MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, July 31, 2011

Australian PM Talks Rights with Chinese Regime Thủ tướng Úc bàn về nhân quyền với chế độ Trung Quốc



Gillard also called for a clear and reliable legal system in China when she gave a speech to Chinese and Australian businesses


Australian PM Talks Rights with Chinese Regime

Thủ tướng Úc bàn về nhân quyền với chế độ Trung Quốc

Australian Prime Minister Juila Gillard met with Chinese Premier Wen Jiabao on Tuesday in Beijing during the final leg of her Asian tour. With economic relations high on the agenda, Gillard also pressed Wen on the Chinese regime's human rights records, and its latest crackdown on dissidents.

Thủ tướng Australia Juila Gillard đã gặp với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hôm thứ Ba tại Bắc Kinh trong chặng dừng chân cuối cùng của chuyến công du châu Á của bà. Với quan hệ kinh tế là điểm chính trong chương trình nghị sự, Thủ tướng Julia Gillard cũng nhấn mạnh với Thủ tường Ôn Gia Bảo về nhân quyền của chế độ Trung Quốc, và cuộc đàn áp mới nhất nhằm vào những người bất đồng chính kiến​​.

Australian Prime Minister Julia Gillard has expressed concerns over human rights in China during a meeting with Chinese Premier Wen Jiabao. It's Gillard's first trip to China as Prime Minister. She met with Wen in Beijing on Tuesday to discuss issues including trade relations and human rights.

Thủ tướng Australia Julia Gillard đã bày tỏ sự quan về nhân quyền tại Trung Quốc trong một cuộc họp với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Đó là chuyến đi đầu tiên của bà Gillard tới Trung Quốc với tư cách Thủ tướng Chính phủ. Bà đã gặp Ôn Gia Bảo tại Bắc Kinh vào ngày thứ Ba để thảo luận về các vấn đề bao gồm cả quan hệ thương mại và nhân quyền.

During their trade discussions, the two reached agreements on customs operation, strengthening tourism and an iron ore project. China is currently Australia's largest trading partner.

Trong các cuộc thảo luận thương mại, hai bên đã đạt thỏa thuận về hoạt động hải quan, tăng cường du lịch và một dự án quặng sắt. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Úc.

While the focus of her visit was to boost economic relations, Gillard also pressed the Chinese regime on its human rights records.

Trong khi trọng tâm của chuyến thăm của bà là để thúc đẩy quan hệ kinh tế, Julia Gillard cũng thúc ép chính quyền Trung Quốc về hồ sơ nhân quyền.

[Julia Gillard, Australian Prime Minister]:

"I did express to Premier Wen my concern and Australia's concern about the treatment of ethnic minorities, about the question of religious freedom and about recent reports in relation to human rights activists. I indicated to Premier Wen that Australia hopes this is not a backwards step being taken by China on progress on human rights."

[Julia Gillard, Thủ tướng Australia]:

"Tôi đã bày tỏ với Thủ tướng Ôn về mối quan tâm của tôi và mối quan tâm của Úc về việc đối xử với các dân tộc thiểu số, về vấn đề tự do tôn giáo và về các báo cáo gần đây liên quan đến những người hoạt động nhân quyền. Tôi bày tỏ với Thủ tướng Ôn Gia Bảo rằng Australia hy vọng đây không phải một bước thụt lùi của Trung Quốc về tiến bộ nhân quyền."

In February, the Chinese regime intensified its crackdown on dissidents, following calls for opposition to Communist Party rule.

Trong tháng hai, chính quyền Trung Quốc đã tăng cường chiến dịch trấn áp những người bất đồng chính kiến​​, kêu gọi đối lập với sự cai trị của đảng cầm quyền.

HÃY PHÁT HUY KHÁT VỌNG GHI DANH VÀO KÝ ỨC DÂN TỘC


HÃY PHÁT HUY KHÁT VỌNG GHI DANH VÀO KÝ ỨC DÂN TỘC

Hỡi các công dân đất Việt!

Con người ta sinh ra, lớn lên, ai cũng mưu cầu cuộc sống hạnh phúc, thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của bản thân về vật chất lẫn tinh thần. Đó là lẽ thường với đa số mọi người. Nhưng nó vẫn chưa đủ với một số người đặc biệt là tầng lớp tinh hoa của xã hội. Cuộc sống của bạn sẽ thiếu vắng ý nghĩa nếu bạn chọn sinh ra, lớn lên, mưu sinh và qua đời lặng lẽ. Tại sao bạn không có khát vọng đánh dấu sự tồn tại của bạn trong thời đại mình và cả trong những thời đại tiếp theo và biến nó thành một nhu cầu thiết thân như cơm ăn, nước uống hằng ngày? Tại sao bạn không mong muốn đời sống của mình được kéo dài hơn trong tâm thức của những người đồng thời và cả thế hệ tương lai? Tại sao bạn không phấn đấu để có một sự bất tử tương đối (relative immortality), như nhà bác học nổi tiếng Eisntein có nói, “đó là sự duy trì trong ký ức về một con người qua một số thế hệ”?

Dân tộc ta đã trải qua lịch sử mấy nghìn năm. Đã có biết bao người đã ra đời, đã sống nhưng không hề chết đi trong ký ức của dân tộc. Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung… vẫn còn mãi trong lòng dân tộc vì ý chí độc lập và chiến công chống giặc ngoại xâm. Chừng nào dân tộc ta còn tồn tại, còn bước đi trên lò lửa hồng của cuộc chiến sinh tồn không mệt mỏi, hình ảnh của các anh hùng dân tộc vẫn được ghi khắc trong tâm khảm nhân dân.

