| Remembering Deng in our era of crony compitalism
| Nhớ Đặng Tiểu Bình trong kỷ nguyên Chủ nghĩa Cộng bản thân hữu
|
| Minxin Pei
| 23-01-2012
|
| In most societies, dating the start of reform is easy, but pinning down its demise is not. Such appears to be the case with post-Mao China. Few would dispute that reform began in 1978 when Deng Xiaoping returned to power. Fewer still would disagree that reform was re-energised 20 years ago when Deng, alarmed by the prospect of economic stagnation and regime collapse, made his historic tour of southern China and forced the Chinese Communist party to liberalise the economy and embrace capitalism unabashedly.
| Trong hầu hết các xã hội, xác định thời điểm khởi động tiến trình cải cách thì dễ, nhưng làm rõ sự kết thúc của nó thì không. Hiện tượng này có thể thấy trong trường hợp Trung Quốc – thời kỳ hậu Mao Trạch Đông. Một số người vẫn khẳng định cuộc cải cách này bắt đầu từ năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền. Một số ít hơn không đồng tình, cho rằng công cuộc cải cách được tái khởi động cách đây 20 năm, khi Đặng, nhận thức được tình hình cấp bách trước viễn cảnh kinh tế đình đốn và sự tồn vong của chế độ, đã thực hiện chuyến đi lịch sử xuống miền Nam Trung Quốc và thúc đẩy Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) giải phóng nền kinh tế, háo hức đón nhận, học hỏi chủ nghĩa tư bản không chút ngần ngại.
|
| As China marks the 20th anniversary of Deng’s history-changing tour, the most ironic fact – and perhaps China’s worst-kept secret – is that pro-market economic reform in China has been dead for some time.
| Khi Trung Quốc đánh dấu kỷ niệm 20 năm chuyến đi làm thay đổi lịch sử của Đặng Tiểu Bình, điều mỉa mai nhất – và có lẽ là điều bí mật tồi tệ nhất của Trung Quốc – cải cách theo hướng cổ vũ kinh tế thị trường tại Trung Quốc đã biến mất từ lúc nào rồi.
|
| Evidence of the demise of economic reform is easy to spot. The Chinese state has reasserted its control over the economy. Big state-owned enterprises dominate nearly all the critical sectors, such as banking, finance, transport, energy, natural resources and heavy industry. The private sector, a victim of persistent official discrimination, is in full retreat. Critical prices, such as interest rates and land, are officially controlled and severely distorted. Foreign businesses, once welcomed with open arms, are getting squeezed with protectionist measures. The overall orientation of the Chinese economy has veered so much off the reformist path that foreign business leaders who have long been supportive of China are now voicing their bitter disappointments, some publicly. China’s main western trading partners do not need to read scholarly analysis to know that there is no pulse in its reform. All they need to do is to listen to their business community, check their trade statistics with China, and take a look at Chinese economic policy.
| Rất dễ nhận ra dấu hiệu cái chết của cải cách kinh tế này. Nhà nước Trung Quốc đã tái khẳng định sự kiểm soát đối với nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước lớn thống trị gần như toàn bộ các lĩnh vực then chốt, như ngân hàng, tài chính, vận tải, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp nặng. Khu vực tư nhân, nạn nhân của tình trạng phân biệt đối xử chính thức và triền miên, hiện phải tháo lui hoàn toàn. Những giá cả trọng yếu, như lãi suất và giá đất, được chính thức kiểm soát và bị làm méo mó trầm trọng. Các doanh nghiệp nước ngoài, đã có thời được chào đón với vòng tay rộng mở, nay đang bị siết chặt bởi những biện pháp mang tính bảo hộ. Định hướng toàn diện của nền kinh tế đã đổi chiều, lệch rất xa khỏi con đường cải cách mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nước ngoài, những người từng có thời gian dài ủng hộ Trung Quốc, nay đang bày tỏ nỗi thất vọng cay đắng, có một số người thậm chí lên tiếng công khai. Những đối tác thương mại phương Tây chủ yếu của Trung Quốc không cần đọc những phân tích học thuật để biết nhịp đập cải cách không còn. Tất cả những gì họ cần là [nhà nước Trung Quốc] nên lắng nghe cộng đồng kinh doanh của họ, rà soát lại số liệu thống kê thương mại của họ với Trung Quốc, và xem lại chính sách kinh tế quốc gia.
|
| Dating the demise of Chinese reform is perhaps impossible, mainly because no single event in the past two decades marked its passing. It suffered the death by a thousand cuts – small but consequential steps taken by Beijing that have gradually reversed the direction of the Chinese economy. In all likelihood, China’s reform died in the last decade, following the country’s entry into the World Trade Organisation (so much for the prognostication that WTO accession would spur reform). Because of its powerful investment-driven growth momentum, China has managed to keep economic growth high in spite of the lack of reform for a decade. Of course, the country has paid a huge price, such as huge structural imbalances, chronic inefficiency and poor sustainability.
| Xác định thời gian xảy ra cái chết của tiến trình cải cách tại Trung Quốc có lẽ là điều không thể, chủ yếu vì trong hai thập niên qua không hề có bất kỳ sự kiện nào ghi dấu ấn về việc này. Tiến trình cải cách phải chịu một cái chết bởi cả ngàn nhát chém – tuy nhỏ nhưng là những bước đi quan trọng của Bắc Kinh, dần dần đảo ngược chiều hướng của nền kinh tế Trung Quốc. Rất có thể, cuộc cải cách của Trung Quốc đã chấm dứt trong thập niên vừa qua, theo sau việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (dù rất nhiều dấu hiệu báo trước cho thấy việc gia nhập WTO sẽ làm tăng tốc cải cách). Vì đang trên đà tăng trưởng mạnh chủ yếu do đầu tư, Trung Quốc đã tìm cách giữ được mức tăng trưởng cao bất chấp sự thiếu vắng cải cách cả một thập niên. Tất nhiên, Trung Quốc đã trả một cái giá rất đắt, biểu hiện qua những sự mất cân đối cấu trúc lớn, thường xuyên thiếu hiệu quả và kém bền vững.
