MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Friday, December 30, 2011

Hérault André Menras s'engage pour des pêcheurs sur fond de conflit territorial vietnamo-chinois André Menras dấn thân vì các ngư dân trong cuộc



André Menras à Hanoï à côté d'une réplique d'une borne frontière.
André Menras ở Hà Nội bên cạnh phiên bản một cột mốc biên giới.
Hérault André Menras s'engage pour des pêcheurs sur fond de conflit territorial vietnamo-chinois
André Menras dấn thân vì các ngư dân trong cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc
Midi Libre.

Le Biterrois André Menras est un amoureux passionné du Vietnam. Retraité de l'Education nationale et président de l'association Adep France-Vietnam, c'est aussi un militant atypique qui s'engage pour son pays d'adoption. En 2009, il a été l'un des très rares étrangers à recevoir la nationalité vietnamienne, des mains du président Nguyen Minh Triet, pour être resté aux côtés du Vietnam "pendant les périodes les plus difficiles".
André Menras, dân Biterrois [chỉ các vùng thuộc miền Nam nước Pháp, ven Địa Trung Hải – người dịch], là người yêu Việt Nam cuồng nhiệt. Là một giáo chức Nhà nước nghỉ hưu và chủ tịch Hiệp hội ADEP Pháp - Việt, ông còn là nhà đấu tranh không tuân theo bất cứ quy chuẩn nào trong việc dấn thân cho đất nước mà ông đã nhận làm tổ quốc thứ hai của mình. Năm 2009, ông là một trong số rất hiếm hoi người nước ngoài được chính tay Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết trao quốc tịch Việt Nam, vì đã sát cánh cùng nhân dân Việt Nam “trong thời kỳ gian khổ nhất”.
Sa nouvelle cause : des pêcheurs de la province Quang Ngai, dans le centre du pays, qui se retrouvent au milieu de disputes territoriales entre le Vietnam et la Chine au sujet des archipels des Spratleys et des Paracels, situés en mer de Chine méridionale.
Sự nghiệp mới của ông lần này hướng về các ngư dân ở tỉnh Quảng Ngãi thuộc miền Trung Việt Nam, những người đang ở tâm điểm của cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông.
Il a décidé de leur rendre hommage par un documentaire, "Hoang Sa Vietnam: la meurtrissure", avec selon lui le feu vert des Affaires étrangères vietnamiennes. Mais la première diffusion du film à Ho Chi Minh-Ville fin novembre a été annulée de façon "musclée" par la police, poursuit-il.
Ông đã quyết định tôn vinh những ngư dân này bằng bộ phim tài liệu do mình thực hiện, có tựa đề là “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát”, bộ phim mà theo ông đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam bật đèn xanh. Tuy nhiên, ông cho biết buổi trình chiếu đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng Mười Một vừa qua đã bị Công an hủy bỏ một cách “thô bạo”.
"La meurtrissure" égrène les témoignages de pêcheurs et de veuves racontant les attaques de bateaux vietnamiens par la marine chinoise, l'emprisonnement des équipages et leur libération contre rançon. "C'est un véritable terrorisme", insiste le sexagénaire passionné, déterminé à faire connaître la vie de ceux qu'il décrit comme des "héros au quotidien".
“Nỗi đau mất mát” đưa ra từng lời chứng của các ngư dân và các góa phụ; họ kể lại những cuộc tấn công của hải quân Trung Quốc đối với tàu Việt Nam, việc bắt giam thủy thủ đoàn và đòi tiền chuộc. “ Đó là một hành động khủng bố thực sự”, con người nhiệt huyết ở tuổi sáu mươi ấy nhấn mạnh. Ông cũng khẳng định quyết tâm làm cho mọi người hiểu rõ về tình cảnh của những người mà ông mô tả như “những anh hùng của đời thường”.
Le sujet est délicat alors que les tensions entre le Vietnam et la Chine se sont apaisées et que le premier préfère faire profil bas.
Đây là một đề tài hết sức tế nhị, mặc dù tình trạng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc đã lắng dịu với sự nhún mình từ phía Việt Nam.
André Menras présentera son film à Paris en janvier et compte sur internet pour relayer son action, alors que son film a déjà été vu plus de 35 000 fois sur Youtube.
Tháng Giêng tới đây, André Menras sẽ công chiếu bộ phim của mình ở Paris cũng như cậy nhờ vào Internet để tiếp tục phổ biến phim, mặc dù tính đến nay bộ phim đã được 35 000 lượt người vào xem trên Youtube.

Translated by Trần Hữu Khánh
http://www.midilibre.fr/2011/12/27/andre-menras-s-engage-pour-des-pecheurs-sur-fond-de-conflit-territorial-vietnamo-chinois,436383.php


