MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Monday, March 12, 2012

Stand by me Chúng tôi sẽ trở lại


Wu Bangguo, Chairman of China’s Standing Committee and Hun Sen at a ceremony in Phnom Penh

Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ của Trung Quốc Thủ tướng Hun Sen tại một buổi lễ tại Phnom Penh



Stand by me

Chúng tôi sẽ trở lại

by Laura J. Snook

January 11, 2012

Laura J. Snook

11/1/2012

Sino-Cambodian relations have moved beyond an innocent courtship.

Quan hệ Trung-Miên đã vượt ra ngoài ve vãn thường tình.

We will be back.” It was with these immortal words that, on March 25 1970, Chinese Ambassador Kang Maozhao boarded a Swiss Air flight to escape the US-backed Lon Nol regime that had seized Phnom Penh.

“Chúng tôi sẽ trở lại”. Đó là lời thề sinh tử của cựu Đại sứ Trung Quốc Khang Mâu Triệu vào ngày 25/3/1970, khi ông này lên chuyến bay của hãng hàng không Thụy Sĩ để thoát khỏi chế độ Lon Nol khi họ chiếm được Phnôm Pênh với sự bảo trợ của Mỹ.

His comment was to prove rather prescient: four decades later, China has fortified its presence in Cambodia such that it’s now the tiny Kingdom’s most powerful ally. As Beijing’s protégé assumes chairmanship of Asean, this ‘special relationship’ warrants a biopsy. It is one that far transcends pure economics.

Lời thề của ông ta đã trờ thành lời tiên tri khi bốn thập kỷ sau Trung Quốc đã củng cố sự có mặt của họ ở Campuchia với tư cách là một đồng minh quan trọng nhất của vương quốc nhỏ bé này. Với việc Bắc Kinh ủng hộ thái quá tư cách Chủ tịch (luân phiên) ASEAN của Campuchia, “mối quan hệ đặc biệt” này được bảo đảm bằng một mối quan hệ đối tác vượt quá những vấn đề thuần túy kinh tế.

The friendship itself is anything but new. In 1296, Chinese diplomat Zhou Daguan arrived at the temples of Angkor and spent the following year writing a report, from within the court of King Indravarman III, on the customs of Cambodia. It remains the source of much of our understanding of the ancient Khmer empire and its intricacies, just as descendants of the Chinese merchants who migrated here a thousand years ago remain stalwarts of Cambodia’s economy.

Mối quan hệ này cũng không phải là mới mẻ! Vào năm 1296, Sứ thần Trung Quốc Chu Đạt Quan đã đến các ngôi đền Angkor và dành một năm sau đó để viết một khảo cứu về phong tục của Campuchia trong triều đại Indravarman III. Tài liệu của ông cho đến nay vẫn còn là một nguồn quan trọng để chúng ta hiểu biết về đế quốc Khơme và tính phức tạp của nó, giống như những hậu duệ của các nhà buôn Trung Hoa, những người nhập cư đến đây từ hàng nghìn năm trước, giờ vẫn là những trụ cột của kinh tế Campuchia.

Seven centuries later, China has upped the ante. Since 1953, when Cambodia won independence, Beijing has laboured to limit US, Thai and Vietnamese influence by backing a succession of Cambodian strongmen, as noted by Dr Ian Storey of Singapore’s Institute of Southeast Asian Studies in China’s Tightening Relationship with Cambodia.

Bảy thế kỷ sau, Trung Quốc đã vơ được mọi thứ trên sòng bài, kể ca tiền đặt cọc. Kể từ năm 1953, khi Campuchia giành được độc lập, Bắc Kinh đã cố gắng hạn chế ảnh hưởng của Mỹ, Thái Lan và Việt Nam bằng cách liên tục bảo hộ những người hùng của Campuchia, như nhận định của Tiến sĩ Ian Storey thuộc Học viện nghiên cứu Đông Nam Á của Xinhgapo trong cuốn “Trung Quốc đang thắt chặt mối quan hệ với Campuchia”.

During the 1960s, it was King Norodom Sihanouk; between 1975 and 1978, notorious Khmer Rouge leader Pol Pot; since 1997, Prime Minister Hun Sen (who, with China’s backing, wrested power from co-prime minister Prince Norodom Ranariddh in a bloody coup in 1997 and is now Asia’s longest-serving premier). In return, China continues to net a number of strategic and political pay-offs.

Trong thập kỷ 60 của thế kỷ trước, đó là Quốc vương Norodom Sihanouk; từ 1975 đến 1978 là thủ lĩnh khét tiếng Pol Pot của Khơme Đỏ; kể từ năm 1997 là Thủ tướng Hun Sen (với nhiều khả năng nhờ sự bảo trợ ngầm của Trung Quốc, đã lật đổ quyền lực của đồng Thủ tướng, Hoàng thân Norodom Ranariddh, trong cuộc đảo chính đẫm máu vào năm 1997 và nay là một Thủ tướng bám trụ quyền lực lâu nhất châu Á). Đổi lại, Trung Quốc tiếp tục chiến lược vung tiền để thu lại những lợi ích chính trị.

One such windfall came in the 1960s, when Sihanouk campaigned at the United Nations for the Republic of China (Taiwan) to be expelled, and for China mainland to be given a seat instead. The intervention helped break China’s isolation – a favour that would not be forgotten. Following Sihanouk’s ouster by Lon Nol, Beijing immediately set about re-creating Cambodian autonomy. Mao Tse Tung told the exiled King: “You must tell us what you need. If we’ve got it, you’ll have it. Anything we give you is nothing compared to what you give us by heading the struggle of the Cambodian people.”

Một trong những may mắn bất ngờ đến vào những năm 1960 khi Sihanouk tiến hành chiến dịch tại Liên hợp quốc nhằm trục xuất Đài Loan để giành ghế này cho Trung Hoa Đại lục. Sự can thiệp này đã giúp Trung Quốc thoát được thế bị cô lập, một sự ủng hộ không thể nào quên. Sau khi Sihanouk bị Lon Nol lật đổ, Bắc Kinh ngay lập tức khôi phục lại quyền tự quyết của người Campuchia. Mao Trạch Đông nói với vị Vua lưu vong: “Ngài phải nói với chúng tôi những gì ngài cần. Nếu chúng tôi biết những gì ngài cần, ngài sẽ có chúng. Bất kỳ điều gì chúng tôi cho ngài cũng không thể so sánh được với những gì ngài đưa đến cho chúng tôi bằng cách lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia”.

Supporting Cambodia, he concluded, “...is like supporting ourselves”. In a blistering speech at Tiananmen Square, Mao later reasserted that support. In response to the ongoing threat of world war, he said, China would continue to support Third World struggles it considered just, ranging from the Palestinian cause to that of Cambodians, and he implored other anti-imperialist nations to follow suit.

Mao kết luận: ủng hộ cho Campuchia “…cũng giống như ủng hộ chính chúng tôi”. Trong một diễn văn nảy lửa tại Quảng trường Thiên An Môn, Mao đã tái khẳng định sự ủng hộ này. Phản ứng lại những đe dọa đang rình rập về một cuộc thế chiến mới Mao nói, Trung Quốc tiếp tục ủng hộ cuộc đấu tranh của thế giới thứ ba từ lý tưởng của người Palextin cho đến những người Campuchia, và ông khẩn thiết kêu gọi các quốc gia khác đang chống lại chủ nghĩa thực dân hãy theo gương họ.