|
| One may be tempted to blame leadership failure for the premature demise of China’s reform. While this is certainly a cause, a far more critical factor is more responsible: the CCP’s political objective of reform is fundamentally incompatible with a market economy.
| Người ta có thể bị thuyết phục về việc đổ lỗi cho sự thất bại của giới lãnh đạo đã gây ra cái chết yểu cho công cuộc cải cách. Trong khi tất nhiên đây cũng là một nguyên nhân, có một yếu tố quan trọng hơn rất nhiều phải chịu trách nhiệm về việc này: mục đích chính trị của công cuộc cải cách do ĐCSTQ đề ra, về cơ bản không tương hợp với nền kinh tế thị trường.
|
| No one understood why China needed to reform its economy better than Deng himself. In 1992, as in 1978, He knew that only market-oriented reforms could save the CCP. Although Deng was sure about the political objective of his reforms, he never explicitly endorsed a capitalist market economy as the end goal. Here lies the fundamental flaw of China’s reform project: as long as pro-market reforms are used as a means to preserve the political monopoly of the CCP, such reforms are doomed to fail.
| Không ai có thể hiểu vì sao Trung Quốc cần phải cải cách nền kinh tế hơn chính bản thân Đặng Tiểu Bình. Vào năm 1992, cũng như hồi năm 1978, Đặng biết rằng chỉ có cải cách theo hướng thị trường mới có thể cứu nguy cho ĐCSTQ. Mặc dù Đặng nắm rõ mục đích chính trị đối với những cải cách của mình, nhưng ông không bao giờ xác nhận dứt khoát nền kinh tế thị trường theo tư bản chủ nghĩa là mục tiêu cuối cùng. Đây chính là khuyết tật chủ yếu của công cuộc cải cách Trung Quốc: chừng nào những cải cách theo hướng thị trường còn được sử dụng như phương tiện nhằm bảo vệ sự độc quyền chính trị của ĐCSTQ, các cuộc cải cách như vậy tất yếu rơi vào thất bại.
|
| First, since reform is crisis-driven, its achievements are bound to, paradoxically, reduce the pressure for continuing the reform. The moment the CCP’s rule is more secure due to improved economic performance, its ruling elites would lose incentives for further reform. That is why during the previous decade we observed the phenomenon of growth without reform.
| Thứ nhất, từ khi cuộc cải cách bị tác động mạnh bởi tình hình khủng hoảng, thật nghịch lý, những thành tựu đạt được chắc chắn làm giảm áp lực phải tiếp tục cải cách. Vào lúc sự cầm quyền của ĐCSTQ được đảm bảo hơn do tình hình kinh tế được cải thiện, giới tinh hoa cầm quyền sẽ mất đi động cơ để tiến hành cải cách xa hơn. Đó là lý do tại sao trong suốt thập niên trước đây, chúng ta chứng kiến [tại Trung Quốc] diễn ra hiện tượng tăng trưởng nhưng không có cải cách.
|
| Second, the CCP is no ordinary ruling party. It is a sprawling political patronage system filled with self-interested individuals eager to cash in their political investments. The conversion of political power into economic privileges and profits is far easier in an economy heavily controlled by the state than in a more market-oriented one. As a result, the interests of the ruling elites are in conflict with the imperatives of market reforms. Seen from the opposite angle, this logic illuminates the systemic cause of China’s “crony compitalism” – the marriage of power and wealth is made possible only when a post-communist autocracy is in charge of a half-reformed economy.
| Thứ hai, ĐCSTQ không phải là một chính đảng cầm quyền bình thường. Đó là một hệ thống bảo trợ chính trị trải rộng khắp nơi, gồm những người chỉ biết lợi ích cá nhân, hăm hở trục lợi từ những cuộc đầu tư chính trị. Trong một nền kinh tế bị nhà nước chi phối nặng nề, việc biến quyền lực chính trị thành lợi ích và đặc quyền kinh tế dễ dàng hơn nhiều so với nền kinh tế theo hướng thị trường. Vì vậy, lợi ích của giới tinh hoa cầm quyền xung đột với những đòi hỏi của cải cách theo hướng thị trường. Nhìn từ góc độ ngược lại, lôgic này đã làm sáng tỏ căn nguyên mang tính hệ thống của hiện tượng “chủ nghĩa cộng sản tư bản thân hữu” (crony compitalism) tại Trung Quốc – cuộc hôn phối giữa quyền lực và sự giàu có, hiện tượng này phát sinh chỉ khi một thể chế chuyên quyền hậu cộng sản đảm đương lèo lái một nền kinh tế được cải cách nửa vời.
|
| Since reform is no more, one has to wonder why Beijing bothers to commemorate Deng’s southern tour at all.
| Vì cải cách không còn hiện diện, nên người ta phải lấy làm lạ tại sao những người anh em đồng chí tại Bắc Kinh tại tổ chức kỷ niệm chuyến đi miền Nam Trung Quốc của Đặng.
|
| The writer is a professor of government at Claremont McKenna College | Tác giả: ông Minxin Pei là giáo sư môn chính phủ học tại trường Claremont McKenna College. |
|
|
|
|
| Translated by Nguyễn Tâm |
| http://www.ft.com/intl/cms/s/0/98bba018-4386-11e1-adda-00144feab49a.html#axzz1kuQnYKjj | |
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Friday, February 3, 2012
Remembering Deng in our era of crony compitalism Nhớ Đặng Tiểu Bình trong kỷ nguyên Chủ nghĩa Cộng bản thân hữu
The Year of the Dragon: ASEAN's Existential Questions NĂM RỒNG: NHỮNG VẤN NẠN HIỆN TỒN CỦA ASEAN
Thursday, February 2, 2012
Chalk Circle Vòng phấn Cáp-ca-dơ
|
| |
| Chalk Circle
| Vòng phấn Cáp-ca-dơ
|
| Summary
| Tóm tắt cốt chuyện |
| by Bertolt Brecht
| Bertolt Brecht
|
| The Caucasian Chalk Circle begins with a Prologue that deals with a dispute over a valley. Two groups of peasants want to claim a valley that was abandoned during WW II when the Germans invaded. One group used to live in the valley and herded goats there. The other group is from a neighboring valley and hopes to plant fruit trees. A Delegate has been sent to arbitrate the dispute. The fruit growers explain that they have elaborate plans to irrigate the valley and produce a tremendous amount of food. The goat-herders claim the land based on the fact that they have always lived there. In the end, the fruit farmers get the valley because they will use the land better. The peasants then hold a small party and a Singer agrees to tell them the story of the Chalk Circle.
