MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Friday, April 6, 2012

U.S. and allies move to counter Chinese power Mỹ và đồng minh trước một Trung Quốc trỗi dậy



U.S. and allies move to counter Chinese power

Mỹ và đồng minh trước một Trung Quốc trỗi dậy

By MICHAEL RICHARDSON

MICHAEL RICHARDSON

SINGAPORE — The pieces of a new strategic kaleidoscope in the Asia-Pacific region are starting to fall into place as allies and security partners of the United States seek to deter China from using or threatening force to achieve its expansive aims, particularly in the South China Sea, which forms the maritime heart of Southeast Asia.

SINGAPORE —- Những mảnh ghép của một ống kính vạn hoa chiến lược mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương bắt đầu sắp xếp thành hàng khi các đồng minh và đối tác an ninh của Mỹ tìm cách đối phó Trung Quốc để nước này không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm đạt được các mục tiêu mở rộng của mình, đặc biệt ở Biển Đông.

A contingent of about 200 U.S. Marines will soon arrive in Darwin, northern Australia. They are the forerunners of a bigger force of up to 2,500 marines agreed in November by leaders of the two allies.

Nhóm lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đã tới Australia. Họ nằm trong số lực lượng lên tới 2.500 quân sẽ triển khai đến châu Đại Dương theo một thỏa thuận tháng 11 giữa lãnh đạo hai nước.

Singapore has offered basing facilities to several high-speed Littoral Combat Ships being brought into service with the U.S. Navy, while U.S. ally the Philippines is negotiating with Washington to hold more military training exercises with the U.S. in the Philippines and increase U.S. Navy access to Philippine ports.

Singapore đã đề nghị cung cấp cơ sở trú đóng cho tàu tuần duyên cao tốc (LCS) của hải quân Mỹ, trong khi đồng minh Philippines của Mỹ cũng đang thương thảo với Washington về khả năng tăng cường các cuộc diễn tập hai bên tại Philippines cũng như gia tăng sự tiếp cận của hải quân Mỹ với các cảng của Philippines

Vietnam is in the midst of a major military buildup to protect its interests in the South China Sea, following similar moves by Malaysia.

Vietnam và Malaysia cũng đang tiến hành các động thái tương tự về tăng cường các khả năng quân sự để bảo vệ lợi ích hàng hải của mình ở Biển Đông.

The U.S. Marines will rotate through bases in northern Australia for training and exercises, underscoring what President Barack Obama said was U.S. determination to play a larger and long-term role in shaping the region and its future, despite looming hefty cuts in America's defense budget.

Lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ luân phiên nhau tới các căn cứ ở phía bắc Australia cho mục tiêu đào tạo và diễn tập, nhấn mạnh những gì mà Tổng thống Mỹ Barack Obama từng tuyên bố rằng, Mỹ quyết tâm đóng một vai trò lớn hơn và lâu dài trong việc định hình khu vực và tương lai của nó, bất chấp việc cắt giảm chi tiêu quốc phòng.

Obama reaffirmed in South Korea recently that reductions in defense spending would not come at the expense of the Asia-Pacific. "America's armed forces are going to stay ready for the full range of contingencies and threats," he said.

Gần đây, tại Hàn Quốc, ông Obama đã lần nữa khẳng định rằng, việc giảm bớt ngân sách quân sự sẽ không bao gồm phạm vi châu Á - Thái Bình Dương. “Các lực lượng vũ trang Mỹ đang sẵn sàng ở lại để đối phó toàn diện với những mối đe dọa và sự việc bất ngờ”, ông nói.

Japan and the U.S. are expected to finalize an agreement later this month to relocate 4,700 U.S. Marines from the Japanese island of Okinawa to Guam, a U.S. territory and major military base in the western Pacific.

Nhật Bản và Mỹ dự kiến sẽ hoàn tất thỏa thuận vào cuối tháng này về việc di chuyển 4.700 lính thủy đánh bộ Mỹ từ đảo Okinawa của Nhật tới Guam, một căn cứ quân sự chủ chốt của Mỹ ở tây Thái Bình Dương.

The Yomiuri Shimbun reported that the new force layout would divide the Marine Corps command, ground force, air and logistic units into an arc of bases forming a flank along the eastern seaboard of China.

Tờ Yomiuri Shimbun thông tin rằng, cách bố trí lực lượng mới này sẽ chia đơn vị chỉ huy lính thủy đánh bộ, lực lượng mặt đất, các đơn vị không quân và hậu cần vào một vòng cung các căn cứ hình thành một sườn dọc theo vùng ven biển phía đông của Trung Quốc.

Marines are the spearhead of U.S. forces deployed in the Asia-Pacific region. The Yomiuri said that spreading them more widely across the region was designed to make any foreign attack on their bases more difficult, counter the growing military strength of China, and better prepare for any future disaster relief and humanitarian aid efforts.

Lính thủy đánh bộ là mũi nhọn của quân đội Mỹ đã được triển khai ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Yomiuri nói việc trải rộng lực lượng khắp khu vực là để khiến cho bất kỳ vụ tấn công nước ngoài nào vào các căn cứ của họ trở nên khó khăn hơn, cũng còn là để đối phó với sức mạnh quân sự đang trỗi dậy của Trung Quốc và chuẩn bị tốt hơn cho việc đối phó thảm họa, hỗ trợ nhân đạo trong tương lai.

The U.S. is also realigning its forces in the western Pacific to focus more of them on maintaining stability in Southeast Asia and protecting the shipping and energy supply lines that run through the Indian Ocean to East Asian economies that are key drivers of global growth.

Mỹ cũng đang sắp xếp lại lực lượng ở tây Thái Bình Dương nhằm tập trung nhiều hơn vào việc duy trì ổn định ở Đông Nam Á và bảo vệ các tuyến đường vận chuyển hàng hóa cũng như năng lượng thông qua Ấn Độ Dương tới các nền kinh tế Đông Á - khu vực đang dẫn dắt tăng trưởng toàn cầu.

China has also indicated that it wants to restrict foreign military operations in large areas of the South China Sea, alarming the U.S., Japan and many other regional countries that depend on freedom of navigation. Much of Australia's trade, including vital energy imports, pass through the South China Sea and, like the U.S., Japan can only give full support its security partners in Asia if it has unrestricted access to international waters in the area for its naval and air self-defense forces.

Trung Quốc cũng biểu lộ rằng, họ muốn hạn chế các hoạt động quân sự nước ngoài ở những khu vực rộng lớn của Biển Đông, cảnh báo Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước trong khu vực phụ thuộc vào tự do hàng hải. Phần lớn thương mại của Australia kể cả việc nhập khẩu năng lượng tối quan trọng đều đi qua Biển Đông và giống như Mỹ, Nhật Bản chỉ có thể cung cấp sự hỗ trợ toàn diện cho các đối tác an ninh ở châu Á nếu như không bị hạn chế tiếp cận với các vùng biển quốc.

