A Dangerous
Escalation in the East China Sea
|
Một sự leo thang nguy hiểm ở biển Hoa Đông
|
Stephanie Kleine-Ahlbrandt, The Wall Street Journal | 5
Jan 2013
|
Stephanie Kleine-Ahlbrandt, The Wall Street Journal | 5
/01/ 2013
|
The territorial dispute in the East China Sea between the
world's second- and third-largest economies entered a disturbing new phase
last month with the first direct involvement of military forces. On Dec. 13,
Japan sent eight F-15 fighter jets after a small Chinese propeller plane that
flew over the disputed Senkaku Islands, called Diaoyu in China. According to
Japan, this was the first Chinese intrusion into its airspace since 1958.
|
Tranh chấp lãnh thổ ở Biển
Hoa Đông giữa các nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới bước
vào giai đoạn quấy nhiễu mới tháng
trước với sự tham gia trực tiếp đầu tiên của các lực lượng quân sự. Vào ngày
13, Nhật Bản gửi tới 8 máy bay chiến đấu F-15 sau khi một chiếc máy bay cánh quạt
nhỏ của Trung Quốc bay trên quần đảo tranh chấp Senkaku, được gọi là Điếu Ngư
ở Trung Quốc. Theo Nhật Bản, đây là đầu tiên Trung Quốc xâm nhập vào
không phận của Nhật kể từ năm 1958.
|
There is far more at stake here than a small cluster of
islands. Crisis mitigation mechanisms need to be urgently reinstated and
communication increased between Beijing and Tokyo to reduce the risks of an
accidental clash or escalation. China's continuous testing of Japan's bottom
line is a dangerous game, and one that could have consequences for the
U.S.-Japan security treaty.
|
Có nhiều rủi ro ở đây hơn là một nhóm nhỏ
các hòn đảo. Cơ chế giảm thiểu khủng hoảng cần được phục hồi khẩn cấp và
thông tin liên lạc phải tăng cường giữa Bắc Kinh và Tokyo để giảm nguy cơ của
một cuộc đụng độ hay leo thang vô tình. Trung Quốc liên tục thử thách đường
giới hạn dưới cùng của Nhật Bản là một trò chơi nguy hiểm, và có thể gây ra
những hậu quả cho hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật.
|
Beijing is bolstering maritime patrols of the disputed
waters in a challenge to Japan's de facto administration. First annexed by
Japan in 1895, the small cluster of islands and barren rocks came under U.S.
control after World War II but reverted back to Japan with the 1971
U.S.-Japan Okinawa Reversion Treaty. They became more desirable a few years
earlier when it was discovered that undersea oil reserves might exist nearby.
Taiwan also claims the islands, but has enjoyed more amicable overall
relations with Japan, and Japan does not officially recognize Taiwan as a
sovereign state.
|
Bắc Kinh đang đẩy mạnh tuần
tra hàng hải trên vùng
biển tranh chấp trong một thách thức đối với việc kiểm soát trên thực tế
của Nhật Bản. Đầu tiên sáp nhập vào Nhật Bản vào năm 1895, các nhóm đảo nhỏ,
và các đá cằn cỗi nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ II,
nhưng được trao trả lại cho Nhật Bản với Hiệp ước trao trả Okinawa Mỹ-Nhật năm
1971. Các đảo đã trở thành cám dỗ hơn nhiều một vài năm trước đó khi người ta
phát hiện ra rằng các mỏ dầu có thể tồn tại ở gần đó. Đài Loan cũng yêu sách
chủ quyến các đảo này, nhưng đã được hưởng mối quan hệ tổng thể thân thiện
hơn với Nhật Bản, và Nhật Bản không chính thức công nhận Đài Loan là một quốc
gia có chủ quyền.
|
The dispute between China and Japan reignited in September
when the Japanese government announced it was finalizing the purchase of
three of the contested islands from a private Japanese owner. The government
did this mainly to keep the islands out of the hands of former Tokyo Mayor
Shintaro Ishihara, a flamboyant nationalist who had announced that the Tokyo
Metropolitan Government would bid on them.
|
Vụ tranh chấp giữa Trung Quốc
và Nhật Bản gây tái
diễn vào tháng Chín khi chính phủ Nhật Bản thông báo đã
hoàn tất việc mua ba trong số các hòn đảo tranh chấp từ một chủ sở hữu tư nhân Nhật Bản.