| Vòng phấn Cáp-ca-dơ bắt đầu với một phần mở đầu nói về tranh chấp đát đai ở một một thung lũng. Hai nhóm nông dân muốn có chủ quyền về cái thung lũng đã bị bỏ trong Thế chiến 2, khi Đức xâm lược. Một nhóm được trước đây sống trong thung lũng và chăn dê ở đó. Nhóm kia ở thung lũng kế cận và mong muốn trồng cây ăn quả. Một đại biểu đã được gửi đi để phân xử vụ tranh chấp. Những người trồng muốn trồng cây ăn trái giải thích rằng họ có kế hoạch xây dựng để tưới tiêu cho các thung lũng và sản xuất một lượng lớn thực phẩm. Những người chăn nuôi yêu sách chủ quyền đất dựa trên thực tế là họ đã luôn luôn sống ở đó. Cuối cùng, những người nông dân trồng cây ăn quả có được thung lũng, vì họ sẽ sử dụng đất tốt hơn. Những người nông dân sau đó tổ chức một bữa tiệc nhỏ và một ca sĩ đồng ý kể cho họ nghe câu chuyện Vòng phấn.
|
| The Caucasian Chalk Circle is actually two stories that come together at the end. The first story is that of Grusha and the second story is that of Azdak. Both stories begin in a Caucasian City ruled by a Governor, who serves a Grand Duke. The Governor has just had a child, Michael, and his wife Natella is incredibly jealous of the attention that he gives to his son. The Governor's brother, the Fat Prince, stages an insurrection on Easter Sunday. He kills the Governor and forces the Governor's wife to flee. In her haste, she leaves behind her child. The Grand Duke and many of the soldiers flee as well.
| Vòng phấn Cáp-ca-dơ thực sự là hai câu chuyện đan kết với nhau ở phần kết. Câu chuyện đầu tiên là của Grusha và câu chuyện thứ hai là của Azdak. Cả hai câu chuyện bắt đầu trong một thành phố ở Cáp-ca-dơ được cai trị bởi một Thống đốc, dưới quyền một Đại Công tước. Thống đốc có một đứa con, Michael, và Natella, vợ ông vô cùng ghen tị với sự quan tâm mà ông dành cho con trai mình. Anh trai của Thống đốc, Prince Fat, dấy lên một cuộc nổi loạn vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Y giết chết Thống đốc và buộc vợ Thống đốc chạy trốn. Trong lúc vội vàng, bà để lại đứa con của mình. Đại Công tước và nhiều binh sĩ của ông cũng bỏ chạy.
|
| Grusha, a kitchen maid, becomes engaged to a soldier named Simon. Soon thereafter, during the coup, she has Michael handed to her. She hides the child from the Fat Prince and his soldiers, thereby saving the child's life. She then takes Michael with her and flees the city, heading north. After spending most of her money and risking her life for the child, she arrives at her brother's house. He allows her to live there over the winter.
| Grusha, một cô giúp việc nhà bếp, đã hứa hôn với một người lính tên là Simon. Ngay sau đó, trong cuộc nổi loạn, người ta giao Michael cho cô. Cô giấu đứa bé không cho Prince Fat và binh lính của ông biết, do đó cứu sống được đứa trẻ. Sau đó, cô mang Michael theo mình và trốn chạy khỏi thành phố, đi về phía Bắc. Sau khi tiêu hết phần lớn số tiền dành dụm của mình và mạo hiểm mạng sống cho đứa trẻ, cô đến nhà anh trai cô. Anh ấy cho phép cô ở lại qua mùa đông.
|
| When spring arrives, Grusha's brother forces her to marry a "dying" man from across the mountain. They hold a wedding, but during the reception the guests learn that the war is over and that the Grand Duke has raised an army and returned. The "dying" man, Jussup, realizes that he can no longer be drafted into the war. He miraculously recovers and throws all the guests out of the house. Grusha, now stuck with a husband she did not want, is forced to become a good wife to him.
| Khi mùa xuân đến, anh trai của Grusha ép cô kết hôn với một người đàn ông "đang hấp hối" ở bên kia núi. Họ tổ chức đám cưới, nhưng trong tiệc cưới khách khứa biết rằng chiến tranh đã kết thúc và Đại Công tước đã huy động một đội quân và đang quay trở lại. Người đàn ông "đang hấp hối", Jussup, nhận ra rằng ông không còn có thể bị gọi đi lính nữa. Ông phục hồi một cách kỳ diệu và đuổi tất cả các khách ra khỏi nhà. Grusha, bây giờ bị mắc kẹt với một người chồng cô không muốn lấy, buộc phải trở thành một người vợ tốt của anh ta.
|
| One day Simon returns and learns that she is married. He is even more upset when he sees Michael, whom he thinks is Grusha's child. Some soldiers soon arrive and take Michael away from her, claiming that Michael belongs to the Governor's wife. Grusha follows them back to the city.
| Một ngày Simon trở về và biết rằng cô đã kết hôn. Anh thậm chí còn khó chịu hơn khi ông nhìn thấy thằng bé Michael, mà anh cho là con của Grusha. Một số binh sĩ đến ngay lập tức và mang Michael đi, tuyên bố rằng Michael thuộc về người vợ của Thống đốc. Grusha theo họ trở lại thành phố.
|
| The next story that is told is that of Azdak. The plot returns to the night of the Fat Prince's insurrection. Azdak finds a fugitive and saves the man's life. The man turns out to be the Grand Duke. Realizing that he could be branded a traitor, Azdak walks into town and reveals that he saved the Grand Duke's life. The soldiers refuse to believe him and he is released. The Fat Prince soon shows up with his nephew, whom he wants to make the new judge. However, he agrees to let the soldiers decide who the next judge should be. After staging a mock trial, they choose Azdak.
