MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Friday, March 2, 2012
FLYING PEOPLE OVER NEW YORK - NGƯỜI BAY TRÊN TRỜI NEW YORK
China’s Growing Growth Risks NHỮNG RỦI RO TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG HOA
|
| |
| China’s Growing Growth Risks
| NHỮNG RỦI RO TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG HOA
|
| Yao Yang 2012-02-28
| Dương Diêu (姚 洋: Yang Yao) 2012-02-28
|
| BEIJING – If everything goes right for China, it will surpass the United States as the world’s largest economy, in current dollar terms (and more quickly in real terms), by 2021. Its per capita income will reach that of today’s lower tier of high-income countries. But, despite its forward momentum, the Chinese economy faces looming risks in the coming decade.
| BẮC KINH - Nếu tất cả mọi thứ trôi chảy với Trung Hoa, thì vào năm 2021, họ sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, vượt qua Hoa Kỳ, tính theo tỷ giá hối đối của đồng đô la hiện tại (và việc này là quá nhanh chóng trong thực tế). Thu nhập bình quân đầu người của Trung Hoa đạt được trong hiện tại đang ở tầng thấp hơn của các nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, bất chấp đà tiến về phía trước của nó, nền kinh tế Trung Hoa đang phải đối mặt với những rủi ro thấp thoáng trong thập kỷ tới.
|
| The immediate risk is continuing stagnation, or recession, in Europe. In the last decade, export growth has accounted for roughly one-third of China’s overall economic growth, and about one-third of Chinese exports went to the European Union. If the situation in Europe continues to deteriorate, China’s growth will be dragged down.
| Nguy cơ ngay trước mắt là trình trạng tiếp tục trì trệ hoặc suy thoái của châu Âu. Trong thập kỷ qua, tăng trưởng xuất khẩu đã chiếm gần một phần ba của tổng thể tăng trưởng kinh tế của Trung Hoa, và khoảng một phần ba xuất khẩu của Trung Hoa đến Liên minh châu Âu. Nếu tình hình ở châu Âu tiếp tục xấu đi, tăng trưởng của Trung Hoa sẽ bị kéo xuống.
|
| Over-tightening of domestic macroeconomic policies, especially those aimed at the real-estate market, could heighten the risk of a slowdown, with house prices currently falling across China, owing to stringent government measures. Indeed, the situation is much like that of the 1997 Asian financial crisis. In the several years before that crisis hit, China had been combating inflation, and appeared to be headed for a soft landing. But the combination of crisis and austerity condemned China to several years of deflation and considerably slower growth.
| Với chính sách kinh tế vĩ mô nội địa bị thắt chặt quá mức, đặc biệt là nhằm vào thị trường bất động sản, có thể làm nâng cao nguy cơ của suy thoái, khi mà giá nhà đang giảm trên toàn Trung Hoa, do các biện pháp nghiêm ngặt của chính phủ. Thật vậy, tình hình hiện nay là giống như lúc cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Vài năm trước khi mà cuộc khủng hoảng hiện nay tác động, Trung Hoa đã phải chống lạm phát, và đương đầu cho một cuộc hạ cánh mềm. Nhưng sự kết hợp giữa 2 tác động, cuộc khủng hoảng và chính sách thắt lưng buộc bụng bắt buộc Trung Hoa phải lãnh hậu quả nhiều năm giảm phát và tăng trưởng chậm hơn đáng kể.
|
| Today, as China looks to the medium term, the government must face the problems created by its pervasive role in the economy. A new World Bank report singles out lack of reform of state-owned enterprises as the most important impediment to the country’s economic growth. But that is only a symptom of a deeper problem: the government’s dominant role in economic affairs.
| Ngày nay, khi nhìn về trung hạn cho Trung Hoa, chính phủ phải đối mặt với những vấn đề được tạo ra bởi vai trò lan rộng của rủi ro trong nền kinh tế. Một báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới đưa ra việc cải cách doanh nghiệp nhà nước không triệt để là trở ngại quan trọng nhất để tăng trưởng kinh tế của Trung Hoa. Nhưng đó chỉ là triệu chứng của một vấn đề sâu sắc hơn, đó là vai trò chi phối của chính phủ trong các vấn đề kinh tế.
|
| In addition to controlling 25-30% of GDP directly, the government also takes a lion’s share of financial resources. In recent years, more than one-third of total bank lending has gone to infrastructure, most of which has been built by government entities. Indeed, recognizing its over-investment in infrastructure, the government recently abandoned several high-speed rail projects that were already under construction. But government over-investment is also evident in numerous industrial parks and high-tech zones.
| Ngoài ra để kiểm soát trực tiếp 25-30% GDP, chính phủ cũng phải dùng phần lớn nhất của các nguồn lực tài chính. Trong những năm gần đây, hơn một phần ba tổng số cho vay của ngân hàng dành cho cơ sở hạ tầng, hầu hết trong số đó đã được xây dựng các công trình công. Thật vậy, vì đã nhìn thấy chi tiêu quá mức cho việc đầu tư công cơ sở hạ tầng, gần đây chính phủ Trung Hoa đã ngưng một số dự án đường sắt cao tốc đã được xây dựng. Nhưng đầu tư quá mức của chính phủ cũng còn có ở nhiều khu công nghiệp và những khu công nghệ cao khác nữa.
|
| China’s investment frenzy reminds many people of Japan in the 1980’s, when high-speed rail links were extended to Japan’s remotest corners. Most rely on government subsidies to this day. And, while the subsidies may improve the quality of life for ordinary people in some respects, they also detract from it by suppressing domestic consumption.
| Đầu tư điên cuồng của Trung Hoa làm nhớ lại cách của người Nhật trong những năm 1980s, khi mà những kết nối của đường sắt cao tốc đã đi đến những vùng xa xôi hẻo lánh của Nhật Bản. Hầu hết những công trình này dựa vào trợ cấp chính phủ cho đến ngày nay. Và, trong khi các khoản trợ cấp có thể làm cải thiện chất lượng cuộc sống cho giới bình dân ở một số khía cạnh cuộc sống, thì chúng cũng là nguyên nhân làm giảm đời sống dân chúng do sự ngăn cản tiêu thụ nội địa sau khi siết chặt tài chính quá mức.
|
| Infrastructure investment will inevitably run up against the law of diminishing marginal returns, but consumption growth does not have a limit. Suppressing consumption thus suffocates future growth, and the share of household consumption in GDP has declined from 67% in the mid-1990’s to below 50% in recent years, with most of the decline reflecting the distortions created by government policies.
| Đầu tư cơ sở hạ tầng chắc chắn sẽ là cái bệ phóng để chống lại quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần(law of diminishing marginal returns)(1), nhưng tăng trưởng do tiêu thụ lại không có một giới hạn. Kiềm nén tiêu thụ như vậy, nó sẽ bóp chết sự phát triển trong tương lai, và nó đã làm cho thị phần tiêu thụ của hộ gia đình trong GDP đã giảm từ 67% vào giữa thập niên 1990 xuống thấp hơn 50% trong những năm gần đây, với tất cả những sự suy giảm này nó phản ánh những biến dạng được tạo ra bởi các chính sách của chính phủ.
|
| China’s government is production-oriented by nature. The upside is that this has helped to maintain high GDP growth rates. But the downside is equally pronounced. One negative consequence is the persistent deepening of income inequality. The Gini coefficient of per capita income has surpassed 50 (with 100 representing maximal inequality), putting China in the upper quartile of inequality worldwide.
| Chính phủ Trung Hoa định hướng nền kinh tế sản xuất theo nhu cầu tự nhiên. Về mặt ưu điểm(upside) điều này đã giúp duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao. Nhưng nhược điểm lại là sự bình đẳng. Một hậu quả tiêu cực là liên tục làm sâu sắc thêm sự bất bình đẳng thu nhập. Chỉ số Gini(2) về thu nhập bình quân đầu người đã vượt qua 50 (với 100 bất bình đẳng thu nhập là con số tối đa), nó đặt Trung Hoa vào quốc gia thuộc nhóm một phần tư trên của những quốc gia có bất bình đẳng thu nhập trên toàn thế giới.
|
| The problem may not be inequality per se, but its consequences, one of which is the bifurcation of human capital. The return on education is increasing in China, but access to education is becoming increasingly divided socially and geographically. While education is improving in urban areas, children in the countryside are facing a decline in educational quality, because better teachers find their way to the cities. Moreover, given the income disparities between cities and rural areas, their education is more expensive than it is for urban families.