In addition to the new U.S. Marine presence, Australia will increase U.S. access to military airfields in northern Australia and to its main Indian Ocean naval base near Perth. In the longer term, it may allow the U.S. to use an upgraded airfield on its Cocos and Keeling Island territory in the Indian Ocean south of Indonesia for long-range maritime reconnaissance flights by unmanned aircraft.

Cùng với sự hiện diện mới của Mỹ, Australia sẽ tăng cường sự tiếp cận của Mỹ với các sân bay quân sự ở phía bắc Australia và căn cửa hải quân chính của họ ở Ấn Độ Dương gần Perth. Về dài hạn, họ có thể cho phép Mỹ sử dụng một sân bay đã nâng cấp trên vùng lãnh thổ quần đảo Cocos và Keeling ở Ấn Độ Dương nhằm phục vụ cho các chuyến bay do thám hàng hải tầm xa bằng máy bay không người lái.

Although both the U.S. and Australia have been careful not to cast their strengthening security cooperation in anti-China terms, Beijing sees it as part of a regional containment strategy. The China Daily said on March 29 that "the prospective new base (on Cocos island) will allow U.S. spy flights over the South China Sea."

Mặc dù cả Mỹ và Australia đều thận trọng để tránh việc hiểu rằng việc tăng cường hợp tác an ninh của họ là nhằm đối phó với Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh vẫn xem đây là một phần chiến lược ngăn chặn khu vực. Tờ Nhật báo Trung Quốc ngày 29/3 nêu: "Căn cứ mới (trên quần đảo Cocos) sắp tới sẽ cho phép Mỹ thực hiện các chuyến bay do thám ở Biển Đông”.

China evidently aims to dominate its "near seas" — the Yellow, East, and South China seas — turning them into an extended security buffer protecting the Chinese mainland and enabling China to exploit valuable fisheries and seabed resources, including oil, gas and minerals.

Trung Quốc có mục tiêu rõ ràng là giành ưu thế ở “các vùng biển gần” gồm Hoàng Hải, Hoa Đông và Biển Đông - biến chúng trở thành vùng đệm an ninh mở rộng để bảo vệ Trung Quốc đại lục và cho phép nước này khai thác các nguồn cá cùng các tài nguyên dưới đáy biển rất giá trị gồm dầu, khí tự nhiên và khoáng sản.

The three seas contain the vast majority of China's outstanding territorial claims against its neighbors, as well as all its disputed maritime claims.

Ba vùng biển này đều là nơi tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và tuyên bố hàng hải giữa Trung Quốc với những nước láng giềng.

Beijing's claims in the 3.5 million square km South China Sea are by far the most extensive. Beijing asserts sovereignty over the main contested archipelagos and their surrounding waters and seabed. It also asserts other forms of jurisdiction in its claimed zone of control, which covers about 80 percent of the sea.

Tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh với 3,5 triệu km vuông ở Biển Đông rõ ràng là rộng lớn nhất. Bắc Kinh khẳng định chủ quyền với các quần đảo tranh chấp chính cũng như vùng nước xung quanh và đáy biển. Họ cũng tuyên bố các hình thức thẩm quyền khác bao trùm khoảng 80% vùng biển này.

Chinese mapping authorities said recently that they would clarify Chinese claims in the South China Sea. Meanwhile, the state-owned company that leads the search for oil and gas in the area said that deepwater resources there would boost the firm's growth in the medium and long-term.

Cơ quan lập bản đồ của Trung Quốc gần đây cho biết sẽ làm rõ các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong khi đó, một tập đoàn nhà nước dẫn đầu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm dầu khí thì tuyên bố, nguồn tài nguyên nước sâu sẽ thúc đẩy tăng trưởng của tập đoàn về trung và dài hạn.

"The majority of the disputed waters used to be beyond our reach because we seldom put our claims into action," Zhang Yunling, director of the Institute for International Studies under the Chinese Academy of Social Sciences, told the Global Times. "By drawing a (more precise) map, the country can reinforce its jurisdiction claim in the South China Sea, and further actions may follow, such as exploiting resources near the Nansha Islands."

Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) bản tiếng Anh ngày 27/3 đã dẫn lời Trương Vân Lĩnh, giám đốc Viện Nghiên cứu quốc tế thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: "Đa số các vùng biển tranh chấp đã vượt quá tầm tay của chúng ta vì chúng ta hiếm khi đặt tuyên bố chủ quyền của mình vào hành động. Bằng việc vẽ một bản đồ, đất nước có thể củng cố tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và có những hành động xa hơn như khai thác nguồn tài nguyên gần quần đảo Nam Sa”, ông Trương nói.

These widely scattered islands, known in the English-speaking world as the Spratlys, are also claimed in full by Taiwan and Vietnam, and in part by the Philippines, Malaysia and Brunei. All but Brunei have garrisoned the main atolls, creating a powder keg should China try to forcibly evict any rival claimants.

Những hòn đảo nằm rải rác rộng rãi, được biết đến trong thế giới nói tiếng Anh như quần đảo Spratlys (Trường Sa), cũng được tuyên bố chủ quyền đầy đủ bởi Đài Loan và Việt Nam, và một phần bởi Việt Nam, Malaysia và Brunei. Tất cả trừ Brunei đã đóng quân các đảo san hô chính, tạo ra một thùng thuốc nổ nếu Trung Quốc tìm cách cưỡng bức trục xuất bất kỳ đối thủ tuyên bố chủ quyền nào.

Michael Richardson is a visiting senior research fellow at the Institute of South East Asian Studies in Singapore.

Michael Richardson là một nghiên cứu thỉnh giảng cấp cao tại Viện Đông Nam Á học, Singapore.

http://www.japantimes.co.jp/text/eo20120405mr.html



Acemoglu and Robinson on Why Nations Fail "Tại sao có quốc gia thất bại" của Acemoglu và Robinson


Acemoglu and Robinson on Why Nations Fail

"Tại sao có quốc gia thất bại" của Acemoglu và Robinson

Francis Fukuyama

The American Interest

Francis Fukuyama

The American Interest

Daron Acemoglu and James Robinson have just published Why Nations Fail, a big book on development that will attract a lot of attention. The latest fad in development studies has been to conduct controlled randomized experiments on a host of micro-questions, such as whether co-payments for mosquito bed nets improves their uptake. Whether such studies will ever aggregate upwards into an understanding of development is highly questionable. By contrast, Acemoglu and Robinson have resolutely focused on only the largest of macro questions: how contemporary institutions were shaped by colonial ones, why it was that regions of the world that were the richest in the year 1500 were among the world’s poorest today, or how rich elites were ever persuaded to redistribute their wealth. In Why Nations Fail, Acemoglu and Robinson restate and enlarge upon earlier articles like “The Colonial Origin of Institutions” and “Reversal of Fortune,” but in contrast to their academic work, the new book has no regressions or game theory and is written in accessible English for general readers.

