Одна калина
|
Cây kim ngân hoa
|
Сумно, сумно аж за край…
Не дивись на мене, грай, музико, грай!
Зимно, зимно на душі…
Забирай, що хочеш, тількі залиши
|
Sao buồn thế, nỗi buồn dâng đầy mãi…
Đừng nhìn tôi, đàn lên nhé, hỡi ai!
Lạnh lẽo quá, con tim lạnh cóng rồi…
Nếu muốn cứ lấy đi, xin để lại
|
Одну калину за вiкном,
Одну родину за столом,
Одну стежину, щоб до дому йшла сама,
Одну любов на все життя,
Одну журбу до забуття
І Україну, бо в нас іншої нема!
|
Một cây anh đào ngoài cửa sổ thôi,
Một gia đình bên bàn ăn đầm ấm,
Một con đường về ngôi nhà thân thuộc,
Một tình yêu dài theo suốt cuộc đời,
Một nỗi buồn để sẽ lãng quên thôi,
Và Ucraina thân thương duy nhất,
|
Cумно, сумно аж за край…
Так чого ж ти плачеш? Грай, музико, грай!
Крапля горя не зальє,
Наливай, козаче, бо у нас ще є
Одна калина за вiкном,
|
Chúng ta đâu còn tổ quốc khác đâu!
Sao buồn thế, nỗi buồn dâng đầy mãi…
Khóc làm gì, hãy đàn lên hỡi ai!
Những giọt buồn đừng để tràn lênh láng,
Hãy rót rượu mừng, khi chúng ta còn
Một cây anh đào ngoài cửa sổ thôi,
|
Одна родина за столом,
Одна стежина, щоб до дому йшла сама,
Одна любов на все життя,
Одна журба до забуття
І Україна, бо в нас іншої нема!
|
Một gia đình bên bàn ăn đầm ấm,
Một con đường về ngôi nhà thân thuộc,
Một tình yêu dài theo suốt cuộc đời,
Một nỗi buồn rồi sẽ lãng quên thôi,
Và Ucraina thân thương duy nhất
Chúng ta đâu còn tổ quốc khác đâu!
|
Сумно, так і не засну,
Краще буду думать про свою весну
Та й війду за небокрай…
Вперше, як в останнє, грай, музико, грай
|
Sao buồn thế, trăn trở không thể ngủ,
Thôi đành nằm nghĩ tới một mùa xuân
Đành bước ra đi tới phía rạng đông
Đàn lên đi, như được đàn lần cuối…
|
Про ту калину за вiкном,
Одну родину за столом,
Одну стежину, щоб до дому йшла сама,
Одну любов на все життя,
Одну журбу до забуття
І Україну, бо в нас іншої нема!
|
Về một cây anh đào ngoài cửa sổ,
Về một gia đình đầm ấm bên bàn
Về con đường trở lại mái nhà xưa,
Về một tình yêu còn mãi đến giờ,
Về nỗi buồn sẽ rơi vào quên lãng.
Về Ucraina thân thương duy nhất,
Chúng ta đâu còn đất nước khác nào đâu.
|
Translated by Quỳnh Hương
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Friday, April 29, 2011
Sofia Rotaru - Одна калина - Cây kim ngân hoa
Sofia Rotaru – Melancolie - Melancholy - Buồn ơi
Sofia Rotaru – Melancolie
Слова: Гр. Виеру
Музыка: П. Теодорович
(in Rumanian)
|
Sofia Rotaru – Melancholy
Lyrics: Gr. Vieru
Music: P. Teodorovici
(in English)
|
Sofia Rotaru – Buồn ơi
Lời: Gr. Vieru
Nhạc: P. Teodorovici
(tiếng Việt)
|
La. La, la….
Eu nu mă-ntreb de unde vine, vine
De unde doru-şi ia izvorul, dorul
Mă luminez şi-mi pare bine, bine
Când vine dorul, când dorul vine..
|
La. La, la….
Where are you from, my deep-set
sadness, sadness?
Where are you from, my deep-set
sorrow, sorrow?
I'm glad to have you within my
heart, my heart
Welcome to my heart, oh my own
sadness
|
La. La, la….
Buồn ơi, từ đâu buồn len lén trong
hồn, hồn ta
Buồn ơi, từ đâu buồn mang đến u
hoài, sầu đau
Lòng ta hằng mong buồn vương vấn
theo hoài, cùng ta
Ta vẫn mong chờ em, ơi nỗi vui
niềm buồn.
