MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, November 5, 2011

Baby-Sitting the Economy NỀN KINH TẾ GIỮ TRẺ


Baby-Sitting the Economy

NỀN KINH TẾ GIỮ TRẺ

The baby-sitting co-op that went bust teaches us something that could save the world.

Hợp tác xã giữ trẻ bị phá sản dạy cho chúng ta đôi điều có thể cứu rỗi được thế giới.

By Paul Krugman

Paul Krugman

Paul Krugman, who won the Nobel Memorial Prize in Economic Sciences today for his work on international trade patterns, was the lead economics columnist for Slate from the magazine's launch in 1996 to 1999, when he became a columnist for the New York Times. His "Dismal Science" column covered everything from puzzling economics of ticket scalping to the tenacity of supply-side economics in presidential campaigns. One particular favorite, which was included in Slate's 10th-anniversary anthology, is "Baby-Sitting the Economy," a column about what a failed baby-sitting cooperative in Washington, D.C., can teach us about a global economic crisis.

Paul Krugman, người đoạt giải Nobel Memorial về Khoa học kinh tế ngày với công trình nghiên cứu các mẫu hình thương mại quốc tế, là nhà báo kinh tế hàng đầu cho tờ Slate từ khi tạp chí này khởi động vào những năm 1996 - 1999, khi ông trở nhà báo chuyên mục của tờ New York Times. Chuyên mục "Khoa học ảm đạm" của ông bao gồm tất cả mọi thứ từ kinh tế học rối rắm của “phe vé” đển sự kiên trì của kinh tế học bên cung ứng trong các chiến dịch tranh cử tổng thống. Một bài báo được đặc biệt yêu thích, đã được đưa vào tuyển tập kỷ niệm thứ 10 của Slate là "Nền kinh tế giữ trẻ", một bài báo nói về việc thất bại của hợp tác xã giữ trẻ tại Washington, DC, có thể dạy cho chúng ta về nhiều điều về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Twenty years ago I read a story that changed my life. I think about that story often; it helps me to stay calm in the face of crisis, to remain hopeful in times of depression, and to resist the pull of fatalism and pessimism. At this gloomy moment, when Asia's woes seem to threaten the world economy as a whole, the lessons of that inspirational tale are more important than ever.

Cách đây hai mươi năm tôi đã đọc một câu chuyện đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi thường nghĩ về câu chuyện nầy. Nó giúp tôi bình tĩnh trong những lúc khủng hoảng, hy vọng trong những khi suy sụp và kháng cự lại sự bi quan và buông xuôi cho số phận. Ở vào những lúc u ám như thế nầy, khi mà sự khủng hoảng của châu Á dường như đang đe doạ toàn bộ nền kinh tế thế giới, những bài học từ câu chuyện đầy cảm xúc đó trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

The story is told in an article titled "Monetary Theory and the Great Capitol Hill Baby-Sitting Co-op Crisis." Joan and Richard Sweeney published it in the Journal of Money, Credit, and Banking in 1978. I've used their story in two of my books, Peddling Prosperity and The Accidental Theorist, but it bears retelling, this time with an Asian twist.

Câu chuyện được thuật lại trong bài báo nhan đề "Lý thuyết tiền tệ và Sự Khủng hoảng của Tổ hợp Giữ trẻ Đồi Capitol". John và Richard Sweeney công bố bài báo ở tạp chí Journal of Money, Credit and Banking trong năm 1978. Tôi đã sử dụng câu chuyện của họ trong các cuốn sách của mình, Peddling Prosperity và The Accidental Theorist, nhưng nó đáng được kể lại, lần nầy gắn với châu Á.

The Sweeneys tell the story of—you guessed it—a baby-sitting co-op, one to which they belonged in the early 1970s. Such co-ops are quite common: A group of people (in this case about 150 young couples with congressional connections) agrees to baby-sit for one another, obviating the need for cash payments to adolescents. It's a mutually beneficial arrangement: A couple that already has children around may find that watching another couple's kids for an evening is not that much of an additional burden, certainly compared with the benefit of receiving the same service some other evening. But there must be a system for making sure each couple does its fair share.

Sweeney kể câu chuyện - như bạn đoán đấy - về hợp tác xã giữ trẻ họ đã tham gia đầu những năm 1970. Những tổ hợp như thế rất phổ biến. Một nhóm người (trong trường hợp nầy là 150 cặp có quan hệ công việc với nhau tại quốc hội) thoả thuận giữ trẻ cho nhau để khỏi phải trả tiền thuê giữ. Đây là một thoả thuận có lợi cho tất cả các bên: Một cặp đã phải trông con sẽ cảm thấy nếu phải trông thêm một vài đứa trẻ khác trong một tối cũng chẳng nặng nề gì lắm, dĩ nhiên so với lợi ích mình sẽ được gửi trẻ như vậy trong những tối khác. Nhưng phải có một hệ thống để bảo đảm các cặp thực hiện trách nhiệm hợp lý của mình.

The Capitol Hill co-op adopted one fairly natural solution. It issued scrip—pieces of paper equivalent to one hour of baby-sitting time. Baby sitters would receive the appropriate number of coupons directly from the baby sittees. This made the system self-enforcing: Over time, each couple would automatically do as much baby-sitting as it received in return. As long as the people were reliable—and these young professionals certainly were—what could go wrong?

Tổ hợp Đồi Capitol áp dụng một giải pháp giản đơn công bằng. Nó phát hành những tấm vé - những mẩu giấy nhỏ có giá trị một giờ giữ trẻ. Những người trông trẻ sẽ nhận trực tiếp số vé tương ứng từ người nhờ trông trẻ. Điều nầy làm cho hệ thống tự vận hành: Theo thời gian, mỗi cặp sẽ tự động trông trẻ như họ đã được trông hộ.Chừng nào mà những người nầy cón đáng tin cậy - mà rõ ràng là những chuyên viên trẻ trung nầy đúng là như vậy - điều gì có thể xấu đi?

Well, it turned out that there was a small technical problem. Think about the coupon holdings of a typical couple. During periods when it had few occasions to go out, a couple would probably try to build up a reserve—then run that reserve down when the occasions arose. There would be an averaging out of these demands. One couple would be going out when another was staying at home. But since many couples would be holding reserves of coupons at any given time, the co-op needed to have a fairly large amount of scrip in circulation.

Vâng, có một vấn đề kỹ thuật nhỏ nẩy sinh. Hãy xem vé của một cặp điển hình. Vào những lúc ít có dịp đi chơi, một cặp sẽ cố gắng tích luỹ dự trữ vé - rồi xài hết số vé dự trữ đó khi có dịp. Có một mức trung bình của các nhu cầu nầy. Một cặp sẽ đi chơi khi có một cặp khác ở nhà. Nhưng ở một thời điểm nào đó, do có nhiều cặp muốn giữ dự trữ vé, hợp tác xã cần một lượng vé tương đối lớn trong lưu thông.

Now what happened in the Sweeneys' co-op was that, for complicated reasons involving the collection and use of dues (paid in scrip), the number of coupons in circulation became quite low. As a result, most couples were anxious to add to their reserves by baby-sitting, reluctant to run them down by going out. But one couple's decision to go out was another's chance to baby-sit; so it became difficult to earn coupons. Knowing this, couples became even more reluctant to use their reserves except on special occasions, reducing baby-sitting opportunities still further.

Bây giờ, điều xảy ra với hợp tác xã của Sweeney là, do những lý do phức tạp liên quan đến việc thu thập và sử dụng vé, số lượng vé trong lưu thông còn lại rất ít. Điều đó làm cho các cặp lo lắng tăng thêm dự trữ bằng cách trông trẻ, miễn cưỡng đi chơi tiêu xài số vé. Nhưng quyết định đi chơi của cặp nầy là cơ hội trông trẻ cho cặp khác; vì thế rất khó để kiếm được vé. Hiểu được điều nầy các cặp lại càng miễn cưỡng sử dụng dự trữ của họ hơn trừ những dịp đặc biệt, cơ hội giữ trẻ lại càng giảm đi.

In short, the co-op had fallen into a recession.

Since most of the co-op's members were lawyers, it was difficult to convince them the problem was monetary. They tried to legislate recovery—passing a rule requiring each couple to go out at least twice a month. But eventually the economists prevailed. More coupons were issued, couples became more willing to go out, opportunities to baby-sit multiplied, and everyone was happy. Eventually, of course, the co-op issued too much scrip, leading to different problems ...