By the time Phnom Penh fell to the Khmer Rouge five years later, Sino-Cambodian relations had the allure of a Hollywood romance. Whenever Sihanouk visited China, Chinese Premier Zhou Enlai would personally greet his royal guest, escort him to and from the airport, and stage lavish banquets in his honour. Sihanouk and his wife, Monique, became firm favourites of Chinese Communist Party propagandists and were revered by the public as if they were movie stars.

Vào lúc Phnôm Pênh rơi vào tay Khơme Đỏ 5 năm sau đó, các mối quan hệ Trung Quốc-Campuchia lôi cuốn như sự lãng mạn của phim Hollywood. Bất kỳ lúc nào Sihanouk đến Trung Quốc, Thủ tướng Chu An Lai cũng đều đích thân đón vị khách Hoàng gia, đưa tiễn ông ở sân bay và các ga xe lửa, đến thăm ông tại nơi ở riêng, mời ông đến nhà ăn trưa và tối. Sihanok và vợ, bà Hoàng Monique, trở thành những người rất được mến chuộng của bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc và họ được công chúng biết đến như thể họ là những minh tinh màn bạc.

Beijing’s show of solidarity has yet to falter. Cambodia’s lack of economic diversification means it welcomes China’s patronage, and in 2004 it became the country’s most generous foreign investor. The opening of Cambodia’s first Chinese-language bookstore in October last year is testament to its ties to the Middle Kingdom. The shelves of Xinzhi Books are graced with 80,000 titles covering general education, social science, literature, lifestyle, children, economics, science and technology, and ancient history. At the time of its launch, The Chinese Association in Cambodia told press agency Xinhua that more than 700,000 Chinese-blood descendants were living in the country, which had 56 Chinese schools and more than 30,000 students.

Sự trình diễn về tình đoàn kết của Bắc Kinh chưa dừng lại ở đó. Nền kinh tế èo uột của Campuchia khiến nước này phải chào đón sự bảo trợ của Bắc Kinh; và năm 2004 Trung Quốc trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu ở Campuchia. Việc khánh thành nhà sách tiếng Hoa đầu tiên ở Campuchia vào tháng Mười năm ngoái là một sự chứng thực cho mối quan hệ của Trung Quốc với Vương quốc Campuchia. Trên các kệ của nhà sách Xinzhi Book này có tới 80.000 đầu sách bao gồm đủ các loại từ giáo dục, khoa học xã hội, văn học, lối sống, trẻ em, kinh tế, khoa học, kỹ thuật đến lịch sử cổ đại. Khi nhà sách này được khai trương, đại diện Hội người Hoa ở Campuchia nói với Tân Hoa Xã rằng hiện có hơn 700.000 hậu duệ của người Hoa đang sinh sống tại nước này, trong đó có 30.000 học sinh đang học tại 56 trường tiếng Hoa.

In December, Cambodia opened the country’s largest hydropower dam, a $280m Chinese-funded project. The Kamchay dam in Kampot province has been condemned by what Hun Sen calls “extreme environmentalists” for its failure to acknowledge environmental concerns. Nine more dams, at least four of which will also be Chinese-funded, are scheduled to begin operations by 2019.

Vào tháng 12 năm ngoái, Campuchia khánh thành đập thủy điện lớn nhất nước với 280 triệu USD do Trung Quốc đầu tư. Thủy điện Khamchay tinh Kampot đã bị những người mà Hun Sen gọi là “các nhà môi trường cực đoan” lên án do nó đã không đánh giá đúng hậu quả của tác động môi trường từ việc xây đập. Ngoài ra, trong 9 đập thủy điện Campuchia đang xây thì đã có ít nhất 4 đập do Trung Quốc đầu tư và đã bắt đầu tiến hành từ năm 2009.

Last June, 257 Chinese military trucks rolled into Phnom Penh. A month earlier, defence ministers from both sides had met to discuss strengthening military cooperation. A few weeks later, Hun Sen and Chinese Ambassador Pan Guang-xue inaugurated the Cambodian-Chinese Friendship Bridge at Prek Kdam.

Tháng Sáu năm ngoái, 257 xe vận tải quân sự Trung Quốc đã được đưa đến Phnôm Pênh. Một tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã gặp nhau để thảo luận việc tăng cường hợp tác quân sự. Vài tuân sau Hun Sen và Đại sứ Trung Quốc Phan Quảng Học khánh thành cầu hữu nghị Campuchia-Trung Quốc ở Prek Kdam (trên Biển Hồ).

Perhaps one of the finest examples of this bonhomie came on the sidelines of an Asean summit back in 2002. As reported in The Diplomat, Hun Sen complained about the heat and apologised about the faulty air-conditioning as he sat down with then-Chinese Premier Zhu Rongji. “I like it hot,” China’s number two famously replied. He then calmly wrote off Cambodia’s entire debt, about $2 billion.

Có lẽ, một trong thí dụ tiêu biểu nhất cho sự thân thiện đầm ấm này là những sự kiện ngoài lề của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN vào năm 2002. Như đã được thuật lại trong tạp chí Nhà ngoại giao (The Diplomat), Hun Sen đã phàn nàn về sự nóng nực và xin lỗi về việc cái máy lạnh bị trục trặc khi ông ngồi cùng với Chu Dung Cơ, Thủ tướng Trung Quốc lúc đó. Và nhà lãnh đạo đứng hàng thứ hai của Trung Quốc đã khôn khéo trả lời “tôi thích nóng” . Sau đó ông ta lặng lẽ ký giấy xóa toàn bộ nợ cho Campuchia, trị giá khoảng 2 tỷ USD.

Beijing, described by Hun Sen as Cambodia’s “most trusted friend” during Vice-President Xi Jinping’s visit in December 2009, posits itself as a ‘good neighbour’ and insists its help comes with no strings attached. “China respects the political decisions of Cambodia,” Hun Sen has said. “They are quiet, but at the same time they build bridges and roads, and there are no complicated conditions.”

Bắc Kinh được Hun Sen coi là “người bạn tin cậy nhất của Campuchia” khi Phó Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Campuchia vào tháng 12/2009 và tự nhận họ là “láng giềng tốt”; đồng thời khẳng định sự giúp đỡ của họ không kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Hun Sen từng nhiều lần nhấn mạnh: “Trung Quốc tôn trọng các quyết định chính trị của Campuchia. Họ lặng lẽ nhưng đồng thời xây dựng cầu đường (cho Campuchia) và không kèm theo điều kiện rắc rối naò!”.

In practice, this translates into soft loans free of any preconditions relating to human rights or good governance. And therein, say critics, lies the problem. Why does China continue to pour billions of dollars into this tiny post-conflict country at risk of provoking Washington’s wrath? “China is not there as the great charity,” responds Joel Brinkley, author of Cambodia’s Curse. “It wants something in return.”

Trên thực tế, những tuyên bố này (của ông Hun Sen) ám chỉ đến những khoản vay với lãi suất thấp của quốc tế được đặt điều kiện liên quan đến nhân quyền và việc quản trị tốt. Tại sao Trung Quốc tiếp tục rót hàng tỉ USD vào một nước nhỏ thời hậu chiến mà không tính đến sự may rủi trong việc chọc giận Washington? “Trung Quốc có mặt ở đây không phải với tư cách của một nhà từ thiện lớn”, phản ứng của Joel Brinkley, tác giả của cuốn “Tai họa của Campuchia”. Ông viết: Họ muốn được lại quả!