|
Refren
Melancolie, dulce melodie,
Melancolie, misterios amor,
Melancolie, melancolie,
Din armonia inimii cu dor
Melancolie, dulce melodie,
Melancolie, misterios amor,
Melancolie, melancolie,
Din armonia inimii cu dor
|
Refrain
Melancholy-y, how sweet love
melody,
Melancholy-y, how mysterious love
is
Melancholy-y, melancholy-y,
In harmony with the longing heart
Melancholy-y, how sweet love
melody,
Melancholy-y, how mysterious love
is
Melancholy-y, melancholy-y,
In harmony with the longing heart
|
Điệp khúc
Buồn ơi, sầu đến rồi, ta ngát
hương buồn ngọt ngào
Buồn ơi, sầu đến rồi, ta biết
bí mật trái tim
Buồn ơi, sầu đến rồi, cô
đơn theo ngày tháng
Trái tim khao khát này, khát khao
ân tình
Buồn ơi, sầu đến rồi, thêm ngát
hương buồn ngọt ngào
Buồn ơi, sầu đến rồi, ta biết
bí mật trái tim
Buồn ơi, sầu đến rồi, cô
đơn theo ngày tháng
Trái tim khao khát này, khát khao
ân tình
|
Da, la, la, la…
Mai drag mi-a amorul meu târziu,
mai dragă
Mai dragă mi-e mândruţa dragă,
dragă
Mai drag mi-e codrul şi izvorul,
dorul
Când vine dorul, când dorul vine..
|
Da, la, la, la…
Now, my love is so dear to me, oh
my love
My girl, you’re so dear to me,
darling
The forest and the spring are so
dear to me.
When I long for you, When I long
for you
|
Da, la, la, la…
Lòng ta từ lâu vẫn mong có em, chỉ
mình em
Lòng ta, từ lâu vẫn mong chờ tình
em
Lòng ta hằng mong buồn vương vấn
theo hoài, cùng ta
Ta vẫn mong chờ em,
ơi nỗi vui niềm buồn.
|
Refren
Melancolie, dulce melodie,
Melancolie, misterios amor,
Melancolie, melancolie,
Din armonia inimii cu dor
Melancolie, dulce melodie,
Melancolie, misterios amor,
Melancolie, melancolie,
Din armonia inimii cu dor
|
Refrain
Melancholy-y, how sweet love
melody,
Melancholy-y, how mysterious love
is
Melancholy-y, melancholy-y,
In harmony with the longing heart
Melancholy-y, how sweet love
melody,
Melancholy-y, how mysterious love
is
Melancholy-y, melancholy-y,
In harmony with the longing heart
|
Điệp khúc
Mê-lăng-co-li-ê, thêm ngát hương
buồn ngọt ngào
Mê-lăng-co-li-ê, ta biết bí mật trái tim
Mê-lăng-co-li-ê,Mê-lăng-co-li-ê
Trái tim khao khát này, khát khao ân tình
Mê-lăng-co-li-ê, thêm ngát hương
buồn ngọt ngào
Mê-lăng-co-li-ê, ta biết bí mật trái tim
Mê-lăng-co-li-ê, Mê-lăng-co-li-ê
Trái tim khao khát này, khát khao ân tình
|
Translated by nguyễn quang
Huế 29 april 2011
|
Translated by nguyễn quang
Huế 29 april 2011
|
Анто́н Анто́нович Де́львиг - Anton Delvig
Baron Anton Antonovich Delvig (Russian: Анто́н Анто́нович Де́львиг) (17 August [O.S. 6 August] 1798, Moscow - 26 January [O.S. 14 January] 1831, St. Petersburg) was a Russian poet and journalist who studied in the Tsarskoye Selo Lyceum together with Alexander Pushkin, with whom he became a close friend. Pushkin dedicated a poem ('O, Delvig') to him. Delvig commissioned a portrait of Pushkin from Orest Kiprensky which Pushkin bought from Delvig's widow after his friend's death.
In his poetry, Delvig upheld the waning traditions of Russian Neoclassicism. He became interested in Russian folklore and wrote numerous imitations of folk songs. Some of these were put to music by the composers Alexander Alyabyev and Mikhail Glinka.
As a journalist, Delvig edited the periodical Northern Flowers (1825–1831), in which Pushkin was a regular contributor. In 1830–1831, he co-edited with Pushkin the Literaturnaya Gazeta (1830–1831), which was banned by the Tsarist government after information laid by Faddei Bulgarin.
| Любовь
Что есть любовь? Несвязный сон. Сцепление очарований! И ты в объятиях мечтаний То издаешь унылый стон,
То дремлешь в сладком упоенье, Кидаешь руки за мечтой И оставляешь сновиденье С больной, тяжелой головой. |
| Tình yêu
Yêu là gì? Một giấc mơ rời rạc. Là sự hòa nhập quyến rũ, say mê Và khi ta ôm ấp những ước mơ Thì sẽ thốt ra những lời thổ thức. Rồi mơ màng trong say sưa ngọt lịm Đưa bàn tay để nắm bắt ước mơ Còn khi giấc mộng bắt đầu giã từ Để lại cái đầu đớn đau và nặng.
|
| Застольная песня
|
| Bài ca chúc rượu
|
|
Ничто не бессмертно, не прочно Под вечно изменной луной, И всё расцветает и вянет, Рождённое бедной землей. И прежде нас много веселых, Любило и пить и любить: Нехудо гулякам усопшим Веселья бокал посвятить. И после нас много веселых, Полюбят любовь и вино, И в честь нам напенят бокалы, Любившим и пившим давно. Теперь мы доверчиво, дружно И тесно за чашей сидим. О дружба, да вечно пылаем Огнем мы бессмертным твоим!
|
|
Không có gì bất tử hay vững chãi Dưới ánh trăng này muôn thuở đổi thay Vì tất cả nở hoa rồi tàn lụi Những gì sinh ra trên mặt đất này.