Daron Acemoglu và James Robinson vừa mới xuất bản cuốn "Tại sao có quốc gia thất bại?", một cuốn sách dày về lý thuyết phát triển mà chắc chắn sẽ rất được chú ý. Xu hướng mới nhất trong nghiên cứu về phát triển là tiến hành những thí nghiệm ngẫu nghiên có kiểm soát về hàng loạt các câu hỏi vi mô, ví dụ như liệu áp dụng hình thức cùng thanh toán [1] cho màn chống muỗi có khiến người dân sử dụng chúng nhiều lên không? Liệu những nghiên cứu như thế cuối cùng có cộng dồn lại, tạo ra một hiểu biết về phát triển, hay không là một câu hỏi lớn. Ngược lại, Acemoglu và Robinson đã quyết tâm tập trung vào những câu hỏi vĩ mô rộng lớn nhất: các thể chế đương đại hình thành từ các thể chế thời thuộc địa như thế nào, và tại sao khu vực giàu có nhất của thế giới 1500 năm trước lại là khu vực nghèo khó nhất hiện nay, hoặc làm thế nào để thuyết phục thành phần tinh túy giàu có tái phân bổ của cải của họ cho xã hội. Trong cuốn "Tại sao có quốc gia thất bại", Acemoglu và Robinson đã nhắc lại và phân tích rộng hơn những bài báo trước kia của họ như “The Colonial Origin of Institutions” và “Reversal of Fortune,” nhưng trái với các nghiên cứu học thuật đó, cuốn sách mới không bàn về hồi quy hay lý thuyết trò chơi, mà được viết bằng thứ tiếng Anh dễ hiểu cho quảng đại quần chúng.

Acemoglu and Robinson (henceforth AR; Simon Johnson of the old AJR team dropped out of this volume) have two related insights: that institutions matter for economic growth, and that institutions are what they are because the political actors in any given society have an interest in keeping them that way. These may seem like obvious statements, but many people in the development business haven’t gotten the message. Among development specialists there is what AR term the “ignorance” hypothesis: failure to develop is the result of not knowing either what good policies are (this was the old Washington Consensus) or, now that the focus has shifted to institutions, what good institutions are or how to create them. Many development agencies act as if leaders in developing countries want to do the right thing, if only they knew how, and that development assistance should therefore consist of sending smart people from places like Washington out to teach them, perhaps accompanied by some structural adjustment arm-twisting.

Acemoglu và Robinson (từ nay viết tắt là AR; Simon Johnson, người có mặt trong nhóm AJR viết cuốn sách trước đã không có mặt trong cuốn sách mới nhất này) có hai nhận xét liên quan đến nhau: Rằng thể chế là thứ quan trọng cho phát triển kinh tế, và rằng thể chế có hình dạng như nó đang có là bởi các nhân tố chính trị trong một xã hội bất kỳ nào đều có lợi ích để duy trì nó như thế. Đây tưởng như là một thông điệp rõ ràng, nhưng rất nhiều người trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển vẫn chưa nắm được thông điệp này. Trong số các chuyên gia nghiên cứu về phát triển có cái mà AR gọi là giả thuyết "thiếu hiểu biết": thất bại trong pháp triển là bởi quốc gia đó hoặc không biết thế nào là các chính sách tốt, hoặc, khi sự chú ý chuyển sang thể chế, không biết thế nào là các thể chế tốt và làm sao để tạo ra chúng. Nhiều nhà nghiên cứu phát triển làm như thể các lãnh đạo tạo các quốc gia đang phát triển rất muốn làm điều đúng, chỉ có điều họ không biết làm như thế nào, và rằng hỗ trợ phát triển có nghĩa là gửi những thầy giáo giỏi từ những nơi như Washington sang để dạy cho họ [về thế nào là thể chế tốt], và có lẽ kèm theo một số sức ép điều chỉnh cơ chế.

By contrast AR argue that bad institutions are the product of political systems that create private gains for elites in developing countries, even if by doing so they impoverish the broader society. (Think Nigeria, which has many multimillionaires while 70 percent of the population lives below the poverty line.) Doing the “right thing” would take away the rents they receive, which is why no amount of hectoring or threats to withhold the next loan tranche has much effect on their behavior. They are making almost the identical point to the one made in the 2009 book Violence and Social Orders by Douglass North, John Wallis, and Barry Weingast (NWW), who argue that most underdeveloped societies are what they term “limited access orders” in which a rent-seeking coalition limits access to both the political and economic system. Indeed, I see no real difference between the “extractive/inclusive” distinction in AR and the “limited/open” access distinction in NWW.

Ngược lại, AR tranh luận rằng thể chế tồi là sản phẩm của một hệ thống chính trị nhằm tạo ra những lợi ích cá nhân cho thành phần tinh túy tại các quốc gia đang phát triển, bất chấp rằng phần lớn hơn xã hội sẽ nghèo đi. (Hãy nghĩ về Nigeria, nơi có rất nhiều triệu phú trong khi 70% dân số sống dưới mức nghèo khổ). Làm "điều đúng" có nghĩa là họ sẽ mất đi đặc quyền đặc lợi, đó là lý do tại sao những lời lẽ đe dọa, cả về mặt chính trị lẫn kinh tế, lại ít có tác động tới họ. Họ đang đưa ra một quan điểm gần giống với cuốn sách "Violence and Social Orders" của Douglass North, John Wallis và Barry Weingast (NWW) xuất bản năm 2009, những người cho rằng phần lớn các xã hội kém phát triển thuộc loại mà họ gọi là "trật tự khép kín" ("limited access orders"), trong đó một liên minh tìm kiếm đặc lợi hạn chế quyền [của quảng đại quần chúng và các nhóm cạnh tranh với họ] truy cập vào hệ thống kinh tế và chính trị. Thực sự mà nói, tôi không thấy có sự khác biệt nào giữa cách phân biệt "tước đoạt / bao hàm" (extractive / inclusive) trong cuốn sách của AR và cách phân biệt trật tự "khép kín / cởi mở" trong NWW.

