MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, July 24, 2010

người thư ký trung thành của những trái tim - tản mạn

Khi nói về thơ ca, nhà thơ Đuy Blây có viết: “Thơ là người thư ký trung thành của những trái tim.” Đó là một lối ví von tinh tế về khả năng tái hiện tình cảm của nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng. Thơ vốn dĩ là một hình thức văn học ra đời rất sớm để ghi lại những cung bậc tình cảm của người làm thơ cho chính mình, cho những người cùng thời và cả những độc giả tương lai.

Thật vậy, cảm xúc từ trái tim trước thiên nhiên, sự vật, con người, sự kiện xã hội là phổ biến của “giống hữu tình”. Bồi hồi trước một ráng chiều, cô đơn trong một ngày đông, hồ hởi trước ngày thắng lợi: những tình cảm lớn, những xúc động mạnh của chúng ta mỗi khi dâng trào đều để lại trong hồn ta một cảm giác thi vị, ngân nga: đó chính là hồn thơ. Với phần lớn mọi người hồn thơ đó xuất hiện rồi đi qua, và nếu sau này có nhớ lại thì cũng chỉ là ngững hoài niệm mơ hồ. Nhưng với những người biết làm thơ thì cái hồn thơ tự nhiên ấy được cụ thể hóa bằng ngôn từ, vần điệu để cho ta những bài thơ. Có những bài thơ người viết chỉ để cho riêng mình, có khi cho một người nhưng đa phần là để cho mọi người. Dù chỉ để cho một người hay mọi người, bản thân mỗi bài thơ phải là người thư ký trung thành ghi chép nhịp đập thiết tha của những trái tim đang vui hay buồn, hạnh phúc hay đau đớn, tuyệt vọng hay hy vọng, đang yêu hay đang chết, đang mộng hay đang tỉnh, đang hồ hởi với cuộc đời hay muốn xa lánh nhân gian. Qua người thư ký trung thành - thơ ca - người đọc và nhà thơ tìm thấy xúc cảm của nhau, tìm thấy nhịp đập trái tim của nhau, tìm thấy tiếng nói đồng điệu, đồng tình, đồng cảm, tìm thấy tri âm tri kỷ mà làm đẹp thêm, giàu thêm cuộc sống tình cảm của chính mình. Thơ khởi phát từ lòng người và tìm đến lòng người. Có những bài thơ vụng không ghi lại hết cảm xúc, nhưng vẫn là chân thật như những bài thơ tình của lứa tuổi thích ô-mai. Nhưng cũng có những bài thơ đọc lên thấy hay hay nhưng lại nhạt vì ta không tìm thấy cảm xúc chân thật của người viết. Đó là sản phẩm của các thợ thơ, đem cái tài chế biến câu chữ để mê hoặc lòng người. Một bài thơ do vậy không chỉ là người thư ký mà phải là người thư ký trung thành, hơn thế nữa, không chỉ là người thư ký trung thành mà còn là người thư ký đủ tài năng và bản lĩnh. Có như thế mới đủ sức tái hiện những sắc thái tình cảm tinh tế, muôn màu, mới gây được xúc cảm bồi hội nơi người đọc, người nghe. Một bài thơ như thế sẽ có sức lan tỏa từ thế hệ này sang thế hệ khác từ biên giới này tới biên giới kia. Nghĩa là một bài thơ vượt qua cả không gian lẫn thời gian để liên kết những trái tim của các thời đại và các màu da, như Nguyễn Du đã từng thắc mắc: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố như.”

Những người thư ký trung thành và tài năng ấy có thể tìm thấy trong thơ ca Việt Nam cũng như các nước. Những người yêu nhau không ai không thấy tiếng đập của trái tim mình trong những vần thơ sau của Hồng Chương:

Thuở ấy cùng em học một trường
Bạn bè quen gọi cặp uyên ương.
Song song hai đưa, đi sung sướng
Rảo bước yên vui một nẻo đường.

Hôm nay mất hút bóng hình em,
Có lẽ em đang đứng trước rèm
Thêu nổi hai con chim nhạn trắng,
Con xa vỗ cánh, con nằm yên.