Và trước chúng ta đã từng vui vẻ Đã từng yêu nhau, từng uống rượu say Sẽ tốt lành, ta uống cốc rượu này Chúc những ai đã từng trong quá khứ. Rồi sau ta sẽ còn nhiều vui nữa Còn yêu nhau và còn uống rượu vang Và người ta lại nâng cốc chúc mừng Cho những ai đã từ lâu yên ngủ. Ta bây giờ cả tin và vui vẻ Và quây quần bên chén rượu ta ngồi Ôi tình bạn, cháy lên bằng ngọn lửa Đốt ta bằng vẻ bất tử của ngươi.
|
|
|
| Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.
|
| Русская песня
|
| Khúc hát Nga
|
| Пела, пела пташечка И затихла; Знало сердце радости И забыло.
Что, певунья пташечка, Замолчала? Как ты, сердце, сведалось С чёрным горем?
Ах! убили пташечку Злые вьюги; Погубили молодца Злые толки!
Полететь бы пташечке К синю морю; Убежать бы молодцу В лес дремучий!
На море валы шумят, А не вьюги, В лесе звери лютые, Да не люди! |
| Chú chim nhỏ hót Và rồi lặng im Trái tim vui sướng Và rồi lãng quên
Này chim hay hót Sao lại lặng im? Và này trái tim Cớ sao đau khổ?
Ôi! Cơn bão tuyết Đã giết con chim; Những lời đơm đặt Giết chàng thanh niên!
Giá mà chim bay Tới biển xanh thắm Giá mà chàng trai Chạy vào rừng rậm!
Biển có sóng thôi Không có bão tuyết Thú rừng ác nghiệt Nhưng không phải người |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| Антон Дельвиг
|
|
|
| СОЛОВЕЙ | NIGHTINGALE
| HỌA MI |
| вариант 1
Соловей мой, соловей, Голосистый соловей! Ты куда, куда летишь, Где всю ночку пропоешь? Соловей мой, соловей, Голосистый соловей!
Кто-то, бедная, как я, Ночь прослушает тебя, Не смыкаючи очей, Утопаючи в слезах? Соловей мой, соловей, Голосистый соловей!
Побывай во всех странах, В деревнях и городах: Не найти тебе нигде Горемычнее меня. Соловей мой, соловей, Голосистый соловей!
|
Nightingale, my nightingale, Loud-voiced nightingale! Where are you, where you fly, Where all night will you sing? Nightingale, my nightingale, Loud-voiced nightingale!
Someone poor as I am The night will listen to you, Without closing eyes, All in tears?
Nightingale, my nightingale, Loud-voiced nightingale! Visit all countries, In villages and cities: Do not get you anywhere I am so alone
Nightingale, my nightingale, Loud-voiced nightingale!
| Họa mi, họa mi của tôi, Con chim họa mi hót hay! Bạn bay đi đâu, Đêm nay bạn hót nơi nao? Họa mi, họa mi của tôi,
Họa mi, họa mi của tôi, Con chim họa mi hay hót!
Một người tội nghiệp như tôi, Ban đêm lắng nghe tiếng bạn, Không thể tài nào nhắm mắt, Bởi chưng lệ đã trào mi?
Họa mi, họa mi của tôi, Con chim họa mi hay hót!
Hoaj mi đến thăm bao nước Bản làng, thị trấn gần xa Đừng bay đi đâu nữa cả Tôi đã cô đơn rất nhiều
Họa mi, họa mi của tôi, Con chim họa mi hót hay! |
|
|
Music by Alexander Alyabjev
A.Aljabiev * Solovey * / Nightingale/
А.Алябьев * Соловей * - Alexandra Chernyshova - soprano, Tom HIggersson - piano. Sæluvika 2010, april, Iceland.
Thursday, April 28, 2011
Сказка о рыбаке и рыбке The Fisherman and the Golden Fish Ông lão đánh cá và con cá vàng (Truyện cổ tích)
| Сказка о рыбаке и рыбке
| The Fisherman and the Golden Fish | Ông lão đánh cá và con cá vàng (Truyện cổ tích)
|
| Жил старик со своею старухой У самого синего моря; Они жили в ветхой землянке Ровно тридцать лет и три года.
| There once lived an old man and his good-wife On the shore of the deep blue ocean; They lived in a tumble-down hovel For thirty-three summers and winters.
| Xưa, ngày xưa, sát bên bờ biển xanh Có hai ông bà già nghèo khổ Sống lặng lẽ trong một túp lều tranh Ba mươi ba năm trời luôn một chỗ.