Chính phủ đã làm điều này chủ yếu là để giữ đảo ra khỏi bàn tay của cựu Thị
trưởng Tokyo Shintaro Ishihara, một người dân tộc chủ nghĩa khoa trương đã
thông báo rằng chính quyền thủ đô Tokyo sẽ bỏ tiền mua chúng.
|
Reacting with a series of what it called "combination
punches," Beijing threatened economic retaliation, launched joint combat
drills by its navy, air force and strategic missile corps, and refused to
attend the annual meetings of the International Monetary Fund and the World
Bank Group hosted by Tokyo in October. At the same time, violent
anti-Japanese protests—the biggest since 2005—broke out across China.
|
Phản ứng với một loạt các cái
gọi là "các cú
đấm kết hợp, Bắc Kinh đe dọa trả đũa kinh tế, đưa ra cuộc tập trận chiến đấu phối hợp gồm lực lượng
hải quân, không quân và quân đoàn tên lửa chiến lược, và từ chối tham dự cuộc
họp thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới tổ chức tại Tokyo trong
tháng Mười. Đồng thời, các cuộc biểu tình bạo lực chống Nhật lớn nhất kể từ
năm 2005 đã nổ ra trên khắp Trung Quốc.
|
China's most significant move was designed to end four
decades of Japan's de facto control of the islands. Beijing announced base
lines to formally demarcate its territorial waters and sent law enforcement
ships into disputed waters. This new strategy is a stark departure from
China's policy under Deng Xiaoping (Beijing's supremo from 1978 to 1992),
which aimed to defer the dispute and seek joint exploitation of resources
with Japan.
|
Động thái quan trọng nhất của
Trung Quốc đã được
thiết kế để kết thúc bốn thập kỷ kiểm soát trên thực tế các hòn đảo của Nhật
Bản. Bắc Kinh tuyên bố các đường căn bản để chính thức phân ranh giới lãnh
hải của họ và đưa tàu thực thi pháp luật vào vùng biển tranh chấp. Chiến lược
mới này là một khởi hành gay gắt rõ rệt từ chính sách của Trung Quốc dưới
thời Đặng Tiểu Bình (lãnh đạo tối cao của Bắc Kinh từ 1978 đến năm 1992),
nhằm mục đích gác lại việc tranh chấp và tìm kiếm khai thác chung các nguồn
lực với Nhật Bản.
|
Deng's decision to put aside this fundamental disagreement
reflected the deep challenges to resolving the issue of island ownership.
Because the dispute is seen in China as related to Japan's imperial
aggression, it awakens historical enmities and inflames Chinese nationalism.
The Communist Party has long used past invasions and nationalism to bolster
its legitimacy, making any negotiations over sovereignty extremely complex.
|
Đặng Tiểu Bình quyết định đặt
sang một bên bất đồng cơ bản này phản ánh những thách thức sâu sắc để giải
quyết vấn đề quyền sở hữu hòn đảo. Bởi vì tranh chấp được thấy ở Trung Quốc
liên quan đến sự xâm lược của đế quốc Nhật Bản, nó đánh thức thù hằn lịch sử
và thổi bung ngọn lửa dân tộc Trung Quốc. Đảng Cộng sản đã sử dụng cuộc xâm
lược trong quá khứ và chủ nghĩa dân tộc để củng cố tính hợp pháp của nó, làm
cho bất kỳ cuộc đàm phán nào về chủ quyền vô cùng phức tạp.
|
At the root of this new flare-up is a changing economic
and power balance in East Asia. Seeing Japan on a downward slide while its
own star is rising, China feels the time is right to stake its ground in the
dispute. International law favors the country that has occupied or taken
measures to exercise sovereignty. These include submitting claims to the
United Nations, naming islands, making maps, conducting law-enforcement
patrols, and eventually building structures and inhabiting islands. China
believes that it has lost out while Japan administered the islands for decades.
|
Gốc rễ của những bùng phát mới
này là một sự cân bằng về kinh tế và quyền lực đã thay đổi trong khu vực Đông
Á. Chứng kiến Nhật Bản đang trên đà tuột dốc trong khi ngôi sao của mình đang
tăng lên, Trung Quốc cảm thấy đây là thời điểm thích hợp để giành thế mạnh
trong cuộc tranh chấp. Luật pháp quốc tế ủng hộ các quốc gia đã chiếm hoặc
thực hiện các biện pháp để thực hiện chủ quyền. Chúng bao gồm các trình tuyên
bố chủ quyền lên Liên Hiệp Quốc, đặt tên đảo, thành lập bản đồ, tiến hành
tuần tra bảo vệ, thực thi pháp luật, và cuối cùng là xây dựng cấu trúc và cư
trú ở đảo. Trung Quốc tin rằng nó đã bị mất mát trong khi Nhật Bản quản lý
các đảo trong nhiều thập kỷ nay.