This conclusion about the primacy of institutions and politics for development has important implications for policy as AR point out. If growth is a byproduct not just of good policies like trade liberalization, which can in theory be turned on like a light switch, but rather of basic institutions, then the prospects of foreign aid look dim. Bad governments can waste huge amounts of well-intentioned outside resources; indeed, the flow of aid dollars into poor countries can undermine governance by undercutting accountability, thereby leaving societies worse off than they would otherwise be. As the American nation-building efforts in Afghanistan and Iraq have indicated, moreover, foreign efforts to help construct basic institutions are an uphill struggle. Bad institutions exist because it is in the interests of powerful political forces within the poor country itself to keep things this way. Hamid Karzai understands perfectly well how clean government is supposed to work; it’s just that he has no interest in seeing that happen in Afghanistan. Unless the outsiders can figure out a way to change this political calculus, aid is largely useless.

Kết luận này về tính ưu việt của thể chế và hệ thống chính trị đối với phát triển có những hệ quả quan trọng đối với chính sách như AR đã chỉ ra. Nếu phát triển là một sản phẩm phụ, không phải là của những chính sách đúng đắn như tự do hóa thương mại - theo lý thuyết có thể được "bật lên" đơn giản như bật công tắc đèn, mà của những thể chế cơ bản, thì triển vọng của viện trợ ngoại giao là khá tồi tệ. Các chính phủ tồi có thể lãng phí hàng đống tài nguyên do bên ngoài viện trợ có chủ ý; và thực sự là dòng tài trợ bằng đô la vào những quốc gia nghèo có thể làm xói mòn trình độ quản lý của chính phủ thông qua việc làm giảm trách nhiệm giải trình (accountability), do đó làm cho quốc gia đó càng trở nên tồi tệ hơn. Như các nỗ lực xây dựng lại một quốc gia ở Afghanistan và Iraq của Hoa Kỳ cho thấy, nỗ lực nước ngoài giúp xây dựng một thể chế cơ bản tại một quốc gia nào đó là rất khó khăn. Thể chế tồi tồn tại bởi vì lợi ích của các lực lượng chính trị đầy sức mạnh tại các quốc gia nghèo khó muốn duy trì nó như thế. Hamid Karzai hiểu rất rõ chính quyền sạch phải hoạt động ra làm sao, chỉ có điều ông ta không có lợi ích gì để thúc đẩy nó xảy ra ở Afghanistan. Trừ khi, người bên ngoài có thể nghĩ ra cách thay đổi bài toán chính trị này, viện trợ đa phần sẽ trở nên vô ích.

So far, so good. AR have done a great deal over the years to focus the attention of both theorists and policymakers on institutions, and to shape the emerging consensus on the importance of politics to growth within the economics profession. It is, then, very disappointing that their more fully fleshed out book fails to go very much further than these broad conclusions, skirting critical issues of exactly what sort of institutions are necessary to promote growth, and failing to come to grips with some critical historical facts.

Tới đây thì mọi chuyện đều tốt. AR đã làm việc rất nhiều trong vòng vài năm gần đây để lôi kéo sự chú ý của những nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn những nhà hoạch định chính sách vào vấn đề thể chế, và để tạo ra một sự đồng thuận mới về sự quan trọng của chính trị đối với tăng trưởng bên trong lĩnh vực kinh tế. Nhưng tới đó thì hơi thất vọng bởi cuốn sách mới ra của họ đã thất bại, không phát triển thêm được những kết luận rộng ở trên, làm rõ vấn đề quan trọng là: cái thể chế tốt, có khả năng thúc đẩy phát triển, phải như thế nào?, và thất bại trong việc phân tích một số vấn đề lịch sử quan trọng.

The first problem with their analysis is conceptual. They present a sharply bifurcated distinction between what they call good “inclusive” economic and political institutions, which are sometimes also labeled “pluralistic,” in contrast to what they call bad “extractive” or “absolutist” ones. Unfortunately, these terms are way too broad, so broad indeed that AR never provide a clear definition of everything they encompass, or how they map onto concepts already in use. “Inclusive” economic institutions, for example, seem to include formal property rights and court systems, but also have to do with social conditions that allow individuals access to the market such as education and local custom. “Inclusive” political institutions would seem to imply modern electoral democracy, but they also include an impersonal centralized state as well as access to legal institutions, and forms of political participation that fall well short of modern democracy. We find, for example, that England following the Glorious Revolution of 1688-89 was incipiently inclusive, despite the fact that well under ten percent of the population had a right to vote. When AR first used the term “extractive” in their early articles, it referred to truly extractive practices like the mines of Potosí or the sugar plantations of the Caribbean which extracted commodities out of the labor of slaves. In the current book extractive seems to mean any institution that denies any degree of participation to citizens, from tribal communities to ranchers in 19th century Argentina to the contemporary Chinese Communist Party.

Vấn đề đầu tiên trong nghiên cứu của họ là khái niệm. Họ trình bày một sự khác biệt rõ ràng giữa cái gọi là thể chế chính trị và kinh tế tốt, thể chế “cởi mở” (inclusive), và đôi lúc được dán nhãn "đa nguyên", trái ngược với cái gọi là thể chế chính trị tồi, thể chế "tước đoạt" hoặc "chuyên chế" (absolutist). Thật không may, những thuật ngữ này lại quá rộng, rộng đến mức AR không cung cấp được một định nghĩa rõ ràng chúng phải gồm những gì, hoặc làm thế nào để quy chúng về những khái niệm hiện nay đang được dùng. Ví dụ, thể chế kinh tế “cởi mở” dường như bao gồm các quyền tư hữu và hệ thống tòa án bảo vệ quyền tư hữu, nhưng cũng đồng thời liên quan đến các điều kiện xã hội cho phép cá nhân có thể tiếp cận thị trường như giáo dục hay các phong tục địa phương. Thể chế chính trị “cởi mở” có vẻ ám chỉ nền dân chủ bầu cử hiện đại, nhưng chúng cũng bao gồm nhà nước tập trung - nhưng không thiên vị - cũng như sự tiếp cận tới hệ thống pháp lý, và các dạng thức tham gia chính trị khác chưa đạt tới tầm dân chủ hiện đại. Ví dụ, chúng ta có thể thấy rằng [thể chế chính trị ở] nước Anh sau Cuộc Cách Mạng Vinh Quang (1688-1689) đã được coi là "bao hàm", bất chấp sự thực rằng chỉ khoảng 10% dân số lúc đó có quyền đi bầu. Khi AR lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ "tước đoạt" trong các bài báo thời kỳ đầu của họ, nó ám chỉ những hành vi thực sự "tước đoạt" như hầm mỏ ở Potosi hay nông trại mía đường ở Caribe, nơi mà người ta tước đoạt các hàng hóa từ người lao động hay nô lệ. Trong cuốn sách mới, "tước đoạt" dường như có nghĩa là bất kỳ thể chế nào từ chối một mức độ tham gia nhất định của người dân, từ các cộng đồng mang tính bộ lạc tới các chủ trang trại Argentina ở thế kỷ 19 tới Đảng CS Trung Quốc hiện nay.