|
| Старик ловил неводом рыбу, Старуха пряла свою пряжу. Раз он в море закинул невод, — Пришел невод с одною тиной. | The old man used to fish for his living, And his wife spun yarn on her distaff. He once cast his net in the ocean, And pulled it up with mud from the bottom; | Ông lão ấy thường đánh cá kiếm ăn, Còn bà lão thì dệt vải chuyên cần. Ông đem lưới một hôm đi đánh cá. Quăng lần đầu chỉ thấy vài cuống rạ.
|
| Он в другой раз закинул невод, Пришел невод с травой морскою. В третий раз закинул он невод, — Пришел невод с одною рыбкой, | He again cast his net in the ocean, And this time caught nothing but seaweed; When he cast his net for the third time, One fish was all that he landed,
| Lần thứ hai cũng chẳng khá hơn gì - Chỉ một chùm rong biển đáng vứt đi. Còn lần tiếp, lần thứ ba sau đó, Nằm trong lưới là một con cá nhỏ,
|
| С непростою рыбкой, — золотою. Как взмолится золотая рыбка! Голосом молвит человечьим: «Отпусти ты, старче, меня в море, | No common fish, though, but a goldfish. Now the goldfish began to implore him, And it spoke like a real human being: «Put me back, old man, into the ocean —
| Nhưng không phải là con cá bình thường, Mà chính nó là một con cá vàng. Con cá nói bằng giọng người rất lạ: “Lão hãy thả cho tôi về biển cả.
|
| Дорогой за себя дам откуп: Откуплюсь чем только пожелаешь.» Удивился старик, испугался: Он рыбачил тридцать лет и три года
| I will pay you a right royal ransom, I wilt give you whatever you ask me.» The old man was astonished and frightened — He'd been fishing for thirty-three summers
| Tôi đền ơn rất hậu hĩnh: Sau này Lão muốn gì là lập tức có ngay!” Ông lão sợ và ngạc nhiên, bởi lẽ Lão đánh cá ba mươi năm có lẻ
|
| И не слыхивал, чтоб рыба говорила. Отпустил он рыбку золотую И сказал ей ласковое слово: «Бог с тобою, золотая рыбка! Твоего мне откупа не надо; Ступай себе в синее море, Гуляй там себе на просторе». | Bat had not heard of any fish talking. So with care he untangled the goldfish And tenderly said as he did so: «God bless you, my dear little goldfish! Thank you kindly, I don't want your ransom. Go back to your home in the ocean, And roam where you will without hindrance.»
| Nay tận tai nghe cá nói lần đầu. Lão vội vàng thả cá, đáp như sau: "Hỡi cá vàng, xin cầu mong thượng đế Giúp nhà ngươi, ta không cần ân huệ. Cứ tự do bơi lội, sống yên lành, Cứ tha hồ vùng vẫy giữa biển xanh!”
|
| Воротился старик ко старухе, Рассказал ей великое чудо. «Я сегодня поймал было рыбку, Золотую рыбку, не простую; По-нашему говорила рыбка, Домой в море синее просилась, Дорогою ценою откупалась: Откупалась чем только пожелаю. Не посмел я взять с нее выкуп; Так пустил ее в синее море». Старика старуха забранила: «Дурачина ты, простофиля! Не умел ты взять выкупа с рыбки! Хоть бы взял ты с нее корыто, Наше-то совсем раскололось».
| To his wife the old fisherman hastened To tell her about this great marvel. «I caught only one fish this morning — A goldfish it was, most uncommon; It spoke like a Christian, and begged me To put it back into the ocean, And promised to pay a rich ransom, To give me whatever I asked for. But how could I ask for a ransom? I released it without any payment.» His wife started scolding her husband: «Oh you simpleton! Oh yon great silly! Couldn't make a mere fish pay a ransom! You at least might have asked for a wash-tub - For ours is all falling to pieces!»
| Rồi ông lão ra về, đem tất cả Khoe với vợ những điều kia kỳ lạ: “Chà, hôm nay tôi bắt được cá vàng. Vâng, tất nhiên, không phải cá bình thường. Nó biết nói bằng tiếng người rất rõ, Xin được tha về biển xanh, và nó Hứa đền ơn rất hậu hĩnh: sau này Tôi muốn gì là lập tức có ngay! Tôi rất sợ và ngạc nhiên. Nghe thế Liền thả cá mà không đòi ân huệ”. Bà vợ nghe, liền vội vã mắng chồng: “Ngốc thế này thì có chết tôi không! Cái máng lợn nhà ta đang vỡ toác. Ít ra ông cũng hỏi xin cái khác!” |
| Вот пошел он к синему морю; Видит, — море слегка разыгралось. Стал он кликать золотую рыбку, Приплыла к нему рыбка и спросила: «Чего тебе надобно, старче?» Ей с поклоном старик отвечает: «Смилуйся, государыня рыбка, Разбранила меня моя старуха, Не дает старику мне покою: Надобно ей новое корыто; Наше-то совсем раскололось». Отвечает золотая рыбка: «Не печалься, ступай себе с богом, Будет вам новое корыто». Воротился старик ко старухе, У старухи новое корыто. Еще пуще старуха бранится: «Дурачина ты, простофиля! Выпросил, дурачина, корыто! В корыте много ль корысти? Воротись, дурачина, ты к рыбке; Поклонись ей, выпроси уж избу».