Southeast Asia’s Biggest Stories of 2011 Tổng kết tình hình Đông nam Á 2011



Southeast Asia’s Biggest Stories of 2011
Tổng kết tình hình Đông nam Á 2011
WSJ Staff – The Wall Street Journal
WSJ Staff – The Wall Street Journal
As protests rocked the Middle East, Europe descended into fiscal chaos, Japan’s earthquake, tsunami and nuclear disaster claimed the lives of tens of thousands and Occupy Wall Street – and impending elections – gripped America, it is possible that Southeast Asia’s quieter revolutions and subtler changes may have gone relatively unnoticed.
Khi những cuộc biểu tình làm rung chuyển Trung Đông, châu Âu lao vào hỗn loạn tài chính, Nhật Bản động đất, sóng thần và thảm họa hạt nhân lấy đi mạng sống của hàng chục ngàn người và Chiếm Wall Street – và cuộc bầu cử sắp xảy ra – ôm chặt nước Mỹ, thì có thể rằng các cuộc cách mạng yên tĩnh và các thay đổi tinh vi ở Đông Nam Á ít được chú ý hơn.
Still, the region which often remains stubborn and impervious to political change has been shaken by massive and hugely significant events over the past year. Here is our roundup of the biggest stories from the region over the past year.
Tuy nhiên khu vực, mà chính trị vẫn còn ngoan cố và không thay đổi, đã bị lung lay bởi những sự kiện lớn và có ý nghĩa rất lớn trong năm qua. Dưới đây là những câu chuyện lớn nhất trong khu vực trong năm qua.
Myanmar’s Reforms
Hillary Clinton hugs Aung San Suu Kyi at her Yangon home on Dec 2.
After decades of stubborn defiance, Myanmar’s military leaders have implemented a series of reforms and made tentative steps towards democracy – including freeing hundreds of political prisoners, engaging with long-persecuted ethnic minorities and allowing Nobel Laureate Aung San Suu Kyi’s National League for Democracy to contest elections after many years of detention for many of its top leaders. U.S. Secretary of State Hillary Clinton visited the nation in early December – the first visit by someone in her position for five decades.
Cải cách chính trị ở Myanmar (Miến Điện)
Hillary Clinton ôm bà Aung San Suu Kyi tại nhà ở Yangon vào ngày 2 tháng 12.
Sau nhiều thập kỷ bướng bỉnh, các nhà lãnh đạo quân sự Myanmar đã thực hiện một loạt cải cách và dò dẫm tiến tới dân chủ – bao gồm cả việc phóng thích hàng trăm tù nhân chính trị, đàm phán với các dân tộc thiểu số bị đàn áp và cho phép Liên đoàn Quốc gia Dân chủ của bà Aung San Suu Kyi , người được giải Nobel Hòa Bình, tham gia bầu cử sau nhiều năm cầm cố các nhà lãnh đạo hàng đầu của Liên Đoàn. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đến thăm quốc gia trong đầu tháng 12- chuyến thăm đầu tiên của một Vị Ngoại trưởng trong năm thập kỷ qua.
Elections in Singapore
Singapore’s longtime political masters – the People’s Action Party – may be losing their grip on power ever so slightly, after decades spent building a tightly controlled financial dynamo. The party fought two bruising elections, notching in May’s general election its lowest winning margin since Singapore’s independence in 1965, before seeing its favored candidate – former Deputy Prime Minister Tony Tan – barely scrape victory in August’s presidential election. Prime Minister Lee Hsien Loong responded by pledging policy reforms and giving his party a much-needed facelift.
Các cuộc bầu cử ở Singapore
Sư phụ chính trị lâu năm của Singapore – Đảng Hành động nhân dân – có thể mất quyền lực, sau nhiều thập kỷ xây dựng, qua kiểm soát chặt chẽ, một nền tài chính hòan chỉnh. Đảng đã gay go chiến đấu hai cuộc bầu cử, đánh dấu thắng lợi thấp nhất trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 5 kể từ khi Singapore độc lập năm 1965, trước khi nhìn thấy ứng cử viên ưu tú – nguyên Phó Thủ tướng Tony Tan – đắc cử tổng thống với số phiếu thấp nhất vào tháng 8. Thủ tướng Lee Hsien Loong phản ứng bằng cách cam kết cải cách chính sách và cho đảng của ông một sự đổi mới rất cần thiết.
Elections in Thailand
Thailand’s populist Puea Thai (For Thais) party won a landslide victory in the country’s general election this July, making Prime Minister Yingluck Shinawatra – sister of former Prime Minister Thaksin Shinawatra – the kingdom’s first female prime minister, though she was virtually unknown months before the election. The vote followed years of political instability in the economically-crucial nation, culminating with a violent crackdown on the “Red Shirt” protestors in May 2010. Mr. Thaksin, however, has made no secret of his desire to return to Thailand from his bolt-hole in Dubai, where he lives to avoid imprisonment on a corruption conviction which he describes as politically motivated. Ms. Yingluck’s government, too, is keen to bring him back one way or another, suggesting that Thailand’s troubles might be far from over.
Các cuộc bầu cử ở Thái Lan
Đảng Puea Thai (Vì người Thái) giành chiến thắng lớn trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7, đưa Thủ tướng Yingluck Shinawatra – em gái của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra – làm người nữ thủ tướng đầu tiên của vương quốc, mặc dù cô hầu như chưa được biết đến mấy tháng trước khi bầu cử. Cuộc bỏ phiếu sau nhiều năm bất ổn chính trị tại quốc gia sống nhờ kinh tế, mà đỉnh cao là cuộc đàn áp bạo lực những người biểu tình “áo đỏ” trong tháng 5 năm 2010. Ông Thaksin, tuy nhiên, đã không giấu giếm mong muốn trở về Thái Lan từ Dubai, nơi ông sống để tránh bị kết tội tham nhũng mà ông mô tả là có động cơ chính trị. Chính phủ của bà Yingluck muốn đưa ông trở lại bằng cách này hay cách khác, cho thấy những khó khăn của Thái Lan vẫn còn tiềm ẩn.
Floods in Thailand
This year, Thailand faced its worst flood in five decades. A mass of water the size of Connecticut crippled factories, cut supply chains and submerged rice fields, killing nearly 800 people and displacing thousands more. Flooding began around the monsoon season in July and continued till early December, and Thailand is still counting the toll. The World Bank estimated that damages reached 1, 440 billion baht (45 billion USD) so far, making it the world’s 4th most costly disaster after the 2011 Japan earthquake and tsunami, the 1995 Kobe earthquake and Hurricane Katrina.
Lụt ở Thái Lan
Năm nay, Thái Lan phải đối mặt với lũ lụt tồi tệ nhất trong năm thập kỷ. Một khối lượng nước, kích thước Connecticut, làm nhà máy tê liệt, cắt các nguồn cung cấp và làm các cánh đồng lúa ngập nước, làm chết gần 800 người và di tản hàng ngàn người. Lũ lụt bắt đầu mùa monsoon vào tháng 7 và tiếp tục cho đến đầu tháng 12, và Thái Lan vẫn còn kiểm tra thiết hại. Ngân hàng Thế giới ước tính, cho đến nay, rằng thiệt hại đạt tới 1, 440 tỷ baht (45 tỷ USD), xếp hạng 4 thảm họa tốn kém nhất thế giới sau trận động đất và sóng thần Nhật Bản năm 2011, trận động đất Kobe năm 1995 và bão Katrina.
http://s.wsj.net/public/resources/images/OB-RE247_bamban_D_20111228035254.jpg
The Rise of Indonesia
Indonesia lifted its economic and political profile in the region and in the world. Its economy expanded, powered by a booming middle class that is spending like never before as well as the trade and investment generated by the archipelago’s natural resources like coal, palm oil and tin. It hosted the Association of Southeast Asian Nations and related summits throughout the year as well as the Southeast Asian games in which it was the overall medal winner.