The People’s Republic certainly has its eye on Cambodia’s natural resources, offshore oil and gas in particular, but the greatest benefit Beijing stands to gain as the country’s main economic player is, writes Dr Storey, political influence. Hun Sen has proven a loyal – and vocal – supporter of Chinese sovereignty and is one of the strictest adherents of the ‘One China’ policy. In 1999, Phnom Penh condemned Nato’s accidental bombing of the Chinese Embassy in Belgrade.

Tiến sỹ Storey viết: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rõ ràng để mắt đến nguồn tài nguyên thiên nhiên của Campuchia, dầu khí ngoài khơi nói riêng nhưng lợi lộc lớn nhất mà Bắc Kinh muốn được hưởng khi là trở thành kẻ thao túng nền kinh tế nước này, là ảnh hưởng chính trị. Hun Sen đã thể hiện lòng trung thành của một người ủng hộ khi phụ họa về sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc với chính sách một Trung Hoa duy nhất. Năm 1999, Phnôm Pênh lên án sự kiện NATO ném bom vào Đại sứ quán Trung Quốc ớ Bêôgrát.

Beijing may also have encouraged Phnom Penh’s efforts to stymie the Khmer Rouge Tribunal, given its role in supporting the genocidal regime. Privileged access to the deep-water port in Sihanoukville and Ream Naval Base further south could prove strategically advantageous as China reasserts itself in the South China Sea.

Bắc Kinh đồng thời có thể khuyến khích các cố gắng của Phnôm Pênh ngăn cản tòa án xét xử Khơme Đỏ, do họ đã có vai trò trong việc ủng hộ chế độ diệt chủng. Đặc quyền được ra vào cảng biển sâu ở thành phố Sihanoukville và Quân cảng Ream để tiến về phía Nam càng chứng tỏ chiến lược tạo lợi thế khi Trung Quốc xác nhận lại sự có mặt của mình ở Biển Đông.

That does not automatically equate to aggression, others argue. When Mao Tse Tung addressed the crowds in Tiananmen Square back in 1970, he equated his support for Cambodia with a commitment to the Five Principles of Peaceful Coexistence, first enshrined in a treaty signed by China and India in 1954. Those principles – mutual respect for each other’s territorial integrity and sovereignty, mutual non-aggression, mutual non-interference in each other’s internal affairs, equality and mutual benefit, and peaceful coexistence – have underscored the bonds between Beijing and Phnom Penh ever since.

Một số người khác tranh cãi điều này không phải là sự cân bằng tự nhiên để xâm chiếm. Khi Mao Trạch Đông nhấn mạnh với đám đông ở Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1970, ông đã cân bằng sự ủng hộ đối với Campuchia bằng việc thực hiện 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình lần đầu tiên được ghi nhận trong hiệp ước ký giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào năm 1954. Các nguyên tắc này tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình – đã được ghi nhận trong các mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Phnôm Pênh kể từ đó.

Sophie Richardson, author of China, Cambodia and the Five Principles of Coexistence, argues that Beijing is a benign benefactor. “Although one doesn’t hear the phrase ‘Five Principles’ as frequently these days, the principles clearly continue to set the boundaries for Chinese policy, ranging from vast sums of unconditional aid to resistance to international institutions such as the International Criminal Court, to a near-hysterical reaction to the Dalai Lama’s meetings with world leaders.

Sophie Richardson, tác giả của Trung Quốc, Campuchia và các nguyên tắc cùng tồn tại, cho rằng Bắc Kinh là một ân nhân lành tính. "Mặc dù bây giờ người ta không thường xuyên nghe thấy cụm từ 'năm nguyên tắc', nhưng rõ ràng là các nguyên tắc này tiếp tục thiết lập các ranh giới về chính sách Trung Quốc, từ khoản viện trợ không điều kiện lớn cho tới chống đối các tổ chức quốc tế như Tòa án Hình sự Quốc tế, tới phản ứng gần như cuồng loạn đối với các cuộc họp của Đức Đạt Lai Lạt Ma với các nhà lãnh đạo thế giới.

I think the beliefs that contributed to the development of the principles still hold – the sense of victimhood, a need to attend to priorities at home, wariness about other countries’ intentions – though rising nationalism may force the Chinese Communist Party to take a more visible, aggressive stance. While it’s absolutely true that there are ways Five Principles-based diplomacy directly contributed to some horrific outcomes – not least in keeping the Khmer Rouge regime alive such that it could slaughter innocent people – there are other ways they’ve dictated more positive results than what otherwise might be expected.”

Tôi nghĩ rằng những niềm tin góp phần vào sự phát triển của các nguyên tắc vẫn còn được giữ vững - cảm giác nạn nhân, nhu cầu hướng tới các ưu tiên ở trong nước, cảnh giác về ý định của các nước khác - mặc dù chủ nghĩa dân tộc gia tăng có thể buộc Đảng Cộng sản Trung Quốc để có một lập trường rõ ràng hơn, và mạnh mẽ hơn. Trong khi nó hoàn toàn đúng là về một số phương diện nền ngoại giao dựa trên Năm nguyên tắc đã trực tiếp gây ra một số kết cục khủng khiếp – mà giữ cho chế độ Khmer Đỏ còn sống để nó có thể tàn sát người dân vô tội là một kết cục không nhỏ - thì ở các phương diện khác chúng đã quyết định các kết quả tích cực hơn so với những gì có thể được mong đợi nếu làm cách khác"

The verdict is far from unanimous. Yutaka Aoki, a senior official at the Japanese embassy in Phnom Penh, has described China as “a frightening figure. Asean members fear that China may take away foreign investment. They see China as a major competitor rather than a partner.” To date, however, there has been only one recorded instance of Beijing exploiting its economic presence for political ends. In 2009, it became clear that the Chinese could call in extraordinary favours. The civilised world watched in dismay as, under heavy pressure, Cambodian authorities flagrantly violated international law by wresting 20 ethnic Uighur asylum-seekers out of the UN’s hands and bundling them off to China where they faced execution for deadly riots in China’s Xinjiang region. Within 48 hours, China had pledged $1.2 billion in assistance to Phnom Penh as an apparent reward.

Tuy nhiên, kết luận này còn lâu mới được nhất trí! Yutaka Aoi một quan chức cấp cao thuộc Đại sứ quán Nhật Bản ở Phnôm Pênh đã coi Trung Quốc là “Một kẻ đáng sợ! Các thành viên ASEAN lo ngại rằng Tung Quốc có thể nắm hết các cơ hội của các nhà đầu tư nước ngoài. Họ coi Trung Quốc là một kẻ cạnh tranh lớn hơn là một đối tác”. Tuy nhiên đến nay chỉ mới có một thí dụ rõ ràng về việc Bắc Kinh khai thác lợi thế từ sự hiện diện kinh tế để đổi lấy lợi ích chính trị. Nhưng điều này đã rõ hơn khi Trung Quốc có thể đòi sự trao đổi trong những trường hợp đặc biệt Vào năm 2009, với yêu cầu của Trung Quốc, và phớt lờ những sự phản đối lan rộng, nhà cầm quyền Campuchia đã trục xuất 20 người Duy Ngô Nhĩ đang trên đường tị nạn chính trị về Trung Hoa đại lục, nơi họ sẽ đối mặt với những bản án nặng nề do đã tham gia cuộc nổi dậy ở vùng Tân Cương (Trung Quốc). Chỉ trong vòng 48 giờ, Trung Quốc đã thưởng cho Phnôm Pênh một khoản viện trợ trị giá 1,2 tý USD!