| The old man returned to the seashore, Where the blue waves were frolicking lightly. He called out aloud for the goldfish, And the goldfish swam up and demanded: «What is it, old man, you are wanting?» With a bow, the old man said in answer: «Forgive me, Your Majesty Goldfish! My old woman has scolded me roundly— Won't leave me alone for a minute, She says that she wants a new wash-tub, For ours is all falling to pieces.» The goldfish murmured in answer: «Do not worry, go home, God be with you Very well, you shall have a new wash-tub.» To his wife the old fisherman hastened, And behold — there it was, the new wash-tub. But she scolded him louder than ever: «Oh you simpleton! Oh you great silly! To ask for a tub—a mere wash-tub! What good can you get from a wash-tab? Return to the goldfish, you silly, Bow down low and ask for a cottage.»
| Và ông lão lại đi ra biển xanh (Biển lúc ấy gió bắt đầu khẽ thổi) Ông lão gọi cá vàng, và rất nhanh Cá xuất hiện, bơi lại gần và nói: “Lão cần gì, xin cứ nói ra mau!” Ông lão chào và đáp lại như sau: “Mong cá vàng hãy rộng lòng tha thứ. Bà vợ tôi rầy la tôi rất dữ, Không cho yên, dù sức yếu, tuổi già. Vợ tôi đòi, xin cá giúp bà ta Một chiếc máng cho lợn ăn, mới, rộng, Vì chiếc cũ của nhà tôi đã hỏng”. Cá vàng nghe rồi trả lời: “Cứ đợi. Hãy về nhà, sẽ có ngay máng mới”. Vâng, quả nhiên, vừa bước chân về nhà, Ông lão thấy ngay trước mặt bà già Chiếc máng lợn mà cá vàng đã nói. Nhưng bà già lại mắng ông dữ dội: “Ôi ông ngu, xin máng lợn làm gì? Cái thứ này, đồ ăn hại, vứt đi! Hãy quay lại gặp cá vàng, xin nó Cho chúng ta một ngôi nhà nho nhỏ!”
|
| Вот пошел он к синему морю, (Помутилося синее море.) Стал он кликать золотую рыбку, Приплыла к нему рыбка, спросила: «Чего тебе надобно, старче?» Ей старик с поклоном отвечает: «Смилуйся, государыня рыбка! Еще пуще старуха бранится, Не дает старику мне покою: Избу просит сварливая баба». Отвечает золотая рыбка: «Не печалься, ступай себе с богом, Так и быть: изба вам уж будет». Пошел он ко своей землянке, А землянки нет уж и следа; Перед ним изба со светелкой, С кирпичною, беленою трубою, С дубовыми, тесовыми вороты. Старуха сидит под окошком, На чем свет стоит мужа ругает. «Дурачина ты, прямой простофиля! Выпросил, простофиля, избу! Воротись, поклонися рыбке: Не хочу быть черной крестьянкой, Хочу быть столбовою дворянкой». | Again he went back to the seashore, And this time the blue sea was troubled. He called out aloud for the goldfish, And the goldfish swam up and demanded: «What is it, old man, you are wanting?» With a bow, the old man said in answer: «Forgive me, Your Majesty Goldfish! My old woman is angrier than ever, Won't leave me alone for a minute— The old scold says she wants a new cottage.» The goldfish murmured in answer: «Do not worry, go home, God be with you! So be it! You'll have a new cottage!» So back the old man turned his footsteps; Not a sign did he see of his hovel. In its place stood a new gabled cottage, With a chimney of brick, newly whitewashed, A fence with oak gates stood around it; And there sat his wife at a window; When she saw him, she scolded him roundly: «Oh you simpleton! Oh you great silly! To ask for no more than a cottage! Go and bow to the goldfish, and tell it That I'm tired of being a peasant, That I want to be made a fine lady.»
| Và ông lão lại đi ra biển xanh (Biển lúc ấy gió mạnh hơn đang thổi), Ông lão gọi cá vàng, và rất nhanh Cá xuất hiện, bơi lại gần, và nói: “Lão cần gì, xin hãy nói ra mau!” Ông lão chào và đáp lại như sau: “Mong cá vàng hãy rộng lòng tha tội. Bà vợ tôi còn giận hơn gấp bội, Không cho yên, dù sức yếu, tuổi già. Vợ tôi bắt xin cá một ngôi nhà”. Cá vàng đáp: "Lão đừng buồn, cứ đợi. Hãy đi về, sẽ có ngay nhà mới”. Lúc ông lão quay về thì lạ thay, Đã chẳng thấy túp lều cũ xưa nay. Thay vào đó là một ngôi nhà gạch Có ống khói và mái hiên rất sạch, Cổng nhà cao, bằng những tấm gỗ sồi. Bên cửa sổ, bà vợ lão đang ngồi, Vừa thấy chồng đã quát to giận dữ: “Đồ ăn hại! Ngốc vừa vừa thôi chứ! Đi mất công chỉ xin được cái nhà! Hãy liệu hồn, quay lại, nói rằng ta Chán làm mụ nông dân nghèo thế mãi, Mà muốn thành một bà giàu quí phải!”