| Bản chất của vấn đề định hướng nền kinh tế sản xuất theo nhu cầu tự nhiên có thể không làm ra bất bình đẳng về thu nhập bình quân đầu người, nhưng những hậu quả của nó - mà một trong số nguyên nhân đó là sự phân bổ nguồn vốn đến tay con người - có thể tạo ra bất bình đẳng. Sự quan tâm đến giáo dục đang được gia tăng tại Trung Hoa, nhưng việc tiếp cận với giáo dục đang trở nên ngày càng gia tăng chia rẽ về mặt xã hội và địa lý. Trong khi giáo dục được cải thiện ở khu vực thành thị, thì trẻ em ở nông thôn đang phải đối mặt với một sự suy giảm về chất lượng giáo dục, vì các giáo viên tốt hơn họ phải tìm con đường của họ đến các thành phố. Hơn nữa, vì sự chênh lệch thu nhập giữa thành phố và nông thôn, nó làm cho chi phí giáo dục trở nên đắc đỏ với các gia đình nông thôn hơn các gia đình đô thị.
|
| As a result, a majority of rural kids will enter the workforce without a university diploma. Among China’s 140 million migrant workers, 80% have only nine years or less of formal education – far short of what high-income countries require.
| Hậu quả là, đa số trẻ em nông thôn sẽ nhập vào lực lượng lao động mà không có một bằng tốt nghiệp đại học trong tay. 80% trong số 140 triệu lao động di cư từ nông thôn đến thành thị của Trung Hoa, họ chỉ có ít hơn hoặc bằng 9 năm được đến trường – một trình độ học vấn quá thấp so với yêu cầu cho những nước có thu nhập cao.
|
| Despite officials’ seeming desire to reduce income inequality, China’s government is aggravating it, by – among other things – subsidizing producers, favoring capital-intensive industries, and maintaining a highly inefficient financial sector. But there are also promising signs of an economic uptick. The government has just announced new rules for household registration, known as hukou. Except in large cities, people can now freely choose their hukou after three years of residency. This will greatly help migrants by ensuring equal access to education for their children.
| Mặc dù các quan chức làm ra vẽ mong muốn giảm bất bình đẳng thu nhập, nhưng chính phủ của Trung Hoa đang tập trung vào những cách như: trợ cấp sản xuất, ưu tiên các ngành công nghiệp chuyên sâu đòi hỏi vốn lớn, và duy trì một khu vực tài chính không hiệu quả. Nhưng những việc này cũng đang hứa hẹn những dấu hiệu của một sự gia tăng nhỏ cho nền kinh tế. Chính phủ Trung Hoa vừa công bố quy định mới cho việc đăng ký hộ gia đình, được gọi là hộ khẩu(hukou). Ngoại trừ tại các thành phố lớn, ở các nơi khác người ta có thể tự do lựa chọn hộ khẩu của họ sau ba năm cư trú. Điều này sẽ giúp rất nhiều cho người di cư bảo đảm bình đẳng với tiếp cận giáo dục cho con cái của họ.
|
| To change completely the government’s distorting behavior, however, requires more drastic political changes. The hukou reform is a good start, as it will strengthen migrants’ political rights in local communities. Given their large numbers, their political participation may force local governments to become more responsive to ordinary people’s needs. And government responsiveness at lower levels, one may hope, might eventually trickle up to the top.
| Tuy nhiên. để thay đổi hoàn toàn cách hành xử sai lầm của chính phủ, nó đòi hỏi những thay đổi chính trị quyết liệt hơn. Cải cách hộ khẩu là một khởi đầu tốt, vì nó sẽ tăng cường các quyền chính trị của người di cư trong cộng đồng địa phương. Với số lượng lớn của dân di cư, sự tham gia chính trị của họ có thể buộc chính quyền địa phương đáp ứng nhiều hơn nữa những nhu cầu cho những giới bình dân. Và với việc đáp ứng của chính phủ ở các cấp thấp của địa phương, người ta có thể hy vọng rằng, cuối cùng nó có thể làm cho lãnh đạo cấp cao phải đi theo.
|
| Project Syndicate, 2012. www.project-syndicate.org |
|
|
|
|
| Yao Yang is Director of the China Center for Economic Research at Peking University. | Yao Yang là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa tại Đại học Bắc Kinh.
|
|
|
|
| Ghi chú của người dịch: 1. Quy luật sản phẩm biên có xu hướng giảm dần (law of diminishing marginal returns): Nếu bắt đầu từ lý thuyết và công thức thì tương đối dài dòng. Để dễ hiểu ta có thể đơn giản hóa quy luật này như sau, trong cùng 1 điều kiện trang bị tư liệu sản ra một loại sản phẩm cụ thể như bóng đèn. Nếu ta dùng 1 lao động thì mỗi ngày lao động ấy sản xuất ra 10 bóng là sản phẩm biên trong sản xuất. Nhưng đầu tư thêm 1 lao động nữa thì 2 lao động sẽ sản xuất ra 23 cái thì sản phẩm biên tăng từ 10 lên 13... Ta cứ tăng lên tiếp tục đến (n-1) lao động thì sản phẩm biên tăng lên là 10 + (n-1) + 2 sản phẩm. Nhưng Nếu ta tăng lên đến n lao động thì sản phẩm biên không tăng lên mà lùi lại còn chỉ 10 + n sản phẩm. Và nếu tiếp tục tăng số công nhân sản phẩm biên sẽ lùi tiếp, sản phẩm biên giảm hơn chỉ còn là 10 + n. Thì điểm thứ n-1 là điểm mà số lượng công nhân cần dùng đủ để sản xuất có năng suất tối ưu.
Ý nghĩa của quy luật này là nó chỉ ra lượng công nhân được chủ nên dùng trong một điều kiện nhất định về trang thiết bị sản xuất để tối ưu cho năng suất lao động. Nếu tăng sản lượng biên khi tiếp tục tăng nhân công thì đòi hỏi dây chuyền trang thiết bị phục vụ sản xuất phải đầu tư thêm hoặc thay đổi cho phù hợp. Trong điều kiện suy thoái kinh tế quy luật này rất quan trọng để tinh giảm biên chế.
|
2. Hệ số Gini(Gini coefficient): Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren) là hệ số dựa trên đường cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh tế trong một nền kinh tế. Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người Ý - Corrado Gini - và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mang tên "Variabilità e mutabilità". Số 0 trong hệ số này tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập). Ta còn gặp một từ chuyên môn khác nữa là, Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100. Hệ số Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Khi sử dụng hệ số Gini trong trường hợp này, điều kiện yêu cầu phải thỏa mãn không tồn tại cá nhân nào có thu nhập ròng bị âm. Hệ số Gini còn được sử dụng để đo lường sự sai biệt của hệ thống xếp loại trong lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng. Tuy hệ số Gini đã lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về sự phân phối thu nhập, nhưng các nhà kinh tế nhận thấy, hệ số Gini mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối thu nhập, còn trong một số trường hợp, chưa đánh giá được các vấn đề cụ thể.
|
|
|
|
| http://www.project-syndicate.org/commentary/yao6/English | |
Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa!