While it continued to struggle with graft scandals and infrastructure bottlenecks, that did not stop it from attracting billions of dollars in foreign investment and seeing its gross domestic product grow by more than 6%. In December Fitch lifted the country’s debt rating above junk for the first time in 14 year, giving executives and investors more confidence that Southeast Asia’s largest economy could be on track to become the latest large Asian economy to take off, following in the big footsteps of India and China.
Sự trỗi dậy của Indonesia
Indonesia nâng cấp ảnh hưởng kinh tế và chính trị trong khu vực và trên thế giới. Nền kinh tế được mở rộng, hỗ trợ bởi giai cấp trung lưu đang bùng nổ tiêu xài chưa từng thấy và thương mại và đầu tư tạo ra bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên như than đá, dầu cọ và thiếc. Chủ nhà cho Tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và các hội nghị thượng đỉnh liên quan trong suốt cả năm và Southeast Asian games, ở đó họ là người chiếm nhiều huy chương nhất.
Trong khi tiếp tục chiến đấu với các vụ tham nhũng bê bối và các tắc nghẽn ở cơ sở hạ tầng, điều đó đã không ngừng thu hút hàng tỷ đô la đầu tư nước ngoài và nhìn thấy tổng sản lượng trong nước tăng hơn 6%. Trong tháng 12 Fitch đánh giá cao nợ của đất nước lên từ rác lần đầu tiên trong 14 năm, giúp các giám đốc điều hành và các nhà đầu tư tự tin hơn rằng nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á có thể cất cánh, sau Ấn Độ và Trung Quốc.
http://s.wsj.net/public/resources/images/OB-RE243_najib_D_20111228024958.jpg
Malaysia’s Political Reforms
Faced with his waning popularity, Malaysia’s Prime Minister Najib Razak announced a series of reforms in September, including the abolition of two notorious internal-security laws left behind from the days of British colonial rule. His government then boasted that these liberalizing measures constituted the biggest change the country – which has been ruled by the same party since independence in 1957 – has seen since has seen for decades. This, however, came only after critics accuse the government of using excessive violence – including tear gas and water cannons – to suppress a rally in July calling for free and fair elections. This invited a sea of domestic and international condemnation, which Mr. Najib desperately tried to manage.
Cải cách chính trị của Malaysia
Đối mặt với sự suy yếu của mình, Thủ tướng Malaysia Najib Razak công bố một loạt các cải cách trong tháng 9, bao gồm cả việc bãi bỏ hai luật an ninh nội bộ nổi tiếng từ những ngày cầm quyền của thực dân Anh bỏ lại phía sau. Chính phủ của ông sau đó tự hào rằng những biện pháp tự do hóa là những thành quả lớn nhất nước – được cai trị bởi một đảng kể từ khi độc lập vào năm 1957 – đã chứng kiến qua nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra sau khi các nhà phê bình buộc tội chính phủ sử dụng bạo lực quá mức – bao gồm cả hơi cay và vòi rồng để đàn áp một cuộc biểu tình vào tháng 7 – kêu gọi bầu cử tự do và công bằng. Điều này dẫn tới các chỉ trích găy gắt ở trong nước và từ quốc tế, và ông Najib cố gắng xoay sở trong tuyệt vọng.
Arroyo’s Arrest in the Philippines
Philippine President Benigno Aquino III kick-started his campaign to rid the country of corruption with a bang towards the end of 2011 – by launching the prosecution of his predecessor, former President Gloria Macapagal Arroyo. With a Senate investigation into graft allegations at the heart of the Arroyo administration stalling, Mr. Aquino’s team charged Ms. Arroyo with conspiring to manipulate the outcome of congressional elections in 2007, preventing her from leaving the country to seek medical treatment overseas. Now, in a twist of fate, Ms. Arroyo, who denies any wrongdoing, is awaiting trial locked up in the same military hospital suite which previously held the man she helped bring down in 2001, former President Joseph Estrada. “It’s karma,” Mr. Estrada said recently.
Philippines bắt giam Arroyo
Tổng thống Philippines, Benigno Aquino III, bắt đầu chiến dịch chống tham nhũng với một tiếng nổ vào cuối năm 2011 – bằng cách truy tố người tiền nhiệm của ông, cựu Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo. Với một cuộc điều tra của Thượng viện tới các cáo buộc tham nhũng ở trung tâm của chính quyền Arroyo bị trì hoãn, nhóm của ông Aquino buộc tội bà Arroyo âm mưu thao túng kết quả của cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2007, ngăn không cho bà rời nước để điều trị y tế ở nước ngoài. Bây giờ, bà Arroyo, người phủ nhận bất kỳ hành vi sai trái, đang chờ xét xử, bị nhốt trong cùng một bộ bệnh viện quân sự mà trước đó đã giam người đàn ông bà đã giúp lôi xuống năm 2001, cựu Tổng thống Joseph Estrada. “Đó là nghiệp chướng”, ông Estrada nói.
Vietnam’s Communist Party Congress
Vietnam’s twice-a-decade Communist Party Congress in January was a tense affair for Prime Minister Nguyen Tan Dung. Facing unprecedented criticism for failing to containing spiraling inflation and allowing some of the country’s largest state-owned enterprises to fall further into debt, Mr. Dung wasn’t a shoo-in for a second term. In the end, he survived, albeit with clipped wings. Powerful rivals Truong Tan Sang and Nguyen Phu Trong were elected to the other key posts of President and Secretary-General of the Communist Party.
Đại hội đảng ở Việt Nam
Đại hội Đảng Cộng sản vào tháng 1 là công việc căng thẳng đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đối mặt với những lời chỉ trích chưa từng có về lạm phát leo thang và để một số doanh nghiệp nhà nước lớn nhất rơi vào nợ nần, ông Dũng không được ủng hộ cho một nhiệm kỳ thứ hai. Tuy nhiên, cuối cùng, ông đã vượt qua. Các ứng viên mạnh mẽ, Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng, đã được bầu vào 2 vị trí quan trọng Chủ tịch và Tổng bí thư Đảng Cộng sản.
Laos Launches Stock Exchange
Communist-run Laos – often associated with adventure-seeking tourists and backpackers -shook off some of its socialist constraints this year by opening its first stock exchange. Its leaders hope the move will reel in foreign and local capital, and help transform the fortunes of one of Asia’s poorest nations. Laos may soon join the ranks of Vietnam and Indonesia, as Southeast Asia’s emerging markets hold more luster for keen investors seeking higher returns than might be available in the U.S. or Europe.
Lào khai trương thị trường chứng khoán
Lào – thường gắn liền với các du khách tìm phiêu lưu và ba-lô – từ bỏ một số hạn chế của chủ nghĩa xã hội bằng việc mở thị trường chứng khoán. Các nhà lãnh đạo Lào hy vọng động thái này sẽ mang vào vốn đầu tư nước ngoài và địa phương, và giúp chuyển đổi số phận của một trong những quốc gia nghèo nhất châu Á. Lào có thể sớm gia nhập hàng ngũ Việt Nam và Indonesia, thị trường mới nổi của khu vực Đông Nam Á cho hy vọng cho nhà đầu tư muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn so những nơi như Mỹ hoặc châu Âu.