|
Since Japan's purchase announcement, Beijing has taken
legal and operational measures to strengthen its own hand. It is taking
similar steps to bolster additional sovereignty claims in the South China
Sea, as it clearly desires to become a greater maritime power.
|
Kể từ khi Nhật Bản công bố mua
đảo, Bắc
Kinh đã thực hiện các biện pháp pháp lý và biện pháp hành động để tăng
cường sức mạnh của
mình. Bắc Kinh đang thực hiện các bước tương tự để củng cố thêm tuyên bố chủ quyền
ở Biển Đông, vì rõ ràng TQ mong muốn trở thành một cường quốc hàng hải lớn
hơn.
|
Neither side has a solid legal case. Japan's claim to
sovereignty on the basis of "discovery-occupation" centers on the
assertion that it found no trace of habitation or control when it formally
incorporated the islands in 1895. China claims that historical and legal
evidence shows the islands were discovered, named and used during the Ming
Dynasty (1368-1644), controlled by the Qing Dynasty in 1895, and seized in
the context of Japanese wartime expansion. This, Beijing argues, means they
must be handed over based on the post-World War II peace treaty that binds
Japan to return Chinese territory.
|
Cả hai bên đều không có một
trường hợp pháp lý vững chắc. Tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản trên cơ sở của
"khám phá – và làm nghề" tập trung vào khẳng định rằng họ không hề
tìm thấy có dấu vết của nơi cư trú hoặc kiểm soát khi họ chính thức sát nhập
các đảo vào năm 1895. Trung Quốc tuyên bố rằng bằng chứng lịch sử và pháp lý
cho thấy các đảo được phát hiện, được đặt tên và được sử dụng trong triều đại
nhà Minh (1368-1644), được kiểm soát bởi nhà Thanh vào năm 1895, và bị chiếm
đóng trong bối cảnh Nhật Bản mở rộng trong thời gian chiến tranh. Bắc Kinh
lập luận, điều này có nghĩa là họ phải được trao trả dựa trên hiệp ước hòa
bình sau Thế chiến II mà buộc Nhật Bản để trả lại lãnh thổ Trung Quốc.
|
Continued peace in the region hinges upon the two countries
managing their differences. Cooperation on joint resource management in the
East China Sea while setting aside—but not renouncing—maritime claims could
be a practical way to build mutual trust and reap tangible benefits. In 2008,
the two governments came close to such a deal but ultimately failed to
overcome domestic nationalist opposition.
|
Hòa bình tiếp tục trong khu vực phụ thuộc vào cách hai
nước quản lý sự khác biệt của họ. Hợp tác về quản lý tài nguyên hốn hợp ở
Biển Hoa Đông, trong khi gác lại một bên, nhưng không từ bỏ chủ quyền hàng
hải - có thể là một cách thiết thực để
xây dựng lòng tin lẫn nhau và gặt hái những lợi ích hữu hình. Trong năm 2008,
chính phủ hai nước đã đến gần một thỏa thuận như vậy, nhưng cuối cùng không
vượt qua được đối lập dân tộc chủ nghĩa ở trong nước.
|
Before tensions flared, both sides had realized the danger
of maritime accidents and were committed to setting up communications systems
between their defense and law-enforcement bodies. But emotion prevailed over
reason and those talks were abandoned.
|
Trước khi căng thẳng bùng lên,
cả hai bên đã nhận ra sự nguy hiểm của tai nạn hàng hải và cam kết thiết lập
hệ thống thông tin liên lạc giữa và các cơ quan quốc phòng bảo vệ pháp luật của
họ. Nhưng cảm xúc vượt trội lý trí nên những cuộc đàm phán đều đã bị bỏ qua.
|
Both China and Japan have stated that a military conflict
is in no one's interest. That offers hope. Still, preserving peace requires
urgent cooperation to avoid misfires and prevent an accident from escalating
into a skirmish. A joint resource-development agreement would take time to
negotiate, particularly given the steps needed to calm nationalist anger. But
if the two sides are serious about avoiding armed conflict, common ground can
still be found. Both Beijing and Tokyo have new leaders who have an
opportunity to reduce tensions at sea. They should seize it.
|
Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều
tuyên bố rằng một cuộc xung đột quân sự là điều không ai mong muốn. Điều đó
cho thấy còn hy vọng. Tuy nhiên, gìn giữ hòa bình đòi hỏi sự hợp tác khẩn cấp
để tránh bế tắc và ngăn ngừa một tai nạn leo thang thành một cuộc giao tranh.