Since each of these broad terms (inclusive/extractive, absolutist/pluralistic) encompasses so many possible meanings, it is very hard to come up with a clear metric of either. It also makes it hard to falsify any of their historical claims. Since more real-world societies are some combination of extractive and inclusive institutions, any given degree of growth (or its absence) can then be attributed either to inclusive or extractive qualities ex post.

Bởi vì mỗi một thuật ngữ rộng này (bao hàm / tước đoạt, chuyên chế / đa nguyên) đều có thể được hiểu theo quá nhiều nghĩa khác nhau, thật khó có thể đưa ra một thước đo rõ ràng cho chúng. Nó cũng khiến người khác khó chứng minh cái sai trong tuyên bố của họ về mặt lịch sử. Bởi rất nhiều xã hội thực trên thế giới là sự kết hợp giữa thể chế bao hàm và tước đoạt, do đó bất kỳ một mức độ tăng trưởng (hay không tăng trưởng) nào đều có thể bị đổ lỗi cho phẩm chất bao hàm hay tước đoạt.

The use of such broad categories and the failure to distinguish between the different components of political “inclusion” greatly diminish the book’s usefulness, because one wants to know how these components individually affect growth, and how they interact with one another. There is for example a large literature comparing the separate impacts of a modern state, rule of law, and democracy on growth, which tends to show that the first two of these factors have a far greater influence on outcomes than democracy. There is in fact a lot of reason to think that expansion of the franchise in a very poor country may actually hurt state performance because it opens the way to clientelism and various forms of corruption. The Indian political system is so inclusive that it can’t begin major infrastructure projects because of all the lawsuits and democratic protest, especially when compared to the extractive Chinese one. Furthermore, as Samuel Huntington pointed out many years ago, expanded political participation may destabilize societies (and thereby hurt growth) if there is a failure of political institutions to develop in tandem. All of the good things in the “inclusive” basket, in other words, don’t necessarily go together, and in some cases may be at odds. You never get much hint of this in Why Nations Fail, however, since the authors seem to argue the more inclusion the better, along any of its axes.

Sự sử dụng phân loại rộng và sự thất bại trong việc phân biệt giữa các yếu tố khác nhau của nền chính trị “cởi mở” như thế đã làm giảm rất nhiều tính hữu ích của cuốn sách, bởi chúng ta đều muốn biết các yếu tố này, nếu đứng một mình, sẽ tác động tới phát triển như thế nào, hoặc chúng tương tác với nhau ra sao. Ví dụ, có rất nhiều tài liệu so sánh các tác động khác nhau của nhà nước hiện đại, của pháp trị, của dân chủ tới phát triển, và chúng đều có xu hướng nói rằng 2 yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng tới phát triển lớn hơn nhiều so với dân chủ. Trên thực tế có nhiều lý do để nghĩ rằng phát triển hình thức đặc quyền kinh doanh (franchies) tại các quốc gia nghèo thậm chí có thể làm suy giảm khả năng hoạt động của nhà nước bởi vì nó mở ra cơ hội cho chủ nghĩa bảo vệ lợi ích phe nhóm (clientelism) và nhiều hình thức tham nhũng khác. Hệ thống chính trị Ấn Độ bao hàm tới mức nó không thể bắt đầu các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng bởi những phản ứng và kiện tụng dân chủ, đặc biệt nếu so với thể chế tước đoạt ở Trung Quốc. Hơn nữa, như Samuel Huntington đã chỉ ra nhiều năm về trước, mở rộng sự tham gia chính trị có thể làm mất cân bằng xã hội (và như thế làm hại cho phát triển) nếu chẳng may có thất bại của thể chế chính trị được phát triển song song. Nói một cách khác, tất cả những gì tốt đẹp trong rổ “cởi mở” không nhất thiết tương thích với nhau, và trong một số trường hợp còn đối chọi nhau. Tuy nhiên, bạn không thấy điều này được đề cập đến trong cuốn "Tại sao có quốc gia thất bại", bởi lẽ các tác giả dường như cố chứng minh rằng càng “cởi mở” càng tốt hơn, theo bất cứ chiều hướng nào.

Like many other works making use of history but written by economists, the AR volume contains some pretty problematic facts and interpretations. It makes the case, for example, that Rome shifted away from an inclusive Republic towards absolutist Empire, and that this was then responsible for Rome’s subsequent economic decline. Leave aside the fact that Rome’s power and wealth continued to increase in the two centuries after Augustus, and that its eastern wing managed to hold on remarkably until the fifteenth century. It can be argued that the shift from the narrow oligarchy of the Republic to a monarchy with highly developed legal institutions actually increased access to the political system on the part of ordinary Roman citizens, while solving the acute problem of political instability that bedeviled the late Republic.

Giống như nhiều công trình khác có sử dụng tài liệu lịch sử, nhưng được viết bởi các nhà kinh tế, cuốn sách của AR chứa rất nhiều dữ kiện và diễn giải lịch sử có vấn đề. Ví dụ, cuốn sách đặt ra trường hợp La Mã chuyển dịch khỏi nền Cộng Hòa “cởi mở” sang một nền Đế chế "chuyên chế", và rằng điều đó dẫn đến sự suy tàn của kinh tế La Mã sau đó. Hãy bỏ qua sự thực rằng quyền lực và của cải La Mã tiếp tục gia tăng trong 2 thế kỷ sau Augustus, và rằng phần phía đông của đế chế này còn tồn tại cho tới thế kỷ thứ 15. Người ta có thể lập luận rằng sự dịch chuyển từ một chính thể đầu sỏ (oligarchy) hẹp của nền Cộng hòa sang một nền quân chủ với thể chế luật pháp phát triển cao hơn thực ra làm tăng khả năng tham gia vào hệ thống chính trị cho người dân thường La Mã, trong khi giải quyết vấn đề nhức nhối là bất ổn chính trị lan rộng ở những năm cuối nền Cộng Hòa.

Similarly, following on a tradition begun by Douglass North and Barry Weingast, AR point to the Glorious Revolution of 1688/89 as a critical juncture marking both the establishment of secure property rights and an “inclusive” political system. The latter point is fair enough, but English property rights were rooted in a much older tradition of common law dating from the Norman invasion, and had created a strong commercial civilization well before 1689. The Glorious Revolution was much less important in establishing the credibility of property rights per se, than of the Crown as a borrower, which explains why English public debt exploded in the century following that event.