Nói ngắn gọn, hợp tác xã đó đã rơi vào suy thoái.

Do phần lớn các thành viên là luật sư, rất khó thuyết phục họ vấn đề ở đây là vấn đề tiền tệ. Họ cố gắng ban hành luật pháp để khôi phục - thông qua luật yêu cầu mỗi cặp phải đi chơi ít nhất hai lần một tháng. Nhưng rốt cuộc các nhà kinh tế đã thắng thế. Nhiều vé hơn được phát ra, các cặp muốn đi chơi nhiều hơn, cơ hội giữ trẻ tăng vọt, mọi người đều vui vẻ. Cuối cùng, hiển nhiên thôi, tổ hợp phát hành quá nhiều vé, dẫn đến những vấn đề khác...

If you think this is a silly story, a waste of your time, shame on you. What the Capitol Hill Baby-Sitting Co-op experienced was a real recession. Its story tells you more about what economic slumps are and why they happen than you will get from reading 500 pages of William Greider and a year's worth of Wall Street Journal editorials. And if you are willing to really wrap your mind around the co-op's story, to play with it and draw out its implications, it will change the way you think about the world.

Nếu bạn nghĩ đây chỉ là một câu chuyện ngu xuẩn, một sự lãng phí thời gian của bạn thì bạn thật đáng trách. Cái mà Hợp Tác Xã Đồi Capitol trải nghiệm là một sự suy thoái thực sự.Câu chuyện của nó giúp cho bạn hiểu được suy thoái kinh tế là gì, tại sao nó xảy ra còn nhiều hơn là đọc 500 trang sách của William Greitler và một năm tạp chí Wall Street Journal.Và nếu bạn đắm mình vào câu chuyện đó, vui đùa cùng nó và rút ra những hiểu biết, nó sẽ làm thay đổi cách thức bạn suy nghĩ về thế giới nầy.

For example, suppose that the U.S. stock market was to crash, threatening to undermine consumer confidence. Would this inevitably mean a disastrous recession? Think of it this way: When consumer confidence declines, it is as if, for some reason, the typical member of the co-op had become less willing to go out, more anxious to accumulate coupons for a rainy day. This could indeed lead to a slump—but need not if the management were alert and responded by simply issuing more coupons. That is exactly what our head coupon issuer Alan Greenspan did in 1987—and what I believe he would do again. So as I said at the beginning, the story of the baby-sitting co-op helps me to remain calm in the face of crisis.

Chẳng hạn, giả sử thị trường chứng khoán Mỹ sụp đổ, đe doạ huỷ hoại niềm tin của người tiêu dùng. Điều nầy không tránh khỏi là một cuộc suy thoái thảm khốc ? Hãy suy nghĩ điều đó theo cách nầy: Khi niềm tin của người tiêu dùng suy giảm, nó sẽ như vậy, vì một vài lý do nào đó, thành viên của tổ hợp sẽ giảm mong muốn đi chơi, lo lắng tích luỹ vé cho những ngày khó khăn. Điều nầy có thể thực sự đưa đến một sự suy giảm - nhưng không nhất thiết là vậy nếu ban quản lý nhạy bén và phản ứng bằng cách phát hành nhiều vé hơn. Đó chính xác là việc mà người phát hành vé xếp sòng của chúng ta Alan Greenspan làm trong năm 1987 - và tôi tin là ông ấy sẽ còn làm nữa. Vì thế, như tôi đã nói ở phần đầu, câu chuyện hợp tác xã giữ trẻ giúp tôi giữ được bình tĩnh khi gặp khủng hoảng.

Or suppose Greenspan did not respond quickly enough and that the economy did indeed fall into a slump. Don't panic. Even if the head coupon issuer has fallen temporarily behind the curve, he can still ordinarily turn the situation around by issuing more coupons—that is, with a vigorous monetary expansion like the ones that ended the recessions of 1981-82 and 1990-91. So as I said, the story of the baby-sitting co-op helps me remain hopeful in times of depression.

Hoặc, giả sử Greenspan không phản ứng kịp thời và nền kinh tế thực sự đã rơi vào suy thoái. Đừng hốt hoảng. Ngay cả khi người phụ trách phát hành vé tạm thời bị tụt lại phía sau đường cong, thông thường ông ta vẫn có thể xoay chuyển tình thế bằng cách phát hành thêm vé - đó là việc gia tăng tiền tệ mạnh mẽ như những đợt đã làm chấm dứt các cuộc suy thoái 1981-1982 và 1990-1991. Vì vậy, như tôi đã nói, câu chuyện hợp tác giữ trẻ giúp tôi duy trì hy vọng trong những lúc suy sụp.

Above all, the story of the co-op tells you that economic slumps are not punishments for our sins, pains that we are fated to suffer. The Capitol Hill co-op did not get into trouble because its members were bad, inefficient baby sitters; its troubles did not reveal the fundamental flaws of "Capitol Hill values" or "crony baby-sittingism." It had a technical problem—too many people chasing too little scrip—which could be, and was, solved with a little clear thinking. And so, as I said, the co-op's story helps me to resist the pull of fatalism and pessimism.

Trên tất cả mọi điều, câu chuyện hợp tác xã nầy cho bạn biết rằng suy giảm kinh tế không phải là sự trừng phạt dành cho tội lỗi của chúng ta, không phải là nỗi đau số phận buộc chúng ta phải gánh chịu. Hợp tác xã Đồi Capitol rơi vào rắc rối không phải vì các thành viên của nó là những người giữ trẻ tồi, kém kiệu quả; các rắc rối của nó không cho thấy một sai sót cơ bản nào của "các giá trị Đồi Capitol" hay "chủ nghĩa giữ trẻ thân hữu." Nó có một vấn đề kỹ thuật - quá nhiều người theo đuổi một số vé quá ít - điều mà có thể, và đã được, giải quyết với một chút tư duy sáng suốt. Và vì vậy, như tôi đã nói, câu chuyện tổ hợp giúp tôi kháng sự lại sự buông trôi theo chủ nghĩa định mệnh và bi quan.

But if it's all so easy, how can a large part of the world be in the mess it's in? How, for example, can Japan be stuck in a seemingly intractable slump—one that it does not seem able to get out of simply by printing coupons? Well, if we extend the co-op's story a little bit, it is not hard to generate something that looks a lot like Japan's problems—and to see the outline of a solution.

Nhưng nếu mọi thứ quá dễ dàng như thế, tại sao một phần lớn thế giới lại rơi trong hỗn loạn? Ví dụ, tại sao nước Nhật lại có thể bị kẹt trong sự suy giảm trông như khó chữa - sự suy giảm dường như không thể thoát ra đơn giản bằng cách in vé? Vâng, nếu chúng ta mở rộng câu chuyện một chút, không quá khó để tạo ra một cái gì đó rất giống với các vấn đề của nước Nhật - và xem xét các nét đại cương của giải pháp.

First, we have to imagine a co-op the members of which realized there was an unnecessary inconvenience in their system. There would be occasions when a couple found itself needing to go out several times in a row, which would cause it to run out of coupons—and therefore be unable to get its babies sat—even though it was entirely willing to do lots of compensatory baby-sitting at a later date. To resolve this problem, the co-op allowed members to borrow extra coupons from the management in times of need—repaying with the coupons received from subsequent baby-sitting. To prevent members from abusing this privilege, however, the management would probably need to impose some penalty—requiring borrowers to repay more coupons than they borrowed.

Trước hết, chúng ta phải hình dung một tổ hợp mà các thành viên của nó hiểu rõ có một sự bất tiện không cần có trong hệ thống. Có những dịp một cặp cần đi chơi nhiều lần liên tục và sẽ xài hết số vé của mình – và vì thế không thể gửi con của mình – cho dù họ thực sự mong muốn sau đó sẽ trông trẻ thật nhiều để bù lại. Để giải quyết vấn đề nầy, tổ hợp cho phép thành viên được mượn vé vượt mức từ ban quản lý khi cần – và trả lại bằng vé nhận được từ việc giữ trẻ sau này (*). Tuy vậy, để ngăn ngừa thành viên lạm dụng ưu tiên nầy, ban quản lý sẽ áp dụng một số hình phạt yêu cầu người mượn phải trả lại số vé nhiều hơn số đã mượn.