Foreign Minister Hor Namhong has already vowed that, as the new chair of Asean, Cambodia will do everything in its power to smooth relations between the regional body and China. As Singapore’s Lee Kuan Yew wrote in a June 2009 US diplomatic cable later published by anti-secrecy organisation WikiLeaks, Asean’s three poorest members serve as China’s eyes and ears in the region. Within hours, everything discussed in Asean meetings is known in Beijing, thanks to its close ties with Cambodia, Burma and Laos.

Ngoại trưởng Hor Namhong đã thề rằng với tư cách là chủ tịch ASEAN, Campuchia sẽ làm bất kỳ điều gì trong khả năng của mình để làm dịu mối quan hệ giữa các nước trong hiệp hội với Trung Quôc. Như Lý Quang Diệu của Xinhgapo đã viết trong một công điện ngoại giao, được WikiLeak công bổ gần đây, ba thành viên nghèo nhất trong ASEAN là những tai mắt của Trung Quốc trong khu vực. Chỉ trong vòng vài giờ, tất cả những gì được thảo luận trong các cuộc họp của ASEAN, đã được Bắc Kinh tỏ tường, bởi vì họ có quan hệ chặt chẽ với Campuchia, Mianma và Lào!

“Under Hun Sen,” Dr Storey concludes, “Cambodian democracy has become increasingly illiberal and many observers fear the country is sliding toward one-party rule. Nevertheless, so long as he remains at the helm, China’s interests will almost certainly be advanced and protected.”

Tiến sĩ Stoney viết có thể các nhà quan sát, đã bày tỏ lo ngại rằng dân chủ đã bị thỏa hiệp ở Campuchia khi mà Hun Sen còn lãnh đạo một chính phủ được Trung Quốc hỗ trợ. “Không nghi ngờ gì nữa, chừng nào Hun Sen còn tại vị, các quyền lợi của Trung Quốc sẽ hoàn toàn được gia tăng và bảo vệ”.



http://www.sea-globe.com/Regional-Affairs/stand-by-me-cambodia-china-relationship.html

Sunday, March 11, 2012

The myth of Chinese exceptionalism Huyền thoại về Chủ nghĩa biệt lệ Trung Hoa




The myth of Chinese exceptionalism

Huyền thoại về Chủ nghĩa biệt lệ Trung Hoa

By Yuan-kang Wang

06-03-2012

Yuan-kang Wang

06-03-2012

Note: I've posted several times on the question of Sino-American relations. Today I feature a guest post by Yuan-kang Wang of Western Michigan University, who offers an interesting analysis of what China's past behavior might tell us about its future course.

Lưu ý: Tôi đã đăng nhiều bài viết về vấn đề quan hệ Trung-Mỹ. Hôm nay tôi đưa lên một bài do một người khách, ông Wang Yuan-kang (Vương Nguyên Khang), thuộc Đại học Western Michigan viết, ông đã đưa ra một phân tích thú vị về cách mà Trung Quốc hành xử trước đây, có thể cho chúng ta biết về cách hành xử trong tương lai của họ.

As a regular visitor who enjoys reading this blog, I thank Steve Walt for the invitation to contribute this guest post on the relationship between Chinese power, culture, and foreign policy behavior.

Là một độc giả thường xuyên và thích đọc blog này, tôi cảm ơn Steve Walt về lời mời đóng góp trong mục bài viết của khách về mối quan hệ giữa quyền lực, văn hóa, và cách ứng xử trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Steve (and others) have written about American exceptionalism. It won't surprise you to learn that China has its own brand. Most Chinese people -- be they the common man or the political, economic, and academic elite -- think of historical China as a shining civilization in the center of All-under-Heaven, radiating a splendid and peace-loving culture. Because Confucianism cherishes harmony and abhors war, this version portrays a China that has not behaved aggressively nor been an expansionist power throughout its 5,000 years of glorious history. Instead, a benevolent, humane Chinese world order is juxtaposed against the malevolent, ruthless power politics in the West.

Steve và những người khác đã viết về ngoại lệ của Mỹ. Sẽ không làm các bạn ngạc nhiên khi biết rằng Trung Quốc cũng có nhãn hiệu riêng của mình. Hầu hết người Trung Quốc, dù là người bình thường hoặc thuộc tầng lớp tinh hoa chính trị, kinh tế, và học thuật, đều nghĩ lịch sử Trung Quốc là một nền văn minh sáng chói ở trung tâm của mọi thứ dưới bầu trời, tỏa ra một nền văn hóa lộng lẫy và yêu chuộng hoà bình. Bởi vì Nho giáo yêu mến sự hài hòa và ghê tởm chiến tranh, phiên bản này miêu tả một Trung Quốc không hành xử hung hăng, cũng không phải là một thế lực bành trướng trong suốt 5.000 năm lịch sử vẻ vang. Thay vào đó, một trật tự thế giới hiền từ, nhân đức của Trung Quốc nằm đối lại với nền chính trị quyền lực độc ác, tàn nhẫn ở phương Tây.

The current government in Beijing has recruited Chinese exceptionalism into its notion of a "peaceful rise." One can find numerous examples of this line of thought in official white papers and statements by President Hu Jintao, Premier Wen Jiabao, and other officials. The message is clear: China's unique history, peaceful culture, and defensive mindset ensure a power that will rise peacefully.

Chính phủ hiện thời ở Bắc Kinh đã nhận chủ nghĩa ngoại lệ Trung Quốc vào khái niệm về ” sự trỗi dậy hòa bình”. Người ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ về đường hướng tư tưởng này trong các sách trắng chính thức và các phát biểu của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo, và các quan chức khác. Thông điệp rõ ràng: lịch sử độc đáo, văn hóa hòa bình, và tư duy phòng thủ của Trung Quốc đảm bảo một cường quốc sẽ trỗi dậy một cách hòa bình.

All nations tend to see their history as exceptional, and these beliefs usually continue a heavy dose of fiction. Here are the top three myths of contemporary Chinese exceptionalism.

Tất cả các nước đều có xu hướng xem lịch sử nước mình là ngoại lệ, và niềm tin này thường tiếp tục một liều hư cấu nặng. Dưới đây là ba huyền thoại hàng đầu về chủ nghĩa ngoại lệ Trung Quốc đương đại.

Myth #1: China did not expand when it was strong.

Many Chinese firmly believe that China does not have a tradition of foreign expansion. The empirical record, however, shows otherwise. The history of the Song dynasty (960-1279) and the Ming dynasty (1368-1644) shows that Confucian China was far from being a pacifist state. On the contrary, Song and Ming leaders preferred to settle disputes by force when they felt the country was strong, and in general China was expansionist whenever it enjoyed a preponderance of power. As a regional hegemon, the early Ming China launched eight large-scale attacks on the Mongols, annexed Vietnam as a Chinese province, and established naval dominance in the region.

Huyền thoại1: Trung Quốc không bành trướng khi mạnh lên.

Nhiều người Trung Quốc tin chắc rằng Trung Quốc không có truyền thống bành trướng ra nước ngoài. Tuy nhiên, ghi nhận thực tế cho thấy điều trái lại. Lịch sử triều đại nhà Tống (960-1279) và triều Minh (1368-1644) cho thấy, Trung Hoa Nho giáo khó mới có thể là một nhà nước hiếu hòa. Ngược lại, các nhà cai trị thời Tống và Minh thích giải quyết tranh chấp bằng vũ lực khi họ cảm thấy đất nước mạnh lên, và nói chung, Trung Quốc là kẻ bành trướng bất cứ khi nào họ có sức mạnh vượt trội. Là một kẻ bá quyền trong khu vực, đầu triều Minh, Trung Hoa đã thực hiện 8 cuộc tấn công quy mô lớn vào người Mông Cổ, sáp nhập Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc, và thiết lập sự thống trị về hải quân trong khu vực.

