MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, June 15, 2011

A MOUSE TRAP CÁI BẪY CHUỘT


A MOUSE TRAP

CÁI BẪY CHUỘT

A mouse looked through a crack in the wall to see the farmer and his wife opening a package. What food might it contain?

Một con chuột nhìn qua khe tường thấy người nông dân và vợ đang mở một cái gói. Cái gói có thể chứa loại thức ăn nào nhỉ?



He was aghast to discover that it was a mouse trap. Retreating to the farmyard, the mouse proclaimed the warning:

"There is a mouse trap in the house, there is a mouse trap in the house."

đã kinh ngạc khi phát hiện ra đó là một cái bẫy chuột. Rút lui ra sau vườn, con chuột nói to lời cảnh báo:

"Có một cái bẫy chuột trong nhà, một cái bẫy chuột trong nhà."

The chicken clucked and scratched, raised her head and said, "Mr. Mouse, I can tell you this is a grave concern to you, but it is of no consequence to me. I cannot be bothered by it."

Con gà kêu cục tác bươi đất, nó ngẩng đầu lên nói, "Ông Chuột ơi, tôi có thể nói cho ông bạn rằng đó là điều quan trọng đối với bạn, nhưng chẳng có chút hậu quả nào đối với tôi. Nó chẳng thể làm phiền tôi."

The mouse turned to the pig and told him, "There is a mouse trap in the house."

Con chuột quay qua con lợn và nói, "Có một cái bẫy chuột trong nhà."

"I am so very sorry, Mr. Mouse," sympathized the pig, "but there is nothing I can do about it but pray. Be assured that you are in my prayers."

"Tôi rất rất xin lỗi, ông Chuột ạ," con lợn thông cảm," nhưng tôi không thể làm gì nó ngoài cầu nguyện cho anh. Chắc chắn rằng anh luôn được tôi cầu nguyện."

The mouse turned to the cow. She said, "Like wow, Mr. Mouse. A mouse trap. I am in grave danger. Duh?"

Con chuột quay sang con . Chị bò nói: "Ầm ĩ gì thế, ông chuột. Cái bẫy chuột ư. Tôi mà đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng với cái bẩy chuột ư?. Vớ vẩn"

So the mouse returned to the house, head down and dejected to face the farmer's mouse trap alone.

Vì vậy, các con chuột trở về nhà, buồn ủ rủ thất vọng vì phải một mìnhđối mặt với cái bẫy chuột của người nông dân .

That very night a sound was heard throughout the house, like the sound of a mouse trap catching its prey.

Đúng đêm đó người ta nghe có tiếng động trong nhà, giống như tiếng chuột sập bẫy.

The farmer's wife rushed to see what was caught.

Vợ của người nông dân vội chạy đến xem con gì đã bị sập bẫy.

In the darkness, she did not see that it was a venomous snake whose tail the trap had caught. The snake bit the farmer's wife.

Trong bóng tối, cô ấy không thấy rằng đó là một con rắn độc đuôi bị mắc kẹt trong bẫy. Con rắn cắn vợ người nông dân.

The farmer rushed her to the hospital.. She returned home with a fever. Now everyone knows you treat a fever with fresh chicken soup, so the farmer took his hatchet to the farmyard for the soup's main ingredient.

Người nông dân vôi đưa vợ đến bệnh viện... trở về nhà với sốt cao. Bây giờ mọi người đều biết phải trị sốt với súp gà, cho nên người nông dân đã mổ thịt con gà để làm nguyên liệu chính nấu món súp.

His wife's sickness continued so that friends and neighbors came to sit with her around the clock.

Vợ ông vẫn bệnh tiếp tục nên bạn bè hàng xóm đã đến ngồi với cô ấy suốt ngày đêm.

To feed them, the farmer butchered the pig.

Để họ có cái ăn, người nông dân giết thịt con lợn.

The farmer's wife did not get well. She died, and so many people came for her funeral the farmer had the cow slaughtered to provide meat for all of them to eat.

Vợ người nông dân đã không bình phục được. Bà qua đời, rất nhiều người đến để dự đám tang của cô. Người nông dân đã phải mỗ bò để cung cấp thịt cho tất cả họ đủ ăn.

So the next time you hear that someone is facing a problem and think that it does not concern you, remember that when the least of us is threatened, we are all at risk.

thế, lần sau khi bạn nghe thấy rằng ai đó đang phải đối mặt với một vấn đề nghĩ rằng nó chẳng liên quan đến bạn, hãy nhớ rằng dẫu chỉ một ít người của chúng ta bị đe dọa, nhưng tất cả chúng ta đều gặp nguy hiểm.