Một thỏa thuận hợp tác phát triển nguồn tài nguyên sẽ mất thời gian để đàm
phán, đặc biệt để tạo các bước cần thiết làm dịu sự cơn giận của chủ nghĩa
dân tộc. Nhưng nếu hai bên nghiêm túc về việc tránh xung đột vũ trang, thì vẫn có thể tìm thấy lập trường chung. Cả Bắc Kinh và Tokyo đều có các nhà lãnh đạo
mới, những người này có một cơ hội để giảm bớt căng thẳng trên biển. Họ phải
nắm bắt nó.
|
Ms. Kleine-Ahlbrandt
is China and Northeast Asia project director for the International Crisis
Group.
The Wall Street
|
Bà Kleine-Ahlbrandt là Trung Quốc và Đông Bắc Á Giám đốc dự án của Nhóm
Khủng hoảng Quốc tế.
The Wall Street |
Journalhttp://www.crisisgroup.org/en/regions/asia/north-east-asia/china/op-eds/kleine-ahlbrandt-dangerous-escalation-east-china-sea.aspx
|
|
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Right Click on the link, choose open link in New tab, type your text and listen to it read in English and several other languages – Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
Friday, February 22, 2013
A Dangerous Escalation in the East China Sea Một sự leo thang nguy hiểm ở biển Hoa Đông
Labels:
CHINA2-TRUNG QUỐC,
JAPAN-NHẬT BẢN
| Reactions: |
What is Freedom of the Press? Tự do Báo chí là gì?
|
|
|
What is Freedom of
the Press?
|
Tự do Báo chí là gì?
|
WISE GEEK
|
WISE GEEK
|
The press refers to the agencies and people involved in
collecting and conveying the news. This includes printed news outlets, such
as newspapers and periodicals; broadcast news, such as radio and television
news; and news spread over the Internet through websites. Freedom of the
press is a concept that has to do with the relationship of the press to
government.
|
Từ báo chí đề cập đến
các cơ quan, con người
có liên quan trong việc thu thập và truyền đạt tin tức bao gồm các hình thức in ấn tin tức,
chẳng hạn như báo và tạp chí định kỳ; phát sóng tin tức, như đài phát thanh và truyền hình; lan truyền tin
tức trên Internet thông qua các trang web. Tự do báo
chí là một khái niệm liên quan đến mối quan hệ của báo chí với chính phủ.
|
The issue of freedom of the press arose for the first time
in England in the 16th century, and then only because the press was being
required to submit materials for licensing prior to publication. As the
requirements grew more restrictive in the 17th century, protesters included
poet John Milton, who suggested that suppression of publications found to be
problematic was better than censoring them prior to publication.
Nevertheless, licensing and censorship laws stayed on the books until 1695,
and even when they were abolished, libel laws could be used to punish anyone
who printed material that criticized the government, and truth was not an
acceptable defense until the mid-19th century.
|
Vấn đề tự do báo chí xuất hiện
lần đầu tiên tại Anh vào thế
kỷ 16, và lúc đó chỉ
vì báo chí đã được yêu cầu phải nộp các tài liệu để
xin cấp giấy phép trước khi ra báo. Khi các yêu cầu này trở nên ngày càng hạn
chế hơn vào thế
kỷ 17, những người phản
đối bao gồm nhà
thơ John Milton, người cho rằng thu hồi ấn phẩn được nhìn nhận là có vấn đề thì tốt hơn kiểm duyệt trước khi xuất bản. Tuy nhiên, luật
về cấp phép và kiểm duyệt vẫn còn áp dụng đối với sách cho đến năm 1695, và
ngay cả khi đã được bãi bỏ, luật về tội phỉ báng có thể được sử dụng để trừng
phạt bất
kỳ ai đã in tài liệu chỉ trích chính quyền, và phản ánh sự thật không phải là
cái bảo vệ người viết được chấp nhận được cho đến giữa thế kỷ 19.
|
|
|
|
On 25 May 2009, members of the press from 19 European
countries adopted the “European Charter on Freedom of the Press” at a
ceremony in Hamburg and 48 journalists and editors-in-chief signed it. The
ten articles are aimed at recognizing the role of freedom of the press in a
democratic society and protecting the press from censorship, restrictions,
threats, surveillance, and attack. The document continues to be available
online for journalists to sign, if they wish.