|
| Пошел старик к синему морю; (Не спокойно синее море.) Стал он кликать золотую рыбку. Приплыла к нему рыбка, спросила: «Чего тебе надобно, старче?» Ей с поклоном старик отвечает: «Смилуйся, государыня рыбка! Пуще прежнего старуха вздурилась, Не дает старику мне покою: Уж не хочет быть она крестьянкой, Хочет быть столбовою дворянкой». Отвечает золотая рыбка: «Не печалься, ступай себе с богом». | The old man then returned to the seashore, Where the ocean was restlessly foaming, He called out aloud for the goldfish. The goldfish swam up and demanded: «What is it, old man, you are wanting?» With a bow, the old man said in answer: «Forgive me, Your Majesty Goldfish! My old woman is madder than ever, She gives me no rest for a second, Says she's tired of being a peasant, And wants to be made a fine lady.» The goldfish murmured in answer: «Do not worry, go home, God be with you.»
| Và ông lão lại đi ra biển xanh (Biển lúc ấy gió mạnh hơn đang thổi), Ông lão gọi cá vàng, và rất nhanh Cá xuất hiện, bơi lại gần và nói: “Lão cần gì, xin hãy nói ra mau”. Ông lão chào và đáp lại như sau: Mong cá vàng hãy rộng lòng tha thứ. Bà vợ tôi còn thêm phần giận dữ, Không cho tôi yên tĩnh cảnh về già, Và lần này còn tuyên bố bà ta Chán làm mụ nông dân nghèo vô học, Mà muốn thành một phu nhân quí tộc!” Cá vàng nghe, đáp lại: “Được, cứ về!”
|
| Воротился старик ко старухе. Что ж он видит? Высокий терем. На крыльце стоит его старуха В дорогой собольей душегрейке, Парчовая на маковке кичка, Жемчуги огрузили шею, На руках золотые перстни, На ногах красные сапожки. Перед нею усердные слуги; Она бьет их, за чупрун таскает. Говорит старик своей старухе: «Здравствуй, барыня сударыня дворянка! Чай, теперь твоя душенька довольна». На него прикрикнула старуха, На конюшне служить его послала.
| To his wife the old fisherman hastened, And what did he see? — a tall mansion; On its white marble stairs — his old woman. She was wearing a rich sable jacket, And s head-dress, in gold all embroidered; Her neck was with pearls heavy laden; She wore golden rings on her fingers; She was shod in the softest red leather; Zealous servants bowed meekly before her, As she cuffed them and rated them roundly. The old man then approached his wife, saying. «Greetings, your ladyship, greetings, fine lady! Now I hope that your soul is contented!» She angrily bade him be silent And sent him to serve in the stables.
| Khi ông lão quay về nhà, đã thấy Một lâu đài rất cao to, lộng lẫy Còn vợ lão thì đang đứng cạnh thềm, Chân đi giày màu đỏ ấm và êm, Người mặc áo lông chồn hoa diêm dúa, Đầu đội mũ được may bằng vải lụa, Các vòng vàng lóng lánh kín hai tay, Cổ - kim cương và ngọc quí đeo đầy. Đám đầy tớ đứng bên - bà quí tộc Thường đánh chúng, thường kéo lưng, túm tóc. Thấy bà ta, ông lão nói thế này: “Thưa đức bà quí tộc, chắc từ nay Bà phải thấy hài lòng lắm chứ? Nhưng bà lão nhìn ông chồng giận dữ Rồi sai ông coi chuồng ngựa cho bà.
|
| Вот неделя, другая проходит, Еще пуще старуха вздурилась: Опять к рыбке старика посылает. «Воротись, поклонися рыбке: Не хочу быть столбовою дворянкой, А хочу быть вольною царицей». Испугался старик, взмолился: «Что ты, баба, белены объелась? Ни ступить, ни молвить не умеешь, Насмешишь ты целое царство». Осердилася пуще старуха, По щеке ударила мужа. «Как ты смеешь, мужик, спорить со мною, Со мною, дворянкой столбовою? — Ступай к морю, говорят тебе честью, Не пойдешь, поведут поневоле».
| First a week slowly passed, then another, The old woman grew prouder than ever. One morning she sent for her husband, And said: «Bow to the goldfish and tell it I am tired of being a lady, And I want to be made a Tsaritsa.» Her husband implored her in terror, Saying: «Woman—you've surely gone crazy! You can't even talk like a lady! You'd be mocked at all over the kingdom! His old woman grew madder than ever, Slapped his face and then shouted in passion: «How dare you, muzhik, stand and argue, Stand and argue with me, a fine lady? Go at once — if you don't, then I warn you, You'll be dragged to the shore, willy-nilly.»