Hai khổ đầu và cuối của bài ghi lại một mối tình tan vỡ của tác giả thời chiến tranh. Những người yêu nhau mà không lấy được nhau vì hoàn cảnh, vì lý tưởng… đều có thể tìm thấy tiếng lòng mình thổn thức trong từng hình ảnh bài thơ đã khắc họa. Những người may mắn trong tình yêu cũng thấy được tiếng lòng của tác giả, đọc được cái thông điệp tác giả muốn gởi gắm để yêu quý hơn cái cuộc sống đám ấm mình đang được hưởng, để biết thông cảm hơn và chia xẻ hơn tức là để làm đẹp hơn cuộc đời này.

Bài thơ sau của của nhà thơ nữ Silva Kaputikyan đã được nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam chép vào sổ tay như thông điệp muôn thủa của tình yêu đầu đời vốn thường hay tan vỡ.

Em bảo: "Anh đi đi"
Sao anh không đứng lại?
Em bảo: "Anh đừng đợi"
Sao anh vội quay về?

Lời nói thoảng gió bay
Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh ngốc thế
Không nhìn vào mắt em

Sở dĩ nó được nhiều người yêu mến, học thuộc vì nó phản ánh trung thành cái vụng dại rất dễ thương của những người mới yêu nhau lần đầu. Ai cũng biết con gái, nói có là không, nói mưa là nắng. Nhưng con trai muôn đời vẫn ngốc không hiểu ra cái chân lý đơn giản ấy, để bài thơ muôn đời vẫn đúng, và để tình đầu dang dở mới là yêu.

Để kết luận, xin mượn lời nhà thơ Thanh Thảo nói về thi ca: “Thơ ca đến với con người dưới những gương mặt những dáng nét khác nhau. Nhưng nếu trái tim người muôn năm vẫn vậy thì trái tim thơ muôn đời vẫn thế.” Thơ đúng là người thư ký trung thành của những trái tim đang rộn ràng, thổn thức, mãi mê đập từng nhịp đập không nguôi của điệp khúc tình yêu.

Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi? - tản mạn

Tự bạch là trò chơi mang tính trí tuệ và rất tế nhị. Người hỏi và người trả lời đều thông qua câu hỏi và câu trả lời để nói lên phần nào về bản thân mình. Các câu hỏi gắn liền với nhau buộc người trả lời phải có suy nghĩ, nếu không các câu trả lời sẽ mâu thuẫn với nhau. Như là một món quà Valentine dành cho con gái của mình, ngày 14 tháng 2 năm 1865, Các Mác đã hoàn thành bản Tự bach của mình với 20 câu hỏi cô con gái đặt ra. Câu hỏi thứ 19 như sau: “Câu cách ngôn mà cha yêu thích?” Câu trả lời của Mác là: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi.”
Nguyên văn câu cách ngôn tiếng Latin là: "Homo sum, et nihil humanum a me alienum puto" “Tôi là con người: cho nên tôi không coi những gì thuộc về con người là xa lạ với tôi. Câu cách ngôn muốn khuyên chúng ta tìm hiểu, nhận định con người trên quan điểm toàn diện.
Hàng ngày tất cả chúng ta, trừ những chàng Robinson tội nghiệp trên hoang đảo ra, ai cũng có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, tiếp xúc, làm việc với những người xung quanh. Điều này diễn ra thường nhật và đều đặn tới mức phần lớn chúng ta tưởng rằng chúng ta hiểu rõ và hiểu hết những người ta tiếp xúc hàng ngày từ gia đình, học đường tới cơ quan, văn phòng nhà máy. Nhưng thực tế không đơn giản như thế. Đa phần chúng ta hiểu người khác một cách rất phiến diện, thậm chí là nông cạn, ngay cả họ là những người thân thiết của chúng ta. Phần lớn mọi người hiểu người khác theo quan hệ đối tác (chủ - tớ, thầy – trò, đồng nghiệp) hay là chỉ tìm hiểu ở người khác những gì có lien quan tới ta, phục vụ cho lợi ích của ta hơn là hiểu một con người với đầy đủ ý nghĩa của nó. Một người chủ xí nghiệp thường tìm hiểu nhân viên ở khía cạnh năng lực công tác và rất hiếm khi tìm hiểu hoàn cảnh sống, hay tâm tư nguyện vọng của anh ta. Một người vợ sống với chồng 30 năm sau mới hiểu được rằng ông chống không hề thích nếu không muốn nói là căm ghét món thịt nướng mà bà đã bắt ông ăn suốt ngần ấy năm. Một người thấy giáo luôn nghĩ rằng cậu học sinh giỏi của mình được thầy cưng bạn phục bao nhiêu năm nay hẳn là rất hạnh phúc với địa vị của mình ở trường, chợt bàng hoàng khi một ngày kia phát hiện ra rằng cậu bé là một kiểu “anh hùng cô độc” vì quá được thầy yêu mà phải xa dần bạn bè và luôn thấy cô đơn và bất ổn vì thấy mình giỏi tới mức không giống ai nhưng chẳng dám bày tỏ cùng ai.
Một sự hiểu biết phiến diện như thế thường gây trở ngại trong mối quan hệ giữa người với người trong sinh hoạt, học tập cũng như lao động sản xuất. Lầm thế nào chúng ta có thể hợp tác với nhau khi chúng ta không có được sự cảm thông sâu sắc về nhau? Làm thế nào chúng ta có được cảm thông sẻ chia khi những gì thuộc về anh lại xa lạ đối với tôi và những gì thuộc về tôi lại xa lạ đối với anh? Nhưng để có một sự hiểu biết toàn diện về con người nói chung cũng như những người cụ thể quanh ta nói riêng không phải là chuyện dễ dàng. Cái thuộc về con người có thể là vấn đề thực thể: sức khoẻ, vẻ đẹp, tầm vóc, cũng có thể là các vấn đề liên quan tới tinh thần: trí thông minh, óc tư duy, sự sáng tạo, tri thức, kỹ năng, hoặc là các vấn đề liên quan tới tâm lý, xã hội như thị hiếu, tín ngưỡng, quan điểm chính trị, thậm chí cả những vấn đề của sinh hoạt thường nhật như món ăn ưa thích nhất hay ghét nhất. Ví dụ, Các Mác đã trả lời câu hỏi món ăn ưa thích nhất của mình là cá và chắc chắn một điều rất “người”này sẽ không hề xa lại gì với Gien-ni, người bạn đời vỹ đại của ông.
Nói tóm lại câu cách ngôn mà Mác thích nhất chính là một lời khuyên dành cho mọi người phải luôn luôn tìm cách hiểu biết bản chất phức tạp của con người và đời sống con người bởi con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Luôn luôn tự nhủ rằng ta chưa hiểu hết người khác như trong câu tự bạch cuối cùng của Mác (Câu châm ngôn mà cha thích? Phải hoài nghi tất cả). Nhớ rằng, ta không thể nói đến việc giải phóng con người và mưu cầu hạnh phúc cho con người chừng nào chưa hiểu hết con người mà bản thân mỗi người chỉ là một đại diện.
BẢN TỰ BẠCH CỦA CÁC MÁC

1. Đức tính nào cha quý nhất? Giản dị
2. Đức tính nào cha quý nhất ở người đàn ông? Nghị lực
3. Đức tính nào cha thấy quý nhất ở người đàn bà? Thông minh, dễ thương
4. Đặc điểm chủ yếu của cha? Kiên nhẫn
5. Quan niệm của cha về hạnh phúc? Phải chiến đấu
6. Quan niệm của cha về bất hạnh? Đành khuất phục
7. Tính xấu mà cha dễ tha thứ nhất? Nhẹ dạ
8. Tính xấu mà cha ghét nhất? Qụy lụy
9. Người mà cha ghét? Martin Tuppler
10. Công việc mà cha yêu thích? Lục lọi sách
11. Nhà thơ mà mà cha yêu thích? Shakespaere, Goethe, Eschyle
12. Nhà văn mà mà cha yêu thích? Diderot
13. Nhân vật nam mà cha yêu thích? Spactakus, Kepler
14. Nhân vật nữ mà cha yêu thích? Gretchen
15. Thứ hoa mà cha yêu thích? Nguyệt quế
16. Mầu mà cha yêu thích? Đỏ
17. Tên người mà cha yêu thích? Jenny, Laura
18. Món ăn mà cha thích? Cá
19. Câu cách ngôn mà cha thích? Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi
20. Câu châm ngôn mà cha thích? Phải hoài nghi tất cả