But Confucian China could also be accommodating and conciliatory when it lacked the power to defeat adversaries. The Song dynasty, for example, accepted its inferior status as a vassal of the stronger Jin empire in the twelfth century. Chinese leaders justified their decision by invoking the Confucian aversion to war, arguing that China should use the period of peace to build up strength and bide its time until it had developed the capabilities for attack. In short, leaders in Confucian China were acutely sensitive to balance-of-power considerations, just as realism depicts.

Nhưng Trung Hoa Nho giáo cũng có thể thích ứng và hòa giải khi không đủ sức mạnh để đánh bại kẻ thù. Ví dụ, nhà Tống chấp nhận địa vị chư hầu thấp kém trước đế chế Kim hùng mạnh hơn hồi thế kỷ mười hai. Các lãnh đạo Trung Quốc biện minh cho quyết định của họ bằng cách viện dẫn việc Nho giáo ác cảm đối với chiến tranh, lập luận rằng Trung Quốc nên sử dụng thời gian hòa bình để củng cố sức mạnh và tranh thủ thời gian cho tới khi phát triển được khả năng tấn công. Tóm lại, các nhà lãnh đạo Trung Hoa Nho giáo rất nhạy cảm để cân nhắc sự cân bằng quyền lực, cũng giống như chủ nghĩa hiện thực mô tả.

Myth 2: The Seven Voyages of Zheng He demonstrates the peaceful nature of Chinese power.

In the early fifteenth century, the Chinese dispatched seven spectacular voyages led by Zheng He to Southeast Asia, the Indian subcontinent, the Middle East, and East Africa. The Chinese like to point out that Zheng He's fleets did not conquer an inch of land, unlike the brutal, aggressive Westerners who colonized much of the world. Instead, they were simply ambassadors of peace exploring exotic places.

Huyền thoại 2: Bảy chuyến đi của Trịnh Hòa thể hiện bản chất hoà bình của cường quốc Trung Quốc.

Đầu thế kỷ mười lăm, Trung Quốc đã tổ chức bảy chuyến hải trình ngoạn mục do Trịnh Hòa chỉ huy, tới Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Đông, và Đông Phi. Người Trung Quốc muốn chỉ ra rằng hạm đội Trịnh Hoà đã không chinh phục một tấc đất, không giống người phương Tây hung hăng, tàn bạo, chiếm hầu hết thuộc địa trên thế giới. Ngược lại, đơn giản họ chỉ là đại sứ hòa bình trong việc khám phá những nơi kỳ lạ.

This simplistic view, however, overlooks the massive naval power of the fleet-27,000 soldiers on 250 ships-which allowed the Chinese to "shock and awe" foreigners into submission. The Chinese fleet engaged in widespread "power projection" activities, expanding the Confucian tribute system and disciplining unruly states. As a result, many foreigners came to the Ming court to pay tribute. Moreover, the supposedly peaceful Zheng He used military force at least three times; he even captured the king of modern-day Sri Lanka and delivered him to China for disobeying Ming authority. Perhaps we should let the admiral speak for himself:

Tuy nhiên, quan điểm đơn giản này đã bỏ qua sức mạnh của hạm đội hải quân to lớn với 27.000 binh sĩ, trên 250 chiếc tàu, cho phép người Trung Quốc gây “kinh hãi” người nước ngoài, khiến họ phải khuất phục. Hạm đội Trung Quốc tham gia vào các hoạt động “phô trương sức mạnh” rộng rãi, mở rộng hệ thống cống nạp Nho giáo và trừng phạt các nước ngang bướng. Kết quả là nhiều người nước ngoài đến kinh đô nhà Minh để cống nạp. Hơn nữa Trịnh Hoà, người được cho là hòa hiếu, đã sử dụng sức mạnh quân sự ít nhất ba lần, thậm chí ông ta còn bắt cả vua nước Sri Lanka thời đó và giải giao về Trung Quốc vì không tuân phục triều Minh. Có lẽ chúng ta nên để cho đô đốc này tự nói:

"When we reached the foreign countries, we captured barbarian kings who were disrespectful and resisted Chinese civilization. We exterminated bandit soldiers who looted and plundered recklessly. Because of this, the sea lanes became clear and peaceful, and foreign peoples could pursue their occupations in safety."

“Khi chúng tôi đến các nước khác, chúng tôi bắt các vị vua man rợ, thiếu tôn trọng và chống lại nền văn minh Trung Hoa. Chúng tôi tiêu diệt binh lính băng đảng đã cướp bóc một cách liều lĩnh. Nhờ vậy, các tuyến đường biển trở nên thông thoáng và yên bình và các dân tộc ở nước ngoài có thể sinh sống an toàn.”

Myth 3: The Great Wall of China symbolizes a nation preoccupied with defense.

You've probably heard this before: China adheres to a "purely defensive" grand strategy. The Chinese built the Great Wall not to attack but to defend.

Huyền thoại 3: Vạn lý Trường thành của Trung Quốc tượng trưng cho một quốc gia bận tâm với việc phòng thủ.

Có lẽ bn đã nghe nói điều này trước đây: Trung Quốc tuân thủ một đại chiến lược “thuần phòng thủ”. Trung Quốc xây Vạn lý Trường thành không phải để tấn công mà để phòng thủ.

Well, the first thing you need to remember about the Great Wall is that it has not always been there. The wall we see today was built by Ming China, and it was built only after a series of repeated Chinese attacks against the Mongols had failed. There was no wall-building in early Ming China, because at that time the country enjoyed a preponderance of power and had no need for additional defenses. At that point, the Chinese preferred to be on the offensive. Ming China built the Great Wall only after its relative power had declined.

Vâng, điều đầu tiên bạn cần nhớ là Vạn lý Trường thành là, nó không phải đã luôn có ở đó. Tường thành mà chúng ta thấy ngày nay được xây dựng vào thời Minh Trung Hoa và nó được xây chỉ sau khi Trung Quốc tiến hành hàng loạt cuộc tấn công người Mông Cổ nhưng đã bị thất bại. không có bức tường thành nào vào đầu thời Minh, vì vào thời điểm đó, Trung Hoa có ưu thế về sức mạnh và không cần phòng thủ thêm. Lúc đó, Trung Quốc thích tấn công hơn. Trung Hoa thời Minh xây Vạn lý Trường thành chỉ sau khi sức mạnh tương đối đã bị suy giảm.

In essence, Confucian China did not behave much differently from other great powers in history, despite having different culture and domestic institutions. As realism suggests, the anarchic structure of the system compelled it to compete for power, overriding domestic and individual factors.

Về bản chất, mặc dù có nền văn hóa và thể chế khác biệt nhưng Trung Hoa Nho giáo đã hành xử không khác gì mấy so với các cường quốc khác trong lịch sử. Như chủ nghĩa hiện thực cho thấy, cấu trúc hỗn độn của hệ thống này buộc nó phải cạnh tranh quyền lực, xem thường các yếu tố cá nhân và trong nước.