Translated by nguyenquang


A MOUSE TRAP

AMERICAN PATRIOTISM LÒNG ÁI QUỐC KIỂU MỸ


AMERICAN PATRIOTISM
LÒNG ÁI QUỐC KIỂU MỸ
Dee Finney
Dee Finney
Patriotism is not just putting up a U.S. Flag during war time, or during a National Holiday.
Lòng yêu nước không chỉ là việc treo quốc kỳ trong thời chiến, hay vào ngày lễ Quốc Khánh.
Patriotism does not mean we are better than others, but that we are proud of what we have accomplished in this country - and that we have no intentions of giving it up.
Yêu nước không có nghĩa là chúng ta tốt hơn so với những người khác, mà là chúng ta tự hào về những gì chúng ta đã hoàn thành ở đất nước này và rằng chúng ta không có ý định từ bỏ đất nước.
Patriotism is going to work and being a productive member of society.
Yêu nước là làm việc và làm một thành viên sản xuất của xã hội.
Patriotism helping others in your community who are in need.
Yêu nước là giúp đỡ người khác trong cộng đồng, những người đang cần được giúp đỡ.
Patriotism is volunteering in your community.
Yêu nước là tham gia hoạt động tình nguyện trong cộng đồng.
Patriotism is giving back to your community, your country.
Yêu nước là biết trả ơn cộng đồng, đất nước mình.
Patriotism is considering the needs of others as well as your own.
Yêu nước là coi trọng nhu cầu của người khác cũng như nhu cầu của riêng mình.
Patriotism is respecting the will of the people, not the special interests.
Yêu nước là tôn trọng ý chí của nhân dân, chứ không phải là đặc quyền đặc lợi.
Patriotism is knowing the Pledge of Allegiance, what it means, and believing it as well as fighting for the right to utter it in public places.
Yêu nước là biết Tuyên Thệ Trung Thành, ý nghĩa của Tuyên Thệ, và tin tưởng lời Tuyên Thệ cũng như đấu tranh cho quyền được nêu nó lời Tuyên Thệ ở những nơi công cộng.
Patriotism is understanding that freedom and democracy comes with a price, and if necessary being willing to defend it with your life.
Yêu nước là sự hiểu biết rằng tự do và dân chủ đi kèm với cái giá phải trả, và nếu cần thiết phải sẵn sàng bảo vệ nó bằng chính sinh mệnh của mình.
Patriotism is exercising your right to vote, understanding the platforms of the candidates, and making an informed decision based on the good of all Americans and not just based on a political affiliation.
Yêu nước là thực hiện quyền bỏ phiếu của mình, với hiểu biết cơ bản về các ứng cử viên, và có quyết định dựa trên lợi ích của tất cả người Mỹ và không chỉ dựa trên một liên kết chính trị.
Patriotism is knowing the difference between freedom of expression, and desecrating our U.S. Flag.
Yêu nước là phân biệt được giữa tự do bày tỏ ý kiến với việc làm hoen ố Quốc Kỳ của chúng ta.
Patriotism is understanding that even if you hate the U.S. Government is doing or that the U.S. Judicial System is doing things that you are against, that you can run for public office and lobby for change.
Yêu nước là hiểu rằng ngay cả khi bạn ghét việc Chính phủ Mỹ đang thực hiện hoặc là hệ thống tư pháp Hoa Kỳ đang làm những việc mà bạn đang chống lại, thì bạn cũng có thể vận động để giữ một chức vụ công cộng và vận động hành lang để tạo sự thay đổi.
Patriotism is respecting our elected officials, but holding them accountable.
Yêu nước là tôn trọng các viên chức dân cử của chúng ta, nhưng buộc họ làm việc có trách nhiệm.
Patriotism is having a desire for peace on Earth, but realizing that there are those on this Earth who would do harm to us and we must protect/defend ourselves from their political views.
Yêu nước là ước vọng hòa bình trên trái đất, nhưng nhận thức rằng có những người trên trái đất này có thể gây hại cho chúng ta và chúng ta phải bảo vệ/ phòng thủ chính mình không bị ảnh hưởng bởi quan điểm chính trị của chúng.
Patriotism is having faith in our Government, its actions and policies as they reflect the will of the people.
Yêu nước là có niềm tin vào Chính phủ của chúng ta, vào hành động và chính sách của Chính phủ, vì hành động và chính sách này phản ánh nguyện vọng của nhân dân.
Patriotism is effecting positive change in our Government by way of efficacy, when we feel its actions and policies do not reflect the will of the people.
Yêu nước là tác động để có những thay đổi tích cực trong Chính phủ của chúng ta để Chính phủ làm việc có hiệu quả, khi chúng ta cảm thấy hành động và chính sách của Chính phủ không phản ánh ý chí của người dân.
Patriotism is loving your country as you would love a family member.
Yêu nước là yêu quê hương xứ sở của bạn như yêu một thành viên trong gia đình mình.
Patriotism is appreciating your Armed Forces not just during times of war, and appreciating the sacrifices they make to defend our way of life during peace as well as war.
Yêu nước là biết ơn lực lượng vũ trang không chỉ trong thời gian chiến tranh, mà còn biết ơn những hy sinh của họ để bảo vệ cuộc sống của chúng ta cả trong thời bình cũng như thời chiến.
Patriotism is like having that feeling in your heart on Independence Day all year round.
Yêu nước cũng giống như trong lòng bạn có cảm giác ngày nào quanh năm cũng là Ngày Lễ Độc lập.
Patriotism is for the common person as well as the elite.
Lòng yêu nước dành cho những người dân thường cũng như tầng lớp tinh hoa.
Patriotism is the notion that the American Dream still exists, and is attainable, but that you will have to work hard to achieve it.
Yêu nước là quan niệm rằng Giấc mơ Mỹ vẫn còn tồn tại, và có thể đạt được, nhưng mà bạn sẽ phải làm việc cật lực để đạt được nó.
Patriotism is respecting the beliefs and interests of other peoples while holding true to our own.
Yêu nước là tôn trọng niềm tin và lợi ích của các dân tộc khác trong khi giữ vững niềm tin và lợi ích của chính chúng ta.
Patriotism is looking at the American Flag and feeling part of something greater than any one of us as an individual.
Yêu nước là nhìn vào Quốc Kỳ và cảm thấy mình là một phần của một cái gì đó lớn lao hơn bất kỳ ai trong chúng ta với tu cách là một cá nhân.
Patriotism is saying "What can I do?" not "What is in it for me?"
Yêu nước là nói "Tôi có thể làm gì?" chứ không phải “Có cái gì cho tôi không?