Nguyễn Công Trứ, ngay từ khi còn rất trẻ, đã viết câu thơ nổi tiếng:

“Đã mang tiếng đứng trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Hay:

“Không công danh thời nát với cỏ cây”

Phan Bội Châu cũng tự khẳng định vai trò của mình trong lịch sử:

“Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?”

Những nhân vật lich sử này qua cuộc đời và sự nghiệp của mình đã thổi bùng lên khát vọng được cống hiến cho dân tộc. Họ khẳng định cái tôi sang trọng và đáng kính của đấng trượng phu chứ không phải cái tôi nhỏ nhen, vị kỷ của kẻ phàm phu. Đó là cái tôi muốn hiến muốn dâng, cái tôi muốn trao tặng để nhận lấy một một món quà quý giá vô cùng: ký ức lịch sử.

Lịch sử nước nhà đã viết nên những trang vẻ vang một phần nhờ khát vọng lập thân cao cả đó. Nhưng trong những thập niên gần đây, khi chủ nghĩa hưởng lạc, cầu an và chờ thời tràn ngập đời sống xã hội, cái khát vọng chính đáng đó đã mai một đi, cái động cơ cống hiến cho xã hội của kẻ sỹ cũng tàn tạ theo. Kết quả là:

- Người ta sống vội vàng, gấp gáp, lấy sự thỏa mãn nhu cầu vật chất làm mục đích tối thượng, đôi khi là duy nhất;

- Người ta coi thường mọi phê phán về hành vi của mình, đánh mất cả lòng tự trọng tối thiểu, bất chấp dư luận, dẫn đến sự xuất hiện của chủ nghĩa mặt dày.

- Người ta sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để phục vụ mục đích thủ lợi cho cá nhân hay bè nhóm. Chủ nghĩa duy lợi lên ngôi thống trị nếp nghĩ của xã hội. Câu nói cửa miệng có thể nghe từ người dân tới quan chức bất cứ nơi đâu từ hang cùng ngõ hẽm tới cơ quan công quyền: “Anh làm thế thì có lợi gì cho anh?”

- Thế hệ thanh niên lớn lên không còn tìm thấy lý tưởng cao đẹp để phụng sự, để cống hiến, để phát huy tài năng trí lự, dần dần biến thành thực dụng và ích kỷ hay bất mãn và bất hợp tác.

Thế thì phát huy khát vọng ghi danh vào lịch sử để làm gì?

- Với những người lãnh đạo, nó giúp họ thường xuyên điều chỉnh hành vi. Có thể họ có đủ quyền lực để thống trị bia miệng một thời, nhưng họ biết mình sẽ bất lực trước phán xử của hậu thế vốn công minh và vô tư, cho nên họ sẽ phấn đấu không vì cá nhân, không vì bè nhóm mà vì dân tộc, bởi họ biết chỉ dân tộc mới có ký ức lịch sử lâu bền.

- Với trí thức, khát vọng lưu danh sẽ là động lực mạnh mẽ nhất giúp họ liên tục sáng tạo, đổi mới, đóng góp và cống hiến. Lòng yêu mến tri thức, yêu mến dân tộc cộng với khát vọng lưu danh lịch sử chắp cánh cho tài năng của bộ phận tinh hoa này của đất nước.

- Với những người dân bình thường như chúng ta, khát vọng lưu danh nơi cộng đồng, trong làng bản, chốn phố phường sẽ tạo nên những tấm gương vị tha, đạo đức, mẫu mực, sẽ tạo nên những lối sống cao đẹp, những ứng xử vượt qua giới hạn của lẽ thường, những tấm gương yêu thương, hy sinh, cống hiến để cho cả cho cộng đồng noi theo mà nhân rộng. “Nhà tôi, ba đời làm quan liêm khiết. Tôi, giấy rách cũng giữ lấy lề.”

- Với thế hệ thanh niên lớn lên sẽ có ngay những tấm gương hiển hiện trước mắt để soi mình, để phấn đấu hoàn thiện bản thân. Nếu cả nước từ người dân đến lãnh đạo ai cũng nuôi khát vọng cao đẹp đó thì cái câu “ra ngõ gặp anh hùng” không chỉ là một hoài niệm đẹp trong quá khứ nữa.

Có người hỏi nó có phải là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không? Thưa, đích thị nó là chủ nghĩa cá nhân, nhưng là một thứ cá nhân biết quên mình cho tập thể: khi còn sống thì sống với hơi thở thời đại, và mong được ghi nhớ như một cá nhân bất tử khi đã qua đời. Vậy, chủ nghĩa cá nhân đó không đáng được ngợi ca hay sao?

Tuy nhiên, đừng tìm cách đánh lừa lịch sử để lưu hư danh. Lịch sử có thể mắt nhắm mắt mở nhưng không bao giờ mù lòa. Một chính trị gia phương Tây đã thú nhận: “Ta có thể lừa một người trong mọi lúc. Ta cũng có thể lừa mọi người trong một lúc. Nhưng ta không thể lừa mọi người trong mọi lúc.” (You can fool some of the people all of the time, and all of the people some of the time, but you can not fool all of the people all of the time.- Abraham Lincoln)

Patriot Nguyen

Albert Einstein on God and Buddhism ALBERT EINSTEIN VỚI THƯỢNG ĐẾ VÀ PHẬT GIÁO


Albert Einstein on God and Buddhism

ALBERT EINSTEIN VỚI THƯỢNG ĐẾ VÀ PHẬT GIÁO

The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism. (Albert Einstein)

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo ấy phải vươt lên Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết.thần học. Bao trùm cả tự nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa. Đạo Phật trả lời cho những sự mô tả này. Nếu có một tôn giáo mà có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật.( Albert Einstein)