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài - tản mạn

Trong truyện ngắn Một người Hà Nội, nhà văn Nguyễn Khải đã khắc họa nên nhân vật cô Hiền, một nhân vật hết sức ấn tượng, phản ảnh vẻ đẹp và chiều sâu văn hóa của mảnh đất hào hoa mà thiêng liêng, thủ đô Hà Nội, đặc biệt trong thu xếp cuộc sống, ứng xử cũng như ngôn ngữ hàng ngày và cách giáo dục con cái trong gia đình bà.

Về thu xếp cuộc sống, không ai có thể phủ nhận vai trò của các bà “nội tướng” Việt Nam. Cứ nhìn xung quanh ta mà xem. Bất cứ gia định nào có người phụ nữ đảm đang, chịu khó, có ký năng quản lý gia đình thì nhất định gia đình ấy sống sung túc hơn, hạnh phúc hơn và nề nếp hơn. Là một phụ nữ Hà Nội đảm đang, bà Hiền biết cách thích ứng nhanh với thời thế mới và xã hội mới. Với công việc làm hoa giấy, bà có thể xoay xở cho cuộc sống gia đình no đủ và để không bị coi là “thành phần tư sản” bà đã kiên quyết không cho chồng mở cái nhà in. Như nguyễn Khải viết, Bà Hiền thuộc mầu người có đầu óc thực tế và bất luận làm việc gì cũng đều tính toán kỹ. Việc bà lấy chồng, việc ngừng sinh con, việc làm ăn, giáo dục con cái, nhất nhất bà đều giải quyết cực kỳ hợp lý hợp lẽ. Cái cuộc sóng của cả một gia đình với cơ man nào vấn đề và quan hệ phức tạp đều do một tay bà sắp đặt.

Nếu như trong thu xếp cuộc sống bà quyết đoán bao nhiêu thì trong việc thu xếp cho con cái, ngược lại bà hầu như chẳng bắt ai làm gì theo ý bà cả. Khi bà đồng ý cho anh con trai đầu vào Nam chiến đấu bà nói, “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn bè, nó dám đi cũng là biết tự trọng.” Rõ ràng, thương con sợ con gian khổ hy sinh một phản ứng rất tự nhiên của tất cả các bà mẹ trên đời. Nhưng cái suy nghĩ duy lý, cái suy nghĩ theo lẽ phải đã thắng thế trong bà khi bà nói “nó dám đi cũng là biết tự trọng.” Mặc dù trong truyện ngắn này không nói nhiều tới việc bà dạy con cái thế nào nhưng chỉ riêng câu này thôi cũng đủ thấy bà khuyến khích ở con cái tính tự lập, độc lập trong suy nghĩ, hành động, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm. Cái đặc tính thích tôn trọng ý kiến cá nhân của người khác ở bà Hiền trở nên rõ nét nhất qua câu nói của bà khi người con thứ hai xin theo anh trai lên đường chiến đấu. “Tao không khuyến khích cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết nó.” Đó là quan niệm về công bằng xã hội, được sống với mọi người, và sống vì cả mình lẫn mọi người chứ không sống kiểu cá nhân ích kỷ, như bà nói: “Tao muốn sống được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì.”