| | |
| |
|
Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa! Trong các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực y tế của Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức sức khỏe là gì. Khi nói đến sức khỏe nhiều người, kể cả cán bộ y tế, nghĩ ngay đến việc khám, phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh. Hoặc xa hơn, đó là dự phòng bệnh tật, nghiên cứu khoa học. Nhưng yếu tố tinh thần và xã hội của sức khỏe thì hình như chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Do vậy, các hoạt động và phát triển của y tế Việt Nam, thực sự còn lúng túng, do thiếu một triết lý. Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO, 1947) định nghĩa “Sức khỏe là sự vẹn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật”. Có thể xem định nghĩa này như là triết lý y tế. Chúng ta có thể dùng định nghĩa này để soi rọi lại sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong nhiều năm qua. Ngay từ lúc còn trong trường y, sinh viên chủ yếu học về sức khỏe thể chất. Theo đó, chương trình giảng dạy chú tâm vào việc huấn luyện cho các sinh viên y khoa việc truy tìm, xử lý bệnh tật bằng thuốc men, tham gia dự phòng bệnh tật. Hệ quả là khi ra trường và trở thành bác sĩ, kiến thức và nhận thức về tâm lý, và kém kỹ năng trong cách đối nhân xử thế với bệnh nhân, thân nhân, đồng sự, cấp trên, cấp dưới trong môi trường bệnh viện cũng như ở cộng đồng. Ngoài ra, còn có một nghịch lý về giảng dạy kinh tế. Thật vậy, điều mà bác sĩ quan tâm là kinh tế y tế, cân bằng lợi ích lâm sàng và chi phí điều trị cho bệnh nhân, nhưng họ chỉ được học kinh tế chính trị ! Hiếm khi sinh viên được học về các quy trình vận hành, tổ chức, quản lý bệnh viện. Thay vào đó, họ được học về dược lý chứ không biết về giá thuốc và hầu như “mờ mịt” về luật chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, luật dược, pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, luật khám bệnh, chữa bệnh và đặc biệt sinh viên y khoa lâu rồi chưa được học “nghĩa vụ y khoa”! Tập trung vào sức khỏe thể chất dẫn đến một nền y tế thiếu toàn diện. Nhiều bác sĩ khi ra trường họ chỉ biết đến “bệnh” mà ít chú ý đến “người bệnh”, tập trung trí tuệ để xử lý tốt bệnh tật mà quên đi những giá trị mang tính nhân văn đó là tâm lý và xã hội. Họ tự cho mình là “mẹ”, có toàn quyền ra lệnh, quyết định, la rầy “con bệnh” của mình mà quên rằng, thực sự họ chỉ là những “người bạn” của bệnh nhân. Họ nhận lương bổng, thậm chí trang thiết bị, cả chiếc ghế ngồi của họ đều được đóng góp bằng tiền thuế và các khoản khác của người dân, trong đó, có những người bệnh đang ở trước mặt của họ. Khi ra toa thuốc, họ không biết được giá của ngày công lao động tay chân là bao nhiêu, không biết được giá của một kilogram lúa gạo là bao nhiêu, nên “vung tay quá trán”. Bs Đỗ Hồng Ngọc từng nói các bác sĩ chữa được cái “đau” mà không giải quyết được cái “khổ”, giải quyết được “bệnh” mà không giải quyết được “hoạn”. Nhưng chữa được cho cái “xác” mà lờ đi cái “hồn” và các “mối quan hệ xã hội”, vốn dĩ không ít là cội nguồn của bệnh tật, là một khiếm khuyết. Nếu một bệnh nhân bị stress, đến bác sĩ đo huyết áp thấy cao, được chẩn đoán bệnh tăng huyết áp, dặn dò ăn uống và được “đe nẹt” một số biến chứng, ra toa thuốc, ra về. Nhiều bác sĩ ít khi biết được bệnh nhân ấy đang bị stress, vừa làm ăn thua lỗ, ly dị, đang chia của, con cái bỏ học, nói chung là có nhiều yếu tố xã hội và tâm lý khác. Có thể nhiều bác sĩ cho là bệnh quá tải, không có thời gian nhiều với bệnh nhân (cũng đúng), nhưng cho dù có nhiều thời gian đi nữa thì thực sự rất ít bác sĩ quan tâm đến những chuyện “ngoài bệnh tật” kể trên (trừ các bác sĩ có kinh nghiệm sống, hoặc đã được huấn luyện “lâu lắm rồi”) vì họ thiếu được rèn luyện những kỹ năng và phương pháp chuẩn mực để tiếp cận các vấn đề tâm lý và xã hội. Các vấn đề vĩ mô khác về y tế theo tôi cũng xuất phát từ sự xa rời định nghĩa sức khỏe. Chúng ta quen đánh giá nền y tế bằng những chỉ số như tỷ trọng thầy thuốc trên vạn dân, số giường bệnh trên vạn dân, và dựa vào đó, các quan chức y tế kết luận rằng chúng ta thiếu bác sĩ, thiếu giường bệnh, bệnh viện quá tải. Những kết luận đó không hẳn sai, nhưng trong thực tế thì không bao giờ cho đủ số lượng bác sĩ theo nhu cầu, chứ chưa kể chất lượng bác sĩ, lại còn phải hòa nhập với khu vực, quốc tế. Nhưng chúng ta ít quan tâm đến cái gốc xã hội của tình trạng quá tải, của thiếu giường bệnh. Cái gốc đó là chúng ta quên đi hai yếu tố tinh thần và xã hội của sức khỏe. Quay lại ví dụ về bệnh nhân stress, có thể được giảm nhẹ hoặc “chữa khỏi” nhờ chuyên gia tư vấn, thầy tu, hay một ai đó có uy tín trong họ hàng, bè bạn, trong gia đình hòa giải, tránh cuộc ly dị; con cái bỏ học có thể nhờ giáo viên giúp đỡ, và stress được kiểm soát, huyết áp của bệnh nhân cũng ổn theo, biến chứng có thể không xảy ra, thì đâu cần phải có nhiều bác sĩ điều trị tăng huyết áp, đội ngũ điều trị, chăm sóc biến chứng của tăng huyết áp như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, suy thận mãn. Có lẽ chúng ta chưa quan tâm đúng mức hai yếu tố tâm lý và xã hội của sức khỏe nên quên đi việc chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của mỗi người dân (tự chăm lo cho mình), của toàn xã hội (trong chăm sóc sức khỏe toàn diện) chứ không chỉ của riêng ngành y tế. Do thiếu cái nhìn toàn diện nên chúng ta đã không huy động triệt để được tất các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của người dân. Chúng ta cũng đã kêu gọi “xã hội hóa y tế”, nhưng không kêu gọi “xã hội hóa sức khỏe”, chúng ta đã quen gọi “Bộ Y tế” mà thực sự phải là “Bộ Sức khỏe” (Ministry of Health). Danh không chính nên “ngôn không thuận”, khó mà hiệu triệu mọi nguồn lực đi đúng một mục đích và hoạt động có hiệu quả nhất! Cũng từ nhận thức thiên lệch về sức khỏe thể chất nên việc đầu tư các nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe cũng thiếu hiệu quả. Nguồn tài chính của nhà nước đầu tư cho y tế, đa số chỉ tập trung cho việc xây dựng các bệnh viện, trung tâm chẩn đoán và điều trị, trang bị kỹ thuật càng chuyên sâu, cao cấp ở các thành phố lớn, bệnh viện tuyến tỉnh, còn lại một ít cho bệnh viện huyện, cũng nhằm để “chữa cháy” việc quá tải. Tuy nhiên, các địa chỉ trên chỉ chăm lo sức khỏe cho khoảng 10% dân Việt Nam, còn lại khoảng 90% cần được chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng thông qua chăm sóc sức khỏe ban đầu (cũng là cách giảm tải bệnh viện bền vững) thì đầu tư còn rất yếu kém. Qua thực tế, các khoa quá tải ở các bệnh viện thường là khoa Nội Tim mạch, Nhi khoa, Chấn thương, Ung thư, Thần kinh. Hơn phân nửa số bệnh nhân nội trú ở Nội tim mạch là tăng huyết áp, gần 1/3 là bệnh mạch vành, có thể kiểm soát tốt ở ngoại trú; đa số bệnh nhi đến phòng khám bệnh viện là các bệnh nhiểm khuẩn, virus đường hô hấp, tiêu hóa, v.v. có thể chữa tại trạm y tế, chăm sóc tại nhà; nếu tuyên truyền tốt về an toàn giao thông, sử dụng rượu bia thì không có nhiều chấn thương do tai nạn giao thông; giảm thuốc lá, thay đổi thói quen ăn uống sinh hoạt, thì ngừa nhiều bệnh ung thư, bệnh chuyển hóa, giảm các bệnh nhập viện vì tai biến mạch não, tiểu đường. Giải quyết những vấn nạn vừa nêu không nhất thiết phải đầu tư nhiều tiền của mà cần phải chuyển hướng nhận thức đầu tư hiệu quả vào cộng đồng để giải quyết cho 90% nhu cầu xã hội trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đó là việc đầu tư vào các chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe, sức khỏe học