It was, of course, a lie what you read about my religious convictions, a lie which is being systematically repeated. I do not believe in a personal God and I have never denied this but have expressed it clearly. If something is in me which can be called religious then it is the unbounded admiration for the structure of the world so far as our

science can reveal it. (Albert Einstein, 1954) From Albert Einstein: The Human Side, edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman, Princeton University Press

Dĩ nhiên, đấy sẽ là một sự dối trá với những gì quý vị đọc về nhận thức tội lỗi của tôi, một sự lừa bịp đang được lập đi lập lại một cách có hệ thống. Tôi không tin tưởng một Thượng đế và tôi chưa bao giờ phủ nhận điều ấy mà đã từng tuyên bố một cách rõ ràng. Nếu có điều gì ấy trong tôi có thể được gọi là tôn giáo thế thì đấy sẽ là niềm ngưỡng mộ vô biên đối với cấu trúc của thế giới đến tận cùng những gì khoa học chúng ta có thể khám phá nó. (Albert Einstein, 1954) From Albert Einstein: The Human Side, edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman, Princeton University Press

Scientific research is based on the idea that everything that takes place is determined by laws of nature, and therefore this holds for the action of people. For this reason, a research scientist will hardly be inclined to believe that events could be influenced by a prayer, i.e. by a wish addressed to a Supernatural Being. (Albert Einstein, 1936) Responding to a child who wrote and asked if scientists pray.

Source: Albert Einstein: The Human Side, Edited by Helen Dukas and Banesh Hoffmann

Sự nghiên cứu của khoa học căn cứ trên ý tưởng rằng mọi thứ hiện hữu được quyết định bởi những định luật tự nhiên, và do thế điều này có nghĩa là vì những hành động của con người. Vì lý do này, một nhà nghiên cứu khoa học sẽ khó mà có khuynh hướng tin tưởng những sự kiện có thể bị ảnh hưởng bởi một sự cầu nguyện. (Albert Einstein, 1936) Trả lời cho một thiếu niên hỏi về việc nhà khoa học có cầu nguyện không. Source:Albert Einstein: The Human Side, Edited by Helen Dukas and Banesh Hoffmann

A man's ethical behavior should be based effectually on sympathy, education, and social ties and needs; no religious basis is necessary. Man would indeed be in a poor way if he had to be restrained by fear of punishment and hope of reward after death. (Albert Einstein, "Religion and Science", New York Times Magazine, 9 November 1930

Thái độ của một người nên được căn cứ một cách có hiệu quả trên những mối liên hệ và nhu cầu thông cảm, học vấn, và xã hội; không có căn bản tôn giáo nào là cần thiết. Con người quả thực sẽ ở trong một cung cách nghèo nàn nếu người ta phải bị hạn chế bởi sợ hãi của sự trừng phạt và hy vọng tưởng thưởng sau khi chết. (Albert Einstein,"Religion and Science", New York Times Magazine, 9 November 1930

I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures, or has a will of the kind that we experience in ourselves. Neither can I nor would I want to conceive of an individual that survives his physical death; let feeble souls, from fear or absurd egoism, cherish such thoughts. I am satisfied with the mystery of the eternity of life and with the awareness and a glimpse of the marvelous structure of the existing world, together with the devoted striving to comprehend a portion, be it ever so tiny, of the Reason that manifests itself in nature.

(Albert Einstein, The World as I See It)

Albert Einstein on Buddhism

Tôi không thể tưởng tượng một Thượng đế, kẻ tưởng thưởng và trừng phạt những tạo vật của mình, hay có môt ý chí mà chúng ta trãi nghiệm với chính mình. Tôi cũng không có thể cũng không muốn nghĩ đến việc một con người tồn tại sau cái chết thân thể của mình; hãy để những linh hồn yếu đuối, từ sự sợ hãi hay tự ngã ngớ ngẫn, yêu mến tư tưởng ấy. Tôi hài lòng với sự huyền bí của đời sống vô tận và với sự tỉnh thức và đại cương cấu trúc diệu kỳ của thế giới hiện hữu. cùng với sự cố gắng cống hiến để lĩnh hội phần mình, bởi vì nó mãi mãi là quá bé nhỏ, của Chân Lý đã tự biểu hiện trong thiên nhiên. (Albert Einstein, The World as I See It)

Albert Einstein on God and Buddhism

Tuệ Uyển chuyển ngữ - 24/08/2010

Saturday, July 30, 2011

БАБЬЕ ЛЕТО Ольга Берггольц -Indian summer - Mùa hè rớt Olga Berggolx


БАБЬЕ ЛЕТО
Ольга Берггольц
Mùa hè rớt
Olga Berggolx
Есть время природы особого света,
неяркого солнца, нежнейшего зноя.
Оно называется бабье лето
и в прелести спорит с самою весною.
Có một mùa trong sáng diệu kỳ
Cái nắng êm ru, màu trời không chói
Mùa hè rớt – cho những người yếu đuối
Cứ ngỡ ngàng như nắng mới vào xuân
Уже на лицо осторожно садится
летучая, легкая паутина...
Как звонко поют запоздалые птицы!
Как пышно и грозно пылают куртины!
Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng
Khe khẽ như không, dịu dàng, phơ phất
Lanh lảnh bầy chim bay đi muộn nhất
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu
Давно отгремели могучие ливни,
всё отдано тихой и темною нивой...
Всё чаще от взгляда бываю счастливой,
всё реже и горше бываю ревнивой.
Những trận mưa rào đã tắt từ lâu
Tất cả thấm trong cánh đồng lặng sẫm
Hạnh phúc – ít hơn, khóc nhìn say đắm
Ghen tuông – dù chua chát cũng thưa hơn
О мудрость щедрейшего бабьего лета,
с отрадой тебя принимаю... И всё же,
любовь моя, где ты, аукнемся, где ты?
А рощи безмолвны, а звезды всё строже...
Ôi cái mùa đại lượng rất thân thương
Ta cảm nhận vì người sâu sắc quá!
Nhưng ta nhớ, trời ơi, ta cứ nhớ
Tình yêu đâu?… Rừng lặng bóng sao mờ
Вот видишь - проходит пора звездопада,
и, кажется, время навек разлучаться...
...А я лишь теперь понимаю, как надо
любить, и жалеть, и прощать, и прощаться.
Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm
Ta biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt
Nhưng chỉ mãi bây giờ ta mới biết
Yêu đương, giận hờn, tha thứ, chia tay…
1956, 1960
Bằng Việt dịch