Under this new system, couples would hold smaller reserves of coupons than before, knowing they could borrow more if necessary. The co-op's officers would, however, have acquired a new tool of management. If members of the co-op reported it was easy to find baby sitters and hard to find opportunities to baby-sit, the terms under which members could borrow coupons could be made more favorable, encouraging more people to go out. If baby sitters were scarce, those terms could be worsened, encouraging people to go out less.

Trong hệ thống mới nầy, các cặp sẽ dự trữ số vé ít hơn trước đây do biết rằng họ có thể mượn thêm khi cần. Tuy vậy, ban quản lý hợp tác xã cần có một công cụ quản lý mới. Nếu các thành viên của nó thông báo rằng quá dễ tìm người trông trẻ và rất khó có cơ hội để giữ trẻ, điều kiện để thành viên có thể mượn vé được soạn thảo thoáng hơn, khuyến khích nhiều người đi chơi. Nếu người trông trẻ hiếm đi, các điều kiện sẽ ngặt nghèo hơn, khuyến khích mọi người đi chơi ít đi.

In other words, this more sophisticated co-op would have a central bank that could stimulate a depressed economy by reducing the interest rate and cool off an overheated one by raising it.

Nói cách khác, hợp tác xã phức tạp hơn nầy sẽ là một ngân hàng trung ương có thể kích thích một nền kinh tế suy thoái bằng cách giảm lãi suất và làm dịu một nến kinh tế quá nóng bằng cách tăng lãi suất lên.

But what about Japan—where the economy slumps despite interest rates having fallen almost to zero? Has the baby-sitting metaphor finally found a situation it cannot handle?

Nhưng thế nước Nhật thì sao - nền kinh tế Nhật suy giảm cho dù lãi suất đã rơi xuống gần như bằng không? Có phải ví dụ giữ trẻ cuối cùng đã gặp phải tình huống nó không thể giải thích được?

Well, imagine there is a seasonality in the demand and supply for baby-sitting. During the winter, when it's cold and dark, couples don't want to go out much but are quite willing to stay home and look after other people's children—thereby accumulating points they can use on balmy summer evenings. If this seasonality isn't too pronounced, the co-op could still keep the supply and demand for baby-sitting in balance by charging low interest rates in the winter months, higher rates in the summer. But suppose that the seasonality is very strong indeed. Then in the winter, even at a zero interest rate, there will be more couples seeking opportunities to baby-sit than there are couples going out, which will mean that baby-sitting opportunities will be hard to find, which means that couples seeking to build up reserves for summer fun will be even less willing to use those points in the winter, meaning even fewer opportunities to baby-sit ... and the co-op will slide into a recession even at a zero interest rate.

Tốt thôi, hãy hình dung có tính thời vụ trong cung và cầu của công việc trông trẻ. Trong mùa đông, trời lạnh và ảm đạm, các cặp không muốn đi chơi nhiều mà chỉ muốn ở nhà và trông con của những người khác – qua đó tích luỹ số điểm họ có thể sử dụng vào những tối hè yên ả. Nếu tính thời vụ nầy không quá mạnh mẽ, hợp tác sẽ vẫn giữ cân bằng giữa cung và cầu của việc giữ trẻ với lãi suất thấp trong những tháng mùa đông, lãi suất cao hơn trong những tháng mùa hè. Nhưng giả sử tính thời vụ thực ra rất mạnh. Khi đó trong mùa đông, cho dù lãi suất bằng không, số cặp tìm kiếm cơ hội để trông trẻ vẫn nhiều hơn số cặp đi chơi, có nghĩa là rất khó kiếm cơ hội để trông trẻ, có nghĩa là các cặp tìm cách tăng dự trữ cho vui chơi trong mùa hè lại càng không muốn sử dụng số điểm đó trong mùa đông, có nghĩa là cơ hội giữ trẻ lại càng ít hơn… và hợp tác xã đó sẽ trượt vào suy thoái ngay cả ở mức lãi suất bằng không.

And this is the winter of Japan's discontent. Perhaps because of its aging population, perhaps also because of a general nervousness about the future, the Japanese public does not appear willing to spend enough to use the economy's capacity, even at a zero interest rate. Japan, say the economists, has fallen into the dread "liquidity trap." Well, what you have just read is an infantile explanation of what a liquidity trap is and how it can happen. And once you understand that this is what has gone wrong, the answer to Japan's problems is, of course, quite obvious.

Và bây giờ là mùa đông chán nản của nước Nhật. Có thể do dân số già nua của nó, có thể do sự lo lắng mơ hồ về tương lai, công chúng Nhật hầu như không muốn tiêu xài nhiều để sử dụng khả năng của nền kinh tế, ngay cả với lãi suất bằng không. Nước Nhật, nói như các nhà kinh tế, đã rơi vào “cái bẫy thanh khoản”chết người. Vâng, điều mà bạn vừa đọc là sự giải thích thô sơ nhất bẫy thanh khoản là gì và cách mà nó xuất hiện. Và khi mà bạn hiểu được đây chính là cái trở nên tồi tệ, câu trả lời cho vấn đề của nước Nhật, dĩ nhiên, quá rõ ràng. (**)

So the story of the baby-sitting co-op is not a mere amusement. If people would only take it seriously—if they could only understand that when great economic issues are at stake, whimsical parables are not a waste of time but the key to enlightenment—it is a story that could save the world.

Như vậy, câu chuyện của hợp tác xã giữ trẻ không chỉ là trò giải trí. Chỉ cần mọi người xem xét nó nghiêm túc - chỉ cần họ hiểu được khi nào các vấn đề kinh tế lớn trở nên nghiêm trọng, những chuyện kể kỳ lạ sẽ không còn là sự lãng phí thời gian mà là chìa khoá cho sự giác ngộ - chính đây là câu chuyện có thể cứu rỗi thế giới nầy.

Chúng ta có thể dịch chuyển câu chuyện gần hơn một chút với cách thức mà nền kinh tế thực vận hành bằng cách tưởng tượng rằng các cặp có thể mượn và cho vay vé; khi đó lãi suất trong thị trường vốn thô sơ nầy sẽ đóng vai trò mà “tỉ lệ chiết khấu” của ban quản lý hợp tác xã đóng trong câu chuyện.

Vâng, có thể không rõ ràng lắm. Vấn đề căn bản với hợp tác xã trong mùa đông là mọi người muốn tiết kiệm vé họ kiếm được trong mùa đông để dùng trong mùa hè, thậm chí ở mức lãi suất bằng không. Những về tổng thể, các thành viên của tổ hợp không có thể tích lũy việc giữ trẻ mùa đông để xài trong mùa hè. Do vậy các nõ lực cá nhân thực hiện điều đó rốt cuộc không tạo ra được gì ngoài sự suy giảm trong mùa đông.

Câu trả lời là để làm cho nó rõ ràng là điểm số kiếm được trong mùa đông sẽ bị giảm giá trị nếu giữ cho đến mùa hè - thế này, số điểm kiếm được từ năm giờ giữ trẻ trong mùa đông sẽ tan chảy còn bằng chỉ bốn giờ trong mùa hè. Điều nầy sẽ khuyến khích mọi người sử dụng các giờ giữ trẻ của họ sớm hơn và như thế tạo nhiều cơ hội giữ trẻ hơn. Bạn sẽ cảm thấy dường như có gì đó không công bằng ở đây – nó như là tước đoạt sự tiết kiệm của người khác. Nhưng hiện thực ở đây là hợp tác xã như là một tổng thể không có thể gửi ngân hàng việc giữ trẻ mùa đông để sử dụng trong mùa hè, như thế nó thực sự làm biến dạng động cơ của các thành viên để cho phép họ trao đổi những giờ mùa đông lấy những giờ mùa hè trên cơ sở một-đổi-một.

Nhưng cái gì trong nền kinh tế không-giữ-trẻ tương ứng với vé của chúng ta bị tan chảy trong mùa hè? Câu trả lời là một nền kinh tế mắc kẹt trong bẫy thanh khoản cần có lạm phát kỳ vọng – có nghĩa là, nó cần thuyết phục mọi người rằng đồng yên mà họ cố tích trữ sau một tháng hay một năm sẽ mua được ít hơn so với hôm nay.