|
Ngày 25 tháng 5 năm 2009, các
thành viên của báo chí từ 19 quốc gia châu Âu đã thông qua "Hiến chương về Tự
do Báo chí châu Âu" tại một buổi lễ ở Hamburg và
48 nhà báo và chủ bút đã ký tên vào đó. Mười điều
của hiến chương là nhằm mục đích ghi nhận vai trò tự
do của báo chí trong một xã hội dân chủ và bảo vệ báo chí khỏi bị kiểm duyệt,
hạn chế, đe dọa, giám sát, và tấn công. Tài liệu này tiếp tục có sẵn trực
tuyến để các nhà báo ký tên, nếu họ muốn.
|
If you are a journalist,
please click on the following link to sign the charter online: Sign Charter
|
Nếu bạn là một nhà báo, xin
vui lòng click vào liên kết sau để ký hiến chương trực tuyến: Ký Hiến Chương
|
In the United States, freedom of the press is asserted to
begin with John Peter Zenger’s defense against charges of libel in 1735.
Freedom of the press was specifically provided by several states following
the American Revolution, and secured by the First Amendment to the United
States Constitution, passed in 1791, where it is grouped along with freedom
of speech. The attitude towards seditious libel implicit in the First
Amendment has been debated, but with the passage of the Sedition Act in 1798,
the First Amendment came to be understood as not intent on protecting
seditious libel, but recognizing it as a crime.
|
Tại Hoa Kỳ, tự do báo chí
khẳng định bắt đầu với việc John
Peter Zenger kháng
nghị chống lại tội phỉ báng vào năm 1735. Tự do báo
chí được đặc biệt ban hành bởi một số tiểu bang sau cuộc Cách mạng Mỹ, và
được bảo đảm bởi Tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ, được thông qua năm
1791, khi đó nó được gộp cùng nhóm với tự do ngôn luận. Thái độ đối với tội
phỉ báng có tính nổi loạn được ám chỉ trong Tu chính án thứ nhất của Hiến
pháp đã được thảo luận, nhưng với việc thông qua Đạo luật về Nổi loạn năm
1798, Tu chính án thứ nhất phải được hiểu như là không có
ý định bảo vệ phỉ báng có tính nổi loạn, mà công nhận đây là tội phạm.
|
|
|
|
In the early 21st century in the United States, the
freedom of the press as protected by the First Amendment differentiates
between the publication and the gathering of news: journalists are not always
granted unlimited access to combat areas. Some states have passed shield laws
allowing journalists to refuse to divulge both information and sources to law
enforcement, but the Supreme Court has not recognized that the press has an
unrestricted right to confidentiality.
|
Đầu thế kỷ 21 ở Hoa Kỳ, tự do báo chí, như được bênh vực bởi
Tu Chính Án
thứ nhất phân biệt giữa
việc xuất bản và thu thập tin tức: Các nhà báo không phải luôn luôn được cấp
quyền tiếp cận
không giới hạn đối
với các khu vực
chiến trận. Một số bang đã thông qua các luật lá chắn cho phép các
nhà báo từ
chối tiết lộ cả thông tin và các nguồn gốc thông tin với cơ quan thực thi pháp luật, nhưng Tòa án
Tối cao đã vẫn chưa công nhận rằng báo chí có quyền không hạn chế đối với việc bảo mật.
|
European Charter on
Freedom of the Press
Article 1
Freedom of the press is essential to a democratic society.
To uphold and protect it, and to respect its diversity and its political, social
and cultural missions, is the mandate of all governments.
|
Hiến chương Tự do Báo chí châu Âu
Điều 1
Tự do báo chí là điều cần thiết
cho một xã hội dân chủ. Duy trì và bảo vệ nó, và tôn trọng sự đa dạng và sứ
mệnh chính trị, xã hội và văn hóa của nó, là nhiệm vụ của tất cả các chính
phủ.
|
|
|
|
Article 2
Censorship is impermissible. Independent journalism in all
media is free of persecution and repression, without a guarantee of political
or regulatory interference by government. Press and online media shall not be
subject to state licensing.
|
Điều 2
Không được phép kiểm duyệt báo
chí. Báo chí độc lập trong tất cả các phương tiện truyền thông không bị khủng
bố và đàn áp, mà không có một bảo đảm can thiệp về mặt chính trị hoặc quy chếh
của chính phủ. Báo chí và các phương tiện truyền thông trực tuyến không phải
chịu cấp phép nhà nước.