| Câu chuyện tiếp theo kể về Azdak. Vào cái đêm Prince Fat nổi loạn. Azdak tìm thấy một kẻ chạy trốn và cứu sống người ấy. Người đàn ông đó hóa ra lại là Đại Công tước. Thấy rằng mình có thể được mang danh kẻ phản bội, Azdak đi vào thành phố và tiết lộ rằng ông đã cứu sống Đại Công tước. Những người lính từ không chịu tin ông và ông được thả ra. Fat Prince xuất hiện tức thì với cháu trai của y, người mà y muốn cho làm quan tòa mới. Tuy nhiên, ông đồng ý để cho những người lính quyết định ai sẽ là quan tòa tiếp theo. Sau khi dàn dựng một phiên tòa giả, họ chọn Azdak.
|
| He then judges four very strange cases, ruling in each case in favor of the poor person. Azdak soon gains a reputation for supporting the poor. However, after two years as a judge, the Grand Duke returns. Azdak is arrested as a "traitor" by the soldiers and is about to be killed by them. However, the Grand Duke, remembering that Azdak saved his life, reappoints Azdak to be the judge, thereby saving his life.
| Sau đó, quan tòa xử bốn vụ án rất kỳ lạ, mà trong mỗi vụ đều phán quyết bênh vực người nghèo. Azdak sớm nổi tiếng về bênh vực người nghèo. Tuy nhiên, sau hai năm Azdak làm quan tòa, Đại Công tước trở về. Azdak bị những người lính bắt giữ như là một "kẻ phản bội" sắp sửa hành hình. Tuy nhiên, Đại Công tước, nhớ rằng Azdak đã cứu mạng mình, lại bổ nhiệm Azdak làm quan tòa, nên đã cứu sống Azdak.
|
| Azdak now takes over the case of Grusha and the child. The Governor's wife wants Michael back because without Michael she cannot take over the former Governor's estates. Grusha wants to keep the child, whom she has raised for the past two years. Even Simon goes to the trial and promises Grusha that he will support her.
| Azdak bây giờ phải xử vụ án Grusha và đứa trẻ. Vợ của Thống đốc muốn Michael trở về với bà bởi vì không có Michael, bà ta không thể kế thừa gia sản của cựu Thống đốc. Grusha lại muốn giữ đứa trẻ, vì cô đã nuôi nấng nó trong hai năm qua. Ngay cả Simon cũng tham gia phiên tòa và hứa với Grusha rằng anh sẽ ủng hộ cô.
|
| After hearing all the arguments and learning about what Grusha has done to take care of the child, Azdak orders a Chalk Circle to be drawn. He places the child in the middle and orders the two women to pull, saying that whichever woman can pull the child out of the circle will get him. The Governor's wife pulls whereas Grusha lets go. Azdak orders them to do it again, and again Grusha lets go. Azdak then gives Michael to Grusha and orders the Governor's wife to leave. He confiscates Michael's estates and makes them into public gardens. His last act is to divorce Grusha, thereby allowing her to marry Simon. During the dancing that follows, Azdak disappears forever. | Sau khi nghe tất cả các tranh luận và tìm hiểu về những gì Grusha đã làm để chăm sóc đứa trẻ, Azdak ra lệnh vẽ một cái vòng tròn bằng phấn. Ông đặt thằng bé ở giữa và ra lệnh cho hai người phụ nữ tranh kéo đứa bé về phía mình, nói rằng người nào có thể kéo đứa bé khỏi vòng tròn sẽ được quyền có nó. Vợ Thống đốc ra sức kéo trong khi Grusha buông tay thả đứa bé. Azdak ra lệnh cho họ làm điều đó một lần nữa, và một lần nữa Grusha lại thả tay đứa bé ra. Azdak sau đó giao Michael cho Grusha và đuổi vợ Thống đốc đi. Ông tịch thu điền sản của Michael xây thành công viên. Hành động cuối cùng của ông là cho Grusha ly dị, do đó cho phép cô kết hôn với Simon. Trong buổi khiêu vũ sau đó, Azdak biến mất mãi mãi.
|
|
| Translated by nguyễn quang |
| Thông điệp của Bertolt Brecht NGƯỜI SỞ HỮU XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI BIẾT YÊU MẾN, TRÂN QUÝ VẬT SỞ HỮU VÀ BIẾT LÀM CHO NÓ TỐT ĐẸP HƠN http://www.gradesaver.com/the-caucasian-chalk-circle/study-guide/short-summary/ | |
Wednesday, February 1, 2012
President Roosevelt’s First Inauguration Address Diễn văn nhậm chức – Tổng thống Roosevelt
|
| |
| President Roosevelt’s First Inauguration Address
| Diễn văn nhậm chức – Tổng thống Roosevelt
|
| President Hoover, Mr. Chief Justice, my friends:
| Thưa Tổng thống Hoover, ngài Chánh án và các bằng hữu:
|
| This is a day of national consecration. And I am certain that on this day my fellow Americans expect that on my induction into the Presidency, I will address them with a candor and a decision which the present situation of our people impels.
| Đây là một ngày thánh hiến quốc gia. Và tôi chắc chắn rằng vào ngày này bạn bè người Mỹ của tôi mong đợi rằng tôi nhậm chức tổng thống, tôi xin nói với mọi người một cách thẳng thắn một quyết định bị thúc ép bởi tình thế hiện nay của nhân dân của chúng ta.
|
| This is preeminently the time to speak the truth, the whole truth, frankly and boldly. Nor need we shrink from honestly facing conditions in our country today. This great Nation will endure, as it has endured, will revive and will prosper.
| Đây là thời điểm cần thiết nói lên sự thật nhất, toàn bộ sự thật, một cách thẳng thắn và mạnh dạn. Chúng ta cũng không cần lưỡng lự về việc đối diện một cách trung thực với các điều kiện ở nước ta hiện nay. Quốc gia tuyệt vời này sẽ chịu đựng, như nó đã phải chịu đựng, sẽ hồi sinh và sẽ phát triển thịnh vượng.