Việc chẩn đoán nước Nhật đang ở trong bẫy thanh khoản - và đề nghị lạm phát là một cách để thoát khỏi chiếc bẫy – đã bị phê phán khắp nơi trong những tháng qua. Nhưng họ phải đấu tranh với thành kiến cố hữu cho rằng giá cả ổn định luôn được mong muốn, rằng khuyến khích lạm phát là lừa đảo công chúng lấy mất phần thưởng xứng đáng cho sự tiết kiệm của họ để tạo ra những động cơ lầm lạc và nguy hiểm. Thưc ra, một vài nhà kinh tế và nhà phê bình cố gắng chứng tỏ rằng bất chấp vẻ bề ngoài, nước Nhật đang không kẹt trong bẫy thanh khoản, điều như vậy không thể thực sự xảy ra. Nhưng câu chuyện giữ trẻ mở rộng cho chúng ta biết nó có thể - và lạm phát thực sự là một giải pháp sửa sai kinh tế.

Translated by nguyen dinh huynh

http://www.slate.com/articles/news_and_politics/recycled/2008/10/babysitting_the_economy.html

The Accidental Theorist Lý thuyết gia bất đắc dĩ


The Accidental Theorist

Lý thuyết gia bất đắc dĩ

All work and no play makes William Greider a dull boy.

Chỉ làm và không chơi khiến cho William Greider thành một đứa trẻ đần độn

By Paul Krugman

Paul Krugman

Imagine an economy that produces only two things: hot dogs and buns. Consumers in this economy insist that every hot dog come with a bun, and vice versa. And labor is the only input to production.

Thử tưởng tượng một nền kinh tế sản xuất chỉ hai thứ: xúc xích và bánh mì. Người tiêu dùng trong nền kinh tế khăng khăng rằng cứ một xúc xích đi với một bánh mì, và ngược lại. Và lao động là đầu vào duy nhất của sản xuất

OK, timeout. Before we go any further, I need to ask what you think of an essay that begins this way. Does it sound silly to you? Were you about to turn the virtual page, figuring that this couldn't be about anything important?

OK, hết giờ. Trước khi chúng ta đi tiếp, tôi cần phải hỏi rằng bạn nghĩ một bài viết bắt đầu với cái cách như thế là cái thứ gì? Nó có vẻ ngu xuẩn? Bạn hầu như sẽ chuyển trang, cho rằng đây không thể là một cái gì đó quan trọng?

One of the points of this column is to illustrate a paradox: You can't do serious economics unless you are willing to be playful. Economic theory is not a collection of dictums laid down by pompous authority figures. Mainly, it is a menagerie of thought experiments--parables, if you like--that are intended to capture the logic of economic processes in a simplified way. In the end, of course, ideas must be tested against the facts. But even to know what facts are relevant, you must play with those ideas in hypothetical settings. And I use the word "play" advisedly: Innovative thinkers, in economics and other disciplines, often have a pronounced whimsical streak.

Một trong những tiêu điểm của bài báo nầy là minh hoạ một nghịch lý: Bạn không thể nghiên cứu kinh tế học một cách nghiêm chỉnh nếu bạn không muốn vui đùa. Lý thuyết kinh tế không phải là một tập hợp các tuyên bố của những nhân vật quyền lực khoác lác. Chủ yếu, nó là một tập hợp các thử nghiệm tư duy -- những mẩu chuyện, nếu bạn muốn gọi như thế --nhằm nắm bắt logic của các quá trình kinh tế theo cách thức được đơn giản hoá. Cuối cùng, dĩ nhiên là vậy, các ý tưởng sẽ được kiểm tra so với thực tế. Nhưng thậm chí để biết thực tế nào là thích hợp, bạn phải vui đùa cùng với các ý tưởng đó trên nền giả định. Và tôi dùng chữ “vui đùa” một cách thận trọng: Các nhà tư tưởng sáng tạo, trong kinh tế học và trong những ngành khác, thường có tính nết rất kỳ dị.

It so happens that I am about to use my hot-dog-and-bun example to talk about technology, jobs, and the future of capitalism. Readers who feel that big subjects can only be properly addressed in big books--which present big ideas, using big words--will find my intellectual style offensive. Such people imagine that when they write or quote such books, they are being profound. But more often than not, they're being profoundly foolish. And the best way to avoid such foolishness is to play around with a thought experiment or two.

Tôi cũng sẽ dùng ví dụ xúc xích và bánh mì của mình để nói về công nghệ, việc làm, và tương lai của chủ nghĩa tư bản. Những độc giả cho rằng những đề tài lớn chỉ có thể được đề cập trong những cuốn sách lớn -- những cuốn trình bày những ý tưởng lớn lao bằng những từ đao to búa lớn --sẽ cảm thấy phong cách nghiên cứu của tôi rất khó chịu. Những người như thế tưởng tượng là khi họ viết hay trích dẫn những cuốn sách như vậy, họ rất uyên bác. Nhưng thường là không phải thế, mà là họ ngu xuẩn một cách uyên bác. Và cách tốt nhất để tránh sự ngu xuẩn đó là vui chơi với một hay hai thử nghiệm tư duy.

So let's continue. Suppose that our economy initially employs 120 million workers, which corresponds more or less to full employment. It takes two person-days to produce either a hot dog or a bun. (Hey, realism is not the point here.) Assuming that the economy produces what consumers want, it must be producing 30 million hot dogs and 30 million buns each day; 60 million workers will be employed in each sector.

Vì thế hãy tiếp tục. Giả sử rằng nền kinh tế của chúng ta khởi đầu sử dụng 120 triệu nhân công, hầu như ở mức toàn dụng việc làm. Cần hai ngày công để sản xuất một cái xúc xích hay một chiếc bánh mì. (Nầy, thực tế không phải là điểm bàn ở đây.) Giả sử rằng nền kinh tế sản xuất thứ mà người tiêu dùng muốn, mỗi ngày nó phải sản xuất 30 triệu xúc xích và 30 triệu bánh bao, mỗi lĩnh vực sử dụng 60 triệu nhân công.

Now, suppose that improved technology allows a worker to produce a hot dog in one day rather than two. And suppose that the economy makes use of this increased productivity to increase consumption to 40 million hot dogs with buns a day. This requires some reallocation of labor, with only 40 million workers now producing hot dogs, 80 million producing buns.

Bây giờ, giá sử công nghệ được cải tiến cho phép một công nhân sản xuất được một xúc xích trong chỉ một ngày thay vì hai. Và giả sử nền kinh tế lợi dụng năng suất tăng lên nầy để tăng tiêu dùng lên mức 40 triệu xúc xích với bánh mì một ngày. Điều nầy đồi hỏi phân bố lại lao động, bây giờ chỉ cần 40 triệu nhân công sản xuất xúc xích, 80 triệu sản xuất bánh mì.

Then a famous journalist arrives on the scene. He takes a look at recent history and declares that something terrible has happened: Twenty million hot-dog jobs have been destroyed. When he looks deeper into the matter, he discovers that the output of hot dogs has actually risen 33 percent, yet employment has declined 33 percent. He begins a two-year research project, touring the globe as he talks with executives, government officials, and labor leaders. The picture becomes increasingly clear to him: Supply is growing at a breakneck pace, and there just isn't enough consumer demand to go around. True, jobs are still being created in the bun sector; but soon enough the technological revolution will destroy those jobs too. Global capitalism, in short, is hurtling toward crisis. He writes up his alarming conclusions in a 473-page book; full of startling facts about the changes underway in technology and the global market; larded with phrases in Japanese, German, Chinese, and even Malay; and punctuated with occasional barbed remarks about the blinkered vision of conventional economists. The book is widely acclaimed for its erudition and sophistication, and its author becomes a lion of the talk-show circuit.

Rồi thì một nhà báo nổi tiếng xuất hiện. Anh ta nhìn vào diễn biến vừa xảy ra và tuyên bố rằng một điều kinh khủng đã xảy ra: Hai mươi triệu việc làm xúc xích đã bị huỷ hoại. Khi nhìn sâu hơn vào vấn đề, anh ta phát hiện rằng sản lượng xúc xích thực tế đã tăng lên 33 phần trăm, nhưng việc làm đã giảm 33 phần trăm. Anh ta bắt đầu một công trình nghiên cứu kéo dài hai năm, đi quanh thế giới trao đổi với những tổng giám đốc, quan chức chính quyền và lãnh đạo nghiệp đoàn. Bức tranh trở nên rõ ràng hơn với anh ta: Cung đang tăng với tốc độ chóng mặt, và không có đủ nhu cầu tiêu dùng. Đúng vậy, việc làm vẫn được tạo ra ở khu vực sản xuất bánh mì, nhưng rồi cách mạng công nghệ sẽ sớm huỷ hoại việc làm ở đó thôi. Nói ngắn gọn, chủ nghĩa tư bản toàn cầu đang lao mạnh vào khủng hoảng. Ông ta viết ra các kết luận cảnh báo của mình trong một cuốn sách dày 473 trang; đầy những sự kiện giật mình về các thay đổi đang diễn ra trong công nghệ và trên thị trường toàn cầu; xen đầy những thuật ngữ tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Hoa, và thậm chí tiếng Mã-lai; và được nhấn mạnh với những nhận xét sắc sảo đặc biệt về tầm nhìn phiến diện của các nhà kinh tế truyền thống. Cuốn sách được đón nhận rộng rãi vì sự uyên bác và sắc sảo của nó, và tác giả của nó nhanh chóng trở thành con sư tử của buổi xiếc diễn thuyết.