Thus, Chinese history suggests that its foreign policy behavior is highly sensitive to its relative power. If its power continues to increase, China will try to expand its sphere of influence in East Asia. This policy will inevitably bring it into a security competition with the United States in the region and beyond. Washington is getting out of the distractions of Iraq and Afghanistan and "pivoting" toward Asia. As the Chinese saying goes, "One mountain cannot accommodate two tigers." Brace yourself. The game is on.

Như vậy, lịch sử Trung Quốc cho thấy, cách hành xử của Trung Quốc trong chính sách đối ngoại rất nhạy cảm với sức mạnh tương đối của họ. Nếu sức mạnh của họ tiếp tục gia tăng, Trung Quốc sẽ cố mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Đông Á. Chính sách này chắc chắn sẽ đưa Trung Quốc vào một cuộc cạnh tranh an ninh với Hoa Kỳ trong khu vực và cả ngoài khu vực. Washington đang thoát khỏi sự phân tâm về Iraq và Afghanistan và đang “xoay” về phía châu Á. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Một rừng không thể có hai cọp”. Hãy chuẩn bị đi. Trò chơi đang diễn ra.

Yuan-kang Wang is an associate professor in the Department of Sociology and the School of Public Affairs and Administration at Western Michigan University. He is the author of Harmony and War: Confucian Culture and Chinese Power Politics.

Wang Yuan-kang (Vương Nguyên Khang) là phụ tá giáo sư Khoa Xã hội học và Trường Hành chánh và Công vụ, Đại học Western Michigan. Ông là tác giả của Harmony and War: Confucian Culture and Chinese Power Politics (Hài hoà và Chiến tranh: Văn hóa Nho giáo và Chính trị Quyền lực của Trung Quốc).


Translated by Huỳnh Phan

http://walt.foreignpolicy.com/posts/2012/03/05/the_myth_of_chinese_exceptionalism

Friday, March 9, 2012

Shocked to see Vietnamese’s drinking habit Sốc vì thấy người Việt ngày nào cũng nhậu!



Shocked to see Vietnamese’s drinking habit

Sợ nhất ngày nào cũng nhậu!

Hiroyuki Okamoto

Hiroyuki Okamoto
I had been living in Vietnam for only eight months when I decided to settle here for as long as possible. Truth be told, my life seems perfect here. However, one of the things that troubles me as well as many other foreigners about Vietnamese culture is their drinking habit.

Tôi đã đến Việt Nam được tám tháng và quyết định sẽ ở đây lâu dài bởi công việc, cuộc sống và mọi thứ đều rất hoàn hảo với tôi. Tuy nhiên, một trong những điều tôi cũng như nhiều người nước ngoài khác khá băn khoăn là văn hóa uống bia rượu ở đây. Người Việt uống bia rượu quá nhiều.

As far as I know through reading the newspapers these days, beer consumption in Vietnam reaches billions of liters per year. This is a really shocking number to me; it is especially distressing to see so many traffic accidents caused by people drinking beer uncontrollably.

Theo như tôi biết thông qua việc đọc báo những ngày này, bia tiêu thụ tại Việt Nam đạt đến hàng tỷ lít mỗi năm. Đây là một số thực sự gây sốc với tôi, thật hết sức buồn khi nhìn thấy tai nạn giao thông gây ra bởi những người uống bia không kiểm soát được.
Honestly speaking, our country used to be in the same situation about 20 years ago. Japanese people in those days drank a lot of beer, causing many traffic accidents. The Japanese government at the time immediately introduced measures to help reduce the numbers of accidents. I think Vietnamese government should do the same to bring the problem under control. And this should be done as soon as possible before it becomes too late.

Thật tình mà nói, đất nước của chúng tôi cũng có tình trạng này đó khoảng 20 năm trước đây. Người dân Nhật Bản hồi ấy uống rất nhiều bia, gây ra nhiều tai nạn giao thông. Chính phủ Nhật Bản vào thời điểm đó ngay lập tức đưa ra các biện pháp để giúp làm giảm số tai nạn. Tôi nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam nên làm như vậy để kiểm soát vấn đề này. Và điều này nên được thực hiện càng sớm càng tốt trước khi nó trở thành quá trễ.

There is no limit to how much you can drink in my country; however, you have to be at least 20 to buy or consume beer. And a young customer has to show his or her ID card before he or she is allowed to purchase any alcoholic drink. The people in Japan also drink a lot of beer; however, they just do this at the weekend. And people who drink beer, even half a glass of it, will not be allowed to drive their car. They are warned to take the subway or the taxi home. Otherwise, drunken people will be fined around 3,000 USD if they are caught by the police. Moreover, there is a car service in Japan which takes drunk people home whenever they receive a call from these people.


nước của tôi không hề có giới hạn người ta được phép uống bao nhiêu; tuy nhiên, bạn phải ít nhất 20 tuổi mới được mua hoặc uống bia. Và một khách hàng trẻ tuổi phải trình thẻ tùy thân của mình trước khi được phép mua bất kỳ thức uống có cồn nào. Người Nhật Bản cũng uống rất nhiều bia, tuy nhiên, họ chỉ làm điều này vào cuối tuần. Và những người uống bia, thậm chí dù nửa ly cũng sẽ không được phép lái xe. Họ được cảnh báo nên đi tàu điện ngầm, xe taxi. Nếu không, người say rượu sẽ bị phạt khoảng 3.000 USD nếu họ bị công an bắt. Hơn nữa, có là một dịch vụ xe hơi tại Nhật Bản sẵn sàng đưa những người say rượu về nhà bất cứ khi nào họ nhận được một cuộc gọi từ những người này.
I am so puzzled to see people in Vietnam can drink at any age and at any time during the weekdays. Whenever I pass by a restaurant or a streetside food stall, big and small, in Vietnam, I see people clinking their beer glasses and shouting “bottom’s up” all the time, no matter whether it is morning, noon or evening.

Tôi thấy rất khó hiểu khi nhìn thấy người Việt Nam có thể uống ở mọi lứa tuổi và vào bất kỳ thời điểm nào suốt các ngày trong tuần. Bất cứ khi nào tôi đi qua một nhà hàng hoặc quán bán đồ ăn bên lề đường, lớn nhỏ tại Việt Nam, tôi thấy mọi người luôn luôn cụng ly bia và hét lên "Trăm phần trăm" bất luận đó là buổi sáng, buổi trưa hoặc buổi tối.

This makes me think a lot. Why and how can they drink beer so often? Have they ever thought that drinking so much alcohol will lead to traffic accidents and many other negative consequences? Have they ever thought about their health and other people’s safety?

Điều này làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều. Tại sao và làm thế nào mà họ có thể uống bia thường xuyên như vậy? Họ có bao giờ nghĩ rằng uống rượu quá nhiều sẽ dẫn đến tai nạn giao thông và nhiều hậu quả tiêu cực khác? Họ đã bao giờ nghĩ về sức khỏe và an toàn của người khác?
I do drink beer to relax after work and to lessen the feeling of loneliness. However, I allow myself to drink only once or twice per week. This is not too difficult to do, I realize, as long as we think through our decision carefully and then set our mind to it.
Tôi uống bia để thư giãn sau khi làm việc và làm giảm bớt cảm giác của sự cô đơn. Tuy nhiên, tôi cho phép mình uống một lần hoặc hai lần mỗi tuần. Tôi nhận ra rằng, điều này không phải là quá khó khăn không làm được, miễn là chúng ta suy nghĩ và ra quyết định của một cách cẩn thận và lưu ý điều đó.