Indian summer
Olga Berggholz
Hè rớt
Olga Berggholz
There is time of nature that fills with special light,
pale sun, and tender heat
It is called indian summer
and its charm reminds me of spring
Có những ngày thiên nhiên trong sáng lạ,
nắng dịu êm, khí trời không oi ả.
Vẫn gọi là hè rớt trước thu sang
vẻ mỹ miều đâu có kém mùa xuân
Cobweb flies lightly over the face
As bell sing late birds
As groves blaze magnificently and threateningly!
Óng ánh mịn màng, gió vờn phơ phất
tơ nhện nhẹ vươn trên mặt khách qua đường
Chậm bay trú đông đàn chim hót du dương
Rực rỡ sáng, những bồn hoa khoe sắc
Heavy rains have gone long ago,
All are quiet in dark fields
Happiness increases more than jealousy
Những cơn mưa rào từ lâu đã dứt,
cánh đồng thẩm xanh bát ngát nước đủ đầy...
Hạnh phúc đến nhiều hơn từ những điều em bắt gặp thường ngày
em ít ghen nhưng khi ghen cay đắng lại nhiều hơn
Oh ... wisdom indian summer
I can feel you with joy
But, the love of mine, where are you?
Groves never tell, and stars are stricter…
Hỡi vẻ đẹp hào phóng của thiên nhiên trong những ngày hè rớt,
ta hân hoan đón nhận người... Mà lòng không nguôi day dứt,
đâu mất rồi, mất rồi, tình yêu của tôi?
Rừng không đáp, và những vì sao nhìn tôi thêm khe khắc...
The time to fall down of stars is come nearlier,
and it seems like time will be separated forever
And I only now understand,
how it is necessary to love, and to feel sorry, and to pardon, and to say goodbye...
Anh thấy đấy - mùa mưa sao đã dứt
và tình mình đành đoạn tuyệt từ đây...
... Và chỉ đến hôm nay em mới hiểu đủ đầy
về tình yêu, nổi xót thương, lòng vị tha và buồn đau ly biệt.

translated by TraTTT
Phan Bạch Châu dịch - 2006






Friday, July 29, 2011

Racing for life Giành giật sự sống


Racing for life

Giành giật sự sống

Breast cancer. These words, this cold clinical diagnosis, were to shatter my life, then transform it. The words stirred a cauldron of red-hot emotions: rage, fear, hatred. Now it seems so long ago - literally another century, 1982 - when the doctor told me the condition. I remember the day and moment of the dreaded diag¬nosis as starkly as if it happened yesterday; the taste and smell of fear still lurk just below the surface of my memory.

Ung thư vú. Những từ mà người ta đã lạnh lùng chẩn đoán đã khiến cho cuộc sống của tôi đảo lộn và thay đổi hẳn. Những từ đó dấy lên trong tôi biết bao cảm xúc lẫn lộn: giận dữ, sợ hãi, và cả hận thù.

Giờ đây dường như điều đó đã qua lâu rồi - từ thời điểm năm 1982 khi bác sĩ thông báo cho tôi biết tình trạng bệnh của mình, đến nay cũng đã chuyển sang một thế kỷ khác. Tôi có thể nhớ về cái ngày và giây phút khủng khiếp đó rõ mồn một như thể nó vừa mới xảy ra hôm qua vậy. Cảm giác sợ hãi vẫn còn hằn sâu trong ký ức tôi.

It’s 1982 and I’m forty-seven years old. I run marathons reg¬ularly and long ago gave up alcohol, tobacco and red meat. So how could I have breast cancer? Surely it’s a mistake. Other people maybe, who don’t take care of themselves, but not me. Not fair!

Năm 1982, lúc đó tôi 47 tuổi. Tôi thường xuyên chạy bộ và tôi cũng đã từ bỏ rượu bia, thuốc lá và các loại thịt đỏ từ rất lâu rồi. Vậy thì làm sao tôi lại có thể mắc căn bệnh ung thư vú? Chắc hẳn phải có một sự nhầm lẫn ở đây. Người khác mắc căn bệnh này còn có thể hiểu được vì họ không quan tâm đến bản thân chứ tôi thì không thể. Thật không công bằng!

I hate it when I feel sorry for myself. I’m a strong, self-reliant female - the equivalent of a lieutenant colonel in the U.S. Air Force. I shattered the so-called preconception before most people knew what it was. I’ve raised two dynamic, smart children, largely on my own after the breakup of two tough marriages. I’ve put myself through college up to and including my doctorate. “I am woman. I am strong. Hear me roar!”. I am one tough broad. Then why am I so frightened? Why am I crying? Tears are for sissies. My value system, my identity, my whole worldview is shaking under the assault of this terrible revelation; everything is turned upside down. And I’m really, really scared. How much time do I have left? I’ve taken care of myself since I was fourteen years old. I’ve never asked for anyone’s help, nor have I ever needed it. Now I need help. But whom do I ask? And how do I ask?