Translated by Phạm Anh Tuấn
http://blogs.wsj.com/searealtime/2011/12/28/southeast-asias-biggest-stories-of-2011/?mod=WSJBlog&mod=WSJ_SEA_Blog

Tuesday, December 27, 2011

P.M. Nguyen Tan Dung: the most influential person of 2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,nhân vật nhiều ảnh hưởng năm 2011



P.M. Nguyen Tan Dung: the most influential person of 2011

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,nhân vật nhiều ảnh hưởng năm 2011

By Lee Min-ho, President of Kidmatic Co., Ltd

Lee Min-ho, Chủ tịch của Công ty TNHH Kidmatic

The global public debt crisis in 2011 has caused deep concern for the global economy. Drought, flooding and diseases caused by global climate change, plus tensions in East Sea and new global conflicts confront the world economy with new challenges. In the face of all this, Prime Minister Nguyen Tan Dung has performed impressively thanks to his outstanding leadership, successfully steering the Vietnamese economy out of the economic crisis by making economic, fiscal and diplomatic decisions in a flexible and prompt manner in 2011. Consequently, Vietnam has been able to control inflation, maintain a high growth rate and ensure social security.

Cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu trong năm 2011 đã gây ra mối quan tâm sâu sắc đối với nền kinh tế thế giới. Hạn hán, lũ lụt và bệnh tật gây ra bởi sự thay đổi khí hậu toàn cầu, cộng với căng thẳng ở Biển Đông và các cuộc xung đột toàn cầu làm cho nền kinh tế thế giới đối mặt với những thách thức mới. Khi đối mặt với tất cả những điều này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hành động một cách rất ấn tượng nhờ khả năng lãnh đạo xuất sắc của mình, thành công trong việc đưa nền kinh tế Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế bằng cách đưa ra các quyết định kinh tế, tài chính và ngoại giao một cách linh hoạt và kịp thời trong năm 2011. Do đó, Việt Nam đã có thể kiểm soát lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đảm bảo an ninh xã hội.

Offering an overall assessment of the 2011 economy, Korea’s international economic experts have stated that Vietnam has overcome economic stagnation.

Đánh giá tổng thể nền kinh tế năm 2011, các chuyên gia kinh tế quốc tế của Hàn Quốc đã tuyên bố rằng Việt Nam đã vượt qua tình trạng trì trệ kinh tế.

Now, stabilizing Vietnam’s macro economy in 2012 in parallel with economic restructuring is the official goal that the head of the government has circulated among international investors and donors.

Hiện nay, ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2012 song song với cải tổ cơ cấu kinh tế là mục tiêu chính thức mà người đứng đầu chính phủ đã tuyên bố trong cuộc họp với các nhà đầu tư quốc tế và các nhà tài trợ.

At a meeting with CG donors, the prime minister achieved consensus and positive feedback from the donors in successfully implementing the fundamental content of Resolution 11 and taking decisive actions in directing the implementation of economic restructuring in 2011 ― a stepping stone in implementing the plans for 2012 ― a year full of challenges not only for Vietnam but also the global economy.

Tại cuộc họp với các nhà tài trợ, Thủ tướng đã đạt được sự đồng thuận và phản hồi tích cực từ các nhà tài trợ trong việc thực hiện các nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 và những hành động quyết định trong chỉ đạo thực hiện cải tổ nền kinh tế trong năm 2011 - một bước quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch năm 2012 - một năm đầy thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn là nền kinh tế toàn cầu.

Vietnam’s GDP continues to grow at a steady rate: the GDP of the first quarter 2011 was 5.43 percent, the second quarter 5.67 percent and the third quarter 6.11 percent. The combined GDP over those nine months grew 5.76 percent and the annual growth rate is estimated to be 6 percent.

GDP của Việt Nam tiếp tục phát triển với một tốc độ ổn định: GDP quý I năm 2011 là 5,43%, quý hai 5,67% và quý ba 6,11%. GDP kết hợp trong chín tháng tăng 5,76% và tỷ lệ tăng trưởng hàng năm được ước tính là 6%.

Despite the global economy’s fluctuations, the realized FDI of Vietnam reached $2.54 billion, an increase of 1.6 percent from the previous year and there was an increase over the months: $420 million in January, $730 million in February, $1.81 billion in March, $2.4 billion in April and $3.6 billion in May.

Mặc dù nền kinh tế toàn cầu biến động, Việt Nam giải ngân được 2,54 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng 1,6% so với năm trước và có sự gia tăng theo thời gian: 420 triệu trong tháng Giêng, 730 triệu trong tháng Hai, 1,81 tỷ trong tháng Ba, 2,4 tỷ trong tháng Tư và 3,6 tỷ trong tháng Năm.

Since the beginning of 2011, more than 20 nations and territories have carried out investment projects in Vietnam, with Singapore ranked first in total newly registered capital with a $1.08 billion increase and 46.74 percent of the total invested capital nationwide. Korea is ranked fourth with an increase of $193.29 million, equal to 8.15 percent of total invested capital in Vietnam. Japan is ranked fifth at $131 million, amounting to 5.5 percent.