Meanwhile, economists are a bit bemused, because they can't quite understand his point. Yes, technological change has led to a shift in the industrial structure of employment. But there has been no net job loss; and there is no reason to expect such a loss in the future. After all, suppose that productivity were to double in buns as well as hot dogs. Why couldn't the economy simply take advantage of that higher productivity to raise consumption to 60 million hot dogs with buns, employing 60 million workers in each sector?

Trong khi đó, những nhà kinh tế sửng sốt một chút, vì họ thực sự không thể hiểu được ông ta muốn nói gì. Vâng, những thay đổi công nghệ đã đưa đến sự chuyển dịch trong cấu trúc ngành của việc làm. Nhưng không có sự tổn thất thuần về việc làm (net job loss); và không có lý do gì để nghĩ đến một sự tổn thất như vậy trong tương lai. Rốt cuộc, giả sử năng suất tăng gấp đôi trong sản xuất bánh mì cũng như xúc xích. Tại sao nền kinh tế không lợi dụng năng suất cao hơn đó để tăng tiêu dùng lên 60 triệu xúc xích với bánh mì, sử dụng 60 triệu nhân công trong mỗi lĩnh vực?

Or, to put it a different way: Productivity growth in one sector can very easily reduce employment in that sector. But to suppose that productivity growth reduces employment in the economy as a whole is a very different matter. In our hypothetical economy it is--or should be--obvious that reducing the number of workers it takes to make a hot dog reduces the number of jobs in the hot-dog sector but creates an equal number in the bun sector, and vice versa. Of course, you would never learn that from talking to hot-dog producers, no matter how many countries you visit; you might not even learn it from talking to bun manufacturers. It is an insight that you can gain only by playing with hypothetical economies--by engaging in thought experiments.

Hay, đặt nó theo một cách khác: Sự tăng năng suất trong một lĩnh vực có thể rất dễ dàng làm giảm việc làm trong lĩnh vực đó. Nhưng việc giả định tăng năng suất làm giảm việc làm trong nền kinh tế như một tổng thể lại là một việc hoàn toàn khác. Trong nền kinh tế giả định của chúng ta - hiển nhiên rằng - và đúng phải như vậy - việc giảm số lượng nhân công sản xuất xúc xích làm giảm số lượng việc làm trong ngành xúc xích nhưng làm tăng một số việc làm đúng bằng như vậy trong ngành bánh mì, và ngược lại. Dĩ nhiên, bạn sẽ chảng bao giờ biết được điều đó từ những người sản xuất xúc xích, cho dù bạn đi đến bao nhiêu quốc gia; bạn cũng không biết được điều đó từ các nhà sản xuất bánh mì. Chính đó là kiến thức bạn chỉ có thể thu được bằng cách chơi đùa với những nền kinh tế giả định -- bằng việc tham gia vào những thử nghiệm tư duy.

At this point, I imagine that readers have three objections.

First, isn't my thought experiment too simple to tell us anything about the real world?

No, not at all. For one thing, if for "hot dogs" you substitute "manufactures" and for "buns" you substitute "services," my story actually looks quite a lot like the history of the U.S. economy over the past generation. Between 1970 and the present, the economy's output of manufactures roughly doubled; but, because of increases in productivity, employment actually declined slightly. The production of services also roughly doubled--but there was little productivity improvement, and employment grew by 90 percent. Overall, the U.S. economy added more than 45 million jobs. So in the real economy, as in the parable, productivity growth in one sector seems to have led to job gains in the other.

Tới lúc này, tôi hình dung độc giả có ba điều phản đối.

Thứ nhất, phải chăng thử nghiệm tư duy của tôi quá giản đơn để cho chúng ta biết được mọi thứ về thế giới thực?

Không, không hề một chút nào. Vì một điều, nếu bạn thay cho "xúc xích" bằng "sản xuất" và "bánh mì" bằng "dịch vụ," câu chuyện của tôi thực rất giống với lịch sử của nền kinh tế Mỹ trong thế hệ vừa qua. Từ năm 1970 đến nay, sản lượng sản xuất của nền kinh tế tăng xấp xỉ gấp đôi; do năng suất tăng, số việc làm đã thực tế giảm nhẹ. Việc sản xuất dịch vụ cũng xấp xỉ tăng gấp đôi -- nhưng có rất ít sự cải tiến năng suất, và việc làm tăng 90 phần trăm. Nhìn chung, nền kinh tế Mỹ đã tăng thêm 45 triệu việc làm. Như thế trong thế giới thực, cũng như trong câu chuyện kể, sự tăng năng suất trong một ngành dường như dẫn đến tăng thêm việc làm trong một ngành khác.

But there is a deeper point: A simple story is not the same as a simplistic one. Even our little parable reveals possibilities that no amount of investigative reporting could uncover. It suggests, in particular, that what might seem to a naive commentator like a natural conclusion--if productivity growth in the steel industry reduces the number of jobs for steelworkers, then productivity growth in the economy as a whole reduces employment in the economy as a whole--may well involve a crucial fallacy of composition.

Nhưng có một điểm sâu hơn: Một câu chuyện giản đơn không giống như câu chuyện đơn giản. Cho dù câu chuyện nhỏ của chúng ta phát hiện những khả năng mà không một cuộc điều tra nào có thể khám phá ra. Cụ thể, nó cho rằng cái có vẻ như là một kết luận hiển nhiên đối với một nhà bình luận ngây thơ -- nếu tăng năng suất trong ngành thép làm giảm số lượng việc làm của công nhân thép thì sự tăng năng suất trong nền kinh tế như là một tổng thể sẽ làm giảm số việc làm trong nền kinh tế như một tổng thể -- rất có thể là một sai lầm suy diễn nghiêm trọng.

But wait--what entitles me to assume that consumer demand will rise enough to absorb all the additional production? One good answer is: Why not? If production were to double, and all that production were to be sold, then total income would double too; so why wouldn't consumption double? That is, why should there be a shortfall in consumption merely because the economy produces more?

Nhưng hượm đã nào- cái gì cho phép tôi giả định rằng nhu cầu của người tiêu dùng sẽ tăng đủ để hấp thụ tất cả sản lượng tăng thêm? Một câu trả lời hay là: Tại sao không? Nếu sản xuất tăng gấp đôi, và tất cả sản lượng được bán hết, khi đó tổng thu nhập cũng sẽ gấp đôi; vì thế tại sao tiêu dùng không thể gấp đôi? Điều đó có nghĩa là, tại sao lại có sự thiếu hụt trong tiêu dùng chỉ vì nền kinh tế sản xuất nhiều hơn?

Here again, however, there is a deeper answer. It is possible for economies to suffer from an overall inadequacy of demand--recessions do happen. However, such slumps are essentially monetary--they come about because people try in the aggregate to hold more cash than there actually is in circulation. (That insight is the essence of Keynesian economics.) And they can usually be cured by issuing more money--full stop, end of story. An overall excess of production capacity (compared to what?) has nothing at all to do with it.

Dẫu sao, lại có một câu trả lời sâu hơn ở đây. Có khả năng nền kinh tế chịu đựng một sự thiếu hụt chung về cầu -- có những cuộc suy thoái. Tuy nhiên, sự suy giảm đó bản chất là về tiền tệ -- chúng xảy ra vì toàn bộ mọi người cố gắng giữ nhiều tiền mặt hơn số có thực sự trong lưu thông. (Kiến thức này là bản chất của kinh tế học Keynes.) Và chúng luôn có thể được chữa trị bằng cách phát hành thêm tiền -- chấm, hết chuyện. Một sự vượt mức công suất sản xuất chung (so với cái gì?) không dính líu mảy may gì với nó.