Về dạy dạy dỗ con cái, phải nói rằng bà Hiền không quên quan tâm ngay cả trong những việc nhỏ nhặt nhất đặc biệt là trong cách xưng hô (Ví dụ khi mọi người đều xưng hô với nhau một cách không chuẩn là “đồng chí” thì bà dạy con phải thưa gởi thế nào cho phải phép. “Phải gọi là anh Khải, hiểu chưa?”), trong phong cách sinh hoạt thường nhật như cách ngồi vào bàn ăn, cách cầm bát đũa, cách lấy thức ăn và nói chuyện trong bữa ăn. Những “tiểu tiết” mà nhiều người bỏ qua, nhiều người cho là sặc mùi tư sản, nhưng với bà Hiền nó là một phần quan trọng của phong cách và góp phần hình thành nhân cách. Khi bà nói: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng.” thì cũng chính là một cách nhắc lại cái lối sống đẹp độc đáo của người dân thủ đô đã hình thành từ ngàn xưa nơi đất kinh kỳ cổ kính:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Dẫu không thanh lịch cũng ngài Tràng An”

Thiết nghĩ một cách dạy con cháu “Hà nội” đến như thế, thì thời nào chảng cần, nơi nào chẳng thiết. Dung tục hóa sinh hoạt, “bổ bã hóa” lời ăn tiếng nói hiện nay đang có xu hướng tràn ngập gia đình, học đường, báo chí, phát thanh truyền hình. Nó là biểu hiện của thứ chủ nghĩa tầm thường. Nó bất thường chứ không bình thường như một số người tự xưng là thời thượng vẫn nghĩ. Mong sao những hạt bụi vàng như Bà Hiền hãy mượn gió mà bay lên để cái thanh lịch cái hào hoa ngàn đời của Hà nội vẫn trương tồn cùng dân tộc. Để mỗi một người khi nghĩ tới thủ đô đều muốn nói như Trịnh Công Sơn: “Nhớ tới một người để nhớ mọi người.”

CHIẾC BÁNH THỜI GIAN - tản mạn

Nếu như trước đây người ta hay so sánh đời người như dòng sông với những khúc quanh thăng trầm trong đó con người như là sản phẩm của số phận thì ngày nay đã có người ví von nó như chiếc bánh thời gian mà con người vốn sinh ra khác nhau nên chọn những cách khác nhau để ăn dần chiếc bánh ấy.

Cũng như chiếc bánh có nhiều phần trong đó mỗi phần có ít nhiều hương vị khác nhau, đời người có nhiều giai đoạn với những công việc, trách nhiệm, ước mơ, hoài bão và cả những cung bậc tình cảm khác nhau. Kẻ tham lam, háu ăn ngấu nghiến chiếc bánh đời mình không thương tiếc đến nỗi trong nháy mắt nó chỉ còn là những mẫu vụn trên bàn ăn cuộc đời. Kẻ khảnh ăn chỉ tìm thấy khoái khẩu nơi phần nhân bánh, và sau khi thưởng thức xong, họ vứt lại cái vỏ bánh bên đĩa ăn mà không biết rằng cái vỏ bánh chẳng mấy ngon ấy lại cung cấp năng lượng cho cả cuộc đời và họ lại mơ tưởng một cái nhân bánh thứ hai mà không bao giờ có nữa. Cũng có kẻ thứ ba chậm rãi ăn tứng phần vỏ của chiếc bánh và cố để dành lại phần nhân ngon lành cho lần thưởng thức cuối cùng. Nhưng cũng chính lúc ấy y thấy no và không thiết ăn nữa hoặc ăn nhưng chẳng còn thấy ngon lành gì.