Từ đầu năm 2011, hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó Singapore xếp hạng đầu tiên với tổng số vốn mới được đăng ký là 1,08 tỷ USD, tăng 46,74% tổng vốn đầu tư trong phạm vi cả nước. Hàn Quốc được xếp hạng thứ tư với mức tăng 193,29 triệu USD, bằng 8,15% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam. Nhật Bản được xếp hạng thứ năm với 131 triệu, chiếm 5,5%.

According to a recent list compiled by Goldman Sachs, Vietnam ranks among a group of 11 nations (N-11) with the world’s fastest economic growth rates in 2011, opening new opportunities for investors and making the best international investment destinations in the years to come.

Theo một danh sách gần đây được biên soạn bởi Goldman Sachs, Việt Nam được xếp hạng là một trong nhóm 11 quốc gia (N-11) với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất của thế giới trong năm 2011, mở cơ hội cho các nhà đầu tư và là một trong những điểm đến tốt nhất cho các nhà đầu tư quốc tế trong những năm tới.

Based on a recent study by a group of senior professors and economic experts from the Korean government on the impact of the debt crisis and global climate change, as well as the skills of prime ministers in Southeast Asia, Vietnam was the country that best overcame the global economic crisis. Dung was ranked as the most influential prime minister in Asia in terms of successfully driving the economy and as the person who made the most determined decisions.

Dựa trên một nghiên cứu gần đây của một nhóm các giáo sư và chuyên gia kinh tế cao cấp từ chính phủ Hàn Quốc về tác động của cuộc khủng hoảng nợ và thay đổi khí hậu toàn cầu, cũng như các kỹ năng của thủ tướng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu một cách tốt nhất. Dũng được xếp hạng là thủ tướng có ảnh hưởng nhất ở châu Á khi thành công trong việc chèo lái nền kinh tế và là người đã đưa ra quyết định chính xác nhất.

Vietnam targeted a 2011 economic growth rate of 5.8-6 percent while the objective for 2012 is 6 percent. Maintaining this growth rate will help Vietnam stabilize its macroeconomy, curb inflation and ensure social security. Dung has taken decisive action in a timely manner, but has not selected too high an economic growth rate for this period.

Việt Nam đã nhắm mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5,8-6% trong năm 2011 và 6% cho năm 2012. Duy trì tốc độ tăng trưởng này sẽ giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an ninh xã hội. Dũng đã có những quyết định đúng và kịp thời, và không chọn tốc độ tăng trưởng kinh tế quá cao cho giai đoạn này.

In parallel with economic stability, the prime minister has committed to effectively directing and taking proper economic restructuring solutions, focusing on investment reform, financial and banking system reform and improvement of corporate governance. Vietnam will equitize almost all state-owned enterprises with an ultimate goal of improving the effectiveness of production and operation.

Song song với sự ổn định kinh tế, Thủ tướng đã cam kết chỉ đạo một cách hiệu quả và thực hiện các giải pháp cải tổ kinh tế thích hợp, tập trung vào cải cách đầu tư, tài chính và cải cách hệ thống ngân hàng và cải thiện quản trị doanh nghiệp. Việt Nam sẽ cổ phần hóa gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước với một mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất và hoạt động.

Beside these macro-economic objectives, Vietnam continues to ensure social security and welfare for its people. The average income per capita among the Vietnamese people is currently $1,200, but the gap between the rich and the poor is still large. Dung has therefore instructed authorities to implement a strategy of ensuring stable and sustainable employment by improving English skills and providing vocational training to create more than 1.6 million jobs in 2012 and reduce the unemployment rate to less than 4 percent while concurrently reducing the number of poor households nationwide by 2 percent.

Bên cạnh những mục tiêu kinh tế vĩ mô, Việt Nam tiếp tục để đảm bảo an ninh xã hội và phúc lợi cho người dân. Thu nhập bình quân đầu người trong nhân dân Việt Nam hiện nay là 1.200 USD, nhưng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo vẫn còn lớn. Do đó, Dũng đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng thực hiện một chiến lược đảm bảo việc làm ổn định và bền vững bằng cách nâng cao kỹ năng tiếng Anh và đào tạo nghề để tạo ra hơn 1,6 triệu việc làm trong năm 2012 và giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4% đồng thời giảm 2% số hộ nghèo trong phạm vi cả nước.

Dung has also decided to establish a task force to monitor and speed up the disbursement of funds and effective use of external aids, especially ODA.


Dũng cũng đã quyết định thành lập một bộ phận chuyên giám sát và giúp tăng tốc độ giải ngân nguồn vốn và sử dụng hiệu quả viện trợ bên ngoài, đặc biệt là ODA.

In the eyes of international investors, he is highly regarded as always having formed initiatives and ideas to promote close links to the international community due to his firm determination and consistent polices. His firm promises allow investors to place their trust in investing in Vietnam. Dung has made significant contributions, taking Vietnam to a higher level of influence internationally.

Trong con mắt của các nhà đầu tư quốc tế, ông được đánh giá cao như luôn luôn có sáng kiến và ý tưởng thúc đẩy liên kết chặt chẽ với cộng đồng quốc tế nhờ tính cương quyết của ông và các chính sách phù hợp. Các lời hứa chắc nịch của ông cho phép các nhà đầu tư đặt niềm tin vào Việt Nam. Dũng đã có những đóng góp đáng kể trong việc nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

He is praised by the Vietnamese people for what he has done during his tenure. He always takes into consideration the valuable contributions of previous generations, he always respects and knows how to employ Vietnamese talents and support enterprises to stabilize business and production, while making policies that support industry and agriculture, as well as policies that support students and the poor. He is the symbol of the Vietnamese people’s spirit in firmly protecting the country’s sovereignty while respecting international law and maintaining good diplomatic relations with other nations.