|
Article 3
The right of journalists and media to gather and
disseminate information and opinions must not be threatened, restricted or
made subject to punishment.
|
Điều 3
Quyền của các nhà báo và các
phương tiện truyền thông về thu thập và phổ biến thông tin và ý kiến không thể bị đe dọa, hạn chế hoặc xử phạt.
|
|
|
|
Article 4
The protection of journalistic sources shall be strictly
upheld. Surveillance of, electronic eavesdropping on or searches of
newsrooms, private rooms or journalists’ computers with the aim of
identifying sources of information or infringing on editorial confidentiality
are unacceptable.
|
Điều 4
Việc bảo vệ các nguồn thông tin báo chí được
tôn trọng. Giám sát, nghe trộm điện tử trên hoặc lục soát các phòng tin tức,
phòng riêng hoặc máy tính của nhà báo với mục đích xác định các nguồn thông tin
hoặc vi phạm về bảo mật biên tập là không thể chấp nhận được.
|
Article 5
All states must ensure that the media have the full
protection of the law and the authorities while carrying out their role. This
applies in particular to defending journalists and their employees from
harassment and/or physical attack. Threats to or violations of these rights
must be carefully investigated and punished by the judiciary.
|
Điều 5
Tất cả các nhà nước phải đảm bảo
rằng các phương tiện truyền thông phải được bảo vệ đầy đủ các quy định bởi pháp luật và chính quyền trong khi
thực hiện vai trò của họ. Điều này áp dụng đặc biệt để bảo vệ các nhà báo và
nhân viên của họ khỏi sự quấy rầy và/hoặc tấn công thân thể. Các đe dọa hoặc
vi phạm các quyền này phải được điều tra cẩn thận và
trừng phạt bằng bởi ngành tư pháp.
|
|
|
|
Article 6
The economic livelihood of the media must not be
endangered by the state or by state-controlled institutions. The threat of
economic sanctions is also unacceptable. Private-sector companies must
respect the journalistic freedom of the media. They shall neither exert
pressure on journalistic content nor attempt to mix commercial content with
journalistic content.
|
Điều 6
Đời sống kinh tế của các
phương tiện truyền thông không thể bị nhà nước hoặc các tổ chức do nhà nước kiểm
soát gây nguy
hiểm. Đe dọa
trừng phạt kinh tế cũng là không thể chấp nhận được. Các công ty khu vực tư
nhân phải tôn trọng quyền tự do báo chí của các phương tiện truyền thông. Họ
không được gây áp lực lên nội dung báo chí cũng
không được tìm cách kết hợp nội dung quảng cáo thương mại với nội dung báo
chí.
|
Article 7
State or state-controlled institutions shall not hinder the
freedom of access of the media and journalists to information. They have a
duty to support them in their mandate to provide information.
|
Điều 7
Nhà nước hoặc các tổ chức nhà
nước kiểm soát không được gây cản trở quyền tự do tiếp cận thông tin của các
phương tiện truyền thông và các nhà báo. Họ có bổn phận hỗ trợ báo chí đang
làm nhiệm vụ cung cấp thông tin.
|
|
|
|
Article 8
Media and journalists have a right to unimpeded access to
all news and information sources, including those from abroad. For their
reporting, foreign journalists should be provided with visas, accreditation
and other required documents without delay.
|
Điều 8
Phương tiện truyền thông và
các nhà báo có quyền tiếp
cận mà không bị cản trở với tất cả các nguồn tin tức và thông
tin, bao gồm cả những nguồn từ
nước ngoài. Khi làm phóng sự, các nhà báo nước ngoài được cung cấp thị thực,
công nhận và các văn bản cần thiết khác mà một cách không chậm trễ.
|
Article 9
The public of any state shall be granted free access to
all national and foreign media and sources of information.
|
Điều 9
Công chúng của bất kỳ
quốc gia nào cũng được
quyền tự do tiếp cận
với tất cả các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước
và các nguồn thông tin.
|
|
|
|
Article 10
The government shall not restrict entry into the
profession of journalism.
|
Điều 10
Chính phủ không được hạn chế người dân đi vào nghề báo
chí.