đường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng khi không có thầy thuốc. Đó là việc đào tạo rất ngắn hạn nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm nhiều đối tượng, kể cả thầy tu, sư sãi, ni cô, các sơ, v.v. các tình nguyện viên chăm sóc theo nhu cầu (không nhất thiết họ phải có nhiều kiến thức chuyên môn y tế). Đó là việc kêu gọi các thầy tu dùng chính chùa, nhà thờ làm cơ sở chăm sóc sức khỏe (sau khi được huấn luyện), là việc tăng cường chăm sóc bệnh tại nhà hơn là xây thêm bệnh viện, tăng số giường. Đó là việc kêu gọi gia đình, nhà trường, ngành giáo dục, phối hợp y tế, xã hội tham gia dạy dỗ, hỗ trợ con cái, tăng cường đào tạo kỹ năng sống của học sinh, sinh viên để giảm bớt bạo lực học đường, biết nói không với rượu bia, thuốc lá, lái xe lạng lách và có thể chính các em vận động gia đình mình tham gia giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Đó là việc dạy cho các bác sĩ ở các trạm y tế khoảng 10 bệnh thường gặp ở tại cộng đồng của mình cho thật tinh tường hơn là dạy cho họ chương trình chuyên khoa cấp I để rồi họ không sử dụng tốt ở cộng đồng, họ “bay” về huyện, tỉnh, gây mất nguồn nhân lực tại chỗ. Đó cũng là việc chúng ta cần tập trung đầu tư hỗ trợ “kiến thức chăm sóc sức khỏe ban đầu” cho tuyến dưới hơn là việc “chuyển giao kỹ thuật” theo chương trình 1816 như hiện nay. Nói tóm lại, để sự nghiệp chăm sóc sức khỏe thực sự có hiệu quả, bước đầu tiên, cơ bản, quan trọng nhất là phải khẳng định lại một triết lý chăm sóc sức khỏe toàn diện trên cả ba mặt: thể chất, tinh thần lẫn xã hội như định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới. Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô lẫn vi mô sẽ dựa trên định nghĩa này triển khai các bước đi tiếp theo sao cho toàn diện, không thiên lệch. Từ việc xác định triết lý này, sẽ có cơ sở tập trung các dạng nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực, thiên nhiên, xã hội và văn hóa nhằm vào mục đích chăm sóc sức khỏe cho chính mình và xã hội. Nhà nước sẽ giảm bớt gánh nặng trong việc lo cho sức khỏe người dân, góp phần đảm bảo “an sinh xã hội”. Hồ Chủ tịch cũng đã từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Muốn “dân liệu” hiệu quả phải chỉ ra vai trò người dân một cách rõ ràng, tạo điều kiện để mọi tầng lớp tham gia tích cực, riêng trong định nghĩa sức khỏe, đa số người dân hoàn toàn có thể làm tốt việc chăm lo sức khỏe tinh thần và xã hội, bên cạnh thầy thuốc họ có quyền và có khả năng tự chăm sóc mình và gia đình, cộng đồng trong một chừng mực nhất định nhưng lại hiệu quả rất lớn. Ths. Bs. Nguyễn Minh Mẫn http://nguyenvantuan.net/health/45-agent-orange/1456-y-te-viet-nam-nen-bat-dau-tu-dinh-nghia |
What Makes a Nation Rich? One Economist's Big Answer ĐIỀU GÌ LÀM CHO QUỐC GIA GIÀU CÓ? MỘT CÂU HỎI LỚN CỦA NHÀ KINH TẾ HỌC
|
|
|
| What Makes a Nation Rich? One Economist's Big Answer
| ĐIỀU GÌ LÀM CHO QUỐC GIA GIÀU CÓ? MỘT CÂU HỎI LỚN CỦA NHÀ KINH TẾ HỌC
|
| by Daron Acemoglu | Daron Acemoglu
|
| Say you're a world leader and you want your country's economy to prosper. According to this Clark Medal winner from MIT, there's a simple solution: start with free elections.
| Nếu bạn là lãnh đạo và bạn muốn đất nước trở nên giàu có hơn thì bạn phải làm gì? Theo ý kiến của Daron Acemoglu, nhà kinh tế được Học viện công nghệ Massachusetts (MIT tặng huy chương Clark [2] thì có một giải pháp đơn giản: đó là bầu cử tự do.
|
| We are the rich, the haves, the developed. And most of the rest — in Africa, South Asia, and South America, the Somalias and Bolivias and Bangladeshes of the world — are the nots. It's always been this way, a globe divided by wealth and poverty, health and sickness, food and famine, though the extent of inequality across nations today is unprecedented: The average citizen of the United States is ten times as prosperous as the average Guatemalan, more than twenty times as prosperous as the average North Korean, and more than forty times as prosperous as those living in Mali, Ethiopia, Congo, or Sierra Leone.
| Chúng ta (nước Mỹ-ND) là những người giàu có, những người giàu, đã phát triển. Trong khi hầu hết phần còn lại của thế giới – Châu Phi, Nam Á và Nam Mỹ, những người Somali, Bolivia và Bangladesh– là những người nghèo. Thế giới đã luôn bị chia tách thành người giàu và người nghèo, những người khỏe mạnh và ốm yếu, những người no đủ và đói ăn. Tuy nhiên, tầm mức của sự bất bình đẳng giữa các quốc gia như ngày nay là chưa từng xảy ra: tính trung bình, một người Mỹ giàu gấp 10 lần một người Guatemala, giàu hơn 20 lần so với một người Bắc Triều tiên và hơn 40 lần so với một người sống ở Mali, Ethiopia, Congo hay Sierra Leone.
|
| The question social scientists have unsuccessfully wrestled with for centuries is, Why? But the question they should have been asking is, How? Because inequality is not predetermined. Nations are not like children — they are not born rich or poor. Their governments make them that way.
| Câu hỏi mà các nhà khoa học xã hội đã vật lộn hàng thế kỷ mà không giải đáp thành công là: tại sao lại như vậy? Nhưng lẽ ra câu hỏi cần được đặt ra là: làm cách nào để thay đổi điều đó? Bởi vì sự bất bình đẳng không phải đã được quyết định từ trước. Một quốc gia không giống một đứa trẻ - nó không được sinh ra đã giàu hay nghèo. Chính là chính phủ của nó đã làm quốc gia đó trở nên như thế.
|
| You can chart the search for a theory of inequality to the French political philosopher Montesquieu, who in the mid-eighteenth century came up with a very simple explanation: People in hot places are inherently lazy. Other no less sweeping explanations soon followed: Could it be that Max Weber's Protestant work ethic is the true driver of economic success? Or perhaps the richest countries are those that were former British colonies? Or maybe it's as simple as tracing which nations have the largest populations of European descent? The problem with all of these theories is that while they superficially fit some specific cases, others radically disprove them.
| Vào giữa thế kỷ 18, nhà khoa học chính trị người Pháp là Montesquieu đã đưa ra một cách giải thích vô cùng đơn giản về sự bất bình đẳng giữa các quốc gia: người dân ở xứ nóng vốn đã lười từ trong bản chất. Một số người khác cũng đưa ra cách giải thích của mình, chẳng hạn: Đạo đức trong công việc của người theo đạo Tin lành có lẽ là động lực chính cho thành công của những nền kinh tế tư bản theo như quan điểm của Max Weber? Hoặc có lẽ những nước giàu nhất là những quốc gia trước đó là thuộc địa của Anh? Hoặc có thể chỉ đơn giản như quốc gia đó có phần đông dân số là hậu duệ của người châu Âu? Vấn đề đối với tất cả các lý thuyết này là trong khi nó rất phù hợp với một số các trường hợp cụ thể, các trường hợp khác lại chứng tỏ nó hoàn toàn không đúng.
|
| It's the same with the theories put forth today. Economist Jeffrey Sachs, director of Columbia University's Earth Institute, attributes the relative success of nations to geography and weather: In the poorest parts of the world, he argues, nutrient-starved tropical soil makes agriculture a challenge, and tropical climates foment disease, particularly malaria. Perhaps if we were to fix these problems, teach the citizens of these nations better farming techniques, eliminate malaria, or at the very least equip them with artemisinin to fight this deadly disease, we could eliminate poverty. Or better yet, perhaps we just move these people and abandon their inhospitable land altogether.