Loại người thứ nhất nêu trên là những kẻ sống nhanh, sống gấp. Họ sống thể như là thế giới sắp tận diệt đến nơi. Và với nhịp sống hối hả của mình họ không còn thì giờ để chiêm nghiệm, suy tư hay thưởng ngoạn vẻ đẹp của bầu trời thu xanh yên ả hay ánh sáng huy hoàng của những vì sao đêm. Thực ra, họ sinh ra không phải để sống mà đúng hơn là để chuẩn bị sống. Loai người thứ hai sống theo kiểu hưởng lạc họ xa lánh những người bạn tốt như công việc, trách nhiệm và bổn phận và giao du với những kẻ xấu như quyền lợi, tiện nghi vật chất. Họ tiêu phần lớn thời gian cho thú vui và tiêu khiển; họ chiều chuộng những ham muốn thấp hèn của một cuộc sống dễ dãi. Loại người thứ ba vừa dễ thương vừa tội nghiệp. Trái ngược với loại thứ hai, họ dành hầu hết quỹ thời gian cho học tập, công việc và trăm thứ trách nhiệm trên đời. Sau khi đã đạt được những điều mong muốn họ bàng hoàng khi nhận ra rằng mình đã đánh mất một cái gì đó rất quan trọng trong một giai đoạn của đời mình hay là cả cuộc đời mà họ không thể tìm thấy lại được. Cứ nhìn xung quanh ta thôi sẽ thấy muôn vàn thí dụ. Một đứa trẻ cũng có thể đánh mất tuổi thơ vì phải miệt mài theo lời bố mẹ đi “luyện công” để vào lớp một, rồi phấn đấu để đạt học sinh giỏi 12 năm liền với phương châm luyện rồi thi, thi xong lại luyện ngoài ra không còn gì là quan trọng cả. Sau khi đạt được ước mơ “cháy bỏng” của bản thân cũng như gia đình, người bạn tội nghiệp của chúng ta mới sực nhớ tới cánh diều tuổi thơ và tự chiều chuộng mình bằng một buổi chiều thả diều trên đồng quê. Nhưng, hỡi ôi, một thanh niên đã18 tuổi thì tâm hồn không còn đủ ấu thơ để thả hồn mơ ước theo cánh diều vi vu như một đứa bé lên tám lên mười được nữa!

Có lẽ mọi so sánh đều khập khiễng: khác với chiếc bánh thông thường, chiếc bánh thời gian cứ vơi dần cho dù bạn có cố tâm nhin hay để dành. Vậy cách ăn bánh khôn ngoan nhất theo tôi nghĩ là ăn từ từ từng miếng một cả phần vỏ lẫn phần nhân cùng lúc, thưởng thức nó từ đầu tới cuối, nghĩ rằng nó là chiếc bánh ngon nhất, hoàn hảo nhất vì nó là duy nhất cho mỗi một người. Nói cách khác phải dùng cái quỹ thời gian hữu hạn của chúng ta theo đúng từng giai đoạn của đời người: không chậm chạp để phải hối tiếc vì những gì mình đã bỏ lỡ ngày hôm qua cũng không quá vội vàng để không còn gi mà thưởng thức ngày mai. Háy sống đúng với lứa tuổi của chúng ta. Hãy học tập chăm chỉ và vui chơi lành mạnh khi bạn còn là học sinh; hãy chuẩn bị tốt nhất cho tương lại nhưng đừng quên rằng cuộc sống con người lại nằm trong hiện tại, như các bạn tôi thường nói nôm na với nhau: “Học không chơi mất đời tuổi trẻ, chơi không học bán rẻ tương lai.” Con người sinh ra để sống không phải để chuẩn bj sống, do đó hãy sống mỗi ngày khi nó đến và không đốt cháy ngọn nến cuộc đời ta ở cả hai đầu.

Theo thiển ý của tôi, chiếc bánh thời gian chính là cái vốn thời gian hữu hạn trong đó con người thể sự tồn tại hay hiện hữu của mình như một cá nhân có ý thức. Do vậy, sử dụng thời gian một cách khôn ngoan và hợp lý là thể hiện một lối sống và bản lĩnh lành mạnh của một con người biết làm chủ bản thân. “Đời người chỉ sống một lần, phải sống sao để khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…”