|
|
|
|
http://www.wisegeek.com/what-is-freedom-of-the-press.htm
|
|
http://www.pressfreedom.eu/en/index.php
|
|
Obama’s Sensible Steps on Cybersecurity Các bước đi khôn khéo của Obama về An ninh mạng
|
|
|
|
|
|
|
Obama’s Sensible
Steps on Cybersecurity
|
Các bước đi khôn
khéo của Obama về An ninh mạng
|
|
By the Editors
Bloomberg
Feb 15, 2013
|
Ban biên tập
Bloomberg
15.2/2013
|
|
|
|
|
In his State of the Union address, President Barack Obama
explained why he was issuing an executive order to protect critical U.S.
networks from cyberthreats: “We cannot look back years from now and wonder
why we did nothing in the face of real threats to our security and our
economy.”
|
Trong Thông điệp Liên Bang của mình, Tổng thống Barack
Obama giải thích lý do tại sao ông đã ban hành một sắc lệnh để bảo vệ các
mạng lưới quan trọng của Mỹ khỏi sự đe dọa của tấn công trên mạng: "Kể
từ bây giờ chúng ta không thể nhìn lại những năm qua và tự hỏi lý do tại sao
chúng ta đã không làm gì trong khi có sự hiện diện các mối đe dọa thực sự với
an ninh của và nền kinh tế chúng ta. "
|
|
What he meant, but was perhaps too polite to say, was that
in light of the ineptitude and cowardice Congress has shown on this matter,
year after year, an executive order is probably the best we can hope for
right now. As recent cyberattacks on the Federal Reserve, the Department of
Energy, half a dozen major banks and a slew of media companies make clear,
however, it won’t be adequate for very long.
|
Điều ông muốn nói, nhưng có lẽ là quá lịch sự để nói, là
dưới ánh sáng của sự thiếu khả năng và hèn nhát Quốc hội đã lần lữa về vấn đề
này, hết năm này sang năm nọ, cho nên một sắc lệnh có lẽ là cách tốt nhất mà chúng
ta có thể hy vọng ngay lúc này. Khi cuộc những cuộc tấn công mạng gần đây vào
Cục Dự trữ Liên bang, Bộ Năng lượng, một nửa tá các ngân hàng lớn và một loạt
các công ty truyền thông được phơi bày, tuy nhiên, xét về lâu về dài, sắc
lệnh đó vẫn chưa đủ.
|
|
|
|
|
Good news first. Although imperfect, Obama’s executive
order takes some small steps toward better security. It instructs federal
agencies to share more unclassified cybersecurity information with private
companies, expands a program for sharing classified threat data, and includes
some privacy measures -- such as applying Fair Information Practice
Principles -- that have put civil-liberties groups at ease. It also orders
the Department of Homeland Security to expedite security clearances for
employees at companies that are part of critical infrastructure, such as the
power grid, transportation networks and the financial system.
|
Tin tốt nói đầu tiên. Mặc dù không hoàn hảo, sắc lệnh của
Obama tiến hành một số bước nhỏ nhằm hướng tới an ninh mạng tốt hơn. Nó hướng
dẫn các cơ quan liên bang chia sẻ thông tin an ninh mạng đã được giải mật với
các công ty tư nhân, mở rộng một chương trình để chia sẻ dữ liệu mật về các mối
đe dọa, và bao gồm một số biện pháp bảo mật, chẳng hạn như áp dụng các Nguyên tắc thực hành Thông tin trung thực
– mà đã khiến nhóm quyền tự do dân sự cảm thấy thoải mái. Nó cũng ra lệnh cho
Bộ An ninh Nội địa đẩy nhanh chóng các thông tin an ninh cho nhân viên tại
các công ty mà là một phần của cơ sở hạ tầng trọng yếu, chẳng hạn như lưới
điện, mạng lưới giao thông và hệ thống tài chính.
|
|
Finally, the order instructs the National Institute of
Standards and Technology to create a cybersecurity framework for addressing
risks, which companies could voluntarily comply with.
|
Cuối cùng, sắc lệnh chỉ thị Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia đưa ra một khuôn khổ an
ninh mạng để giải quyết các rủi ro, mà các công ty có thể tự nguyện tuân thủ.
|
|
|
|
|
Model Program
That last measure sounds weak, but it could turn out to be
very important, for two reasons.
|
Chương trình mẫu
Đó là biện pháp cuối cùng nghe có vẻ yếu, nhưng hóa ra nó lại
rất quan trọng, vì hai lý do.
|
|
First, voluntary standards may do some good on their own:
Companies that don’t comply could open themselves to civil lawsuits if their
defenses are breached, and those that do comply might have some liability
protection under tort law.