Ông được người dân Việt Nam đánh giá cao về những gì ông đã làm được trong nhiệm kỳ của ông. Ông luôn luôn đánh giá cao giá trị đóng góp của các thế hệ trước đó, ông cũng luôn luôn tôn trọng và biết làm thế nào để sử dụng tài năng Việt Nam và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc ổn định sản xuất kinh doanh, trong khi thực hiện chính sách hỗ trợ ngành công nghiệp và nông nghiệp, cũng như chính sách hỗ trợ sinh viên và người nghèo. Ông là biểu tượng của tinh thần nhân dân Việt Nam trong bảo vệ vững chắc chủ quyền của đất nước trong khi vẫn tôn trọng luật pháp quốc tế và duy trì các mối quan hệ tốt ngoại giao với các quốc gia khác.

For what he has done for Vietnam, he deserves to be the person of 2011 ― the prime minister facing challenges and always proving most determined. He is loved by Vietnamese people and many international friends.



Đối với những gì ông đã làm cho Việt Nam, ông xứng đáng là người của năm 2011 – một thủ tướng đối mặt với những thách thức và luôn luôn có những quyết định chuẩn xác. Ông được người Việt Nam và nhiều bạn bè quốc tế tin yêu.

Translated by Vũ Quốc Ngữ

http://www.koreaherald.com/national/Detail.jsp?newsMLId=2011122600041



Monday, December 26, 2011

Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» Vụ cháy lớn nhất trong lịch sử chợ “Tagansky rjad.” Những người chứng kiến​​: "Đó là phón


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!»

Vụ cháy lớn nhất trong lịch sử chợ “Tagansky rjad.” Những người chứng kiến​​: "Đó là phóng hỏa!"

25.12.2011

25.12.2011

Крупнейший в истории рынка «Таганский ряд» пожар начался в воскресенье 25 декабря, около 15.00. В первые же минуты площадь возгорания составила около 1000 кв. м. Как сообщил с места события корреспондент «Вечерних Ведомостей», уже в 16.15 столб дыма было видно даже из окон отеля «Хаятт». К 19.00 огонь охватил уже 3 тысячи квадратных метров – горели «Европейские ряды». Возле входа на рынок тут же собралась толпа численностью около 5 тысяч человек, поэтому на ЧП, помимо спасателей из МЧС прибыли также полицейские.

Силовики от комментариев отказались, однако одна из очевидцев, продавец Татьяна, сообщила корреспонденту «ВВ», что, вероятнее всего, это был поджог: одновременно появилось несколько очагов возгорания в разных концах рынка. Примечательно, что китайский рынок «Ханой» и торговый центр не пострадали.

– Похоже, что подожгли – слишком все сразу огнём занялось, – описала женщина свои первые впечатления. – Про убытки даже думать страшно, горят же и склады тоже. Там их сотни, а в каждом товару на десятки миллионов рублей.

Vụ cháy lớn nhất trong lịch sử chợ “Tagansky rjad.” xảy ra vào chủ nhật 25/12, lúc 3 giờ chiều. Ngay từ đầu, diện tích đám cháy đã đạt tới 1000 m vuông. Từ hiện trường, phóng viên báo “Tin chiều” điện về cho biết tới 16.15 cột khói đã cao đến mức từ cửa sổ khách sạn Haitt cũng nhìn thấy. Tới 19h, biển lửa đã chiếm tới 3 ngàn thước tây vuông, trùm lên Evropeiskie rjady (chợ Tây). Ngay tại cổng chợ, đã nhóm lên một đám đông tới năm ngàn người, vì thế, ngoài các nhân viên Bộ tình trạng khẩn cấp đang tác nghiệp, cảnh sát cũng tới ngay hiện trường.

Các đại diện công lực từ chối bình luận, nhưng một trong những nhân chứng, chị bán hàng Tatjana đã bảo với phóng viên “Tin chiều” là đây hẳn là một vụ phóng hoả (đốt cố tình): cùng lúc xuất hiện nhiều đám cháy tại nhiều góc chợ. Kỳ lạ, là chợ “Hà Nội” của người Tàu (китайский рынок «Ханой»!) và khu trung tâm lại không việc gì...”

- Có vẻ như bị đốt cháy gần như toàn bộ bốc cháy cùng một lúc một người phụ nữ mô tả ấn tượng đầu tiên của mình. Thật đáng sợ khi nghĩ về những thiệt hại khủng khiếp của các gian hàng, nhà kho. Hiện có hàng trăm gian hàng, mỗi gian có hàng hóa tới hàng chục triệu rúp.

http://veved.ru/news/14143-pozhar-na-taganskom-ryadu-ochevidcy-yeto-byl-podzhog-foto.html

Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)


Пожар на «Таганском ряду». Очевидцы: «Это был поджог!» (ФОТО)

Václav Havel’s Life in Truth Cuộc đời thật của Václav Havel


Václav Havel’s Life in Truth

Cuộc đời thật của Václav Havel

Jiří Pehe

Jiří Pehe

PRAGUE – Long before Czechoslovakia’s communist regime collapsed in 1989, Václav Havel was one of the most remarkable figures in Czech history – already a successful playwright when he became the unofficial leader of the opposition movement. Though he hoped to return to writing, the revolution catapulted him to the presidency of Czechoslovakia, and, after the country split in 1993, he was elected President of the new Czech Republic, serving until 2003.

PRAGUE - Từ lâu trước khi chính quyền cộng sản Tiệp Khắc sụp đổ vào năm 1989, Václav Havel đã là một trong những nhân vật nổi bật trong lịch sử Czech – vốn đã là một nhà viết kịch thành công trước khi ông trở thành người lãnh đạo không chính thức của phong trào đối kháng. Mặc dù ông hi vọng quay lại việc viết văn, cuộc cách mạng đã đưa ông trở thành tổng thống Tiệp Khắc, và sau khi quốc gia tách ra vào năm 1993, ông đã được bầu làm Tổng thống của nước Cộng hoà Séc mới, làm việc cho đến năm 2003.

A political career rooted in historical coincidence made Havel an unusual politician. Not only did he bring to post-1989 politics a certain distrust of political parties; as a former dissident, he considered it essential to emphasize the moral dimension of politics – a stance that steered him onto a collision course with the pragmatists and technologists of power, whose main representative, Václav Klaus, succeeded him as President.