translated by nguyenquang

Tuesday, June 14, 2011

HOW TO KILL A DOLLAR - ĐỒNG ĐÔ LA ĐÃ BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO? - Barry Eichengreen


HOW TO KILL A DOLLAR
Barry Eichengreen
ĐỒNG ĐÔ LA ĐÃ BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO?
Barry Eichengreen


Barry Eichengreen is Professor of Economics and Political Science at the University of California, Berkeley. His latest book is Exorbitant Privilege: The Rise and Fall of the Dollar.
http://www.project-syndicate.org/commentary/eichengreen31/English
Bài viết của Barry Eichengreen, ông là Giáo sư Kinh tế và Khoa học Chính trị tại University of California, Berkeley. Cuốn sách mới nhất của ông có tựa là "Đặc quyền cắt cổ: Sự thăng trầm của đồng đô la" (Exorbitant Privilege: The Rise and Fall of the Dollar)


BERKELEY – The dollar has had its ups and downs, but the downs have clearly dominated of late. The greenback has lost more than a quarter of its value against other currencies, adjusted for inflation, over the last decade. It is down by nearly 5% since the beginning of 2011, matching the lowest level plumbed since the Bretton Woods System of pegged exchange rates collapsed in 1973.
BERKELEY - Đồng đô la Mỹ đã có những thăng trầm của nó, nhưng những đợt mất giá đã chiếm ưu thế rõ ràng gần đây. Đồng USD (greenback) đã mất hơn một phần tư giá trị của nó so với các đồng tiền khác, để làm nhiệm vụ điều chỉnh lạm phát, trong thập kỷ qua. Nó đã giảm gần 5% kể từ đầu năm 2011, đang ở vị trí thấp nhất, rơi theo thế thẳng đứng kể từ khi tỷ giá hối đoái được cố định theo hệ thống Bretton Woods bị sụp đổ vào năm 1973.


An obvious explanation for this weakness is the United States Federal Reserve’s near-zero interest-rate policy, which encourages investors to shift from dollars to higher-yielding foreign assets. Predictably, the Fed’s critics are up in arms. The central bank, they complain, is debasing the dollar. It is eroding the currency’s purchasing power and, with it, Americans’ living standards.
Một lời giải thích rõ ràng cho sự yếu kém này là Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) đã đưa ra chính sách lãi suất gần như bằng không, khuyến khích các nhà đầu tư chuyển đổi từ đô la đầu tư thành những tài sản ở nước ngoài cho lợi nhuận cao hơn. Tiên lượng được, các nhà phê bình FED đã rất giận dữ (tobe up in arms). Các ngân hàng trung ương, họ phàn nàn, là đồng đô la đang bị đánh rớt giá. Nó làm bào mòn sức mua của đồng tiền, và cùng với nó, những tiêu chuẩn sống của người Mỹ cũng xuống theo.


Even worse, the Fed is playing with fire. Its failure to defend the dollar, the critics warn, could ignite a crisis of confidence. At some point, the Fed’s tolerance of a weak dollar would be taken as a lack of commitment to price stability. Frustrated investors would then dump their US Treasury securities. Bond yields would shoot up. The dollar would plummet. There would be financial distress and a deep recession.
Thậm chí tệ hơn, FED đang chơi với lửa. FED đã thất bại trong việc bảo vệ đồng đô la, các nhà phê bình cảnh báo rằng, việc này có thể kích động một cuộc khủng hoảng niềm tin. Ở một số điểm, sự thanh lọc của FED để một đồng đô la yếu sẽ như là một thiếu trách nhiệm cam kết ổn định giá cả. Các nhà đầu tư nản lòng họ sẽ vứt bỏ chứng khoán kho bạc Mỹ. Lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ sẽ tăng cao. Giá trị đồng USD sẽ giảm mạnh. Sẽ có suy sụp tài chính và suy thoái kinh tế sâu.