| Điều đó cũng đúng với những lý thuyết hiện đang được truyền bá. Chẳng hạn nhà kinh tế Jeffrey Sachs, giám đốc Viện Địa Cầu ở Đại học Columbia (Earth Institute, Columbia University), đã gán sự thành công tương đối của những quốc gia cho địa lý và khí hậu. Theo ông, ở những vùng nghèo nhất thế giới, đất đai bạc màu ở những vùng nhiệt đới làm cho canh tác nông nghiệp trở nên khó khăn. Khí hậu ở đây đã kích thích bệnh tật, đặc biệt là sốt rét. Nếu chúng ta có thể sửa chữa những vấn đề đó, dạy người dân ở những vùng này các kỹ thuật canh tác tốt hơn, loại trừ bệnh sốt rét hoặc ít nhất trang bị cho họ thuốc artemisinin (một loại thuốc chống sốt rét hiệu quả-ND) để chống lại căn bệnh chết người này thì chúng ta có thể loại trừ được nghèo đói. Hoặc tốt hơn nữa, có lẽ chúng ta nên di chuyển những người này đi nơi khác và từ bỏ những vùng đất khắc nghiệt của họ.
|
| Jared Diamond, the famous ecologist and best-selling author, has a different theory: The origin of world inequality stems from the historical endowment of plant and animal species and the advancement of technology. In Diamond's telling, the cultures that first learned to plant crops were the first to learn how to use a plow, and thus were first to adopt other technologies, the engine of every successful economy. Perhaps then the solution to world inequality rests in technology — wiring the developing world with Internet and cell phones.
| Jared Diamond, nhà sinh học nổi tiếng và là tác giả của những quyển sách bán rất chạy có cách lý giải khác: cội nguồn của sự bất bình đẳng trên thế giới bắt nguồn từ lịch sử thuần hóa những loài thực vật, động vật và tiến bộ công nghệ. Trong câu chuyện của Diamond, những nền văn hóa đầu tiên học được cách trồng trọt cũng là những người đầu tiên đã học được cách làm sao để sử dụng cái cày và sau đó cũng là những người đầu tiên chấp nhận các công nghệ khác, là động lực của mọi thành công về kinh tế[3]. Nếu như vậy thì có lẽ giải pháp cho sự bất bình đẳng trên thế giới nằm ở công nghệ - nối kết các nước đang phát triển bằng Internet và điện thoại di động.
|
| And yet while Sachs and Diamond offer good insight into certain aspects of poverty, they share something in common with Montesquieu and others who followed: They ignore incentives. People need incentives to invest and prosper; they need to know that if they work hard, they can make money and actually keep that money. And the key to ensuring those incentives is sound institutions — the rule of law and security and a governing system that offers opportunities to achieve and innovate. That's what determines the haves from the have-nots — not geography or weather or technology or disease or ethnicity.
| Trong khi Sachs và Diamond đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc vào một số khía cạnh của nghèo đói, họ cũng chia sẻ một số điểm chung với Montesquieu và những lý thuyết đã nói ở trên: họ đã bỏ qua động cơ (incentives). Con người cần động cơ để đầu tư và trở nên giàu có hơn. Họ cần biết là nếu họ làm việc chăm chỉ, họ có thể làm ra tiền và thực sự giữ được những đồng tiền đó. Chìa khóa để đảm bảo những động cơ đó là những thể chế tốt – luật pháp, an ninh và hệ thống chính quyền, tạo ra các cơ hội để con người có thể đổi mới và thành công. Đó chính là cái quyết định sự phân hóa giàu-nghèo – chứ không phải là địa lý, khí hậu, công nghệ, bệnh tật hay chủng tộc.
|
| Put simply: Fix incentives and you will fix poverty. And if you wish to fix institutions, you have to fix governments.
| Một cách đơn giản: hãy sửa chữa các cơ chế khuyến khích động cơ và bạn sẽ xóa được nghèo đói, và nếu bạn muốn sửa chữa thể chế, bạn phải sửa chữa chính quyền.
|
| How do we know that institutions are so central to the wealth and poverty of nations? Start in Nogales, a city cut in half by the Mexican-American border fence. There is no difference in geography between the two halves of Nogales. The weather is the same. The winds are the same, as are the soils. The types of diseases prevalent in the area given its geography and climate are the same, as is the ethnic, cultural, and linguistic background of the residents. By logic, both sides of the city should be identical economically.
| Làm sao chúng ta biết được là các thể chế là là lý do chính dẫn tới sự giàu có và nghèo đói của các quốc gia? Hãy bắt đầu bằng Nogales, một thành phố bị chia đôi bởi biên giới Mexico và Mỹ. Không có sự khác biệt về địa lý giữa 2 phần của Nogales. Thời tiết giống nhau, gió giống nhau, đất cũng giống nhau. Các loại bệnh tật thông thường trong khu vực với cùng địa lý và khí hậu này là giống nhau, cũng như chủng tộc, văn hóa và nền tảng ngôn ngữ của các cư dân. Bằng suy luận logic, cả 2 nửa thành phố phải có tình trạng kinh tế giống nhau.
|
| And yet they are far from the same.
On one side of the border fence, in Santa Cruz County, Arizona, the median household income is $30,000. A few feet away, it's $10,000. On one side, most of the teenagers are in public high school, and the majority of the adults are high school graduates. On the other side, few of the residents have gone to high school, let alone college. Those in Arizona enjoy relatively good health and Medicare for those over sixty-five, not to mention an efficient road network, electricity, telephone service, and a dependable sewage and public-health system. None of those things are a given across the border. There, the roads are bad, the infant-mortality rate high, electricity and phone service expensive and spotty.
| Nhưng hiện tại chúng lại hoàn toàn khác xa nhau.
Một bên của biên giới, ở hạt Santa Cruz, bang Arizona (Mỹ), thu nhập trung bình của một người là 30.000 USD/năm. Chỉ cách đó vài mét bên phía Mexico là 10.000USD/năm. Một bên, hầu hết các trẻ vị thành niên học ở trường trung học công và đa số người trưởng thành tốt nghiệp trung học (lớp 12-ND). Bên kia, chỉ một số ít cư dân học tới trung học và hầu như không có ai học đại học. Người dân phía Arizona có sức khỏe tương đối tốt và có bảo hiểm y tế Medicare cho những người trên 65 tuổi. Họ không cần quan tâm tới hiệu quả của mạng lưới đường sá, điện, dịch vụ điện thoại, hệ thống nước thải và hệ thống y tế công cộng. Tất cả những điều này lại không có bên kia biên giới Mexico. Ở đó, đường sá thì xấu, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, dịch vụ điện thoại và điện thì giá cao và không ổn định.
|
| The key difference is that those on the north side of the border enjoy law and order and dependable government services — they can go about their daily activities and jobs without fear for their life or safety or property rights. On the other side, the inhabitants have institutions that perpetuate crime, graft, and insecurity.
| Sự khác biệt quan trọng nhất ở phía bắc của biên giới (phía Mỹ-ND) là họ có hệ thống luật pháp, luật lệ và các dịch vụ đáng tin cậy của chính phủ - họ có thể tiến hành các hoạt động hàng ngày và đi làm mà không sợ hãi cho cuộc sống, sự an toàn hoặc tài sản của mình. Bên kia, những cư dân phía Mexico có một thể chế đã giúp kéo dài tội ác, hối lộ và thiếu an ninh.
|
| Nogales may be the most obvious example, but it's far from the only one. Take Singapore, a once-impoverished tropical island that became the richest nation in Asia after British colonialists enshrined property rights and encouraged trade. Or China, where decades of stagnation and famine were reversed only after Deng Xiaoping began introducing private-property rights in agriculture, and later in industry. Or Botswana, whose economy has flourished over the past forty years while the rest of Africa has withered, thanks to strong tribal institutions and farsighted nation building by its early elected leaders.
| Nogales có thể là ví dụ hiển nhiên nhất, nhưng không phải là duy nhất. Hãy nhìn Singapore, một vùng đất bạc màu vùng nhiệt đới đã trở nên một quốc gia giàu có nhất ở Châu Á sau khi chế độ thực dân Anh mang tới quyền tư hữu và khuyến khích ngoại thương. Hoặc Trung Quốc, nơi hàng thập kỷ trì trệ và đói kém đã bị đảo ngược chỉ sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu áp dụng quyền sở hữu tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và sau đó trong công nghiệp. Hoặc ở Botswana, nền kinh tế của nó đã vận hành rất tốt trong 40 năm qua nhờ ờ thể chế bộ lạc mạnh và những lãnh đạo dân cử thời kỳ đầu đã có tầm nhìn xa trông rộng, trong khi phần còn lại của Châu Phi vẫn đang tàn tạ.