| Một, hai tuần rất nhanh chóng trôi qua, Bà vợ lão lại đùng đùng giận dỗi, Cho gọi chồng vào gặp mình, và nói: “Ngươi hãy đi ra biển gặp cá vàng, Nói rằng ta chán làm bà quí phái, Mà chỉ muốn được làm chính nữ hoàng!” Ông lão nghe, liền ôm đầu kinh hãi: “Ôi, lạy trời, bà mất trí rồi sao? Đến nói năng và đi đứng thế nào Còn chẳng biết, thế mà đòi... Không lẽ Định trêu tức cả thế gian như thế?” Còn bà kia, vốn giận dữ từ đầu, Tát cho chồng một cái đến là đau: “Sao, cái lão nông dân kia ngu ngốc, Ngươi dám cãi với một bà quí tộc? Hãy đi ngay ra biển, nếu không thì Ta cho người cầm gươm giáo bắt đi!”
|
| Старичок отправился к морю, (Почернело синее море.) Стал он кликать золотую рыбку. Приплыла к нему рыбка, спросила: «Чего тебе надобно, старче?» Ей с поклоном старик отвечает: «Смилуйся, государыня рыбка! Опять моя старуха бунтует: Уж не хочет быть она дворянкой, Хочет быть вольною царицей». Отвечает золотая рыбка: «Не печалься, ступай себе с богом! Добро! будет старуха царицей!»
| The old man went down to the seashore (The ocean was swollen and sullen). He called out aloud for the goldfish, And the goldfish swam up and demanded: «What is it, old man, yon are wanting?» With a bow, the old man said in answer: «Forgive me, Your Majesty Goldfish! Again my old woman's gone crazy! Now she's tired of being a lady! She wants to be made a Tsaritsa. The goldfish murmured in answer: Do not worry, go home, God be with you! Very well! She shall be a Tsaritsa!»
| Và ông lão lại đi ra biển xanh (Biển bây giờ đã xạm đen, gió nổi), Ông lão gọi cá vàng, và rất nhanh Cá xuất hiện, bơi lại gần và nói: “Lão cần gì, xin hãy nói ra mau”. Ông lão chào, và đáp lại như sau: “Mong cá thần hãy rộng lòng tha thứ. Lại lần nữa vợ tôi đang giận dữ. Bà ta chán làm quí tộc cao sang, Mà xin cá cho được làm nữ hoàng!” Cá vàng đáp: “Yên tâm, đừng đau khổ. Cứ về đi, rồi muốn gì sẽ có”. Và ông lão đi về nhà, đã thấy Trước mặt mình là hoàng cung lộng lẫy. Còn trong cung, bà vợ lão đang ngồi, Một nữ hoàng oai vệ mới lên ngôi. |
| Старичок к старухе воротился. Что ж? пред ним царские палаты. В палатах видит свою старуху, За столом сидит она царицей, Служат ей бояре да дворяне, Наливают ей заморские вины; Заедает она пряником печатным; Вкруг ее стоит грозная стража, На плечах топорики держат. Как увидел старик, — испугался! В ноги он старухе поклонился, Молвил: «Здравствуй, грозная царица! Ну, теперь твоя душенька довольна». На него старуха не взглянула, Лишь с очей прогнать его велела. Подбежали бояре и дворяне, Старика взашеи затолкали. А в дверях-то стража подбежала, Топорами чуть не изрубила. А народ-то над ним насмеялся: «Поделом тебе, старый невежа! Впредь тебе, невежа, наука: Не садися не в свои сани!» | To his wife the old fisherman hastened, And what did he see? A grand palace; In the palace he saw his old woman, At the table she sat, a Tsaritsa, Attended by nobles and boyards; They were pouring choice wines in her goblet, She was nibbling sweet gingerbread wafers; Around her, grim guards stood in silence, With halberds upon their broad shoulders. The old man was aghast when he saw this, He bowed to her feet and said humbly: «Greetings, Oh mighty Tsaritsa! Now I hope that your soul is contented!» But she gave not a glance at her husband — She ordered him thrust from her presence. The boyards and nobles all hastened And drove him with blows from the chamber; The guards at the door waved their halberds And threatened to cut him to pieces. All the people derided him, saying. «Serves you right, now, you ill-bred old fellow. You churl—this will teach you a lesson, To keep to your station in future!»
| Phục dịch bà là các tướng, các quan, Họ luôn tay rót rượu đặt lên bàn. Bà thì ngồi, hết ăn kem, lại bánh, Mấy tên lính rất oai nghiêm đứng cạnh, Vác trên vai những lưỡi giáo sáng ngời. Trông thấy thế, ông lão sợ, rụng rời, Quì sụp xuống, lạy dưới chân bà vợ: “Thưa nữ hoàng rất oai nghiêm đáng sợ, Nay phải chăng bà đã thấy đẹp lòng?” Nhưng bà lão không cúi xuống nhìn chồng, Mà ra lệnh tống đi cho khuất mắt. Ngay lập tức, đám người hầu nghiêm ngặt Túm lấy vai và cổ áo ông già. Đến cửa ngoài thì lính gác chạy ra Suýt giơ giáo chém đứt đầu ông lão. Còn người khác thì cười to và bảo: “Vì lão ngu nên phải chịu thế này. Oan nỗi gì, lão phải nhớ từ nay Đừng xỏ mũi vào nơi không phải chỗ!”