|
| So, first of all, let me assert my firm belief that the only thing we have to fear is fear itself — nameless, unreasoning, unjustified terror which paralyzes needed efforts to convert retreat into advance.
| Vì vậy, trước hết, hãy để tôi khẳng định niềm tin vững chắc của tôi rằng điều duy nhất chúng ta phải sợ hãi chính là sự sợ hãi – sự sợ hãi không tên, phi lý, không chính đáng, đang làm tê liệt những nỗ lực cần thiết để chuyển sự rút lui thành tiến lên.
|
| In every dark hour of our national life, a leadership of frankness and of vigor has met with that understanding and support of the people themselves which is essential to victory. And I am convinced that you will again give that support to leadership in these critical days.
| Trong mỗi giờ phút đen tối của vận mệnh đất nước ta, người lãnh đạo một cách thẳng thắn và hăng hái đã nhận được niềm thông hiểu và sự hỗ trợ của chính nhân dân, điều thiết yếu cho chiến thắng. Và tôi tin chắc rằng các bạn một lần nữa sẽ dành cho người lãnh đạo sự hỗ trợ đó trong những ngày rất quan trọng này.
|
| In such a spirit on my part and on yours we face our common difficulties. They concern, thank God, only material things. Values have shrunk to fantastic levels; taxes have risen; our ability to pay has fallen; government of all kinds is faced by serious curtailment of income; the means of exchange are frozen in the currents of trade; the withered leaves of industrial enterprise lie on every side; farmers find no markets for their produce; and the savings of many years in thousands of families are gone.
| Trong tinh thần đó cả về phía tôi và ở phía các bạn, chúng ta sẽ đối mặt với khó khăn chung của mình. Cảm ơn Chúa, đó chỉ là những điều vật chất. Các giá trị đã bị suy giảm đến mức ngoài sức tưởng tượng, thuế đã tăng; khả năng thanh toán của chúng ta đã giảm; mọi cơ quan chính phủ đang phải đối mặt với sự cắt giảm thu nhập nghiêm trọng; trong các hoạt động thương mại, các phương tiện thanh toán đã đóng băng; những lớp lá úa của các doanh nghiệp sản xuất nằm ở mọi hướng; nông dân không tìm được thị trường cho sản phẩm của mình; và các khoản tiết kiệm nhiều năm của hàng ngàn gia đình đã cạn kiệt.
|
| More important, a host of unemployed citizens face the grim problem of existence, and an equally great number toil with little return. Only a foolish optimist can deny the dark realities of the moment.
| Quan trọng hơn nữa, một lượng lớn người dân thất nghiệp đang phải đối mặt với sự nghiệt ngã để tồn tại, và một số lượng lớn không kém đang lao động cực nhọc với đồng lương ít ỏi. Chỉ có một kẻ lạc quan ngu ngốc có thể phủ nhận những thực tế đen tối của thời điểm này.
|
| And yet our distress comes from no failure of substance. We are stricken by no plague of locusts. Compared with the perils which our forefathers conquered, because they believed and were not afraid, we have still much to be thankful for. Nature still offers her bounty and human efforts have multiplied it. Plenty is at our doorstep, but a generous use of it languishes in the very sight of the supply.
| Thế nhưng sự đau khổ của chúng ta không phải từ những thất bại thật sự. Chúng ta không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh châu chấu. So với những hiểm họa mà tổ tiên của chúng ta chinh phục, nhờ họ tin tưởng và không sợ hãi, chúng ta vẫn còn nhiều điều để cám ơn. Thiên nhiên vẫn hào phóng ban phát và nỗ lực của con người đã nhân sự hào phóng đó lên. Sự sung túc đang ở ngưỡng cửa của chúng ta, nhưng sự sử dụng sung túc này một cách bao dung đang quằn quại với hình ảnh của hệ thống phân phát.
|
| Primarily, this is because the rulers of the exchange of mankind’s goods have failed, through their own stubbornness and their own incompetence, have admitted their failure, and have abdicated. Practices of the unscrupulous money changers stand indicted in the court of public opinion, rejected by the hearts and minds of men.
| Căn bản, đó là vì những đầu nậu về việc trao đổi hàng hóa của nhân loại đã thất bại, do sự ngoan cố và thiếu năng lực của chính họ, đã thừa nhận thất bại của họ, và đã thoái vị. Việc làm của những kẻ đổi tiền vô lương tâm đang đứng trước sự truy cứu của tòa án công luận, bị tâm và trí của con người chối bỏ.
|
| True, they have tried, but their efforts have been cast in the pattern of an outworn tradition. Faced by failure of credit, they have proposed only the lending of more money.
| Thật ra, họ đã cố gắng. Nhưng nỗ lực của họ đã bị đóng khung trong các mô hình của một truyền thống lỗi thời. Đối diện với sự thất bại của hệ thống tín dụng, họ chỉ biết đề xuất để vay nhiều hơn.
|
| Stripped of the lure of profit by which to induce our people to follow their false leadership, they have resorted to exhortations, pleading tearfully for restored confidence. They only know the rules of a generation of self-seekers.
| Bị mất hẳn sự quyến rũ của lợi nhuận mà họ đã dùng để xui khiến nhân dân ta đi theo sự lãnh đạo sai lầm của họ, họ dùng đến những lời hô hào, khóc lóc cầu xin khôi phục sự tin tưởng. Họ chỉ biết các quy tắc của thế hệ những người tự tư tự lợi.
|
| They have no vision, and when there is no vision the people perish.
| Họ không có tầm nhìn, và khi không có tầm nhìn, con người ta bị hỏng.
|
| Yes, the money changers have fled from their high seats in the temple of our civilization. We may now restore that temple to the ancient truths. The measure of that restoration lies in the extent to which we apply social values more noble than mere monetary profit.
| Vâng, những kẻ đổi tiền đã chạy trốn khỏi ngai cao của họ trong đền thờ của nền văn minh chúng ta. Bây giờ chúng ta có thể khôi phục lại ngôi đền đó về với những chân lý cổ xưa. Các biện pháp phục hồi nằm trong mức độ mà chúng ta áp dụng các giá trị xã hội cao quý hơn lợi nhuận tiền bạc đơn thuần.