Tương tự, tiếp theo một truyền thống được đặt ra bởi Douglass North và Barry Weingast, AR chỉ ra rằng Cách Mạng Vinh Quang năm 1688 - 1689 là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự thành lập của quyền tư hữu và một hệ thống chính trị "bao hàm". Điểm sau thì đúng, nhưng quyền sở hữu tư nhân ở Anh có nguồn gốc từ truyền thống luật common law lâu đời hơn nhiều, từ cuộc chinh phạt nước Anh của người Norman, và nó đã tạo ra một nền văn minh thương mại mạnh mẽ từ trước năm 1689. Cuộc Cách Mạng Vinh Quang có tầm quan trọng thấp hơn trong việc thành lập quyền tư hữu, hơn là nhà Vua trở thành người đi vay, điều này giải thích tại sao nợ công nước Anh bùng nổ trong một thế kỷ sau sự kiện này.

Given their overall framework, the hardest thing for AR to explain is contemporary China. China today according to them is more inclusive than Maoist China, but still far from the standard of inclusion set by the US and Europe, and yet has been the fastest growing large country over the past three decades. The Chinese restrict access to the market, engage in financial repression, fail to secure property rights, have no Western-style rule of law, and are ruled by a non-transparent oligarchy called the Communist Party. How to explain their economic success? Rather than see this as a threat to their model (i.e., more inclusion, more growth) AR pull a slight of hand by arguing that Chinese growth won’t last and that their system will eventually come crashing down (like Rome did, after about 200 years?). I actually agree that China will eventually crash. But even if that happens, a theory of development that can’t really explain the most remarkable growth story of our time is not, it seems to me, much of a theory.

Trong khuôn khổ lý luận của mình, việc khó nhất của AR là giải thích trường hợp của Trung Quốc đương đại. Trung Quốc hiện nay đối với họ là “cởi mở” hơn so với Trung Quốc thời Mao Trạch Đông, nhưng vẫn còn rất xa mới đạt tới tiêu chuẩn “cởi mở” mà Hoa Kỳ và Châu Âu đặt ra, nhưng quốc gia này vẫn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong 3 thập niên gần đây. Người Trung Quốc hạn chế tiếp cận thị trường, tham gia vào áp chế tài chính, không đảm bảo quyền tư hữu, không có nền pháp trị kiểu phương Tây, và được lãnh đạo bởi chế độ đầu sỏ không minh bạch được gọi dưới tên Đảng CSTQ. Làm sao có thể giải thích được sự thành công kinh tế của họ? Thay vì nhìn nhận đây là một mối đe dọa tới mô hình lý thuyết của mình (nghĩa là càng “cởi mở” thì càng phát triển", AR đã đi chệch sang bên bằng cách lập luận rằng sự phát triển của Trung Quốc sẽ không kéo dài được bao lâu và cuối cùng thì hệ thống đó sẽ sụp đổ (như đế chế La Mã đã từng sụp đổ, sau đó 200 năm?). Tôi thực ra đồng ý rằng Trung Quốc cuối cùng sẽ sụp đổ. Nhưng ngay cả khi điều này xảy ra, một lý thuyết phát triển, nếu không giải thích được trường hợp phát triển đáng lưu ý nhất của thời đại chúng ta, thì theo tôi, nó không thể gọi là một lý thuyết.

The broad conclusions of Why Nations Fail are, thus, incontrovertible and of great importance to policy (which is why, incidentally, I gave it a positive blurb). One only wishes then that the authors had made better use of basic categories long in play in other parts of the social sciences (state, rule of law, patrimonialism, clientelism, democracy, and the like) instead of inventing neologisms that obscure more than they reveal.

Như thế, các kết luận chung đưa ra trong cuốn "Tại sao có quốc gia thất bại" là không có gì để tranh cãi và có ý nghĩa quan trọng đối với chính sách (đó là lý do tại sao, không hề tình cờ, tôi đánh giá nó một cách tích cực). Chỉ có một điều ước rằng các tác giả đã sử dụng tốt hơn cách phân loại cơ bản, vốn đã được sử dụng từ lâu trong các lĩnh vực khoa học xã hội khác (nhà nước, pháp trị, dân chủ, v.v...) thay vì sáng tác ra những thuật ngữ mơ hồ, thiếu rõ ràng.


Translated by Tqvn2004



http://blogs.the-american-interest.com/fukuyama/2012/03/26/acemoglu-and-robinson-on-why-nations-fail/






It is among the grandest topics in scholarship: Why do some nations, such as the United States, become wealthy and powerful, while others remain stuck in poverty? And why do some of those powers, from ancient Rome to the modern Soviet Union, expand and then collapse?

From Adam Smith and Max Weber to the current day, scores of writers have grappled with these questions. Some scholars, like Weber, have argued that religious or cultural differences create vastly different economic outcomes among countries. Others have asserted that a lack of natural resources or technical expertise has prevented poor countries from creating self-sustaining economic growth.

Economists Daron Acemoglu of MIT and James Robinson of Harvard University have another answer: Politics makes the difference. Countries that have what they call "inclusive" political governments — those extending political and property rights as broadly as possible, while enforcing laws and providing some public infrastructure — experience the greatest growth over the long run. By contrast, Acemoglu and Robinson assert, countries with "extractive" political systems — in which power is wielded by a small elite — either fail to grow broadly or wither away after short bursts of economic expansion.

Thursday, April 5, 2012

Hu warns successors over 'peaceful evolution' Hồ Cẩm Đào cảnh báo những người kế nhiệm về "diễn biến hòa bình"



Hu warns successors over 'peaceful evolution'

Hồ Cẩm Đào cảnh báo những người kế nhiệm về "diễn biến hòa bình"

By Wu Zhong, China Editor

Wu Zhong/AsiaTimes

HONG KONG - The Chinese Communist Party (CCP) greeted 2012 by publicizing a speech by its general secretary, President Hu Jintao that called for effective measures against "ideological and cultural infiltration" by "hostile forces".

Tin từ HỒNG KÔNG - Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chào đón năm 2012 qua việc công bố một bài phát biểu của tổng bí thư, chủ tịch Hồ Cẩm Đào kêu gọi đề ra các biện pháp hiệu quả nhằm chống lại "sự xâm nhập tư tưởng và văn hóa" bởi các "thế lực thù địch".

Hu's remarks on cultural infiltration appeared in a lengthy speech given to a party plenum in October, with the unusually toughly-worded rhetoric taking many in and outside China by surprise. Some foreign media saw it as a declaration of war against Western culture.