Perhaps the biggest objection to my hot-dog parable is that final bit about the famous journalist. Surely, no respected figure would write a whole book on the world economy based on such a transparent fallacy. And even if he did, nobody would take him seriously.

Có lẽ phản đối lớn nhất đối với câu chuyện xúc xích của tôi là chút ít cuối cùng về nhà báo nổi tiếng. Chắc chắn là không một nhân vật đáng kính nào lại viết nguyên một cuốn sách về kinh tế thế giới dựa trên những sai lầm rõ ràng đến vậy. Và cho dù có viết cũng chẳng ai quan tâm.

But while the hot-dog-and-bun economy is hypothetical, the journalist is not. Rolling Stone reporter William B. Greider has just published a widely heralded new book titled One World, Ready or Not: The Manic Logic of Global Capitalism. And his book is exactly as I have described it: a massive, panoramic description of the world economy, which piles fact upon fact (some of the crucial facts turn out to be wrong, but that is another issue) in apparent demonstration of the thesis that global supply is outrunning global demand. Alas, all the facts are irrelevant to that thesis; for they amount to no more than the demonstration that there are many industries in which growing productivity and the entry of new producers has led to a loss of traditional jobs--that is, that hot-dog production is up, but hot-dog employment is down. Nobody, it seems, warned Greider that he needed to worry about fallacies of composition, that the logic of the economy as a whole is not the same as the logic of a single market.

Nhưng trong khi nền kinh tế xúc xích-và-bánh mì là giả định, nhà báo thì không. Phóng viên của tờ Rolling Stone William B. Greider vừa mới xuất bản một cuốn sách được giới thiệu rộng rãi nhan đề One World, Ready or Not: The Manic Logic of Global Capitalism. Và cuốn sách của anh ta chính xác là cái mà tôi vừa mô tả: một sự trình bày toàn cảnh, đồ sộ nền kinh tế thế giới, hàng núi sự kiện chồng trên sự kiện (một số sự kiện quan trọng hoá ra là sai, nhưng đó là chuyện khác) để chứng minh quả quyết luận đề cung toàn cầu đang vượt cầu toàn cầu. Trời ơi, tất cả dữ kiện không tương ứng với đề tài; vì rốt cuộc chẳng là gì khác ngoài việc chứng minh rằng có nhiều ngành có năng suất tăng lên và sự xâm nhập của những nhà sản xuất mới dẫn đến sự tổn thất các việc làm truyền thống -- có nghĩa là, sản xuất xúc xích tăng, nhưng số việc làm xúc xích giảm. Dường như không một ai cảnh báo Greider anh ta cần lưu ý đến sai lầm suy diễn là logic của nền kinh tế như một tổng thể không giống với logic của một thị trường riêng lẻ.

I think I know what Greider would answer: that while I am talking mere theory, his argument is based on the evidence. The fact, however, is that the U.S. economy has added 45 million jobs over the past 25 years--far more jobs have been added in the service sector than have been lost in manufacturing. Greider's view, if I understand it, is that this is just a reprieve--that any day now, the whole economy will start looking like the steel industry. But this is a purely theoretical prediction. And Greider's theorizing is all the more speculative and simplistic because he is an accidental theorist, a theorist despite himself--because he and his unwary readers imagine that his conclusions simply emerge from the facts, unaware that they are driven by implicit assumptions that could not survive the light of day.

Tôi nghĩ tôi biết điều mà Greider sẽ trả lời là: trong lúc tôi chỉ nói về lý thuyết, còn lập luận của anh ta lại dựa trên thực tế. Tuy vậy, sự thực là nền kinh tế Mỹ đã tăng thêm 45 triệu việc làm nữa trong vòng 25 năm qua -- quá nhiều việc làm đã được tăng thêm trong lĩnh vực dịch vụ vượt hẳn số việc làm mất đi trong lĩnh vực sản xuất. Quan điểm của Greider, nếu tôi có thể hiểu được, cho rằng đây chỉ là sự giảm nhẹ -- rằng bây giờ bất cứ ngày nào, toàn bộ nền kinh tế sẽ bắt đầu giống như ngành thép. Nhưng thuần tuý chỉ là tiên đoán lý thuyết. Và sự lý thuyết hoá của Greider hoàn toàn là tự biện và giản đơn vì anh ta là một nhà lý thuyết bất đắc dĩ, một nhà lý thuyết bất chấp chính mình -- bởi vì anh ta và những độc giả khinh suất của mình tưởng tượng rằng các kết luận của anh ta đơn giản nảy sinh từ dữ kiện, không biết được rằng chúng được dẫn dắt bởi những giả định ngầm không thể tồn tại dưới ánh sáng ban ngày.

Needless to say, I have little hope that the general public, or even most intellectuals, will realize what a thoroughly silly book Greider has written. After all, it looks anything but silly--it seems knowledgeable and encyclopedic, and is written in a tone of high seriousness. It strains credibility to assert the truth, which is that the main lesson one really learns from those 473 pages is how easy it is for an intelligent, earnest man to trip over his own intellectual shoelaces.

Không cần phải nói rằng tôi rất ít hy vọng công chúng, và thậm chí một số trí thức, sẽ nhận biết Greider đã viết một cuốn sách cực kỳ ngu xuẩn đến thế nào. Rốt cuộc, nó chẳng là cái gì ngoài sự ngu xuẩn -- nó trông có vẻ hiểu biết và uyên bác, và được viết với giọng văn cực kỳ nghiêm chỉnh. Nó dùng sự khả tín để khẳng định chân lý, bài học chính người ta có thể học được từ473 trang sách đó là thật quá dễ để một người thông minh, nhiệt tình đạp phải dây giày tri thức của chính mình.

Why did it happen? Part of the answer is that Greider systematically cut himself off from the kind of advice and criticism that could have saved him from himself. His acknowledgements conspicuously do not include any competent economists--not a surprising thing, one supposes, for a man who describes economics as "not really a science so much as a value-laden form of prophecy." But I also suspect that Greider is the victim of his own earnestness. He clearly takes his subject (and himself) too seriously to play intellectual games. To test-drive an idea with seemingly trivial thought experiments, with hypothetical stories about simplified economies producing hot dogs and buns, would be beneath his dignity. And it is precisely because he is so serious that his ideas are so foolish.

Tại sao nó lại xảy ra? Một phần của câu trả lời là Greider đã tách mình một cách hệ thống khỏi sự phê phán và khuyên bảo vốn có thể cứu ông ta khỏi chính mình. Sự thừa nhận rõ ràng của ông ta không bao gồm bất cứ một nhà kinh tế hiểu biết nào --không phải là một điều ngạc nhiên, một người cho rằng, đối với một người mô tả kinh tế học là "không thực sự là một khoa học tới mức như một dạng tiên tri mang đầy giá trị." Nhưng tôi cũng nghi ngờ rằng Greider là nạn nhân của sự nghiêm túc của chính mình. Ông ta rõ ràng đã lấy đề tài của mình (và cả bản thân) một cách quá nghiêm túc để chơi trò chơi trí tuệ. Để kiểm tra một ý tưởng bằng những thử nghiệm tư duy có vẻ bình thường, bằng những câu chuyện giả định về nền kinh tế giản lược sản xuất xúc xích và bánh mì, có lẽ không xứng với phẩm cách của ông ta. Và chính xác bởi vì ông ta nghiêm túc tới mức ý tưởng của ông ta ngu xuẩn đến vậy.

Translated by nguyen dinh huynh

http://www.slate.com/articles/business/the_dismal_science/1997/01/the_accidental_theorist.single.html

No Pain, No Gain? The case against recession, past and present. Không đau Sao đẻ? Suy thoái, quá khứ và hiện tại.


No Pain, No Gain?

The case against recession, past and present.

Không đau Sao đẻ?

Suy thoái, quá khứ và hiện tại.

By Paul Krugman

Paul Krugman

Paul Krugman writes a twice-weekly column for the New York Times and is professor of economics and international affairs at Princeton University.

Paul Krugman viết các bài đăng hai lần một tuần cho tờ New York Times và là giáo sư kinh tế và các vấn đề quốc tế tại Đại học Princeton.

Once upon a time there was a densely populated island nation, which, despite its lack of natural resources, had managed through hard work and ingenuity to build itself into one of the world's major industrial powers. But there came a time when the magic stopped working. A brief, overheated boom was followed by a slump that lingered for most of a decade. A country whose name had once been a byword for economic prowess instead became a symbol of faded glory.