Scary stories sell newspapers, but in truth all of this sniping at the Fed is overdone. Historically, a 10% fall in the dollar translates into only a one-percentage-point rise in inflation. This means that the dollar’s 5% fall so far this year will add only half a percentage point to the inflation rate.
Những câu chuyện kinh khủng này để báo bán chạy, nhưng sự thật tất cả các cắt giảm lãi suất này của FED là quá trớn. Trong lịch sử, giảm 10% giá trị trong các giao dịch đồng USD làm tăng tỷ lệ 1% điểm trong lạm phát. Điều này có nghĩa là giảm 5% giá trị đồng đô la trong năm nay sẽ tăng thêm tỷ lệ 0.5% điểm lạm phát.


And it is not as if US inflation were out of control. Food and fuel prices may be up, but labor costs remain firmly anchored – not surprisingly, given the country’s 9% unemployment rate. In this environment, the Fed can well afford to maintain its stance of benign neglect toward the dollar.
Và nó không phải là nếu lạm phát Mỹ ra khỏi tầm kiểm soát. Giá thực phẩm và nhiên liệu có thể lên, nhưng chi phí lao động vẫn đứng tại chỗ - không đáng để ngạc nhiên, khi tỷ lệ thất nghiệp của đất nước lên 9%. Trong bối cảnh này, FED vẫn cố gắng để duy trì lập trường của mình bỏ mặc đồng đô la yếu.


While Fed Chairman Ben Bernanke paid obeisance at his recent press conference to the talisman of a “strong dollar,” the Fed is probably quite happy to see the greenback trending down. With domestic demand still weak, more export demand is just what the doctor ordered for an anemic economy. And a weaker dollar is one way of delivering foreign markets.
Trong khi Chủ tịch FED Ben Bernanke đã trân trọng thông báo tại cuộc họp báo gần đây của ông về một bùa hộ mệnh của một "đồng USD mạnh", thì FED có lẽ rất hạnh phúc khi nhìn thấy xu hướng đồng USD xuống. Với nhu cầu trong nước vẫn còn yếu kém, nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn cũng chỉ là cái mà một bác sĩ đã ra y lệnh cho một nền kinh tế thiếu máu. Và một đồng đô la yếu hơn là cách để cung cấp đô la cho thị trường nước ngoài.


Moreover, those who warn that the Fed might fail to raise interest rates if inflation picks up don’t understand that the Fed’s culture of inflation targeting is deeply ingrained. Indeed, the very fact that the Fed is under such intense political scrutiny makes it all but certain that it will take the first opportunity to reestablish its price-stability bona fides.
Hơn nữa, những người cảnh báo FED rằng có thể không tăng lãi suất nếu lạm phát tăng lên thì, không hiểu rằng văn hóa của FED về mục tiêu lạm phát là quá bảo thủ (deeply ingrained). Thật vậy, có một sự thật rằng FED đang được giám sát một cách toàn diện, rất chặt chẽ bỡi các chính trị gia, nên chắc chắn rằng nó sẽ mất cơ hội đầu tiên để những thiện ý(bona fides) muốn thiết lập lại ổn định giá cả của nó.


If there is a threat to the dollar, it stems not from monetary policy, but from the fiscal side. What is most likely to precipitate a dollar crash is evidence that US budgets are not being made by responsible adults. A US Congress engaged in political grandstanding might fail to raise the debt ceiling, triggering a technical default. Evidence that the inmates were running the asylum would almost certainly precipitate the wholesale liquidation of US Treasury bonds by foreign investors.
Nếu có một mối đe dọa nào đó cho đồng đô la, nó bắt nguồn không phải từ chính sách tiền tệ, mà từ phía tài chính. Cái mà rất có thể thiếu thận trọng cho một vụ sụp đổ đồng đô la, là bằng chứng cho thấy ngân sách của Mỹ không được thực hiện bởi những người có trách nhiệm. Quốc hội Hoa Kỳ tham gia vào chính trị có thể không cho tăng trần nợ, vì nó làm nổ ra tình trạng mất khả năng chi trả. Bằng chứng cho thấy các con bệnh đã chạy tìm nơi trú ẩn gần như chắc chắn sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư ngoại quốc bán thanh lý phiếu kho bạc Mỹ.


And even if this immediate hurdle is overcome, the US will still have only limited time to get its fiscal house in order. Financial crises almost always occur around the time of elections. The US has a big one coming at the end of 2012.
Và thậm chí nếu trở ngại này nhanh chóng được khắc phục, nước Mỹ cũng có ít thời gian để có được những nhu cầu tài chính cho mình. Những cuộc khủng hoảng tài chính hầu như luôn luôn xảy ra xung quanh thời điểm bầu cử. Nước Mỹ có một cuộc bầu cử lớn sắp tới vào cuối năm 2012.