|
| Happiness lies not in the mere possession of money; it lies in the joy of achievement, in the thrill of creative effort.
| Hạnh phúc không nằm trong việc có tiền, mà trong niềm vui trước thành tựu, trong sự xúc động của những nỗ lực sáng tạo.
|
| The joy, the moral stimulation of work no longer must be forgotten in the mad chase of evanescent profits. These dark days, my friends, will be worth all they cost us if they teach us that our true destiny is not to be ministered unto but to minister to ourselves, to our fellow men.
| Niềm vui, sự kích thích tinh thần làm việc phải không còn bị lãng quên trong sự đuổi theo những lợi nhuận phù du một cách điên dại. Những ngày đen tối, hỡi bằng hữu, sẽ xứng đáng giá với cái giá chúng ta trả nếu chúng dạy được cho ta rằng số phận thật sự của chúng ta không phải là chờ đợi được chăm lo, mà là tự chăm lo mình, chăm lo đồng bào mình.
|
| Recognition of that falsity of material wealth as the standard of success goes hand in hand with the abandonment of the false belief that public office and high political position are to be valued only by the standards of pride of place and personal profit; and there must be an end to a conduct in banking and in business which too often has given to a sacred trust the likeness of callous and selfish wrongdoing. Small wonder that confidence languishes, for it thrives only on honesty, on honor, on the sacredness of obligations, on faithful protection, and on unselfish performance; without them it cannot live.
| Công nhận rằng gian dối của cải vật chất như là tiêu chuẩn của sự thành công đi song hành với việc từ bỏ niềm tin sai lầm rằng các chức vụ nhà nước và địa vị chính trị cao chỉ được đánh giá bởi các tiêu chuẩn của sự kiêu hãnh của địa vị và lợi nhuận cá nhân; và phải chấm dứt thái độ trong kinh doanh và ngân hàng thường xuyên đã cho người ta một niềm tin thiêng liêng vào những hành vị sai trái nhẫn tâm và ích kỷ. Thảo nào lòng tin đã mòn mỏi, vì lòng tin chỉ phát triển mạnh trên sự trung thực, trên danh dự, trên sự thiêng liêng của nghĩa vụ, trên bảo vệ một cách trung thành, và trên hoạt động không ích kỷ, không có những điều nay, lòng tin không thể sống.
|
| Restoration calls, however, not for changes in ethics alone. This Nation is asking for action, and action now. Our greatest primary task is to put people to work. This is no unsolvable problem if we face it wisely and courageously.
| Các cuộc gọi phục hồi, tuy nhiên, không phải chỉ cho những thay đổi về đạo đức. Quốc gia này đang đòi hỏi hành động, và hành động ngay. Nhiệm vụ chính lớn nhất của chúng ta là đưa mọi người quay lại làm việc. Đây không phải là vấn đề nan giải nếu chúng ta đối diện nó một cách khôn ngoan và can đảm.
|
| It can be accomplished in part by direct recruiting by the Government itself, treating the task as we would treat the emergency of a war, but at the same time, through this employment, accomplishing great — greatly needed projects to stimulate and reorganize the use of our great natural resources.
| Điều này có thể thực hiện được một phần qua việc tuyển dụng nhân công trực tiếp của chính Chính phủ, hành xử việc này cũng như cách ta hành xử trường hợp khẩn cấp của chiến tranh, nhưng đồng thời, thông qua việc sử dụng lao động này, [chúng ta] hoàn thành các dự án cực kỳ cần thiết để kích thích và tổ chức lại việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên tuyệt vời của chúng ta.
|
| Hand in hand with that we must frankly recognize the overbalance of population in our industrial centers and, by engaging on a national scale in a redistribution, endeavor to provide a better use of the land for those best fitted for the land.
| Đi đôi với chính sách đó, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận sự mất cân đối về dân số tại các trung tâm công nghiệp của chúng ta và, bằng cách phân phối lại ở quy mô quốc gia, nỗ lực để tạo sự sử dụng đất dai tốt hơn với những người thích hợp nhất với đất đai.
|
| Yes, the task can be helped by definite efforts to raise the values of agricultural products, and with this the power to purchase the output of our cities.
| Vâng, nhiệm vụ này có thể được thực hiện bằng những nỗ lực nhất định để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, và dùng sức mạnh này để mua các sản phẩm, dịch vụ mà các thành phố của chúng ta cung cấp.
|
| It can be helped by preventing realistically the tragedy of the growing loss through foreclosure of our small homes and our farms.
| Nhiệm vụ này có thể được thực hiện bằng cách ngăn chặn trên thực tế tấn thảm kịch mất mát ngày càng tăng bởi việc xiết nợ những gia đình nhỏ, những trang trại nhỏ của chúng ta.
|
| It can be helped by insistence that the Federal, the State, and the local governments act forthwith on the demand that their cost be drastically reduced.
| Nhiệm vụ này có thể được thực hiện bằng cách kiên định rằng Liên bang, Tiểu bang, và chính quyền địa phương hành động ngay lập tức theo các yêu cầu cắt giảm mạnh chi phí của mình.
|
| It can be helped by the unifying of relief activities which today are often scattered, uneconomical, unequal. It can be helped by national planning for and supervision of all forms of transportation and of communications and other utilities that have a definitely public character.
| Nhiệm vụ này có thể được thực hiện bằng cách thống nhất các hoạt động cứu tế mà hiện nay thường phân tán, không kinh tế, bất bình đẳng. Nhiệm vụ này có thể được thực hiện bằng một kế hoạch quốc gia về, và việc giám sát trên, tất cả các hình thức vận tải, truyền thông và các tiện ích khác rõ ràng là có tính chất công ích.
|
| There are many ways in which it can be helped, but it can never be helped by merely talking about it.
| Có rất nhiều cách để giúp thực hiện nhiệm vụ này, nhưng nhiệm vụ này không bao giờ có thể được giúp thực hiện chỉ đơn thuần bằng cách nói về nó.
|
| We must act. We must act quickly.