|
| Now look at the economic and political failures. You can begin in Sierra Leone, where a lack of functioning institutions and an overabundance of diamonds have fueled decades of civil war and strife and corruption that continue unchecked today. Or take communist North Korea, a geographical, ethnic, and cultural mirror of its capitalist neighbor to the south, yet ten times poorer. Or Egypt, cradle of one of the world's great civilizations yet stagnant economically ever since its colonization by the Ottomans and then the Europeans, only made worse by its post-independence governments, which have restricted all economic activities and markets. In fact, the theory can be used to shed light on the patterns of inequality for much of the world.
| Giờ chúng ta hãy xem các quốc gia đã thất bại về kinh tế và chính trị. Bạn có thể bắt đầu ở Sierra Leone, nơi hiện nay các thể chế chính phủ hoạt động rất tồi nhưng lại dồi dào kim cương đã cung cấp nguồn lực cho nội chiến, xung đột và tham nhũng đến mức không thể kiểm soát được. Hoặc ở Bắc Triều Tiên, nơi các điều kiện về địa lý, chủng tộc và văn hóa rất tương đồng với quốc gia tư bản ở phía nam, nhưng lại nghèo hơn gấp 10 lần. Hoặc ở Ai Cập, tuy từng là cái nôi của một trong những nền văn minh lớn nhất thế giới nhưng kinh tế vẫn trì trệ kéo dài từ thời kỳ thực dân bởi đế chế Ottomans và sau đó là các nước Châu Âu tới hiện tại. Sau khi giành được độc lập tình hình còn trở nên tồi tệ hơn bởi chính phủ đã hạn chế mọi hoạt động kinh tế và thị trường. Trên thực tế, lý thuyết về vai trò của thể chế trong phát triển có thể được sử dụng để soi sáng vào các hình mẫu của sự bất bình đẳng ở nhiều phần của thế giới.
|
| If we know why nations are poor, the resulting question is what can we do to help them. Our ability to impose institutions from the outside is limited, as the recent U. S. experiences in Afghanistan and Iraq demonstrate. But we are not helpless, and in many instances, there is a lot to be done. Even the most repressed citizens of the world will stand up to tyrants when given the opportunity. We saw this recently in Iran and a few years ago in Ukraine during the Orange Revolution.
| Nếu chúng ta biết tại sao các quốc gia nghèo, câu hỏi đặt ra là nước Mỹ có thể làm gì để giúp đỡ họ? Việc áp đặt các thể chế từ bên ngoài luôn bị giới hạn. Các kinh nghiệm của Mỹ mới đây ở Afghanistan and Iraq chứng minh điều đó. Nhưng chúng ta không vô dụng và trong nhiều trường hợp, có thể làm nhiều điều có ích. Thậm chí trong cả những chế độ áp bức nhất, người dân cũng sẵn sàng đứng lên đối đầu với bạo chúa nếu có cơ hội. Chúng ta đã thấy điều đó mới đây ở Iran và vài năm trước đây ở Ukraine trong cuộc Cách mạng Cam.
|
|
|
|
| The U. S. must not take a passive role in encouraging these types of movements. Our foreign policy should encourage them by punishing repressive regimes through trade embargoes and diplomacy. The days of supporting dictators because they bolster America's short-term foreign-policy goals, like our implicit support of Muhammad Zia-ul-Haq in Pakistan starting in the 1970s, and our illicit deals with Mobutu's kleptocratic regime in the Congo from 1965 to 1997, must end. Because the long-term consequences — entire nations of impoverished citizens, malnourished and hungry children, restive, discontented youngsters ripe to be drawn toward terrorism — are too costly. Today that means pushing countries such as Pakistan, Georgia, Saudi Arabia, Nigeria, and countless others in Africa toward greater transparency, more openness, and greater democracy, regardless of whether they are our short-term allies in the war on terror.
| Nước Mỹ không được giữ một vai trò thụ động trong việc khuyến khích sự thay đổi. Chính sách ngoại giao của Mỹ cần trừng phạt các chế độ độc tài thông qua các biện pháp ngoại giao và cấm vận thương mại. Việc giúp đỡ những chế độ độc tài bởi vì chúng hỗ trợ các mục tiêu ngoại giao ngắn hạn của Mỹ như sự ủng hộ ngầm với chế độ độc tài quân sự của Muhammad Zia-ul-Haq ở Pakistan vào đầu những năm 70 hay các thỏa thuận trái phép với chế độ tham nhũng của Mobutu ở Congo từ năm 1965-1997 cần chấm dứt. Lý do là vì những hậu quả dài hạn của nó rất tồi tệ – bần cùng hóa toàn bộ người dân, làm trẻ em bị đói và suy dinh dưỡng, đẩy những thanh niên bất mãn về phía chủ nghĩa khủng bố. Mỹ cần thúc đẩy những quốc gia như Pakistan, Georgia, Saudi Arabia, Nigeria và vô số các quốc gia ở Châu Phi trở nên minh bạch hơn, cởi mở hơn, nhiều dân chủ hơn bất chấp việc họ đang là đồng minh ngắn hạn của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. |
| At the microlevel, we can help foreign citizens by educating them and arming them with the modern tools of activism, most notably the Internet, and perhaps even encryption technology and cell-phone platforms that can evade firewalls and censorship put in place by repressive governments, such as those in China or Iran, that fear the power of information.
| Ở mức độ vi mô, chúng ta có thể giúp đỡ các công dân nước ngoài bằng cách giáo dục và trang bị cho họ những phương pháp hiện đại để đứng lên đấu tranh, nhất là Internet và thậm chí các công nghệ mã hóa cùng điện thoại di động để vượt qua tường lửa cùng sự kiểm duyệt của các chế độ chuyên chế như Trung Quốc và Iran, vì họ sợ quyền lực của thông tin.
|
| There's no doubt that erasing global inequality, which has been with us for millennia and has expanded to unprecedented levels over the past century and a half, won't be easy. But by accepting the role of failed governments and institutions in causing poverty, we have a fighting chance of reversing it.
| Đương nhiên việc xóa bỏ sự bất bình đẳng trên qui mô toàn cầu, điều đã kéo dài cả thiên niên kỷ và hiện đang mở rộng ở tầm mức chưa từng có trong hơn 1 thế kỷ nay là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, bằng việc thừa nhận rằng nguyên nhân chính của nghèo đói là do sự thất bại của chính phủ và thể chế, chúng ta có cơ hội để đảo ngược tình thế.
|
| Acemoglu is currently writing a book about his theory of inequality with James Robinson, a Harvard government professor, from which this essay was adapted.
| Acemoglu hiện đang viết một cuốn sách về lý thuyết về bất bình đẳng cùng với James Robinson, một giáo sư Harvard về chính phủ học. Bài viết này được rút ra từ cuốn sách đó. |
|
| [1] Daron Acemoglu, What Makes a Nation Rich? One Economist's Big Answer, Esquire, November 18, 2009.
[2] Huy chương John Bates Clark là giải thưởng danh giá nhất do Hiệp hội Kinh tế Mỹ trao 2 năm một lần cho những nhà kinh tế tuổi dưới 40, có những đóng góp có ý nghĩa cho kiến thức kinh tế (ND).
[3] Có thể tham khảo một quyển sách của Jared Diamond đã được dịch ra tiếng Việt: Súng, vi trùng và thép: định mệnh của các xã hội loài người. Hà Nội, NXB Tri thức, 2007 (ND).
|
|
| Translated by ???
|
| http://www.esquire.com/features/best-and-brightest-2009/world-poverty-map-1209?click=main_sr | |
|
|
|
Infighting and Unrest in China Opportunities for Canadian Values Đấu đá nội bộ và bất ổn ở Trung Quốc – cơ hội cho các giá trị Canada

|
|
|
| Infighting and Unrest in China Opportunities for Canadian Values | Đấu đá nội bộ và bất ổn ở Trung Quốc – cơ hội cho các giá trị Canada
|
| by Matthew Little | Matthew Little |
|
| 23-2-2012
|
| It’s impossible to know if Prime Minister Stephen Harper really knows exactly what he came face to face with on his recent trip to China.
| Không thể nào biết được liệu Thủ tướng Stephen Harper có thực sự biết rõ mình sẽ phải đương đầu với cái gì trong chuyến thăm Trung Quốc gần đây của ông hay không.
|
| Questions to the PMO about whether Harper knew the bloody dealings of one character he met with, or the current chaos that began to engulf the Chinese Communist Party during his time there, were met with refusals to comment on the internal politics of the Chinese regime.
| Đã nảy sinh những câu hỏi dành cho Thủ tướng về việc ông có hay không biết đến những mối quan hệ đẫm máu của một nhân vật mà ông sẽ gặp, hay những bất ổn đang bắt đầu nhấn chìm Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời gian ông ở đó. Đáp lại các câu hỏi này, chỉ là lời từ chối bình luận về tình hình chính trị nội bộ của chính quyền Trung Quốc.
|
| Nor would the PMO confirm whether Harper was aware of increased unrest in the country.
| Thủ tướng cũng không xác nhận là ông có biết về những vụ bất ổn ngày càng gia tăng ở Trung Quốc hay không.
|
| Corruption is so widespread among senior provincial leaders that political considerations are the prime means to identify targets for investigation.