Some critics object that a collapse of US Treasuries and a dollar crash are not the same. The dollar, they observe, is the funding currency for banks around the world. When banks borrow on the wholesale money market to finance their investments, they borrow in dollars. Thus, when volatility spikes and liquidity dries up, those same banks scramble for dollars. Indeed, even when problems originate in the US, the dollar strengthens. We saw this in the summer of 2007, when the subprime crisis erupted, and again in 2008, following the collapse of Lehman Brothers.
Một số nhà phê bình khách quan cho rằng sự sụp đổ Kho bạc Mỹ và sụp đổ đồng đô la không giống nhau. Họ quan sát, đồng đô la là đồng tiền tài trợ cho các ngân hàng trên thế giới. Khi các ngân hàng vay tiền trên thị trường bán buôn để tài trợ cho các khoản đầu tư của họ, họ vay bằng đô la. Vì vậy, khi biến động thắt chặt tiền tệ và thanh khoản cạn kiệt, các ngân hàng đó cùng tranh giành đồng đô la. Thật vậy, ngay cả khi vấn đề có nguồn gốc ở Mỹ, đồng USD mạnh lên. Chúng tôi thấy điều này trong mùa hè năm 2007, khi nổ ra cuộc khủng hoảng do cho vay dưới chuẩn, và một lần nữa trong năm 2008, sau sự sụp đổ của Lehman Brothers.


In the short run, then, a US Treasury market crisis might lead to some knee-jerk appreciation of the dollar. But with evidence of deep problems in US financial markets, global banks would start looking for other ways to finance themselves. The period of dollar strength would be brief.
Sau đó, trong ngắn hạn, một cuộc khủng hoảng thị trường kho bạc Mỹ có thể dẫn đến một số đánh giá đồng USD cảm tính (knee-jerk). Nhưng với bằng chứng của những vấn đề sâu trong thị trường tài chính Mỹ, các ngân hàng toàn cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm những cách khác để tài trợ cho mình. Chu kỳ của sức mạnh đồng đô la sẽ bị ngắn lại.


The result would be the Fed’s worst nightmare. With Treasury yields spiking and economic activity collapsing, the Fed would want to cut interest rates and flood the markets with liquidity. But a sharply lower dollar would, at the same time, mean sharply higher inflation, requiring it to tighten policy. Caught on the horns of this dilemma, the Fed could do nothing to solve America’s problems.
Với lợi nhuận Kho bạc giảm sút và hoạt động kinh tế đang sụp đổ, FED muốn cắt giảm lãi suất và gây ra lũ lụt thanh khoản trên thị trường. Nhưng giá trị đồng đô la sẽ giảm mạnh, đồng thời, có nghĩa là lạm phát tăng cao rõ rệt, nó đòi hỏi phải có chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát. Bị kẹt phải chọn lựa giữa 2 điều khó xử này, FED có thể làm gì để giải quyết vấn đề của nước Mỹ.


Bernanke regularly warns of the dire consequences of not facing the country’s fiscal problems head-on. Congress, indeed everyone in America, should take him seriously.
Bernanke thường xuyên cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng của việc không chịu đối mặt với những vấn đề tài chính của đất nước đang chờ trong tương lai (head-on). Thực sự là, Quốc hội và tất cả mọi người dân Mỹ, nên lắng nghe ông ta một cách nghiêm túc.

Translated by BS Ho Hai

Saturday, June 11, 2011

Why the Japanese are the smartest? Tại sao Người Nhật thông minh nhất?




Why the Japanese are the smartest?

Tại sao Người Nhật thông minh nhất?

Beginning of the school year, in a high school in America, the class master shows the class a new student: Sakiro Suzuki from Japan.

Start time:

Ngày khai trường trong một lớp học ở Mỹ. Cô giáo giới thiệu với cả lớp một em học sinh mới Sakiro Suzuki, người Nhật Bản.

Giờ học bắt đầu.

Class master:

- Let's see, who knows the most about American history. Who said: "Freedom or death!”?

Tomb of silence in class, but Suzuki raises hand:

- Patrick Henry 1775 Philadelphia.

Cô giáo nói:

- Cả lớp chú ý. Cô sẽ kiểm tra xem các em có biết gì về lịch sử nước Mỹ hay không nhé. Nào chúng ta bắt đầu, ai đã nói: “Hãy trả tự do cho tôi hoặc giết tôi đi”?

Cả lớp im thít. Suzuki giơ tay lên và nói:

- Patrick Henry, năm 1775, tại Philadelphia.

- Suzuki Bravo! But who said: “The country is the people, therefore people can not die.”?

Suzuki:

- Abraham Lincoln 1863 Washington.

- Rất giỏi, Suzuki. Thế ai đã nói: “Chính quyền là nhân dân và nhân dân không thể suy tàn.”?