|
| Вот неделя, другая проходит, Еще пуще старуха вздурилась: Царедворцев за мужем посылает, Отыскали старика, привели к ней. Говорит старику старуха: «Воротись, поклонися рыбке. Не хочу быть вольною царицей, Хочу быть владычицей морскою, Чтобы жить мне в Окияне-море, Чтоб служила мне рыбка золотая И была б у меня на посылках».
| First a week slowly passed, then another; The old woman grew prouder than ever. She sent for her husband one morning, And her chamberlain haled him before her. The old woman spoke thus to her husband: «Go, bow to the goldfish, and tell it That I'm tired of being Tsaritsa, Of the seas I want to be mistress, With my home in the blue ocean waters; The goldfish I want for my servant To do my commands and my errands.»
| Một hai tuần lại trôi qua, sau đó Bà vợ ông lại nổi giận đùng đùng, Sai quân hầu đưa ông lão vào cung: "Hãy ra biển gặp cá vàng, nhắn lại, Rằng ta chán làm nữ hoàng mãi mãi. Hãy cho ta làm bà chúa biển khơi, Hãy cho ta sống dưới biển suốt đời. Ta muốn bắt con cá vàng kỳ lạ Ở bên ta để suốt đời hầu hạ!” |
| Старик не осмелился перечить, Не дерзнул поперек слова молвить. Вот идет он к синему морю, Видит, на море черная буря: Так и вздулись сердитые волны, Так и ходят, так воем и воют. Стал он кликать золотую рыбку. Приплыла к нему рыбка, спросила: «Чего тебе надобно, старче?» Ей старик с поклоном отвечает: «Смилуйся, государыня рыбка! Что мне делать с проклятою бабой?
| The old man durst not contradict her, Nor open his lips to make answer. He sadly set out for the seashore. A tempest raged over the ocean, Its waters were swollen and angry, Its billows were boiling with fury. He called out aloud for the goldfish. The goldfish swam up and demanded: «What is it, old man, you are wanting?» With a bow, the old man said in answer; «Forgive me, Your Majesty Goldfish! What shall I do with my cursed old woman?
| Ông lão nghe mà kinh sợ xiết bao, Nhưng không dám cãi lại một câu nào, Nên lần nữa ông lại đi ra biển. Biển lúc ấy bão dông đang ập đến, Sóng dâng to như dãy núi bạc đầu Đang điên cuồng gào thét, cưỡi lên nhau. Ông lão gọi cá vàng. Vừa mới gọi, Cá xuất hiện, bơi lại gần và nói: “Cần cái gì, ông lão, nói ra mau!” Ông lão chào, và đáp lại như sau: “Mong cá thần hãy rộng lòng tha thứ. Bà vợ tôi đang điên khùng giận dữ -
|
| Уж не хочет быть она царицей, Хочет быть владычицей морскою; Чтобы жить ей в Окияне-море, Чтобы ты сама ей служила И была бы у ней на посылках». Ничего не сказала рыбка, Лишь хвостом по воде плеснула И ушла в глубокое море. Долго у моря ждал он ответа, Не дождался, к старухе воротился — Глядь: опять перед ним землянка; На пороге сидит его старуха, А пред нею разбитое корыто. | She is tired of being Tsaritsa, Of the seas she now wants to be mistress, With her home in the blue ocean waters; She wants you to be her own servant, To do her commands and her errands.» Not a word spoke the goldfish in answer, It just swished its tail, and in silence Disappeared in the depths of the ocean. He waited in vain for an answer, And at last turned his steps to the palace; And behold — there again stood his hovel; On the doorstep sat his old woman, With the same broken wash-tab before her.
| Mụ không muốn làm nữ hoàng suốt đời, Mà muốn làm bà chúa chốn trùng khơi Sống giữa biển; muốn cá thần kỳ lạ Luôn bên cạnh để suốt ngày hầu hạ”. Cá vàng nghe, im lặng chẳng nói gì, Vẫy đuôi liền mấy cái, bỏ bơi đi, Bơi xuống đáy của biển khơi vời vợi. Còn ông lão thì trên bờ cứ đợi. Đợi rất lâu, rồi thất thểu về nhà, Và ngạc nhiên, lão lại thấy bà già Đang lặng lẽ ngồi trong căn nhà đất Với chiếc máng lợn ăn mòn trước mặt.
|
| Александр Сергеевич Пушкин | Translated by Irina Zheleznova, 1986 | Thái Bá Tân dịch |
IN RUSSIAN
IN ENGLISH