truyền thống, văn hóa, và ngôn ngữ của người Duy Ngô Nhĩ, thì chính phủ Nhật
Bản không hề đưa ra tuyên bố chính thức về cấm đoán hay tán thành.
|
|
If gruff diplomacy was the only manifestation of China’s
expansive territorial claims, Asian leaders could sleep more peacefully. But
the fact is that China’s navy is becoming increasingly active in the South
China Sea, at the Senkaku Islands and Scarborough Shoal in particular, but
also around the Spratly Islands claimed by Vietnam. Given China’s mushrooming
military budget and secretiveness, that assertiveness has set off alarm bells
among the other countries bordering the South China Sea.
|
Nếu ngoại giao cộc cằn là biểu hiện duy nhất Trung Hoa
tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mở rộng, thì các nhà lãnh đạo châu Á có thể ngủ yên
đôi chút. Nhưng thực tế là hải quân Trung Hoa đang ngày càng hoạt động mạnh
hơn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), tại quần đảo Senkaku và đặc biệt là bãi
đá ngầm Scarborough, mà còn ở xung quanh quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đã
tuyên bố chủ quyền. Với ngân sách quân sự của Trung Hoa tăng nhanh như nấm và
thiếu minh bạch, thì sự quyết đoán đó của họ là hồi chuông báo động cho các
quốc gia có chung biển Nam Trung Hoa.
|
|
Moreover, China’s bullying of the Philippines included not
only the dispatch of warships to Scarborough Shoals, but also the sudden
imposition of import restrictions on Filipino produce. And China’s reactions
toward Japan are far more paranoid since a non-LDP government took power.
|
Hơn nữa, sự bắt nạt của Trung Hoa đối với Philippines không
chỉ bằng việc gửi các tàu chiến
đến bãi đá ngầm Scarborough, mà còn áp dụng hạn chế nhập khẩu sản phẩm của
Phillipines một cách bất ngờ. Và phản ứng của Trung Hoa đối với Nhật còn
hoang tưởng hơn rất nhiều kể từ khi chính phủ đối lập với đảng Dân chủ Tự do
lên cầm quyền ở Nhật Bản.
|
|
The struggles for power within China’s ruling Communist
Party over the purge of Bo Xilai, and the blind activist Chen Guangcheng’s
escape from detention during economic talks with the US, have made Chinese
leaders’ nationalist assertions even more strident than usual. No official
wants to appear soft where China’s supposed “core interests” are concerned.
|
Các cuộc đấu tranh quyền lực trong Đảng Cộng sản cầm quyền
ở Trung Hoa thông qua thanh trừng Bạc Hy Lai, và sự trốn thoát khỏi sự giam
giữ của nhà hoạt động khiếm thị Trần Quang Thành xảy ra trong thời kỳ đàm
phán kinh tế với Hoa Kỳ, đã khẳng định dân tộc chủ nghĩa của các nhà lãnh đạo
Trung Hoa thậm chí còn gay gắt hơn bình thường. Họ không muốn tỏ ra mềm dẻo
trong quan hệ đối ngoại và đối nội ở Trung Hoa với những gì được xem là những
"lợi ích cốt lõi".
|
|
So far, China has not unleashed the sort of mass
demonstrations against Japan and others that it has used in the past to
convey its displeasure. But that probably reflects the jittery state of
China’s leaders in the wake of the Bo purge: they cannot guarantee that an
anti-Japan demonstration would not turn into an anti-government protest.
|
Cho đến nay, Trung Hoa đã không cho phép các cuộc biểu
tình hàng loạt chống lại Nhật Bản và những nước khác mà nó đã từng được sử
dụng trong quá khứ để truyền đạt sự không hài lòng của Trung Hoa. Nhưng vấn
đề này lại có thể phản ánh trạng thái bồn chồn của các nhà lãnh đạo Trung Hoa
trong bối cảnh của cuộc thanh trừng họ Bạc: họ không thể đảm bảo rằng một
cuộc biểu tình chống Nhật Bản sẽ không trở thành một cuộc biểu tình chống
chính phủ cộng sản đang cai trị độc đoán ở Trung Hoa.
|
|
China’s real core interests are not in territorial
expansion and hegemony over its neighbors, but in upholding the human rights
and improving the welfare of its own citizens, which is the world’s core
interest in China. But until China accepts that its territorial claims in the
South China Sea must be discussed multilaterally, so that smaller countries
like the Philippines and Vietnam do not feel threatened, China’s ever
expanding “core interests” will be the root of instability in East Asia.
|
Những lợi ích cốt lõi thực sự của Trung Hoa không phải là bành
trướng lãnh thổ và làm bá chủ đối với các nước láng giềng, mà là ủng hộ các
quyền con người và cải thiện quyền lợi của công dân của mình, đó là lợi ích
cốt lõi của thế giới tại Trung Hoa. Tuy nhiên, chừng nào Trung Hoa chưa chịu
chấp nhận rằng yêu sách chủ quyền lãnh thổ của nó ở Biển Nam Trung Hoa (Biển
Đông) phải được thảo luận đa phương, thì các nước nhỏ hơn như Philippines và
Việt Nam vẫn còn cảm thấy bị đe dọa, và những “lợi ích cốt lõi” ngày càng bành
trướng của Trung Hoa sẽ là gốc rễ của sự bất ổn ở Đông Á.
|
|
|
|
|
|
|
|
http://www.project-syndicate.org/commentary/china-s-expanding-core
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)