Suzuki:

- Abraham Lincoln, năm 1863, tại Washington. Suzuki lại trả lời.

Class master class looks over and says:

- I'm ashamed for you. Suzuki is in Japan and knows more about America than you!

Cô giáo nhìn cả lớp và nói:

- Thật xấu hổ. Suzuki là người Nhật mà còn rành về lịch sử nước Mỹ hơn cả các em.

The back can hear a voice:

- Kiss my ass, Japon smelly! Kiss my ass, fucking Japanese!

- Who said this shit?? class master asks.

Suzuki rises and says:

- Gen. McArthur on Guadal canal in 1942, and 1982 Lee Iacocca at Chrysler shareholders meeting.

Có tiếng thì thầm cuối lớp.

- Cút đi quân Nhật khồn khiếp!

- Ai đã nói thế? Cô giáo bực dọc hỏi.

Suzuki giơ tay và trả lời ngay.

- Tướng Mc Arthur, năm 1942, tại kênh đào Panama và Lee Iacocca, năm 1982, trong cuộc họp cổ đông của tập đoàn General Motors.

Quiet in class again, but the back can hear again:

- I feel like vomit!

Class master shouts:

- Who was the bitch!

Suzuki:

- George Bush senior to Japanese Minister Tanaka during a meal service, in Tokyo 1991.

Lớp học yên lặng như tờ. Một tiếng nho nhỏ cất lên.

- Thật là buồn nôn.

- Ai nói vậy? Cô giáo giận dữ quát lên.

Suzuki lại trả lời.

- George Bush Senior nói với Thủ tướng Nhật Tanaka trong buổi yến tiệc tại Tokyo, năm 1991.

A students stands and says:

- Suck me! Suck my dick ... !

Class master:

- Enough! Who was rude?

Suzuki:

- Bill Clinton to Monica Lewinsky, 1997, Washington, White House Oval Office.

Một em đứng dậy hét lên.

- Suzuki, hãy bú c… tao!

Cô giáo:

- Thôi đủ rồi! Ai nói thô lỗ như thế?

Suzuki:

- Bill Clinton nói với Monica Lewinsky, năm 1997, tại Washington, phòng Bầu dục của Tòa Nhà Trắng.

Another student:

- Suzuki is a big shit!

Suzuki:

- Valentino Rossi Superbike GP Brazil 2002.

Một sinh viên khác nói:

- Suzuki là đồ chết tiệt!

Suzuki:

- Valentino Rossi, trong giải lớn mô tô tổ chức tại Nam Phi năm 2002.

Class is in total chaos, faints class master, opens the door and enters the directory:

- A bunch of idiots more like you, a bigger asshole than you I’ve never seen in my life!

Suzuki:

- Adrian Nastase to Tanasescu, Minister of Finance at a session to amend the budget and creating new taxes, Bucharest 2003.

Cả lớp điên tiết bắt đầu náo loạn hẳn lên. Cô giáo ôm mặt, ngất xỉu. Cánh cửa lớp bật mở, ông hiệu trưởng xuất hiện.

- Ối, khùng cả rồi! Loạn như chuồng lợn. Đời tôi chưa bao giờ thấy như thế này.

Suzuki:

Adrian Nastase nói với Tanasescu, bộ trưởng bộ tài chính tại một phiên họp để tu chỉnh ngân sách và thuế khóa mới tại Bucharest 2003.

Thursday, June 9, 2011

How Generation Next is Rebuilding Japan - Thế hệ kế tiếp sẽ xây dựng lại nước Nhật như thế nào



Thế hệ kế tiếp sẽ xây dựng lại nước Nhật như thế nào
by Nobuo Sato and Mayuka Yamazaki
Nobuo Sato và Mayuka Yamazaki

Japan is in a state of crisis at present, but its future may be in safe hands judging by the manner in which the country's young people have rallied in the aftermath of the earthquake, the tsunami, and the nuclear power crisis that struck on March 11, 2011. Since then, using the Net and social networking technologies such as Twitter and Facebook, people in their 20s and 30s have been collecting and disseminating valuable data; collaborating with others they have never met; and creating rescue projects on the fly as well as garnering resources for them.
Hiện nay nước Nhật đang trong cơn khủng hoảng, nhưng tương lai đất nước này có thể vững như bàn thạch, căn cứ vào cách thức mà thanh niên nước này hồi phục sau trận động đất, sóng thần và tai họa năng lượng nguyên tử xảy ra vào ngày 11 tháng 3 năm 2011. Từ lúc đó, những người ở tuổi hai mươi, ba mươi, đã sử dụng Mạng và các kỷ thuật nối mạng xã hội như Twitter và Facebook, thu thập và phổ biến dữ liệu thông tin hữu ích; hợp tác với những người mà họ chưa từng gặp mặt; và lập những đề án cứu nguy đang được thực thi, đồng thời qui tựu tài nguyên hổ trợ những đề án đó.