Một sự nghiệp chính trị bắt nguồn từ ngẫu nhiên của lịch sử đã biến Havel thành một chính trị gia đặc biệt. Không những ông đem đến môi trường chính trị hậu 1989 một mức độ hoài nghi đối với các đảng chính trị; là một người bất đồng chính kiến trước đây, ông cho rằng rất quan trọng khi nhấn mạnh khía cạnh đạo đức trong chính trị – một vị thế đã đưa ông đối đầu với những kẻ thực dụng và kỹ trị của quyền lực mà đại diện chính là Václav Klaus, người kế nhiệm chức Tổng thống thay ông.

Havel’s public life could be divided into three distinct periods: artist (1956-1969), dissident (1969-1989), and politician (1989-2003) – except that he always combined all three sensibilities in his public activities. As a promising playwright in the 1960s, he was certainly very “political,” focusing on the absurdity of the regime. He was also one of the most vocal critics of censorship and other human-rights violations, which made him a dissident even during the liberal “Prague Spring” of 1968.

Cuộc sống xã hội của Havel có thể chia ra làm ba giai đoạn khác nhau: nghệ sĩ (1965-1969), nhân vật đối lập (1969-1989), và chính trị gia (1989-2003) – ngoại trừ việc ông luôn tổng hợp cả ba tri giác này vào những hoạt động xã hội của mình. Là một nhà viết kịch đầy hứa hẹn trong những năm 1960, rõ ràng là ông đã mang tính “chính trị” nhiều, chú trọng vào sự vô lý của chính quyền. Ông cũng là một tiếng nói chỉ trích mạnh mẽ nhất đối với nạn kiểm duyệt và những vi phạm nhân quyền khác, biến ông thành một người phản kháng ngay cả trong gian đoạn cấp tiến “Mùa xuân Prague” năm 1968.

Havel was blacklisted and openly persecuted after the Soviet-led invasion of Czechoslovakia in August of that year, but he continued to write anti-totalitarian plays. In 1977, he and more than 200 other dissidents founded the human-rights movement Charter 77, which quickly established itself as a leading opposition force. Havel was one of the movement’s first three spokesmen.

Havel đã bị liệt vào sổ đen và bị đàn áp công khai sau khi Liên Xô chiếm đóng Tiệp Khắc vào tháng Tám của năm ấy, nhưng ông vẫn tiếp tục viết những vở kịch chống độc tài. Vào năm 1977, ông và hơn 200 nhà chống đối khác đã thành lập phong trào nhân quyền Hiến Chương 77, tổ chức này nhanh chóng trở thành một lực lượng chống đối hàng đầu. Havel là một trong ba phát ngôn viên đầu tiên của phong trào.

The following year, he wrote a seminal essay, “The Power of the Powerless,” in which he described Czechoslovakia’s post-1968 “normalization” regime as a morally bankrupt system based on all-pervasive lying. In 1979, he was sentenced to a five-year prison term for his activities in the Committee for the Defense of the Unjustly Prosecuted, an offshoot of Charter 77 that monitored human-rights abuses and persecution in Czechoslovakia. He was released near the end of his term after contracting pneumonia (a source of serious health problems for the rest of his life). His Letters to Olga, philosophical essays written from prison and addressed to his wife, quickly became a classic of anti-totalitarian literature.

Một năm sau, ông đã viết một bài bài tham luận kết tinh “Quyền lực của Không Quyền lực” trong đó ông tường thuật chính quyền “bình thường hoá” của Tiệp Khắc giai đoạn hậu 1989 là một hệ thống phá sản về luân lý dựa trên sự dối trá toàn khắp. Năm 1979, ông bị kết án 5 năm tù vì những hoạt động trong Uỷ ban Bảo vệ những người bị Truy bố một cách bất công, một chi nhánh của Hiến Chương 77 chuyên theo dõi những vi phạm và đàn áp nhân quyền tại Tiệp Khắc. Ông đã được trả tự do khi gần mãn hạn tù sau khi bị mắc bệnh viêm phổi (một nguyên nhân của những khó khăn trầm trọng về sức khoẻ trong suốt cuộc đời ông). Tác phẩm Lá thư gửi Olga bao gồm một loạt những bài viết trong tù gửi cho vợ ông, đã nhanh chóng trở thành một tác phẩm kinh điển của văn học chống độc tài.

During his presidencies, Havel continued to combine his political, dissident, and artistic sensibilities. He insisted on writing his own speeches, conceiving many of them as philosophical and literary works, in which he not only criticized the dehumanized technology of modern politics, but also repeatedly appealed to Czechs not to fall prey to consumerism and mindless party politics.

Trong thời gian làm tổng thống, Havel tiếp tục tổng hợp những tri giác chính trị, chống đối và nghệ sĩ của mình. Ông nhất định tự mình viết diễn văn, biến nhiều bài trở thành những tác phẩm văn học và tư tưởng, trong đó ông không chỉ chỉ trích thủ thuật vô nhân đạo của nền chính trị đương thời, mà còn liên tục kêu gọi người Séc không biến thành con mồi của chủ nghĩa tiêu thụ và những đảng chính trị vô tâm.

His was a conception of democracy based on a strong civil society and morality. That distinguished him from Klaus, the other leading figure of the post-communist transformation, who advocated a quick transition, stripped, if possible, of inconvenient moral scruples and impediments posed by the rule of law. Their conflict came to a head in 1997, when the Klaus-led government fell after a series of scandals. Havel described the economic system created by Klaus’s post-communist reforms as “mafioso capitalism.”

Tư tưởng của ông là một sản phẩm của dân chủ dựa trên một xã hội dân sự và luân lý vững mạnh. Điều này làm ông khác hẳn với Klaus, nhân vật lãnh đạo khác của quá trình chuyển hoá hậu cộng sản, người cổ vũ một quá trình chuyển hoá nhanh chóng, loại bỏ, nếu có thể, những dè dặt và trở ngại về đạo đức phiền toái mà nền pháp trị đặt ra. Mâu thuẫn giữa hai người đã xảy ra vào năm 1997, khi chính phủ do Klaus lãnh đạo bị đổ vỡ sau hàng loạt tai tiếng. Havel đã xem hệ thống kinh tế tạo ra bởi quá trình đổi mới hậu cộng sản của Klaus là “Chủ nghĩa tư bản mafia”.