— WikiLeaks cable
| Tham nhũng phổ biến rộng rãi giữa các nhà lãnh đạo cấp cao tỉnh tới mức mà các cân nhắc chính trị là những phương tiện chính để xác định mục tiêu điều tra. - WikiLeaks |
| U.S. Ambassador Gary Locke recently described China’s situation as “very, very delicate,” during an interview with NPR.
| Gần đây Đại sứ Mỹ Gary Locke đã mô tả tình hình ở Trung Quốc là “rất, rất nhạy cảm”, trong một cuộc trả lời phỏng vấn của NPR. |
| “I do believe that there is a power of the people, and there is a growing frustration among the people over the operations of government, corruption, lack of transparency, and issues that affect the Chinese people on a daily basis that they feel are being neglected,” said Locke in the January interview.
| “Tôi tin rằng có một sức mạnh nào đó từ nhân dân, và có sự bất mãn dâng tràn trong nhân dân về hoạt động của chính phủ, về tham nhũng, sự thiếu minh bạch, và về các vấn đề gây ảnh hưởng hàng ngày tới nhân dân Trung Hoa, mà người dân cho là những vấn đề đó đang bị lãng quên” – ông Locke nói trong cuộc trả lời phỏng vấn hồi tháng giêng.
|
| China currently sees 500 such mass protests a day, or some 180,000 a year according to Niu Wenyuan, a member of the National Chinese People’s Political Consultative Committee.
| Hiện tại, mỗi ngày Trung Quốc chứng kiến tới 500 cuộc biểu tình quy mô lớn như thế, tức khoảng 180.000 cuộc mỗi năm, theo Niu Wenyuan, thành viên Ủy ban Cố vấn Chính trị Quốc dân Trung Hoa. |
| “This phenomenon indicates that today public order is easily upset, and the psychology of the masses can quickly become unbalanced,” Niu said in a speech to fellow party cadres during the inaugural ceremony of the tenth Guangzhou Municipal Meeting on Feb. 8, reported on by New Express Daily.
| “Hiện tượng này cho thấy rằng trật tự công cộng ngày nay thật dễ bị đảo lộn, và tâm lý của đám đông có thể nhanh chóng rơi vào tình trạng mất cân bằng” – ông Niu nói trong một bài diễn văn trước các cán bộ trong đảng, tại lễ khai mạc Hội nghị Đô thị Quảng Châu lần thứ 10, hôm 8-2, theo tin do tờ New Express Daily đưa.
|
| But such issues seem tangential to the current Canada-China priority list.
| Nhưng những vấn đề đó dường như ở rất xa danh sách các vấn đề cần ưu tiên giữa Canada và Trung Quốc hiện nay.
|
| International Trade Minister Ed Fast spent part of Tuesday boasting about the government’s wins during its recent trade delegation to China, but implicitly acknowledged troubles in the Middle Kingdom.
| Bộ trưởng Thương mại Quốc tế Ed Fast dành một phần thời gian hôm thứ ba (21-2) tán dương những thành tích phái đoàn thương mại sang thăm Trung Quốc gần đây đạt được, nhưng ngấm ngầm thừa nhận những vấn đề tồn đọng ở Trung Quốc. |
| Speaking in Vancouver, Fast highlighted agreements that should both bolster exports and increase dialogue, and “take the Canada-China trade and economic relationship to the next level.”
| Phát biểu tại Vancouver, Fast nhấn mạnh những thỏa thuận sẽ làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng cường đối thoại và “đưa quan hệ kinh tế và thương mại Canada-Trung Quốc lên một tầm cao mới”.
|
| Hammering out a Foreign Investment Promotion and Protection Agreement (FIPA) between Canada and China was the big score if it keeps Canadian businesses out of the opaque corruption of the Chinese courts. Businesses in Taiwan know that better than anyone, with support groups dedicated to devastated businessmen who lost their shirts in joint ventures with Chinese firms.
| Hình thành được một Hiệp định Bảo vệ và Xúc tiến Đầu tư Nước ngoài (FIPA) giữa Canada và Trung Quốc đã là ghi được điểm cao nếu như hiệp định có thể bảo vệ các doanh nghiệp Canada trước nạn tham nhũng đen tối trong hệ thống tòa án Trung Quốc. Giới doanh nhân ở Đài Loan biết điều đó rõ hơn ai hết, với việc các tập đoàn của Đài Loan phải hỗ trợ cho những doanh nhân bị trắng tay trong những liên doanh với công ty Trung Quốc.
|
| Taiwan is now working on a new Cross-Strait Investment Protection Agreement which appears stuck on how to create an arbitration mechanism to handle disputes. Some in Taiwan oppose the agreement on the grounds it will give Taiwanese businesses a false sense of security and jeopardize larger corporations. Up till now, Chinese courts have been almost completely indifferent to hearing cases from jilted Taiwanese business people.
| Hiện nay Đài Loan đang triển khai một hiệp định mới – Hiệp định Bảo vệ Đầu tư Xuyên eo biển – mà có vẻ như đang bị tắc ở khâu làm sao tạo ra một cơ chế trọng tài để giải quyết tranh chấp. Một số người Đài Loan phản đối thỏa thuận này, với lý do nó sẽ tạo cho doanh nhân Đài Loan cảm giác an toàn giả mạo và gây nguy hại cho những tập đoàn lớn. Cho đến tận bây giờ, hệ thống tòa án Trung Quốc vẫn gần như thờ ơ hoàn toàn với các vụ việc do những doanh nhân Đài Loan bị thiệt hại nêu ra.
|
| Wednesday’s statement about Fast’s Vancouver trip says Canada’s agreement with the Chinese regime will provide “a more stable and secure environment for investors on both sides of the Pacific.”
| Tuyên bố hôm thứ tư (22-2) về chuyến đi của Fast nói rằng hiệp định của Canada ký với chính quyền Trung Quốc sẽ mang lại “một môi trường ổn định và an toàn hơn cho các nhà đầu tư ở hai bên bờ Thái Bình Dương”.
|
| But there is an interesting contradiction between the FIPA and another agreement that promises to increase discussion on Canada-China law enforcement and judicial cooperation.
| Nhưng tồn tại một mâu thuẫn thú vị giữa FIPA và một hiệp định khác – hiệp định này hứa hẹn tăng cường thảo luận về thực thi pháp luật và hợp tác về pháp lý giữa Canada và Trung Quốc.
|
| On the one hand, the FIPA’s value is that it gets Canadian business disputes in China away from Chinese courts and into arbitration where there is a chance of a fair hearing. That implicit acknowledgement of the regime’s corrupt judiciary would raise questions about any plan to cooperate with it.
| Mặt khác, giá trị của FIPA là ở chỗ nó đưa các tranh chấp của doanh nhân Canada thoát khỏi hệ thống tòa án ở Trung Quốc, và chuyển tranh chấp đó về cơ quan trọng tài, nơi mà doanh nhân Canada có cơ hội được điều trần công bằng, bình đẳng. Việc ngầm thừa nhận sự tha hóa của tòa án Trung Quốc như thế khiến người ta nghi vấn về bất kỳ dự định hợp tác nào với hệ thống đó.
|
| Increasing Dialogue
A statement released Feb. 9, while Harper was in China, announced details of a plan to increase dialogue and exchanges in the field of governance, including legal, judicial, and law enforcement cooperation, rule of law, and human rights.