For instance, after the earthquake struck Japan early in the afternoon on March 11, Tokyo's rail and bus systems ground to a halt, stranding thousands of people including office-goers and schoolchildren. They faced difficult choices: Wait somewhere until the transportation systems started working again although no one knew when that might happen; walk on jammed roads for tens of miles to get home; or find a roof for the night.
Thí dụ, sau khi Nhật bị động đất vào trưa ngày 11 tháng 3, hệ thống xe buýt và xe điện bị đình đốn, hàng ngàn người gồm cả nhân viên văn phòng và học sinh bị mắc kẹt. Họ có mấy lựa chọn đều khó khăn: Hoặc chờ ở đâu đó cho đến khi hệ thống vận chuyển hoạt động lại mặc dù không ai biết đến khi nào thì việc đó mới xảy ra. Hoặc đi bộ hàng chục dặm trên những con đường ngỗn ngang ách tắc. Hoặc tìm một chốn tá túc qua đêm.


Consequently, schools, colleges, companies, city centers, and even individuals started opening their facilities and homes to complete strangers for the night. However, those stuck en route had no way of knowing where to go. Recognizing the problem, a bunch of young Japanese computer programmers quickly created an interactive map of Tokyo on the Net, and used Twitter to broadcast the fact. Within hours, people had populated the map with information on temporary accommodations. By midnight, over 180,000 people had accessed the map and the data, and many stranded commuters were eventually spared the ordeal of spending a night out in the cold.
Vì vậy, trường học, công ty, trung tâm thành phố, và ngay cả tư nhân đã mở cửa cơ quan hay nhà của mình cho những người hoàn toàn xa lạ vào nghỉ. Tuy nhiên, những người kẹt giữa đường làm sao biết được nơi nào để mà đến. Nhận ra vấn đề này, một nhóm thanh niên Nhật là lập trình viên máy tính đã nhanh chóng lập ra một bản đồ tương tác của thành phố Tokyo trên Mạng và dùng Twitter để phát tán thông tin đó. Chỉ trong vài giờ bản đồ đã được cập nhật đầy thông tin về những nơi chốn tạm trú. Đến nửa đêm, hơn 180.000 người đã truy cập bản đồ và dữ liệu, và nhiều người đi làm nơi xa nhà cuối cùng đã không trải qua khổ nạn ngủ đêm ngoài trời trong giá lạnh.


With Japan's big corporations, several young CEOs were among the first to launch programs to help people in the affected areas. For example, Tamihito Takshima, the 36-year-old CEO of Win Roader, a family-owned recycling logistics business, immediately launched a Heart-to-Heart project to deliver goods to the people in the affected areas. Daisuke Kan, the 30-year-old COO of a beverages company, Cheerio Corporation, was desperate to send free cans of an energy drink, Life Guard, to places where people lacked water and food. He started by telephoning anyone he thought could help; worked initially with bus companies; and eventually tied up with Win Roader to deliver tens of thousands of cans of Life Guard to those who needed them.



Nhiều lãnh đạo trẻ của các công ty lớn ở Nhật đã tiên phong lap vào những chương trình giúp đỡ dân chúng trong vùng bị ảnh hưởng thiên tai. Chẳng hạn, Tamihito Takshima, 30 tuổi, lãnh đạo của Win Roader, một doanh nghiệp gia đình chuyên cung ứng hàng tái sử dụng, đã lập tức đưa ra một kế hoạch Tấm lòng – đến – Tấm lòng nhằm chuyển giao hàng hóa đến những người ở trong vùng bị nạn. Một người 30 tuổi khác, Daisuke Kan, lãnh đạo của công ty thức uống Cheerio, tha thiết muốn tặng những lon nước uống tăng lực Life Guard đến những nơi người ta thiếu nước uống và đồ ăn. Anh bèn gọi điện thoại cho bất cứ ai mà anh cho là có thể giúp được, khởi đầu với công ty xe buýt và kết cuộc là kết nối với hãng cung ứng Win Roader để chuyển giao hàng ngàn lon nước tăng lực đến những người cần chúng.
Just three days after the earthquake struck, not-for-profit organizations such as ETIC — which nurtures entrepreneurship in young Japanese — kicked off a project to support those with special needs, such as the elderly, the handicapped, and the pregnant, who had been forced by the quake to live in shelters. Led by people with expertise in disaster relief, around 200 volunteers, mostly students, have fanned out in teams to visit every rescue shelter in northern Japan to identify needs and ensure that the shelters operate efficiently. At the same time, a procurement team in Tokyo has set up processes to gather the goods and services that the affected people really want, coordinate the activities of non-profit organizations, and recruit more volunteers.
Chỉ trong ba ngày sau trận động đất, những tổ chức phi lợi nhuận như ETIC – tổ chức này vun dưỡng tinh thần khởi nghiệp trong thanh niên Nhật – đã phát động một chương trình hổ trợ những ai có nhu cầu đặc biệt, như người già, người khuyết tật, phụ nữ thai nghén, những người bị động đất dồn đến cảnh sống nhờ ở đậu. Những chuyên viên cứu trợ tai họa đã hướng dẫn 200 người tình nguyện, hầu hết là sinh viên, lập thành từng đội tỏa ra các nơi tạm trú và cứu hộ ở phía Bắc Nhật bản để tìm hiểu nhu cầu và bảo đảm cho các trại này được điều hành có hiệu quả. Đồng thời, một đội quyên góp ở Tokyo đã lập ra một hệ thống tập hợp hàng hóa và dịch vụ mà người bị nạn thực sự cần, phối hợp với hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận, và tuyển thêm người tình nguyện.