Friday, July 23, 2010

phải cho con đi học Sao Hỏa - phiếm đàm

Khoe có lẽ là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống hằng ngày của nhân loại như ăn uống, học tập vui chơi. Thông thường người ta hay khoe những điều tốt đẹp của bản thân, gia đình, cộng đồng, quốc gia và nếu nay mai có giao lưu vũ trụ sẽ có cả những lời khoe mẽ về trái đất.
Trong hai giống thì giống nữ có vẻ thích khoe khoang hơn. Trước hết, họ khoe sắc đẹp. Tuy nhiên, đề tài này không phổ biến và tồn tại lâu, bởi lẽ, cho dù tất cả họ đều thuộc phái đẹp, nhưng đa số họ thầm chấm điểm mình ngang trung bình. (Không công khai kết quả đâu nhé!!!). Hơn nữa sắc đẹp giảm dần theo thời gian, nên nó không thể là đề tài muôn thủa. Thế rồi, họ quay sang bạn đường của sắc đẹp là y phục và nữ trang. Đề tài này phong phú, đa dạng và vô tận bởi ngành công nghiệp mốt, từ chị thợ may dưới túp lều tranh ở một góc chợ quê cho tới các nhà mốt nổi tiếng ở kinh đô ánh sáng Paris, hầu như đều làm việc không ngừng nghỉ để phục vụ tận tình chu đáo cho nhu cầu muôn màu muôn vẻ của quý cô, quý bà. Tuy nhiên, cái gì nhiều rồi cũng chán, lựa chọn lắm cũng có ngày đụng hàng. Để làm phong phú hơn các cuộc nói chuyện xã giao ở chốn tiệc tùng, lễ hội hay cưới hỏi, các bà sồn sồn vừa nghĩ ra một chiêu mới: khoe con. Có bà quen biết với tôi khẳng định đích thị bà là người nếu không phải phát minh ra thì chí ít là người ứng dụng nó có hiệu quả nhất.
Chuyện là như thế này, tại một buổi tiệc do một doanh nhân thành đạt tổ chức vợ chồng bà bạn tôi cùng nhiều người quen có máu mặt khác đến dự. Khi các ông tụm năm tụm ba bàn chuyện làm ăn, thời thế hay quốc gia đại sự thì các bà cũng quây quần chuyện gia đình, quần áo, phim ảnh. .. Trong lúc họ đang luận bàn về nữ trang thì có một bà, vợ cán bộ to, hơi bị sành điệu về tất cả các loại nữ trang, đặc biệt là đá quý, đang từ xa tiến lại dường như để góp vui và khoe luôn các sản phẩm đá đỏ Nghệ An mà theo bà ở Việt Nam chỉ có 3 sản phẩm cùng loại nổi tiếng: "một cái là của bà..., hai của bà... và cái còn lại là đây trên tay tôi." Bà bạn tôi, vốn thông minh mà lại lắm mưu mô, chờ cho bà kia đến gần mới đổi đề tài câu chuyện sang việc đỗ đại học của con cái: "Cháu nhà năm nay vào Bách Khoa Hà Nội, thế thằng Hùng nhà bác học gì nào?". " À, thằng Hùng nhà tôi nó vào Ngoại thương Thành Phố." Bà kia vốn có con thi hai năm nay chưa đỗ, vội vàng quay ngoắt 180 độ, chẳng nói chẳng rằng, trong lúc các bà kia gọi với theo: "Lại đây nói chuyện với chúng em chị H... ơi!"
Có con học giỏi thật để mà khoe âu cũng là một nhu cầu chính đáng. Nhưng mấy ai có con học giỏi cả đâu. Mà nhu cầu khoe thì ngày một lớn dần ra. Cái bà bị bẽ mặt nói ở trên đã làm thỏa chí khoe con như ai của mình bằng cách cho cậu ấm đi học hải ngoại cho nó ăn đứt cái Bách Khoa Hà Nội hay Ngoại thương Thành Phố kia đi. Thế là cái mốt khoe con đi học nước ngoài lên ngôi, đẩy cái khoe học trong nước xuống hàng tỉnh lẻ. Bây giờ, cái mốt khoe con đi học Tây đã trở nên quá lố. Học Tây cũng có năm ba bảy đường, giỏi có, dốt có, hư có, hỏng có. Không nhiều tiền bằng ai thì khoe con học Trung Quốc, học Sing; khá lên một tị thì bảo cháu học Úc, Niu-zi-lơn; Giàu có hơn thì cho con sang Anh, Mỹ. Cái lí luận cho đi học nghe rất thuyết phục. Cái thắng Tây nó giỏi, con mình học Tây về nó mới "trị" được bọn trong nước. Thế nên, có lần một người quen hỏi tôi định cho cháu đi học sau đại học ở đâu, tôi không ngần ngại mà trả lời: "Sao Hỏa, có học sao Hỏa về mới mong "trị" được bọn trái đất."