| Chúng ta phải hành động. Chúng ta phải hành động nhanh chóng.
|
| And finally, in our progress towards a resumption of work, we require two safeguards against a return of the evils of the old order. There must be a strict supervision of all banking and credits and investments. There must be an end to speculation with other people’s money. And there must be provision for an adequate but sound currency.
| Và cuối cùng, trong tiến trình để nối lại công việc của chúng ta, chúng ta cần hai biện pháp bảo vệ để tránh lặp lại những tồi tệ của trật tự cũ. Phải có giám sát chặt chẽ mọi hoạt động ngân hàng và tín dụng và đầu tư. Phải chấm dứt sự đầu cơ bằng tiền của người khác. Và phải cung cấp lượng tiền mặt đầy đủ nhưng lành mạnh.
|
| These, my friends, are the lines of attack. I shall presently urge upon a new Congress in special session detailed measures for their fulfillment, and I shall seek the immediate assistance of the 48 States.
| Hỡi bằng hữu, đó là những đường tấn công. Tôi hiện đốc thúc một phiên họp đặc biệt của Quốc hội mới về các biện pháp cụ thể để họ thực hiện, và tôi sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ tức thời của 48 Tiểu Bang.
|
| Through this program of action we address ourselves to putting our own national house in order and making income balance outgo. Our international trade relations, though vastly important, are in point of time, and necessity, secondary to the establishment of a sound national economy. I favor, as a practical policy, the putting of first things first. I shall spare no effort to restore world trade by international economic readjustment; but the emergency at home cannot wait on that accomplishment.
| Qua chương trình hành động này chúng ta ra lệnh cho chính chúng ta tái lập trật tự của ngôi nhà quốc gia của chúng ta và làm tăng thặng dư cán cân thu nhập. Quan hệ quốc tế, mặc dù rất quan trọng, nhưng tại thời điểm này, và vì như cầu đòi hỏi, phải là thứ yếu so với việc thiết lập một nền kinh tế quốc gia sáng suôt. Như là một vấn đề thực tiễn, tôi muốn đặt những chuyện số một vào hàng số một. Tôi sẽ không tiếc công phục hồi thương mại thế giới bằng các điều chỉnh kinh tế quốc tế; nhưng trường hợp khẩn cấp trong nước không thể đợi các thành tựu quốc tế.
|
| The basic thought that guides these specific means of national recovery is not nationally — narrowly nationalistic. It is the insistence, as a first consideration, upon the interdependence of the various elements in and parts of the United States of America — a recognition of the old and permanently important manifestation of the American spirit of the pioneer. It is the way to recovery. It is the immediate way. It is the strongest assurance that recovery will endure.
| Những tư tưởng cơ bản hướng dẫn các phương cách phục hồi quốc gia này không chỉ có tinh cách quốc gia một cách hẹp hòi. Đó là việc chú trọng, như là tư duy đầu tiên, vào sự phụ thuộc hỗ tương giữa những thành phần khác nhau trong nước Mỹ và các bộ phận khác nhau của nước Mỹ — sự công nhận một biểu lộ thường trực và truyền thống của tinh thần tiền phong của người Mỹ. Đó là con đường phục hồi. Đó là con đường ngay tức thì. Đó là bảo đảm mạnh mẽ nhất rằng sự phục hồi sẽ trường tồn.
|
| In the field of world policy, I would dedicate this Nation to the policy of the good neighbor: the neighbor who resolutely respects himself and, because he does so, respects the rights of others; the neighbor who respects his obligations and respects the sanctity of his agreements in and with a world of neighbors.
| Trong lĩnh vực chính sách thế giới, tôi sẽ cống hiến quốc gia này cho chính sách của người hàng xóm tốt: người hàng xóm kiên quyết tôn trọng chính mình và, bởi vì anh ta như vậy, tôn trọng các quyền của người khác; những người hàng xóm tôn trọng nghĩa vụ của mình và tôn trọng sự thiêng liêng của thỏa thuận của ông trong và với một thế giới của hàng xóm.
|
| If I read the temper of our people correctly, we now realize, as we have never realized before, our interdependence on each other; that we can not merely take, but we must give as well; that if we are to go forward, we must move as a trained and loyal army willing to sacrifice for the good of a common discipline, because without such discipline no progress can be made, no leadership becomes effective.
| Nếu tôi đọc được tâm tính của nhân dân ta một cách chính xác, chúng ta bây giờ nhận ra, như chúng ta chưa bao giờ nhận ra trước đây, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng ta, chúng ta có thể không chỉ đơn thuần là nhận, nhưng chúng ta cũng phải cho; nếu chúng ta muốn tiến tới, chúng ta phải di chuyển như một đội quân được đào tạo và trung thành sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của một kỷ luật chung, bởi vì không có kỷ luật như vậy thì không thể có tiến bộ, không có lãnh đạo nào có hiệu lực.
|
| We are, I know, ready and willing to submit our lives and our property to such discipline, because it makes possible a leadership which aims at the larger good. This, I propose to offer, pledging that the larger purposes will bind upon us, bind upon us all as a sacred obligation with a unity of duty hitherto evoked only in times of armed strife.
| Chúng ta, tôi biết, đã sẵn sàng và xung phong đặt cuộc sống và tài sản của chúng ta dưới một kỷ luật như vậy, bởi vì điều đó tạo ra một lãnh đạo nhắm vào lợi ích cao cả hơn. Điều này, theo thiển y’ của tôi, cam kết rằng các mục đích cao cả hơn sẽ liên kết chúng ta, liên kết tất cả chúng ta như là một nghĩa vụ thiêng liêng với một sự nhất trí về nhiệm vụ, mà xưa nay thấy trong thời chiến.
|
| With this pledge taken, I assume unhesitatingly the leadership of this great army of our people dedicated to a disciplined attack upon our common problems.
| Với cam kết này, tôi không ngần ngại chấp lãnh đạo quân đội tuyệt vời này của nhân dân ta, ành riêng cho một cuộc tấn công vào các vấn đề chung của chúng ta.