Several social network service companies immediately launched programs to rasie money for quake relief. A day after the earthquake, for instance, Gree, a mobile social network, started an avatar service, Gree Volunteer. Users can purchase the avatar and buy things for it with Gree currency. In this way, around 1 million users donated 180 million yen to Gree in the first two weeks after the quake. Mixi, another social network service, set up a similar program to garner 160 million yen from 2.2 million users.
Nhiều công ty dịch vụ mạng xã hội đã lập tức phát động những chương trình quyên góp cứu trợ động đất. Thí dụ, một ngày sau khi động đất, mạng xã hội di động Gree, đã phát động một dịch vụ biểu tượng (avatar) gọi là Gree Volunteer. Người sử dụng có thể mua biểu tượng và các thứ cho biểu tượng bằng tiền Gree. Bằng cách này, khoảng một triệu người đã quyên góp 180 triệu yen cho Gree trong vòng 2 tuần đầu sau động đất. Một dịch vụ mạng xã hội khác, Mixi, phát động một chương trình tương tự và quyên được 160 triệu yen từ 2,2 triệu người sử dụng.


Masterminding several of these initiatives is a group of people in their 30s and early 40s. They came together in the mid-1990s, when the Hanshin earthquake hit Japan; the sarin chemical weapon attack on the Tokyo underground took place; and many companies went bankrupt. Then students in college, they started talking about the need to create a society with a new value system. Choosing not to work for big companies or government, some of them have become politicians; others started innovative businesses; and several of them launched not-for-profit organizations like ETIC. They also built a national network to connect those conducting interesting projects, which stood them in good stead after the quake.
Chính nhóm thanh niên Nhật ở tuổi 30 và 40 đã vạch ra và thực hành những sáng kiến đó. Họ đã tập hợp từ giữa thập niên 1990, khi Nhật trải qua một loạt hiểm họa như trận động đất Hanshin, cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học trên xe điện ngầm ở Tokyo, và nhiều công ty bị phá sản. Lúc đó sinh viên các trường đại học bắt đầu những cuộc tranh luận về sự cần thiết tạo lập một xã hội có một hệ thống giá trị mới. Một số người đã trở thành chính trị gia thay vì đi làm việc cho các công ty hay cơ quan nhà nước. Một số khác khởi lập những doanh nghiệp kiểu mới. Và nhiều người thành lập những tổ chức phi lợi nhuận, như ETIC. Họ cũng đã thiết lập một mạng quốc gia để kết nối những đề án tiên phong rất hay, chính điều này đã khiến cho họ có thể sẵn sàng giúp ích xã hội sau trận động đất.


Until now, the older generation has often derided Japan's youngsters as grass-eaters and inward looking — grass-eaters because they spend, drink, and play less than their fathers did; inward looking because they prefer to live in Japan. (The number of applications to foreign schools has declined and many who work for Japan's trading firms like Mitsui and Mitsubishi refuse to work overseas.) Yet, these very youngsters have demonstrated after 3/11 that they are capable of coping with crisis and building a new future for Japan — in very different ways.
Cho đến bây giờ, thế hệ già vẫn thường giễu cợt thanh niên Nhật là bầy-ăn-cỏ và nội hướng. Bị coi là “Bầy-ăn-cỏ” vì chúng tiêu xài, ăn nhậu, và chơi bời kém xa cha chúng. “Nội hướng” vì chúng thích sống ở Nhật hơn. (Căn cứ vào con số hồ sơ nộp vào các trường học ở nước ngoài sút giảm, và nhiều người làm việc cho các công ty kinh doanh Nhật như Mitsui và Mitsubishi không chịu ra nước ngoài làm việc.) Tuy nhiên, sau ngày 11 tháng 3, chính những người trẻ này đã minh chứng là họ có năng lực đối phó với khủng hoảng và xây dựng một tương lai mới cho Nhật bản – bằng những cách khác hẳn.


Nobuo Sato is the executive director and Mayuka Yamazaki is a senior research associate at the Harvard Business School's Japan Research Center in Tokyo
Nobuo Sato là giám đốc điều hành và Mayuka Yamazaki là nghiên cứu viên cao cấp tại Trường Kinh doanh Harvard của Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản tại Tokyo

Translated by Lý Lan