Tôi cảm thấy thương hại cho bản thân mình và tôi ghét cảm giác đó vô cùng. Tôi là một phụ nữ khỏe mạnh, tự tin - những đức tính thường thấy ở một trung úy trong lực lượng không quân Hoa Kỳ. Tôi là người đã phá vỡ những định kiến trước khi mọi người thực sự nhận ra điều đó. Sau hai cuộc hôn nhân đổ vỡ, tôi hầu như tự mình nuôi dạy hai đứa con năng động, thông minh của mình. Tôi đã hoàn tất chương trình đại học và thậm chí đã lấy được bằng tiến sĩ. “Tôi là phụ nữ. Tôi có sức khỏe. Ăn nói lại mạnh mẽ.”. Tôi thuộc mẫu người cứng rắn thế thì tại sao tôi phải sợ, tại sao phải khóc? Nước mắt chỉ dành cho những kẻ yếu đuối. Hệ giá trị, bản sắc và cả thế giới quan của tôi đang bị lung lay trước một sự thật phũ phàng. Mọi thứ đều đảo ngược, và tôi thực sự sợ hãi. Tôi còn bao nhiêu thời gian nữa? Tôi đã phải tự chăm sóc bản thân mình từ năm mười bốn tuổi mà chưa hề cầu xin sự giúp đỡ của ai cũng như chưa bao giờ cần đến điều đó. Nhưng bây giờ tôi đang rất cần sự cứu giúp của một ai đó, nhưng tôi phải cầu xin ai và xin như thế nào đây?

Anger, rage and self-pity - scalpels of the psyche - cut at my core with deep and vicious slashes, like a monster turned loose inside me. A jumble of confused and ambivalent feelings rise like bile in my belly - the beginnings of an emotional roller coaster ride gone amok. To calm this emotional holocaust, I revert to the clinician in me. As a way of denial, repression, avoidance, I cling to whatever gives me momentary relief from the maelstrom of grief.

Giận dữ, điên loạn rồi than thân trách phận – tất cả như những lưỡi dao cứa vào tâm hồn tôi bằng những vết cắt sâu và sắc bén, như thể có một con quái vật đang lồng lộn cào xé tâm can tôi. Cảm giác bấn loạn, hoang mang lẫn lộn luôn trỗi dậy trong tôi - đó cũng là khởi đầu cho một cảm giác quay cuồng điên loạn. Để làm dịu bớt những cảm giác có tính hủy diệt như thế, tôi quyết định trở lại với bác sĩ lâm sàng của mình. Như một cách để phủ nhận, kiềm nén, lảng tránh sự thật, tôi đã bấu víu vào bất kỳ thứ gì, miễn là nó có thể giúp tôi tạm lắng bớt nỗi đau đớn đó.

Infiltrating ductal carcinoma - a moderately fast-metastasizing cancer. The doctors had been following it for the three years since I had first reported a suspicious lump in my right breast. Now it had grown to the size of a golf ball. I know because I saw it. I had insisted on watching the surgery when they removed the large, red, ugly mass of deadly tissue. But because the cancer had spread through the whole breast, the surgeons told me that they needed to perform a modified radical mastectomy. As soon as I recovered from that surgery, they would then have to remove the other breast due to its high risk of being cancerous as well. Worse yet, in the three-year period that the doctors had been “watch¬ing” the tumor, it had spread to my bones and left lung.

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa thâm nhập là một dạng ung thư di căn nhanh chóng nhưng diễn ra rất thầm lặng. Các bác sĩ đã theo dõi căn bệnh trong vòng ba năm kể từ khi tôi thông báo về khối u khả nghi trong ngực phải của mình. Bây giờ thì kích cỡ của khối u đó đã phát triển lớn bằng một quả bóng chơi gôn. Tôi biết bởi vì tôi đã nhìn thấy nó. Tôi đã yêu cầu được quan sát ca phẫu thuật, và tôi đã tận mắt chứng kiến họ cắt bỏ một khối mô đã chết, có kích thước lớn, màu đỏ trông rất gớm ghiếc. Nhưng do các tế bào ung thư đã lan khắp ngực nên các bác sĩ bảo rằng họ cần phải thực hiện phẫu thuật cắt bỏ một bên ngực để có thể triệt tiêu các tế bào ung thư gốc. Ngay khi tôi bình phục sau ca phẫu thuật ấy, họ lại phải cắt bỏ cả phần ngực còn lại của tôi vì nó cũng có nguy cơ ung thư rất cao. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn là trong suốt thời gian ba năm các bác sĩ “theo dõi” khối u, họ lại để nó ăn vào xương và phổi trái của tôi.

Devastated, feeling betrayed by the medical system and by my body, I enrolled in a breast cancer research study conducted by author and physician John McDougall. It required me to fol¬low a vegan diet (pure vegetarian with no animal-derived prod¬ucts). I would have tried anything to help save my life. The only difficulty here was that I could not take chemotherapy or radiation because the challenge was to see if a vegan diet alone could reverse the cancer. I talked to my then-husband. He thought I was crazy to think that diet had anything to do with breast cancer, and he believed I had fallen into the hands of a quack. Furthermore, he said he was surprised I would fall for “such garbage.” None of my friends or family knew what to advise. So I decided to set my own course and follow where it led.