Ngày xưa có một đảo quốc dân cư đông đúc, dù thiếu thốn tài nguyên thiên nhiên, nhưng bằng lao động cần cù và sự thông minh đã tự mình phát triển thành một thế lực công nghiệp chính của thế giới. Nhưng rồi đến một ngày điều kỳ diệu kết thúc. Sự bùng nổ quá nóng ngắn ngủi được tiếp nối với sự suy giảm kéo dài trong gần một thập kỷ. Một đất nước mà tên tuổi một thời là tấm gương về sự tiên tiến kinh tế giờ thành hình ảnh của vinh quang lụi tàn.

Inevitably, a dispute raged over the causes of and cures for the nation's malaise. Many observers attributed the economy's decline to deep structural factors--institutions that failed to adapt to a changing world, missed opportunities to capitalize on new technologies, and general rigidity and lack of flexibility. But a few dissented. While conceding these factors were at work, they insisted that much of the slump had far shallower roots--that it was the avoidable consequence of an excessively conservative monetary policy, one preoccupied with conventional standards of soundness when what the economy really needed was to roll the printing presses.

Như một điều hiển nhiên, cuộc tranh luận về nguyên nhân và cách chữa trị căn bệnh của nền kinh tế bùng phát. Nhiều nhà quan sát đổ cho các nhân tố cấu trúc sâu xa là nguyên nhân của sự suy thoái của nền kinh tế -- các thiết chế thất bại trong việc thích ứng với một thế giới đang thay đổi, các cơ hội tận dụng các công nghệ mới bị bỏ lỡ, sự cứng nhắc phổ biến và thiếu tính linh hoạt. Nhưng có một ít bất đồng. Trong khi thừa nhận các nhân tố này có ảnh hưởng, họ khẳng định rằng phần lớn cuộc suy thoái có nguồn gốc đơn giản hơn --đó chính là kết quả không tránh khỏi của một chính sách tiền tệ bảo thủ quá mức, chính sách gắn chặt với tiêu chuẩn kiểu cũ về tính hợp lý khi mà cái nền kinh tế thực sự cần là chạy máy in.

Needless to say, the "inflationists" were dismissed by mainstream opinion. Adopting their proposals, argued central bankers and finance ministry officials, would undermine confidence and hence worsen the slump. And even if inflationary policies were to give the economy a false flush of artificial health, they would be counterproductive in the long run because they would relax the pressure for fundamental reform. Better to take the bitter medicine now--to let unemployment rise, to force companies to purge themselves of redundant capacity--than to postpone the day of reckoning.

Không cần phải nói, "những nhà lạm phát học" bị quan điểm chủ đạo loại ra. Các ngân hàng trung ương và các quan chức bộ tài chính cho rằng, áp dụng đề nghị của họ sẽ huỷ hoại niềm tin và làm cho sự suy thoái càng tệ thêm. Và thậm chí nếu chính sách lạm phát mang lại cho nền kinh tế một cú giật sức khoẻ nhân tạo giả, chúng sẽ phản tác dụng trong dài hạn vì chúng sẽ làm dịu sức ép đòi hỏi sự đổi mới cơ bản. Tốt hơn là uống thuốc đắng bây giờ --cứ để thất nghiệp tăng, buộc các công ty phải thanh lý công suất thừa --còn hơn là trì hoãn ngày phán xét.

OK, OK, I've used this writing trick before. The previous paragraphs could describe the current debate about Japan. (I myself am, of course, the most notorious advocate of inflation as a cure for Japan's slump.) But they could also describe Great Britain in the 1920s--a point brought home to me by my vacation reading: the second volume of Robert Skidelsky's biography of John Maynard Keynes, which covers the crucial period from 1920 to 1937. (The volume's title, incidentally, is John Maynard Keynes:The Economist as Savior.)

OK, OK, Tôi đã từng sử dụng thủ thuật viết lách thế nầy trước đây. Đoạn ở trên có thể mô tả cuộc tranh luận hiện thời về nước Nhật. (Chính tôi, dĩ nhiên, là người ủng hộ mạnh mẽ nhất việc dùng lạm phát để chữa trị sự suy thoái của Nhật.) Nhưng chúng cũng mô tả nước Anh trong những năm 1920--một điểm tôi đọc được trong kỳ nghỉ: tập hai cuốn tiểu sử John Maynard Keynes của Robert Skidelsky, nghiên cứu giai đoạn quan trọng từ năm 1920 đến 1937. (Tên của tập sách, một cách ngẫu nhiên, là John Maynard Keynes:Nhà kinh tế học - Vị Cứu tinh)

Skidelsky's book, believe it or not, is actually quite absorbing: Although he was an economist, Keynes led an interesting life--though, to tell the truth, what I personally found myself envying was the way he managed to change the world without having to visit quite so much of it. (Imagine being a prominent economist without once experiencing jet lag, or never taking a business trip where you spent more time getting to and from your destination than you spent at it.) And anyone with an interest in the history of economic thought will find the tale of how Keynes gradually, painfully arrived at his ideas--and of how his emerging vision clashed with rival schools of thought--fascinating.

Cuốn sách của Skidelsky, tin hay không, thực sự rất hấp dẫn: Cho dù là một nhà kinh tế học, Keynes có một cuộc sống thú vị, nói thật, cái làm tôi tự thấy ghen tị là cái cách mà ông ấy làm để thay đổi thế giới mà không cần đi lại thăm thú quá nhiều nơi. (Hãy hình dung để trở thành một nhà kinh tế học lỗi lạc mà chưa từng phải chịu mệt mỏi do chênh lệch múi giờ, hoặc chưa bao giờ phải có những chuyến đi đến những nơi mà thời gian đi lại còn nhiều hơn là thời gian dừng lại nơi đó.) Và bất cứ ai quan tâm đến lịch sử tư tưỏng kinh tế sẽ tìm thấy câu chuyện kể cách thức Keynes dần dần và vất vả đi đến ý tưởng của mình -- và quan điểm mới mẻ của ông xung đột với các trường phái tư tưởng đối nghịch như thế nào--rất thú vị.

But the part of Skidelsky's book that really resonates with current events concerns the great debate over British monetary policy in the 1920s. Like the United States, Britain experienced an inflationary boom, fed by real estate speculation in particular, immediately following World War I. In both countries this boom was followed by a nasty recession. But whereas the United States soon recovered and experienced a decade of roaring prosperity before the coming of the Great Depression, Britain's slump never really ended. Unemployment, which had averaged something like 4 percent before the war, stubbornly remained above 10 percent. There is an obvious parallel with modern Japan, whose "bubble economy" of the late 1980s burst eight years ago and has never bounced back.

Nhưng phần quan trọng của cuốn sách của Skidelsky là phần cộng hưởng thực sự với các sự kiện hiện thời liên quan đến cuộc tranh luận ồn ào về chính sách tiền tệ của nước Anh trong những năm 1920. Giống nước Mỹ, nước Anh trải qua một đợt bùng nổ lạm phát, đặc biệt do đầu cơ bất động sản, ngay sau Chiến tranh Thế giới lần I. Ở cả hai nước, theo sau đợt bùng nổ nầy là sự suy thoái khủng khiếp. Nhưng trong khi nước Mỹ hồi phục nhanh chóng và trải qua một thập kỷ thịnh vượng sung mãn trước khi cuộc Đại Khủng Hoảng xảy ra, sự suy thoái của Anh chưa bao giờ thực sự kết thúc. Thất nghiệp, trung bình ở mức 4 phần trăm trước chiến tranh, đã ngoan cố duy trì trên 10 phần trăm. Có một sự tương tự với nước Nhật hiện đại, "nền kinh tế bong bóng" của nó trong những năm cuối 1980 vỡ tung cách đây tám năm và không bao giờ hồi phục lại.

A lmost everyone who thought about it agreed that Britain's long-run relative decline as an economic power had much to do with structural weaknesses: an overreliance on traditional industries such as coal and cotton, a class-ridden educational system that still tried to produce gentlemen rather than engineers and managers, a business culture that had failed to make the transition from the family firm to the modern corporation. (Keynes, never one to mince words, wrote that "[t]he hereditary principle in the transmission of wealth and the control of business is the reason why the leadership of the Capitalist cause is weak and stupid. It is too much dominated by third-generation men.") Similarly, everyone who thinks about it agrees that modern Japan has deep structural problems: a failure to move out of traditional heavy industry, an educational system that stresses obedience rather than initiative, a business system that insulates big company managers from market reality.