| Tăng cường đối thoại
Một tuyên bố đưa ra hôm 9-2, khi ông Harper đang ở Trung Quốc, nêu rõ các chi tiết của một kế hoạch nhằm tăng cường đối thoại và trao đổi trong lĩnh vực quản lý-điều hành, bao gồm cả hợp tác về pháp lý, tư pháp, hành pháp, nhà nước pháp quyền và nhân quyền.
|
| While there are few tangibles on the human rights aspect, the statement reaffirms Canada’s commitment to cooperate with China’s Public Security apparatus, including repatriating fugitives and facilitating cooperation between the RCMP and the Chinese Ministry of Public Security.
| Trong khi hầu như không có gì rõ ràng ở khía cạnh nhân quyền, thì tuyên bố lại tái khẳng định cam kết của Canada là sẽ hợp tác với bộ máy an ninh của Trung Quốc, trong đó có việc hồi hương người tị nạn và thúc đẩy hợp tác giữa cảnh sát Canada (RCMP) và Bộ Công an Trung Quốc.
|
| But the Ministry of Public Security in China is dramatically different from that in Canada.
| Nhưng Bộ Công an Trung Quốc khác biệt một cách sâu sắc với cơ quan đồng nhiệm ở Canada.
|
| A case in point is Chongqing, the city-province where the PM finished his China trip by meeting the ruling Party Secretary there, Bo Xilai.
| Một ví dụ là thành phố Trùng Khánh – điểm dừng chân cuối của Thủ tướng Canada trong chuyến thăm Trung Quốc. Tại đây ông Harper gặp Bí thư Tỉnh ủy địa phương Bạc Hy Lai (Bo Xilai).
|
| Bo’s crackdown on organized crime in Chongqing managed to take out his main political opponents and abscond with the assets of successful businesses.
| Chiến dịch trấn áp tội phạm có tổ chức mà Bạc phát động ở Trùng Khánh đã giải quyết hết các đối thủ chính trị chính của ông ta và lấy đi tài sản của các doanh nhân thành đạt.
|
| U.S. diplomatic cables published by WikiLeaks note that such activities are the norm rather than the exception.
| Điện tín ngoại giao của Mỹ, bị WikiLeaks cho rò rỉ, ghi rằng những hoạt động như thế lại là bình thường chứ không phải bất thường.
|
| “Corruption is so widespread among senior provincial leaders that political considerations are the prime means to identify targets for investigation,” notes a source in the cable, summarizing the popular view among contacts who informed the Guangzhou U.S. Consulate May 2009.
| “Tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của tỉnh, đến nỗi chính trị là công cụ chủ yếu để xác định các mục tiêu cần điều tra” – một nguồn trong điện tín nêu rõ. Nguồn này khái quát hóa một quan điểm phổ biến trong những người đã cung cấp thông tin cho lãnh sự quán Mỹ ở Quảng Châu vào tháng 5-2009.
|
| A 2007 cable from the Shanghai consulate notes that Chinese Communist Party cadres, particularly in the provinces, “live in constant fear that they will be targeted by people who have been harmed by their policies, by underlings looking for greater head room, or by superiors who see them as a potential threat to their power.”
| Một điện tín vào năm 2007, từ lãnh sự quán Mỹ ở Thượng Hải, nói rằng cán bộ Đảng Cộng sản, đặc biệt ở các địa phương, “sống trong nỗi sợ triền miên rằng họ sẽ trở thành mục tiêu xử lý của nhân dân – những người đã bị thiệt hại vì các chính sách, vì những công chức cấp thấp muốn leo lên cao hơn, vì những quan chức cấp cao vốn coi dân như mối đe dọa tiềm tàng cho quyền lực của mình”.
|
| Such is the state of judicial proceedings in China today. At the moment, the line between justice and political infighting is particularly thin.
| Đó là tình trạng của quy trình pháp lý ở Trung Quốc ngày nay. Hiện tại, ranh giới giữa công lý và đấu đá chính trị trong nội bộ đặc biệt mong manh.
|
| While Bo and his former right hand man Wang Lijun, who headed the Chongqing Public Security Bureau, used their provincial powers to target one faction within the party, a higher ranked official, He Guoqiang, is now using the Central Commission for Discipline Inspection (CCDI), the top entity, to go after corrupt officials including Bo himself.
| Trong khi Bạc Hy Lai và Vương Lập Quân (Wang Lijun) – trước kia vốn là cánh tay phải của Bạc và là người đứng đầu Sở Công an Trùng Khánh – sử dụng quyền lực ở địa phương để đánh một phe cánh khác trong đảng, thì một vị quan chức cấp cao hơn – Hà Quốc Cường (He Guoqiang) – lại đang sử dụng Ủy ban Trung ương về Thanh tra Kỷ luật (CCDI), cơ quan cao nhất, để truy tìm quan chức tham nhũng, trong số đó có chính bản thân ông Bạc.
|
| Meanwhile Bo’s ally, Zhou Yongkang, is reportedly using the arguably more powerful Political and Legislative Affairs Committee to shelter Bo.
| Có tin cho rằng đồng minh của ông Bạc là Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) thì đang dùng một cơ quan được cho là hùng mạnh hơn – Ủy ban Pháp luật và Chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc – để che đỡ cho Bạc.
|
| It’s the kind of mess Canada needs to be acutely sensitive to in any dealings with China today, especially as party infighting reaches levels unseen in a generation.
| Đấy là một sự hỗn loạn mà Canada cần nhạy cảm nắm bắt trong bất kỳ giao dịch, vụ việc nào với Trung Quốc hiện nay, đặc biệt là khi mà đấu đá trong nội bộ đảng đã đạt tới mức độ không thể nhận ra được trong suốt một thế hệ.
|
|
|
|
| Dealing with the Chinese regime today is more complicated than ever, as power struggles lack clear frontrunners and picking sides means choosing among factions associated with various human rights atrocities and criminal activity.
| Quan hệ với chính quyền Trung Quốc ngày nay phức tạp hơn bao giờ hết, bởi lẽ các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực đều không có những gương mặt triển vọng rõ ràng, và chọn đứng về phe nào đó có nghĩa là lựa chọn giữa những phe cánh đều có liên quan đến hoạt động tội ác và vi phạm tàn tệ nhân quyền.
|
| Interestingly, the regime is ever more sensitive about criticism for its crimes. Attacking the wrongdoing of political opponents is the cornerstone of Party infighting, with factions trying to publicize dirt and launch investigations of their opponents’ crimes. But the criticism of outside voices also plays a major role.
| Điều thú vị là, chính quyền lại nhạy cảm hơn bao giờ hết đối với những lời phê phán nhằm vào tội ác của họ. Tấn công vào cái sai của các đối thủ chính trị là điểm cốt lõi trong những vụ đấu đá nội bộ đảng, với việc các phe cánh cố sức phanh phui cái xấu của nhau và tổ chức điều tra tội lỗi của đối thủ. Tuy vậy, những phê phán xuất phát từ các tiếng nói bên ngoài đảng vẫn đóng vai trò chính.
|
| Bo was demoted to Party Secretary of Chongqing rather than promoted to Vice Premier of the regime during the last National Congress in China in 2007 exactly because he had attracted international lawsuits for persecuting Falun Gong, according to a 2007 diplomatic cable released by WikiLeaks from the U.S. consulate general in Shanghai.
| Theo một điện tín ngoại giao của tổng lãnh sự quán Mỹ ở Thượng Hải, do WikiLeaks tung ra, thì đợt họp Quốc hội Trung Quốc năm 2007, Bạc Hy Lai bị giáng chức xuống làm bí thư Trùng Khánh, thay vì được thăng lên chức Phó Thủ tướng, chính xác là do ông ta đã gây ra nhiều khiếu nại từ cộng đồng quốc tế, liên quan đến hành động ngược đãi tín đồ Pháp Luân Công.
|
| With Canada looking to make trade with China a larger factor in the national economy, now might be a better time than ever to openly push for reforms that help both business and the Chinese people.
| Với việc Canada tìm cách đưa kim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc lên một tỷ lệ lớn hơn trong nền kinh tế quốc dân, thì bây giờ là thời điểm tốt hơn bao giờ hết để công khai thúc đẩy cải cách – những cuộc cải cách sẽ có ích cả với doanh nghiệp lẫn người dân Trung Quốc. |
|
|
|
|
| Translated by Thủy Trúc |
| http://www.theepochtimes.com/n2/canada/infighting-and-unrest-in-china-opportunities-for-canadian-values-195029.html
| |
|
|
|