Suy sụp vì cảm giác bị phản bội bởi hệ thống y tế và bởi chính cơ thể mình, tôi tình nguyện tham gia vào một nghiên cứu chữa trị bệnh ung thư vú được tiến hành bởi bác sĩ kiêm nhà văn John McDougall. Tôi phải tuân thủ một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt (hoàn toàn không sử dụng đến các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật). Tôi sẽ thử mọi cách để cứu lấy cuộc sống của chính mình. Trở ngại duy nhất ở đây là tôi không được làm hóa trị liệu hay xạ trị bởi các bác sĩ muốn biết liệu một người chỉ ăn kiêng không thôi thì có thể chống lại căn bệnh ung thư được hay không. Tôi có kể chuyện này với người chồng lúc đó của tôi. Anh ta cho rằng tôi thật không bình thường khi nghĩ rằng ăn kiêng sẽ có tác dụng tốt đối với căn bệnh ung thư vú, và anh ta cũng nghĩ rằng tôi đã rơi vào tay của một ông lang băm. Hơn nữa, chồng tôi còn nói rằng anh ta rất đỗi ngạc nhiên khi tôi lại cả tin vào những “chuyện rác rưởi” như thế. Tất cả bạn bè cũng như gia đình của tôi đều không biết nên khuyên can tôi như thế nào. Vì vậy tôi quyết định đi theo con đường mà mình đã chọn.

Around the time of my diagnosis, I saw a sporting event on television called the “lronman Triathlon.” I was captivated as I watched these superb young athletes race through a 2.4-mile swim, followed immediately by a 112-mile bike ride, then a full 26.2-mile marathon. “ I want to do that,” then I remem¬bered: You’re a cancer patient and you’re forty-seven years old - way too old to do such an event. But it wasn’t just nega¬tive self-talk; it was the voice of reason. After all, no woman that old had ever attempted the Ironman. But this idea just wouldn’t go away. With my new diet, I could swear I was feeling stronger, more energetic, faster, healthier and, I decided I was going to do it. I increased my running and added swimming, biking and even weight lifting to my training.

Vào thời điểm phải thực hiện những cuộc chẩn đoán, tôi tình cờ xem được một sự kiện thể thao trên truyền hình với tên gọi là “Cuộc thi thể thao 3 môn phối hợp dành cho những người có ý chí bằng thép”. Tôi thực sự bị lôi cuốn khi xem những vận động viên trẻ tuổi xuất sắc trổ tài. Sau khi bơi được 2,4 dặm, họ tiếp tục đạp xe qua 112 dặm rồi cuối cùng là chạy thêm 26,2 dặm đường. “Mình cũng muốn làm được điều đó.” Rồi tôi chợt nhớ: “Mình là một bệnh nhân ung thư, và 47 tuổi đã là quá già để tham gia cuộc thi này”. Nhưng đó không phải là một suy nghĩ tiêu cực mà là sự mách bảo của lý trí. Xét kỹ ra thì không một phụ nữ nào ở độ tuổi này lại tham gia cuộc thi dành cho “Những người thép”. Nhưng ý định đó vẫn không biến mất khỏi đầu tôi. Với chế độ ăn kiêng mới, tôi thấy mình mạnh mẽ hơn, sung sức hơn, nhanh nhẹn hơn và khỏe mạnh hơn. Tôi quyết định sẽ tham gia vào cuộc thi ấy. Tôi tăng cường tập chạy và tập thêm các môn bơi lội, đạp xe và thậm chí cả cử tạ nữa.

Of course, the doctors thought I was absolutely insane. “You should be resting,” they said. “All that stress on your body isn’t good for it - running marathons (much less endurance swims and 100-mile bike rides) will depress your immune system.” That’s when I stopped relying solely on the doctors for advice.

Tất nhiên, các bác sĩ bảo tôi là người hoàn toàn mất trí. Họ nói: “Cô nên nghỉ ngơi đi thì hơn. Những động tác gắng sức như thế đều không tốt cho sức khỏe của cô. Chạy bộ (đòi hỏi ít sức chịu đựng hơn bơi lội và đạp xe 100 dặm) sẽ làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cô.” Đó cũng chính là lúc tôi thôi không còn lệ thuộc hoàn toàn vào lời khuyên của bác sĩ.

Back in those days, before most people had even heard of triathlons, there was little guidance on how to train for such grueling endurance races. So I just got out there and swam until I couldn’t lift my arms, biked until I couldn’t pedal anymore, ran until I couldn’t run another step and lifted as many pounds as I could without injuring myself. To simulate actual racing condi¬tions, I entered every race I could find. If there were two on the same day, so much the better, because that would force me to race when tired, a condition I knew I’d face doing the Ironman. I entered “The Run to the Sun,” a 37-mile run up to the top of Haleakala, a 10,000-foot high mountain on the island of Maui, Hawaii.

Nhớ lại những ngày đó, trước khi mọi người biết đến cuộc thi này thì hầu như không có nhiều sự hướng dẫn rằng phải tập như thế nào cho những cuộc đua đòi hỏi nhiều sức chịu đựng như vậy. Vì thế tôi chỉ biết cố sức tập bơi cho đến khi không thể nhấc nổi cánh tay lên được nữa, đạp xe cho đến khi không thể nhấn bàn đạp được nữa, ra sức chạy cho đến khi không thể lê thêm một bước nào nữa và cố nâng tạ có trọng lượng càng nặng càng tốt mà vẫn giữ cho bản thân không bị thương tổn. Để thích nghi với các điều kiện của cuộc tranh tài chính thức, tôi đã tham gia tất cả các cuộc thi mà tôi biết. Nếu trong cùng một ngày mà có đến hai cuộc thi thì càng tốt bởi nó buộc tôi phải thi đấu ngay cả khi tôi đã mệt nhoài, và tôi biết đó là điều mà tôi sẽ đối mặt trong cuộc thi dành cho “Những người thép”. Tôi đã tham gia cuộc thi “Cuộc hành trình đến mặt trời”. Chúng tôi phải chạy một quãng đường dài 37 dặm để lên được đỉnh núi Haleakala cao trên 3000 mét nằm trên đảo Maui, Hawaii.