Although Klaus never returned as Prime Minister, his “pragmatic” approach gained the upper hand in Czech politics, especially after Havel’s departure from presidency in 2003. Indeed, Havel’s greatest defeat may be that most Czechs now view their country as a place where political parties serve as agents of powerful economic groups (many of them created by the often-corrupt privatization process overseen by Klaus).

Mặc dù Klaus không quay lại làm Thủ tướng, phương pháp “thực dụng” của ông đã chiếm thế thượng phong trong nền chính trị Séc, đặc biệt sau khi Havel rời khỏi chức tổng thống vào năm 2003. Thật vậy, thất bại lớn nhất của Havel có thể là việc đa số người Séc hiện xem đất nước mình như là một nơi mà các đảng chính trị hoạt động như những đại diện cho những nhóm kinh tế đầy quyền lực (đa số được tạo ra bởi quá trình tư nhân hoá đầy tham nhũng do Klaus chỉ đạo).

In the last years of his presidency, Havel’s political opponents ridiculed him as a naïve moralist. Many ordinary Czechs, on the other hand, had come to dislike him not only for what seemed like relentless moralizing, but also because he reflected back to them their own lack of courage during the communist regime. While he continued to enjoy respect and admiration abroad, if only for continuing his fight against human-right abuses around the world, his popularity at home was shaken.

Trong những năm cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông, những đối thủ chính trị của Havel đã chế nhạo ông như là một nhà đạo đức ngây thơ. Trong khi đó, nhiều người dân Séc đã không thích ông không chỉ vì cái mà họ xem là quá trình đạo đức hoá không ngừng nghỉ, mà còn bởi vì ông đã phản ánh lại cho họ thấy sự thiếu can đảm của chính họ dưới chế độ cộng sản. Trong khi ông tiếp tục nhận được lòng kính trọng và ngưỡng mộ từ nước ngoài qua việc tiếp tục đấu tranh chống nạn vi phạm nhân quyền trên thế giới, tiếng tăm của ông trong nước lại bị lung lay.

But not anymore. Czechs, given their growing dissatisfaction with the current political system’s omnipresent corruption and other failings, have increasingly come to appreciate the importance of Havel’s moral appeals. In fact, now, after his death, he is well on the way to being lionized as someone who foresaw many current problems, and not only at home: while still President, he repeatedly called attention to the self-destructive forces of industrial civilization and global capitalism.

Nhưng điều này đã không còn nữa. Người Séc, với sự bất bình ngày càng tăng đối với nạn tham nhũng lan tràn và những thất bại khác của hệ thống chính trị hiện tại, đã ngày càng thấy cảm kích tầm quan trọng từ những lời kêu gọi luân lý của Havel. Trên thực tế, giờ đây, sau khi ông qua đời, ông đang trên quá trình được tôn vinh như người đã tiên lượng được trước nhiều vấn đề hiện tại, và không chỉ ở trong nước: khi còn là Tổng thống, ông đã liên tục kêu gọi lưu tâm đến những sức mạnh tự huỷ hoại của nền văn minh công nghiệp và chủ nghĩa tư bản toàn cầu.

Many will ask what made Havel exceptional. The answer is simple: decency. He was a decent, principled man. He did not fight against communism because of some hidden personal agenda, but simply because it was, in his view, an indecent, immoral system. When, as president, he supported the bombing of Yugoslavia in 1999 or the coming invasion of Iraq in 2003, he did not talk about geo-political or strategic objectives but about the need to stop human-rights abuses by brutal dictators.

Nhiều người sẽ hỏi rằng điều gì khiến Havel trở nên nổi bật. Câu trả lời thật đơn giản: sự đứng đắn. Ông là một con người đứng đắn, tôn trọng nguyên tắc. Ông không đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản vì động cơ cá nhân thầm kín nào đấy, mà đơn giản bởi vì theo ông, nó là một hệ thống không đứng đắn và vô đạo đức. Khi còn là tổng thống, ông đã ủng hộ việc ném bom Nam Tư vào năm 1999 hoặc là việc chiếm đóng Iraq sắp xảy ra vào năm 2003, ông đã không nói về tình hình địa chính trị hoặc mục đích chiến lược mà chỉ vì sự cần thiết phải chấm dứt những vi phạm nhân quyền bởi những kẻ độc tài tàn bạo.

Acting on such beliefs in his political career made him a politician of the kind that the contemporary world no longer sees. Perhaps that is why, as the world – and Europe in particular – faces a period of profound crisis, the clarity and courageous language that would bring about meaningful change is missing.

Hoạt động dựa trên những niềm tin này trong sự nghiệp chính trị đã biến ông thành một loại chính trị gia mà thế giới hiện tại không còn thấy được. Có lẽ vì thế mà tại sao khi thế giới – và đặc biệt là châu Âu – đang đối diện với giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, hiện đang thiếu vắng thứ ngôn ngữ rõ ràng và can đảm vốn thường đưa đến những thay đổi có ý nghĩa.

The death of Havel, a great believer in European integration, is thus highly symbolic: he was one of the last of a now-extinct breed of politicians who could lead effectively in extraordinary times, because their first commitment was to common decency and the common good, not to holding power. If the world is to make it through its various crises successfully, his legacy must remain alive.

Cái chết của Havel, một người tin tưởng lớn vào sự hội nhập của châu Âu, vì thế đã trở thành biểu tượng: ông là một trong những người của tầng lớp chính trị gia vốn đã tiệt chủng, những người có thể lãnh đạo một cách hiệu quả trong những giai đoạn đặc biệt, vì cam kết đầu tiên của họ là sự đứng đắn chung và vì mục đích chung chứ không phải là để nắm lấy quyền lực. Nếu thế giới vượt qua được những khủng hoảng một cách thành công, cần phải nuôi dưỡng di sản của ông.

Jiří Pehe was Vaclav Havel’s political adviser from September 1997 to May 1999. He is currently Director of New York University in Prague.

Jiří Pehe từng là Trưởng Cố vấn Chính trị của cựu Tổng thống Czech Václav Havel, hiện là nhà phân tích chính trị và giám đốc Đại học New York tại Prague.


Translated by Diên Vỹ

http://www.theaustralian.com.au/news/world/vaclav-havels-life-in-truth/story-e6frg6ux-1226226009357