MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Thursday, November 6, 2014

UNITED STATES – VIETNAM RELATIONS 1945-1967 QUAN HỀ MỸ - VIỆT 1945-1967 - Giải mật Hồ sơ Lầu Năm Góc



The Pentagon Papers
UNITED STATES – VIETNAM RELATIONS 1945-1967
Volume 1

Giải mật Hồ sơ Lầu Năm Góc
QUAN HỀ MỸ - VIỆT 1945-1967
Phần I

Chapter I, "Background to the Crisis, 1940-50,"

Chương 1 “Bối cảnh khủng hoảng, 1940-50”

translated by Nguyễn Quốc Vĩ



INDOCHINA IN U.S. WARTIME POLICY, 1941-1945
ĐÔNG DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH THỜI CHIẾN CỦA MỸ, 1940-1950


Summary

Significant misunderstanding has developed concerning U.S. policy towards Indochina in the decade of World War II and its aftermath. A number of historians have held that anti-colonialism governed U.S. policy and actions up until 1950, when containment of communism supervened. For example, Bernard Fall (e.g. in his 1967 postmortem book, Last Reflections on a War) categorized American policy toward Indochina in six periods: "(1) Anti-Vichy, 1940-1945; (2) Pro-Viet Minh, 1945-1946; (3) Non-involvement, 1946-June 1950; (4) Pro-French, 1950-July 1954; (5) Non-military involvement, 1954-November 1961; (6) Direct and full involvement, 1961- ." Commenting that the first four periods are those "least known even to the specialist," Fall developed the thesis that President Roosevelt was determined "to eliminate the French from Indochina at all costs," and had pressured the Allies to establish an international trusteeship to administer Indochina until the nations there were ready to assume full independence.
This obdurate anti-colonialism, in Fall's view, led to cold refusal of American aid for French resistance fighters, and to a policy of promoting Ho Chi Minh and the Viet Minh as the alternative to restoring the French bonds. But, the argument goes, Roosevelt died, and principle faded; by late 1946, anti-colonialism mutated into neutrality. According to Fall: "Whether this was due to a deliberate policy in Washington or, conversely, to an absence of policy, is not quite clear. . . .
Tóm lược

Đã có những sai lầm đáng kể trong chính sách của Mỹ đối với Đông Dương trong thập niên Thế Chiến II và những hậu quả gây nên bởi chúng. Một số sử gia đã ghi nhận rằng chính việc chống chủ nghĩa thực dân đã điều khiển các chính sách và hành động của Mỹ cho đến năm 1950, khi việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trở thành chủ đạo. Ví dụ, Bernard Fall (trong cuốn sách phát hành năm 1967, sau khi ông qua đời mang tựa “Những suy ngẫm cuối cho một cuộc chiến” ông phân loại chính sách của Mỹ đối với Đông Dương gồm sáu giai đoạn: "(1) Chống-Vichy, 1940-1945; (2) Ủng hộ-Việt Minh, 1945-1946; (3) không can thiệp từ 1946 đến tháng 6 năm 1950; (4) Ủng hộ Pháp, 1950 - Tháng 7 năm 1954; (5) can thiệp dân sự: 1954 - tháng 11 năm 1961; (6) can thiệp trực tiếp và toàn diện 1961. Bình luận rằng “bốn giai đoạn đầu tiên là những giai đoạn mà ít người kể cả những chuyên gia biết đến”, Fall còn đưa ra luận thuyết rằng Tổng thống Roosevelt đã xác định là “phải loại bỏ người Pháp khỏi Đông Dương bằng mọi giá” và đã làm áp lực trên Đồng Minh ủy thác việc quản trị Đông Dương cho một tổ chức Quốc Tế cho đến khi các quốc gia ở đó (Việt, Miên, Lào) sẳn sàng hoàn toàn chịu trách nhiệm về nền Độc Lập của mình. Thái độ chống Thực Dân một cách ngoan cố này, theo ông Fall, là đã đưa đến việc lạnh nhạt từ chối giúp đỡ phe kháng chiến Việt Nam chống Pháp và [từ chối] một đường lối nhằm nâng đỡ Hồ Chí Minh và Việt Minh như là một giải pháp để thay thế cho việc tái lập gông cùm của Pháp. Tuy nhiên, trong khi những lý lẽ đang diễn biến thì Roosevelt qua đời, và ý chính đó trở nên mờ nhạt; vào cuối năm 1946, ý đồ chống chủ nghĩa Thực Dân đã đột biến thành toan tính trung lập hóa Đông Dương. Theo Fall, có thể “đây là một chính sách có chủ ý và ngược lại cũng có thể vì sự thiếu vắng một chính sách rõ ràng về Đông Dương vào lúc đó. Việc này quả thật không rõ lắm.