I remember reaching the twenty-six-mile point and looking back down at the ocean far, far below, not believing that these two legs had already carried me the equivalent of a full marathon-straight uphill. Then I turned back toward the mountaintop, still more than ten miles beyond. My first response was “I don’t have it in me; I just can’t do it.” My next thought was, “Listen, Lady, if you think this is rough, just wait until you get in the Ironman!” That’s what kept me going. If I quit here, how could I face the Ironman? That technique served me well in the com¬ing months. And competing and winning first-place trophies in my age-group events would help me feel more confident.

Tôi còn nhớ lúc leo lên được 26 dặm và ngoái lại nhìn đại dương bao la xa tít phía dưới, tôi không thể tin được rằng đôi chân này đã đưa tôi vượt qua chặng đường dài như một cuộc đua marathon thật sự. Rồi tôi quay lại nhìn đỉnh núi trước mặt, còn những hơn 10 dặm. Phản ứng đầu tiên trong tôi là “Chắc mình không thể hoàn thành chặng đường này”. Tiếp đó tôi lại nghĩ “Này, nếu mới như thế này mà đã nghĩ là gian nan thì khó khăn gấp bội đang chờ đón ngươi trong cuộc thi “Những người thép””. Suy nghĩ đó đã giúp tôi tiếp tục. Nếu bỏ ngang đây, làm sao tôi có thể đối mặt với cuộc thi sắp tới? Vận dụng cách suy nghĩ như thế đã giúp tôi rất nhiều trong những tháng ngày sau đó. Thi đấu và giành được những thứ hạng cao trong những cuộc thi được tổ chức dành cho lứa tuổi của tôi giúp tôi tự tin hơn.

I found myself getting stronger and developing muscles I never knew I had. I was passing later my cancer checkups as well: the small spots in my bones - once a source of despair because they indicated cancer - were disappearing, and the tumor in my lung stayed the same size, allowing me to avoid chemo and radiation, and to stay in the dietary study.

Tôi thấy mình trở nên mạnh mẽ hơn và cơ bắp cũng săn chắc hơn trước rất nhiều - một điều mà tôi không nghĩ là mình sẽ đạt được. Tôi cũng vượt qua được đợt kiểm tra ung thư sau đó: những đốm nhỏ trong xương - từng là nguyên nhân khiến tôi vô cùng tuyệt vọng vì nghĩ rằng đó là dấu hiệu ung thư nay đang dần biến mất và khối u trong phổi cũng không phát triển thêm nữa. Tất cả những điều này đã giúp tôi tránh được những đợt hóa trị liệu và xạ trị đồng thời cho phép tôi được tiếp tục tham gia cuộc nghiên cứu tính hiệu quả của chế độ ăn kiêng.

The only real reminder of the cancer were the two postsurgical, angry red gashes, which left a chest that re¬sembled a prepubescent male’s. Because of all my training, I was having to shower and change clothes several times a day, so the reminders of the cancer were constant. I wanted so much to have a normal body again. Enter the plastic surgeons, who gave me a fabulous choice: I could now pick my new size. “You want a ‘C’?” they said. “We can do that!” I told them I wouldn’t be greedy - “Just give me what I had before, a nice, average ‘B’.” They also gave me something else I never thought possible: breasts that will never sag.

Dấu vết duy nhất khiến tôi nhớ rằng mình đang mắc chứng bệnh ung thư chính là hai vết mổ còn tấy đỏ, sâu và dài hằn in nơi vùng ngực của tôi - giờ đã phẳng lì như ngực của đàn ông. Vì phải luyện tập thường xuyên, phải tắm và thay áo quần vài lần mỗi ngày nên vết tích ấy cứ luôn xoáy thẳng vào mắt tôi. Tôi rất muốn có một cơ thể bình thường như trước kia. Các bác sĩ phẫu thuật tạo hình đã mang lại cho tôi một sự lựa chọn vô cùng tuyệt vời: Giờ đây tôi có thể có được một bộ ngực mới với kích cỡ tùy thích. Họ hỏi tôi: “Cô có muốn một bộ ngực với kích cỡ C không? Chúng tôi có thể giúp cô thực hiện điều đó”. Tôi trả lời rằng tôi không quá tham lam như thế đâu, “tôi chỉ muốn những gì trước đây tôi đã có, một bộ ngực trung bình, cỡ B thôi”. Đã thế, họ còn giúp tôi có được điều mà trước giờ tôi vẫn nghĩ là không thể: một bộ ngực không bao giờ bị... lõm xuống.

I believe you have to look at the positive side of life, and now, at sixty-eight years old, I can really appreciate this benefit.

Today, there’s no sign of cancer in my body. I’ve continued my vegan, low-fat diet now for more than twenty years, and I have never been healthier or more fit in my life. To date I have raced the Ironman Triathlon six times, plus over a hundred shorter triathlons, a total of sixty-seven marathons, plus hundreds of shorter road races. In 1999, I was named one of the Ten Fittest Women in America by Living Fit magazine. In February 2000, on a Fitness Age test, my score was equivalent to a fit thirty-two-year-old’s. My aerobic capacity score was that of a sixteen-year-old.

Tôi tin rằng chúng ta nên luôn nhìn vào mặt tích cực của cuộc sống và giờ đây ở độ tuổi 68, tôi thật sự hiểu rõ giá trị của điều này.