Thursday, March 8, 2012

Why U.S., China Destined to Clash Tại sao Trung - Mỹ phải đi tới xung đột?



Why U.S., China Destined to Clash

Tại sao Trung - Mỹ phải đi tới xung đột?

February 28, 2012

By Minxin Pei

28/2/2012

Minxin Pei

Forty years after Nixon’s extraordinary visit to China, a clash of political systems exists that not even shared economic interests can mask.

Bốn mươi năm sau chuyến thăm đặc biệt của Nixon tới Trung Quốc, một cuộc xung đột hệ thống chính trị đang tồn tại mà ngay cả những lợi ích về kinh tế cũng không thể che lấp được.

Few geopolitical events in the 20th century could compare to Richard Nixon’s historic visit to China 40 years ago. Today, the “week that changed the world” is chiefly remembered as a bold gamble in diplomatic revolution that paid off handsomely for the American president and the United States. Even more obvious today, however, is that the Nixon visit started a process that eventually ended China’s self-imposed isolation and paved the way for the Middle Kingdom’s re-emergence as a great power. Over the last 40 years, China has gained far more than the United States from the Sino-American strategic rapprochement.

Chỉ một vài sự kiện địa chính trị trong thế kỷ 20 có thể sánh được với chuyến thăm lịch sử của Richard Nixon tới Trung Quốc cách đây 40 năm. Ngày nay. "tuần lễ làm thay đổi thế giới" đó được nhớ tới chủ yếu như một trò chơi táo bạo trong cuộc cách mạng ngoại giao rất thành công đối với Tổng thống Mỹ và nước này. Tuy nhiên, ngày nay càng rõ ràng hơn rằng chuyến thăm của Nixon đã khởi đầu một tiến trình mà rốt cuộc đã chấm dứt sự cô lập của Trung Quốc và dọn đường cho Vương quốc Trung tâm tái sinh như một một cường quốc lớn. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã hưởng lợi nhiều hơn so với Mỹ từ việc nối lại quan hệ hữu nghị chiến lược Trung - Mỹ.

In terms of security, the quasi-alliance established between the United States and China following the visit vastly enhanced China’s ability to stand up to the Soviet Union, which amassed 30 to 40 divisions against China and was contemplating a preemptive strike on Chinese nuclear facilities shortly before the Nixon visit. Of course, adding China as a balancer against the Soviet Union helped the United States wage the Cold War. But the United States would have ultimately defeated the Soviet Union in this contest even without the Chinese contribution, which was modest in substantive terms.

Về mặt an ninh, quan hệ bán-liên minh được thiết lập giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp sau chuyến thăm kể trên đã giúp Bắc Kinh tăng cường mạnh mẽ năng lực đối đầu với Liên Xô, nước đã huy động 30-40 sư đoàn chống lại Trung Quốc và đang trù tính một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ngay trước chuyến công du của ông Nixon. Tất nhiên, thêm Trung Quốc vào như một con lắc chống lại Liên Xô đã giúp Mỹ tiến hành Chiến tranh Lạnh. Nhưng Mỹ rốt cuộc đã đánh bại Liên Xô trong cuộc cạnh tranh này mà không cần phải có sự đóng góp của Trung Quốc mà vốn rất chừng mực ở những phạm vi nhất định.

Given the political turmoil of the Cultural Revolution (1966-1976), the economic dividends of the U.S.-China rapprochement would have to wait a few more years. It wasn’t until Deng Xiaoping’s return to power – and the economic revolution his reforms launched – that China began to appreciate the economic importance of its ties with the United States. Obviously, the astute Deng himself grasped this importance instinctively. That’s why the first overseas visit he made after gaining political supremacy in December 1978 (the month during which, incidentally, Beijing and Washington formally normalized relations) was the United States.

Do sự hỗn loạn chính trị của Cách mạng Văn hóa (1966-1976), những lợi ích về kinh tế của việc nối lại quan hệ hữu nghị Trung - Mỹ phải đợi vài năm sau nữa mới xuất hiện. Mãi cho đến khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền - và cuộc cách mạng kinh tế mà những cải cách của ông khởi đầu - thì Trung Quốc mới bắt đầu tăng cường tầm quan trọng kinh tế của các mối quan hệ giữa nước này với Mỹ. Rõ ràng, chính Đặng Tiểu Bình khôn ngoan đã hiểu rõ tầm quan trọng này. Đó là lý do chuyến công du nước ngoài đầu tiên mà ông thực hiện sau khi giành được ưu thế chính trị hồi tháng 12/1978 (tháng mà một cách ngẫu nhiên, Bắc Kinh và Washington chính thức bình thường hóa quan hệ) là tới Mỹ.

He knew that China’s economic reform and opening couldn’t succeed without investment and technology from the United States. The model that drove China’s economic rise – high investment, openness to foreign direct investment and trade, and de-centralization – would have delivered far less impressive results had the U.S. market been closed to Chinese goods and American companies banned from investing in China (as they were before the Nixon visit).

Ông biết rằng, chương trình cải cách kinh tế và mở cửa của Trung Quốc không thể thành công nếu không có đầu tư và công nghệ từ Mỹ. Mô hình dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc - đầu tư tăng cao, mở cửa đón thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phân quyền - sẽ sinh ra những kết quả kém ấn tượng hơn nhiều nếu như thị trường Mỹ đóng cửa đối với hàng hóa Trung Quốc và các công ty Mỹ bị cấm đầu tư vào Trung Quốc (như thời trước chuyến thăm của Nixon).

So this past week, four decades after the Nixon visit, the verdict is in: China has been the clear winner. Luckily, the U.S. didn’t lose, either. It has been a rare win-win game in geopolitics. Nevertheless, even in this win-win situation, China has undoubtedly gained far more than the United States. The tallying of such relative gains makes one wonder why so many Chinese elites should harbor such anti-American resentments today.

Vì vậy, trong tuần qua, 40 năm sau chuyến thăm của Nixon, phán quyết đã rõ: Trung Quốc là nước chiến thắng trọn vẹn. Thật may mắn là Mỹ không thua. Đó là một cuộc chơi đôi bên cùng thắng hiếm hoi về địa chính trị. Tuy nhiên, ngay cả trong tình huống cùng thắng này, Trung Quốc rõ ràng đã giành được nhiều hơn Mỹ. Đối chiếu những lợi ích tương đối như vậy khiến một người phải tự hỏi lẽ gì mà ngày nay có quá nhiều nhân vật chóp bu Trung Quốc nuôi dưỡng những oán giận chống Mỹ như vậy.

The underlying reason for the mutually beneficial U.S.-China relations since the Nixon visit is quite clear. The two countries shared important interests: security against the Soviet threat during the Cold War and growing economic benefits from trade and investment after the Cold War.

Một lý do cơ bản để các mối quan hệ Trung - Mỹ đôi bên cùng có lợi kể từ sau chuyến thăm của Nixon khá rõ ràng. Hai nước có chung các lợi ích quan trọng: an ninh chống lại mối đe dọa Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh và các lợi ích kinh tế ngày càng lớn từ thương mại và đầu tư sau Chiến tranh Lạnh.

Normally, fear and greed are sufficient to shore up bilateral relations between most nations – but not between great powers. Enduring strategic trust, based on shared values and similar political institutions, is far more critical in determining the nature of relationship between great powers. There may be exceptions, such as in the case of the Nixon visit, which took place when both China and the United States faced an extraordinary security threat – the Soviet Union. That was why Nixon and Henry Kissinger, both consummate practitioners of realpolitik, weren’t bothered by the nature of the Chinese regime at that time. Survival instinct, not lasting strategic trust, compelled the two countries to seek cooperation.