Các nhận xét của Hồ Cẩm Đào về sự xâm nhập văn hóa xuất hiện trong một bài phát biểu dài đọc trước hội nghị trung ương đảng vào tháng Mười, với những lời lẽ hùng hồn cứng rắn bất thường khiến nhiều giới bên trong và bên ngoài Trung Quốc phải ngạc nhiên. Một số phương tiện truyền thông nước ngoài đã nhìn thấy đó như một lời khai chiến chống lại văn hóa phương Tây.

The speech reminded some Chinese intellectuals of campaigns against "(Western) spiritual pollution" and "bourgeois liberalization" in the 1980s that eventually led to the Tiananmen protests and subsequent crackdown in 1989. Some have read Hu's statement as a signal that Beijing will tighten ideological controls to suppress dissenting voices.

Bài phát biểu nhắc nhở một số trí thức Trung Quốc đến các chiến dịch chống "ô nhiễm tinh thần (phương Tây)" và "tự do hóa giới tư sản" trong những năm 1980 vốn cuối cùng đã đưa đến những cuộc biểu tình tại Thiên An Môn và cuộc đàn áp sau đó vào năm 1989. Một số đã đọc lời tuyên bố của Hồ Cẩm Đào như một tín hiệu rằng Bắc Kinh sẽ thắt chặt kiểm soát tư tưởng để đàn áp các tiếng nói bất đồng.

Hu's speech was published by Seeking Truth, the CCP's flagship magazine run by the Central Party School, in its first issue of 2012. The warning was contained in the following text (translated and highlighted by this author):

Bài phát biểu của Hồ Cẩm Đào đã được xuất bản bởi tờ Tìm kiếm Sự Thật, một tạp chí hàng đầu của ĐCSTQ do Trường Đảng Trung ương điều hành, trong ấn bản đầu tiên của mình cho năm 2012. Lời cảnh báo được trích dẫn sau đây (do tác giả bài viết này dịch và nhấn mạnh):

Internationally, a remarkable feature of the competitiveness of a nation's comprehensive strength is how prominent its cultural status and role would be.

Trong quốc tế, một đặc điểm đáng chú ý về khả năng cạnh tranh của sức mạnh toàn diện của một quốc gia là tình trạng và vai trò văn hóa của đất nước ấy được nổi bật như thế nào.

Many countries, especially big countries, all set as an important strategy to strengthen their cultural soft power. In today's world, as exchange, integration and confrontation between all kinds of thoughts and cultures become ever increasingly frequent, whoever can take hold of a cultural commanding point obtains strong cultural soft power and thus will gain the initiative.

Nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước lớn, tất cả đều hình thành việc tăng cường sức mạnh cho sức mạnh mềm của nền văn hóa mình như một chiến lược quan trọng. Trong thế giới ngày nay, khi những trao đổi, hội nhập và đối đầu giữa tất cả các loại tư tưởng và văn hóa ngày càng thường xuyên hơn, bất cứ ai nắm giữ được một điểm cốt yếu chỉ đạo về văn hóa, đạt được sức mạnh mềm văn hóa sẽ có được thế chủ động.

At the same time, we must clearly see that international hostile forces are stepping up their strategic attempts to Westernize and divide our country, and ideological and cultural fields are a focus of their long-term infiltration. We must be clearly aware of the seriousness and complicatedness of struggles in ideological fields, always remain alert and always heighten our vigilance, and take effective countermeasures...

Đồng thời, chúng ta phải thấy rõ rằng các lực lượng thù địch quốc tế đang đẩy mạnh nỗ lực chiến lược của họ nhằm Âu Hoá và phân rẽ đất nước chúng ta, và các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là trọng tâm cho sự xâm nhập lâu dài của họ. Chúng ta phải nhận thức rõ mức độ và tính phức tạp của cuộc đấu tranh trong các lĩnh vực về tư tưởng, luôn luôn duy trì cảnh giác, nâng cao thận trọng của chúng ta và có biện pháp đối phó hiệu quả...

This is perhaps the first time since Hu took power nine years ago that he has openly expressed Beijing's concern about a so-called "peaceful evolution". The concept was formulated during the Cold War by John Foster Dulles, former US secretary of state, in the 1950s. It envisioned a "peaceful" transition from autocracy or dictatorship to democracy in a communist country.

Đây có lẽ là lần đầu tiên kể từ chín năm trước đây khi lên nắm quyền, ông Hồ Cẩm Đào đã công khai bày tỏ nỗi quan ngại của Bắc Kinh về cái gọi là "diễn biến hoà bình". Khái niệm này từng được xây dựng trong thời Chiến tranh Lạnh bởi John Foster Dulles, cựu Tổng trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ trong những năm 1950. Khái niệm này báo trước một tiến trình chuyển đổi từ chuyên chế hoặc độc tài đến dân chủ bằng con đường hoà bình tại một quốc gia cộng sản.

Since the Mao Zedong-era, the CCP has resisted a "peaceful evolution", viewing such a transition as the biggest threat to its continuous rule. For CCP leaders, nothing is more important than safeguarding party rule. This is why led Deng Xiaoping ordered People's Liberation Army troops to evacuate Tiananmen Square in 1989. Hu is simply reiterating the party line.

Kể từ kỷ nguyên của Mao Trạch Đông, Trung Cộng đã từng chống lại một "diễn biến hoà bình", xem quá trình chuyển đổi ấy như mối đe dọa lớn nhất cho sự cai trị liên tục của mình. Đối với các lãnh đạo ĐCSTQ, không có gì là quan trọng hơn là bảo vệ sự lãnh đạo của đảng. Đây là lý do vì sao Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho dân quân Quân đội Giải phóng giải tán quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Ngày nay, Hồ Cẩm Đào chỉ đơn giản là nhắc lại đường lối của đảng mà thôi.

If Hu's statement is read as a declaration of cultural war, then obviously that war on China's part is defensive. Hu's warning is directed domestically. Having survived the "domino effect" of the collapse of the former Soviet bloc in late 1980s and early 1990s, the CCP was once again reminded of the threat of "peaceful evolution" by the Jasmine Revolution and last year's Arab Spring movement in Middle East and North Africa.

Nếu lời tuyên bố của Hồ Cẩm Đào được xem như một lời tuyên chiến về văn hóa, thì rõ ràng là Trung Quốc đang ở phía chống đỡ của cuộc chiến. Cảnh báo của ông Hồ Cẩm Đào nhằm chỉ đạo ở trong nước. Từng sống sót sau "hiệu ứng domino" từ cuộc xụp đổ của khối Liên Xô cũ trong cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990, ĐCSTQ đã lại một lần nữa được nhắc nhở bởi mối đe dọa "diễn tiến hòa bình" từ các cuộc cách mạng Hoa Nhài và phong trào Mùa Xuân Ả Rập năm ngoái tại Trung Đông và Bắc Phi.