Hiện giờ, trên cơ thể tôi chẳng còn một dấu vết nào của căn bệnh ung thư nữa. Tôi vẫn tiếp tục chế độ ăn kiêng, tôi ăn rất ít chất béo trong vòng hơn 20 năm qua; tôi chưa bao giờ cảm thấy mình khỏe mạnh, săn chắc như thế này. Tính đến hôm nay, tôi đã tham gia cuộc thi “các môn thể thao phối hợp dành cho những người thép” được 6 lần, hơn 100 cuộc thi nhỏ khác, tổng cộng 67 cuộc chạy marathon và hàng trăm cuộc chạy có cự ly ngắn hơn khác. Năm 1999, tôi được tạp chí “Sống Khỏe” bầu chọn là một trong mười phụ nữ khỏe nhất nước Mỹ. Tháng hai năm 2000, trong cuộc thi “ Thời đại khỏe mạnh”, số điểm của tôi tương đương với số điểm của một cô gái 32 tuổi khỏe mạnh khác. Điểm thi aerobic của tôi tương đương điểm của một cô gái 16 tuổi.

My bone density has increased throughout my fifties and sixties, which is supposed to be “impossible” since most people are told they will lose bone density as part of the “natural” aging process. My blood pressure runs 90/60; my cholesterol is under 150; I have 15 percent body fat, and my hemoglobin - the test for iron in the blood - is at the top of the charts.

Mật độ xương của tôi đã tăng trong suốt những năm khi tôi ở độ tuổi 50-60, điều mà ai cũng nghĩ rằng là không thể vì hầu hết mọi người đều cho rằng mật độ xương sẽ giảm đi bởi quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể. Huyết áp của tôi là 90/60, lượng cholesterol dưới 150. Cơ thể tôi chỉ có 15% là mỡ, và lượng sắt trong máu thì xếp trên cùng trong các thang biểu đồ.

I do not share this information about my physical condition to boast (although I admit I’m proud of it), but to show what can be accomplished through dedication and discipline.

Tôi chia sẻ những thông tin về tình trạng sức khỏe của mình không phải để khoe khoang (mặc dù tôi rất tự hào về điều đó), nhưng tôi chỉ muốn nói rằng những gì mà tôi đạt được là nhờ vào sự nỗ. lực tập luyện và tính kỷ luật của bản thân mình.

Since I’m a vegan - I eat no flesh or dairy products - I’m “supposed” to be deficient in protein, calcium and iron. Perhaps I’m an anomaly by most medical standards. And maybe a vegan diet and endurance exercise won’t be a magical answer for everyone, but I stand as an example of a lifestyle change that might be worth exploring. And I’m not alone. Most people know how Tour de France champion Lance Armstrong also demonstrated the power of racing for life after his own battles with cancer.

Bởi vì ăn kiêng, tôi không còn dùng đến thịt hay các sản phẩm làm từ bơ, sữa nữa. Chính vì điều này, nhiều người nghĩ rằng tôi sẽ bị thiếu protein, canxi và sắt nhưng có lẽ tôi là một trường hợp đặc biệt trong y học. Có thể chế độ ăn kiêng và sự luyện tập thể dục thường xuyên chưa phải là một giải pháp kỳ diệu cho tất cả mọi người nhưng tôi nghĩ mình là một ví dụ điển hình cho sự thay đổi phong cách sống và điều này cũng đáng được mọi người khám phá lắm chứ. Và đâu phải chỉ có mình tôi. Hầu hết mọi người đều biết rằng Lance Amstrong - một nhà vô địch trong giải đua “Vòng quanh nước Pháp” - đã thể hiện sức mạnh trên đường đua như thế nào sau những lần vật lộn để chiến thắng căn bệnh ung thư.

When will this awesome journey end? Will I have to slow down gradually, let go, cut back to walking laps around a retirement community? I really can’t say. But I know this: I had cancer and it had spread; I might have folded my cards, but I chose life, and I’m going to live as long as I can and run the good race in the remainder of my life. Maybe only a few will take the path I’ve chosen, but if shar¬ing my story helps a few more to step forward and race for life, it will have been all the more worthwhile.

Khi nào cuộc hành trình kinh hoàng này mới kết thúc? Liệu tôi có buộc phải giảm dần và chuyển sang tập luyện như những người cao tuổi? Tôi thực sự không biết trước được nhưng tôi chỉ biết một điều rằng: Tôi đã từng mắc bệnh ung thư và bệnh đã di căn, lẽ ra lúc đó tôi đã buông xuôi nhưng sau cùng tôi quyết định phải sống. Tôi sẽ sống thật lâu, và chạy thật khỏe trong quãng đời còn lại của mình. Có thể sẽ rất ít người đi theo con đường mà tôi đã chọn, nhưng nếu việc chia sẻ kinh nghiệm của tôi có thể giúp một vài người tiếp tục tiến bước trong cuộc đấu tranh giành giật sự sống, thì điều này cũng đáng giá lắm chứ.

- Ruth Heidrich, Ph.D.

To suffer confusion is the first step in healing. Then the pain of contradiction is transformed into the mystery of paradox. The capacity for paradox is the measure of spiritual strength.

- Robert Johnson

Jack Canfield & Mark Victor Hansen

- Tiến sĩ Ruth Heidrich

Chịu đựng được những xáo trộn là bước đầu tiên trong việc điều trị. Nỗi đau đớn từ những mâu thuẫn rồi sẽ trở thành điều bí ẩn của những nghịch lý. Khả năng chấp nhận những nghịch lý sẽ là thước đo sức mạnh tinh thần của mỗi con người.

- Robert Johnson

Jack Canfield & Mark Victor Hansen

Chicken Soup to Inspire the Body Soul