Thông thường, sợ hãi và tham lam là đủ để tăng cường các mối quan hệ song phương giữa hầu hết các quốc gia - nhưng không phải giữa các cường quốc lớn. Duy trì sự tin tưởng chiến lược, dựa trên các giá trị chung và các thể chế chính trị tương đồng, là cực kỳ quan trọng trong việc quyết định bản chất mối quan hệ giữa các cường quốc. Có thể có những ngoại lệ, chẳng hạn như trong trường hợp chuyến thăm của Nixon, sự kiện diễn ra khi cả Trung Quốc và Mỹ đang đối mặt với một mối đe dọa an ninh rất lớn - Liên Xô. Đó là lý do Nixon và Henry Kissinger, đều là những người thực hành chính sách thực dụng tài giỏi, không lo ngại về bản chất của chế độ Trung Quốc vào thời điểm đó. Bản năng sinh tồn, chứ không phải niềm tin chiến lược lâu dài, đã thúc ép hai nước tìm kiếm sự hợp tác.

But today, the structure of U.S.-China relations has changed beyond recognition. In terms of security, they have become quasi-competitors, instead of quasi-allies, each viewing the other as a potential threat and planning their national defense strategies accordingly. Their economic relations have grown interdependent and have formed the most solid basis for continuing cooperation. But even here, strains have emerged, in particular in the form of massive bilateral trade deficits originating in part from China’s undervalued currency and restrictions on market access by U.S. firms.

Nhưng ngày nay, cấu trúc của các mối quan hệ Trung - Mỹ đã thay đổi vượt ra ngoài sự công nhận. Về an ninh, họ đã trở thành các bán-đối-thủ, thay vì là các bán-đồng-minh, bên này coi bên kia như một mối đe dọa tiềm ẩn và trù tính các chiến lược quốc phòng tương xứng. Các mối quan hệ kinh tế của họ phát triển phụ thuộc lẫn nhau và hình thành một nền tảng vững chắc nhất để tiếp tục hợp tác. Nhưng ngay cả như thế, căng thẳng vẫn xuất hiện, đặc biệt là dưới dạng các thâm hụt lớn về thương mại song phương mà một phần là do đồng tiền được định giá thấp và những hạn chế của Trung Quốc đối với sự tiếp cận thị trường của các công ty Mỹ.

The ideological conflict – between American liberal democracy and China’s one-party state – has grown sharper in recent years. Those who advocate engagement with China have based their argument on the assumption that China’s economic modernization and integration with the West will promote political change and make the one-party state more democratic. This “liberal evolution” theory has sadly not panned out. Instead of embracing political liberalization, the Chinese Communist Party has grown more resistant to democratization, more paranoid about the West, and more hostile to liberal values.

Xung đột ý thức hệ - giữa nền dân chủ tự do Mỹ và nhà nước độc đảng của Trung Quốc - trở nên gay gắt hơn trong những năm gần đây. Những người ủng hộ sự ràng buộc với Trung Quốc đưa ra lập luận dựa trên giả định rằng sự hiện đại hóa kinh tế và hội nhập của Trung Quốc với phương Tây sẽ thúc đẩy sự thay đổi chính trị và làm cho nhà nước độc đảng trở nên dân chủ hơn. Giả thuyết "cách mạng tự do" này đáng tiếc đã không mang lại kết quả. Thay vì theo đuổi sự mở rộng tự do chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc lại ngày càng chống lại dân chủ hóa, hoang tưởng về phương Tây và ngày càng căm ghét các giá trị tự do.

As a result, of the three pillars of U.S.-China relations, security, economy, and ideology, only one – shared economic interests — remains standing. In the realm of security and ideology, U.S.-China relations are growing more competitive and antagonistic. If anything, strategic competition will most likely become the principal feature of U.S.-China relations for the foreseeable future – as long as China’s one-party state remains in power. The underlying cause isn’t difficult to identify.

Kết quả là, trong số 3 trục của quan hệ Trung - Mỹ gồm an ninh, kinh tế và hệ tư tưởng thì chỉ một - các lợi ích kinh tế chung - là vẫn tồn tại. Trong lĩnh vực an ninh và ý thức hệ, các mối quan hệ Trung - Mỹ phát triển ngày càng cạnh tranh và đối lập. Nếu thế thì nhiều khả năng nhất là sự cạnh tranh chiến lược sẽ trở thành một đặc điểm chính của các mối quan hệ Trung - Mỹ trong tương lai gần - chừng nào nhà nước độc đảng của Trung Quốc tiếp tục nắm quyền. Không khó để xác định nguyên nhân cơ bản.

Because genuine strategic trust is impossible between an America infused with liberal democratic values and a China ruled by a one-party state, the security competition between the U.S. and China will only intensify. Chinese leaders shouldn’t bemoan the so-called “trust deficit” because they know very well why it exists. In addition, the political economies of a liberal democracy (which favors free competition) and an autocratic regime (which favors state control) are fundamentally at odds with each other. Such institutional differences are responsible for economic policies that are bound to collide with each other. So the risks that even shared economic interests between the U.S. and China could erode as a consequence of the clash of their political systems are real.

Do niềm tin chiến lược thực sự là không thể giữa một nước Mỹ với các giá trị dân chủ tự do và một Trung Quốc do nhà nước độc đảng lãnh đạo, sự cạnh tranh an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ chỉ ngày càng dữ dội hơn mà thôi. Các lãnh đạo Trung Quốc không tiếc cho cái gọi là "thiếu hụt lòng tin" bởi họ biết rất rõ tại sao nó tồn tại. Bên cạnh đó, các hệ thống kinh tế chính trị của một nền dân chủ tự do (ủng hộ cạnh tranh tự do) và một chế độ độc đoán (thiên về kiểm soát nhà nước) về cơ bản là trái ngược nhau. Những khác biệt thể chế như vậy chính là nguyên nhân dẫn tới các chính sách kinh tế ắt sẽ xung đột với nhau. Cho nên, những rủi ro mà ngay cả các lợi ích kinh tế chung giữa Mỹ và Trung Quốc cũng có thể xói mòn như là một hậu quả của xung đột giữa các hệ thống chính trị của họ là có thật.

Such a pessimistic forecast of the future of U.S.-China relations may not be appropriate for marking the 40th anniversary of the Nixon visit. Yet, if one accepts the premise that the persistence of one-party rule in China, not American desire for containment of a rising power, is the fundamental obstacle to an enduring cooperative and friendly Sino-American relationship for the foreseeable future, we will do ourselves a huge favor by acknowledging this reality and trying to change it.

Một dự đoán bi quan như thế về tương lai các mối quan hệ Trung - Mỹ có thể là không thích hợp để kỷ niệm 40 năm ngày Nixon công du Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu một người đồng ý với giả thuyết rằng sự tồn tại của chế độ độc đảng ở Trung Quốc, chứ không phải khát vọng của Mỹ nhằm ngăn chặn một cường quốc đang lên, là trở ngại cơ bản cho một mối quan hệ Trung - Mỹ hữu nghị và hợp tác lâu dài trong tương lai gần, thì tự chúng ta sẽ giúp cho chính mình bằng cách thừa nhận hiện thực này và cố gắng thay đổi nó.

Translated by Thanh Hảo

http://the-diplomat.com/2012/02/28/why-u-s-china-destined-to-clash/