Hầu như những người từng nghĩ về nó đều đồng ý là sự suy sụp tương đối dài hạn của nước Anh vốn là một thế lực kinh tế có nhiều điều liên quan đến các nhược điểm mang tính cấu trúc: sự phụ thuộc quá mức vào các ngành truyền thống như than và bông, một hệ thống giáo dục mang tính tầng lớp vẫn cố tạo ra những nhà thượng lưu chứ không phải là các kỹ sư hay nhà quản lý, một nền văn hoá kinh doanh thất bại trong việc tạo nên sự chuyển đổi từ các doanh nghiệp gia đình thành các công ty hiện đại. (Keynes, không quanh co, viết rằng "nguyên tắc thừa kế trong sự chuyển đổi tài sản và kiểm soát doanh nghiệp chính là lý do tại sao sự lãnh đạo sự nghiệp Tư bản yếu kém và ngu dốt. Các nhân vật thế hệ thứ ba thống trị quá nhiều." Tương tự, những người nghĩ về điều đó đồng ý rằng nước Nhật hiện đại có các vấn đề cấu trúc sâu sắc: sự thất bại để thoát khỏi các nhành công nghiệp nặng truyền thống, một hệ thống giáo dục nhấn mạnh sự tuân phục thay vì sáng tạo, một hệ thống kinh doanh cách ly các nhà quản lý các công ty lớn khỏi thực tế thị trường.

But need structural problems of this kind lead to high unemployment, as opposed to slow growth? Is recession the price of inefficiency? Keynes didn't think so then, and those of us who think along related lines don't think so now. Recessions, we claim, can and should be fought with short-run palliatives; by all means let us work on our structural problems, but meanwhile let us also keep the work force employed by printing enough money to keep consumers and investors spending.

Nhưng các vấn đề cấu trúc của loại nầy liệu có nhất thiết dẫn đến thất nghiệp cao, như đã đối nghịch với tăng trưởng chậm? Có phải suy thoái là cái giá của sựu kém hiệu quả? Lúc đó Keynes không nghĩ như vậy, và những ai trong chúng ta nghĩ như các ..không nghĩ như thế lúc nầy. Suy thoái, chúng ta khẳng định, có thể và nên đối phó bằng những giải pháp tạm thời ngắn hạn; hãy để chúng ta giải quyết các vấn đề cấu trúc của mình, nhưng đồng thời cũng phải để chúng ta giữ cho lực lượng lao động có việc làm bằng cách in đủ tiền cho người tiêu dùng và các nhà đầu tư chi tiêu.

One objection to that proposal is that it will directly do more harm than good. In the 1920s the great and the good believed that an essential precondition for British recovery was a return to the prewar gold standard--at the prewar parity, that is, making a pound worth $4.86. It was believed that this goal was worth achieving even if it required a substantial fall in wages and prices--that is, general deflation. To ratify the depreciation of the pound that had taken place since 1914 in order to avoid that deflation was clearly irresponsible.

Một phản đối lại đề nghị đó là điều đó sẽ trực tiếp gây hại thay vì làm lợi. Trong những năm 1920, những người tốt và những người vĩ đại tin rằng một

điều kiện tiên quyết thiết yếu cho sự phục hồi của nước Anh là quay trở lại tiêu chuẩn vàng trước chiến tranh --có nghĩa là, làm cho một đồng bảng có giá trị $4,86, như trước chiến tranh. Người ta cho rằng mục tiêu nầy đáng để đạt được cho dù nó đòi hỏi một sự sút giảm to lớn về tiền lương và giá cả -- nghĩa là thiểu phát chung. Thông qua việc giảm giá đồng bảng vốn xảy ra từ năm 1914 để tránh lạm phát rõ ràng là vô trách nhiệm.

In modern times, of course, it would, on the contrary, seem irresponsible to advocate deflation in the name of a historical monetary benchmark (though Hong Kong is currently following a de facto policy of deflation in order to defend the fixed exchange rate between its currency and the U.S. dollar). But orthodoxy continues to prevail against the logic of economic analysis. In the case of Japan, there is a compelling intellectual case for a recovery strategy based on the deliberate creation of "managed inflation." But the great and the good know that price stability is essential and that inflation is always a bad thing.

Thời nay, dĩ nhiên sẽ ngược lại, có vẻvô trách nhiệm nếu ủng hộ lạm phát nhân danh của chuẩn mực tiền tệ lịch sử (dù Hong Kong hiện đang theo một chính sách thiểu phát thực tế (de facto) để bảo vệ tỉ giá cố định giữa đồng tiền của nó và đồng đô-la Mỹ). Nhưng tính chính thống tiếp tục thắng thế logic của phân tích kinh tế. Trong trường hợp nước Nhật, có một tình huống trí tuệ hấp dẫn cho một chiên lược hồi phục dựa trên sự tạo ra thận trọng "lạm phát được quản lý". Nhưng những người vĩ đại và những người tốt biết rằng sự ổn định giá là thiết yếu và lạm phát luôn luôn là một điều xấu.

What really struck me in Skidelsky's account, however, was the extent to which conventional opinion in the 1920s viewed high unemployment as a good thing, a sign that excesses were being corrected and discipline restored--so that even a successful attempt to reflate the economy would be a mistake. And one hears exactly the same argument now. As one ordinarily sensible Japanese economist said to me, "Your proposal would just allow those guys to keep on doing the same old things, just when the recession is finally bringing about change."

Tuy thế, điều làm tôi chú ý trong cuốn sách của Skidelsky là mức độ mà các quan điểm kiểu cũ trong những năm 1920 xem thất nghiệp cao như là một điều tốt, một dấu hiệu chỉ ra rằng sự vượt mức đang được hiệu chỉnh và kỷ luật được phục hồi --như thế ngay cả một nỗ lực thành công để phục hồi nền kinh tế cũng là một sai lầm. Và hiện nay người ta được nghe cùng một lập luận như thế. Như một nhà kinh tế Nhật hiểu biết bình thường nói với tôi, "Đề nghị của ông chỉ để cho phép những gã đó tiếp tục thực hiện những việc cũ như trước, chỉ khi cuộc suy thoái rốt cuộc mang đến sự thay đổi."

In short, in Japan today--and perhaps in the United States tomorrow--behind many of the arguments about why we can't monetize our way out of a recession lies the belief that pain is good, that it builds a stronger economy. Well, let Keynes have the last word: "It is a grave criticism of our way of managing our economic affairs, that this should seem to anyone like a reasonable proposal."

Nói ngắn gọn, ngày nay ở Nhật --và có lẽ ở Mỹ ngày mai -- nằm đằng sau những lập luận tại sao chúng ta không thể tiền tệ hoá cách thức thoát khỏi sự suy thoái là niềm tin cho rằng đau đớn là tốt, rằng nó sẽ xây dựng một nền kin tế mạnh hơn. Tốt thôi, hãy để Keyne nói lời cuối cùng: "Nó là sự phê phán nghiêm trọng cách thức quản lý hoạt động kinh tế của chúng ta, điều này có vẻ đối với bất kỳ ai là một đề nghị hợp lý."


Từ trao đổi vừa rồi với Gene Epstein của Barron's trong mục "E-Mail to the Editors", tôi rất buồn cười câu chuyện sau từ cuốn Nhà Kinh tế - Vị Cứu tinh

Năm 1931 Friedrich Hayek giảng bài tại Cambridge giải thích quan điểm của ông về cách thức đối phó với Cuộc Khủng hoảng --là "cách chữa trị nhanh nhất là đối với những ngừơi tiết kiệm nhiều hơn, đưa lại sự khôi phục trong đầu tư…" Mọi người im lặng hoàn toàn trước giải thích của ông, nhưng Richard Kahn [một trong những người giúp Keynes phát triển ý tưởng của ông] đang ngồi nghe cảm thấy cần phá vỡ tảng băng, "Có phải quan điểm của ông là," ông ta hỏi Hayek, "nếu tôi ngày mai tôi mua một cái áo choàng mới sẽ làm tăng thất nghiệp?" "Vâng," Hayek trả lời, quay trở lại tấm bảng đầy những hình tam giác, "nhưng sẽ phải có một lập luận toán học rất dài để giải thích tại sao."

Translated by Nguyen Dinh Huynh

http://www.slate.com/articles/business/the_dismal_science/1999/01/no_pain_no_gain.2.html