|
| Action in this image, action to this end is feasible under the form of government which we have inherited from our ancestors. Our Constitution is so simple, so practical that it is possible always to meet extraordinary needs by changes in emphasis and arrangement without loss of essential form. That is why our constitutional system has proved itself the most superbly enduring political mechanism the modern world has ever seen.
| Hành động trong hình ảnh này, hành động để đạt được điều này là khả thi theo hình thức chính phủ mà chúng ta đã thừa hưởng từ tổ tiên của chúng ta. Hiến pháp của chúng ta rất đơn giản , rất thực tế cho nên luôn luôn có thể đáp ứng nhu cầu đặc biệt với những thay đổi trong trọng tâm và bố trí mà không mất đi khuôn khổ căn bản. Đó là lý do tại sao hệ thống hiến pháp của chúng ta đã tự chứng minh là cơ chế chính trị lâu dài tuyệt vời nhất mà thế giới hiện đại đã từng nhìn thấy.
|
| It has met every stress of vast expansion of territory, of foreign wars, of bitter internal strife, of world relations. And it is to be hoped that the normal balance of executive and legislative authority may be wholly equal, wholly adequate to meet the unprecedented task before us. But it may be that an unprecedented demand and need for undelayed action may call for temporary departure from that normal balance of public procedure.
| Hiến pháp đã đáp ứng mọi căng thẳng của việc mở rộng lãnh thổ rộng lớn, của các cuộc chiến tranh với nước ngoài, của các xung đột nội bộ đắng chát, của quan hệ thế giới. Và hy vọng rằng sự cân bằng bình thường giữa hành pháp và lập pháp có thể được hoàn toàn bình đẳng, hoàn toàn đầy đủ để đáp ứng nhiệm vụ chưa từng có trước chúng ta. Nhưng có thể là nhu cầu chưa từng có và sư cần thiết phải hành động cấp thời có thể đòi hỏi tạm thời thay đổi sự cân bằng bình thường trong các thủ tục công quyền.
|
| I am prepared under my constitutional duty to recommend the measures that a stricken nation in the midst of a stricken world may require. These measures, or such other measures as the Congress may build out of its experience and wisdom, I shall seek, within my constitutional authority, to bring to speedy adoption.
| Tôi đã được chuẩn bị theo nhiệm vụ hiến định của mình để đề xuất các biện pháp mà một quốc gia đang khó khăn giữa một thế giới đang khó khăn có thể yêu cầu. Những biện pháp này, hoặc các biện pháp khác mà Quốc hội có thể kiến tạo từ kinh nghiệm và sự khôn ngoan của Quốc Hội, tôi sẽ tìm cách, theo thẩm quyền hiến định của tôi, để được thông qua nhanh chóng.
|
| But, in the event that the Congress shall fail to take one of these two courses, in the event that the national emergency is still critical, I shall not evade the clear course of duty that will then confront me.
| Tuy nhiên, trong trường hợp Quốc hội không chọn một trong hai tiến trình này, trong trường hợp mà tình trạng khẩn cấp quốc gia vẫn còn nghiêm trọng, tôi sẽ không lảng tránh con đường nhiệm vụ rõ ràng đối diện tôi lúc đó.
|
| I shall ask the Congress for the one remaining instrument to meet the crisis — broad Executive power to wage a war against the emergency, as great as the power that would be given to me if we were in fact invaded by a foreign foe.
| Tôi sẽ xin Quốc hội một công cụ còn lại để đương đầu với cuộc khủng hoảng – Quyền hành pháp rộng rãi để phát động một cuộc chiến chống lại tình trạng khẩn cấp, một quyền lực lớn như quyền lực tôi sẽ được trao nếu chúng ta bị ngoại bang xâm lược trên thực tế.
|
| For the trust reposed in me, I will return the courage and the devotion that befit the time. I can do no less.
| Trước sự tin tưởng dựa nơi tôi, tôi đáp lại bằng lòng can đảm và lòng tận tụy thích đáng ở từng thời điểm. Tôi không thể làm ít hơn.
|
| We face the arduous days that lie before us in the warm courage of national unity; with the clear consciousness of seeking old and precious moral values; with the clean satisfaction that comes from the stern performance of duty by old and young alike.
| Chúng ta phải đối diện với những ngày gian khổ phía trước trong sự dũng cảm nồng ấm của tình đoàn kết quốc gia; với ý thức rõ ràng về tìm kiếm những giá trị đạo đức truyền thống và quý giá, với sự hài lòng trong sạch đến từ việc thực hiện nghiêm khắc nghĩa vụ bởi cả già lẫn trẻ.
|
|
|
|
| We aim at the assurance of a rounded, a permanent national life.
| Chúng ta nhắm vào việc bảo đảm của đời sống quốc gia đầy đặn và ổn định vĩnh viễn.
|
| We do not distrust the future of essential democracy. The people of the United States have not failed. In their need they have registered a mandate that they want direct, vigorous action.
| Chúng ta không mất niềm tin vào tương lai của nền dân chủ thiết yếu. Nhân dân Hoa Kỳ đã không thất bại. Với nhu cầu của mình, nhân dân đã bày tỏ một mệnh lệnh la nhân dân muốn có hành động trực tiếp và mạnh mẽ.
|
| They have asked for discipline and direction under leadership. They have made me the present instrument of their wishes. In the spirit of the gift I take it.
| Nhân dân Hoa Kỳ đã yêu cầu kỷ luật và đinh hướng dưới sự lãnh đạo. Nhân dân đã xem tôi là công cụ hiện thời cho mong mỏi của nhân dân. Tôi đón nhận điều này như một món quà.
|
| In this dedication — In this dedication of a Nation, we humbly ask the blessing of God.
| Trong sự cống hiến này – Trong sự cống hiến của một quốc gia, chúng ta khiêm nhường xin phúc lành của Thiên Chúa.
|
| May He protect each and every one of us.
May He guide me in the days to come | Xin Người hãy bảo vệ mỗi người và mọi người chúng con.
Xin Người hãy dẫn dắt con trong những ngày sắp tới.
|
|
| Translated by Quỳnh Linh
|
| http://www.americanrhetoric.com/speeches/fdrfirstinaugural.html | |