After more than 30 years of capitalist-style economic reforms, China has become a more open society than ever before. The CCP may also be finding it increasingly hard to justify the legitimacy of its continuous rule as calls for democratization become louder.

Sau hơn 30 năm cải cách kinh tế theo kiểu tư bản chủ nghĩa, Trung Quốc đã trở thành một xã hội cởi mở hơn bao giờ hết. Đảng Cộng sản Trung Quốc có lẽ cũng nhìn ra mình ngày càng khó biện minh tính hợp pháp cho sự cai trị liên tục của mình khi các lời kêu gọi dân chủ trở nên ồn ào lớn tiếng hơn.

However, Hu's warning is better understood against the backdrop of the CCP's 18th National Congress, which when held later this year will endorse a new central leadership.

Tuy nhiên, lời cảnh báo của ông Hồ Cẩm Đào được hiểu rõ hơn trong bối cảnh của Đại hội đại biểu toàn quốc thứ 18 của ĐCSTQ vốn sẽ được tổ chức vào cuối năm nay để thông qua một tầng lớp lãnh đạo trung ương mới.

It is a long-term task for the CCP to fight against "peaceful evolution". But Hu will step down as party general secretary. So his statement could also be read as: "During my tenure, I have successfully safeguarded party rule against the threat of 'peaceful evolution'. I hope the new leadership will continue to do so."

Đấu tranh chống lại "diển biến hoà bình" là một nhiệm vụ lâu dài của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng ông Hồ Cẩm Đào sẽ rời khỏi chức vụ tổng bí thư đảng. Vì thế, lời tuyên bố của ông cũng có thể được đọc như sau: "Trong suốt nhiệm kỳ của tôi, tôi đã thành công trong việc giữ gìn lãnh đạo của đảng chống lại đe dọa của "diễn biến hoà bình", tôi mong rằng các lãnh đạo mới sẽ tiếp tục làm được như vậy".

The CCP needs to maintain political and social stability ahead of the 18th congress to ensure that the power transition goes smoothly. It has been reported that Beijing has ordered regions to take all necessary measures to prevent any incident from happening before and during the congress that could cause instability.

ĐCSTQ cần phải duy trì sự ổn định chính trị và xã hội trước Đại hội thứ 18 để đảm bảo rằng cuộc chuyển giao quyền lực sẽ diễn ra êm thắm. Được biết rằng Bắc Kinh đã ra lệnh cho các khu vực phải xử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn chặn bất kỳ sự cố nào xảy ra trước và trong Đại hội khiến có thể dẫn đến sự mất ổn định.

Beijing has tightened Internet controls in the name of curbing rumors - in the CCP's history, rumors have always flown during a power transition. In this regard, the party's secrecy policy must take some blame. In the absence of official information, people chase after hearsay. But Beijing apparently believes that some rumors will be deliberately fabricated overseas in an attempt to influence the party congress.

Bắc Kinh đã thắt chặt kiểm soát mạng Internet để hạn chế các tin đồn đại - trong lịch sử của ĐCSTQ, khi có thay đổi quyền lực, các tin đồn luôn luôn được thổi lên. Về vấn đề này, chính sách bí mật của đảng chắc phải có một số khuyết điểm. Khi không có những thông tin chính thức, dân chúng sẽ phải chạy theo những tin đồn. Tuy nhiên, Bắc Kinh dường như tin rằng một số tin đồn được cố tình chế tạo ở nước ngoài trong nỗ lực gây ảnh hưởng đến đại hội đảng của mình.

Ahead of the congress, many Chinese-language books have been published in Hong Kong - and more are expected - about who will be the new leaders and their background, or about fierce power struggles among different factions. Not many local residents are interested in reading such books. Such publications mainly cater to the taste of mainland Chinese visitors, who arrive in their tens of thousands daily. Needless to say, much of the writing is based speculation. But now Chinese customs have stepped up checks to prevent travelers from taking such books back to the mainland.

Trước Đại hội, nhiều sách bằng tiếng Trung - và dự kiến sẽ có nhiều cuốn khác nữa - được xuất bản ở Hồng Kông, viết về việc ai sẽ là nhà lãnh đạo mới và quá khứ của họ ra sao, hoặc về cuộc đấu tranh quyền lực khốc liệt giữa các phe phái khác nhau. Không mấy ai trong số dân địa phương quan tâm đến việc đọc những cuốn sách như vậy. Các ấn phẩm này chủ yếu phục vụ sở thích của giới du khách, mỗi ngày cả hàng chục ngàn người, đến thăm Trung Quốc đại lục. Không cần phải nói, đa phần các cuốn sách ấy chỉ là suy đoán. Nhưng hiện nay, Hải quan Trung Quốc đã tăng cường kiểm tra để ngăn chặn các du khách đem những cuốn sách đó vào lục địa.

This is an example of how Beijing has stepped up efforts to fight against ideological and cultural infiltration by "international hostile forces".

Đây là một ví dụ về về việc Bắc Kinh đã tăng cường nỗ lực chiến đấu chống xâm nhập tư tưởng và văn hóa từ những "lực lượng thù địch quốc tế" như thế nào.

Despite this, fears that Hu may launch a nationwide campaign to tighten ideological control may not be based on fact; times have changed.

Mặc dù vậy, nỗi sợ hãi mà Hồ có thể khởi động một chiến dịch toàn quốc để thắt chặt kiểm soát tư tưởng có lẽ không thể dựa vào thực tế, thời đại đã thay đổi rồi.

Not many people, including party members, would be interested in such a campaign nowadays. So it would be hard for Hu to do it even if he wanted. More importantly, he will step down as general secretary some months later. It is unlikely he would want to upset the political and social atmosphere before his retirement, as any radical change in major policy would be deemed "unharmonious" for a smooth power transition.

Không mấy ai, kể cả các đảng viên đều quan tâm đến một chiến dịch như hiện nay. Do đó, thật là khó khăn cho ông Hồ Cẩm Đào để thực hiện điều đó ngay cả như nếu ông có muốn. Điều quan trọng hơn là, vài tháng sau, ông sẽ rời khỏi chức vụ tổng bí thư. Không có gì chắc rằng ông muốn phá vỡ bầu không khí chính trị và xã hội trước khi đi nghỉ hưu, khi mà bất kỳ sự thay đổi căn bản nào trong chính sách lớn sẽ được coi là "không hài hòa" cho một cuộc chuyển giao quyền lực êm thắm.


Translated by Lê Quốc Tuấn

http://atimes.com/atimes/China/NA11Ad02.html