|
Thứ nhất, tiêu chuẩn tự nguyện tự nó có thể có tác dụng
tốt: công ty không tuân thủ có thể tiến hành các vụ kiện dân sự nếu sự bảo
mật của họ bị vi phạm, và những công ty thuân thủ thực hiện theo quy định có
thể có một số bảo vệ trách nhiệm theo luật sai lầm cá nhân/dân sự.
|
|
|
|
|
'Tort Law'
The area of law that
covers the majority of all civil lawsuits. Essentially, every claim that
arises in civil court with the exception of contractual disputes falls under
tort law. The concept of tort law is to redress a wrong done to a person,
usually by awarding them monetary damages as compensation.
|
'Luật Tort '
Lãnh vực pháp luật
bao gồm phần lớn các vụ kiện dân sự. Về cơ bản, tất cả các tuyên bố mà phát
sinh tại tòa án dân sự trừ tranh chấp hợp đồng đều thuộc luật sai lầm cá nhân
(tort). Khái niệm pháp luật sai lầm cá nhân là để khắc phục một điều sai trái
đã được thực hiện đối một người, thường là cho hưởng bồi thường thiệt hại
bằng tiền.
|
|
Second, the framework that the institute develops could
become a model for the flexible mandatory standards that we really need, and
that Congress must put in place.
|
Thứ hai, các khuôn khổ mà Viện này phát triển có thể trở
thành một mô hình cho các tiêu chuẩn bắt buộc linh hoạt mà chúng ta thực sự
cần, và Quốc hội cần phải đưa ra.
|
|
|
|
|
Without the force of law, companies in critical areas will
simply never spend enough money protecting themselves -- lawsuits or no. A
Bloomberg Government study of 172 organizations found that they would
collectively need to spend $46.6 billion, a 774 percent increase from current
spending, to repel 95 percent of potential attacks. In the absence of federal
standards, companies that increase their security spending sufficiently are
at a competitive disadvantage. And every company that slacks off can put a
lot of people at risk.
|
Nếu không có hiệu lực pháp luật, các công ty trong lĩnh
vực quan trọng sẽ chỉ đơn giản là không bao giờ dành đủ tiền tự bảo vệ mình –
theo các vụ kiện hoặc không. Một nghiên cứu của Bloomberg về quản trị của 172
tổ chức đã phát hiện rằng các tổ chức này cần phải chi 46,6 tỷ đo la, tăng 774% so với chi tiêu
hiện hành, để đẩy lùi 95% các cuộc tấn công tiềm năng. Trong trường hợp không
có các tiêu chuẩn liên bang, các công ty tăng đầy đủ chi tiêu bảo mật sẽ bị
bất lợi trong cạnh tranh. Và mỗi công ty mất lợi thế có thể đặt rất nhiều
người vào vòng nguy hiểm.
|
|
A smarter federal approach would be to mandate
cybersecurity standards while allowing companies to decide how best to meet
them. This would harness the power of the market by letting businesses compete
to secure themselves at the lowest cost. Congress has had the chance to pass
legislation along these lines before, and, unfortunately, repeatedly buckled
to pressure from business groups.
|
Một cách tiếp cận liên bang thông minh hơn sẽ là áp dụng
các tiêu chuẩn an ninh mạng trong khi cho phép các công ty quyết định cách
tốt nhất phù hợp với họ. Điều này sẽ khai thác sức mạnh của thị trường bằng
cách cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh để đảm bảo chi phí thấp nhất. Quốc
hội đã có cơ hội để thông qua pháp luật về những đường lối như thế này trước
đay, và, thật không may, liên tục tạo thêm sức ép với các nhóm doanh nghiệp.
|
|
|
|
|
With this in mind, the institute’s framework should remain
“technology neutral,” meaning that companies could buy or build whatever security
technology they want, so long as they can show that it repels attacks
adequately. And it should focus on making the standards flexible. For
instance, it could require that critical companies install security patches
and updates on their equipment, and that they “whitelist” approved
applications, but not mandate step-by-step procedures or specific hardware
and software.
|
Chú ý đến điều này, khuôn khổ của Viện đưa ra vẫn nên "trung
lập về công nghệ," điều đó có nghĩa là các công ty có thể mua hoặc xây dựng
bất cứ công nghệ bảo mật mà họ muốn, miễn là họ có thể cho thấy rằng nó đẩy
lùi được các cuộc tấn công một cách đầy đủ. Và nó phải tập trung vào việc
thực hiện các tiêu chuẩn linh hoạt. Ví dụ, nó có thể yêu cầu rằng các công ty
trọng yếu phải cài đặt các bản vá lỗi và cập nhật bảo mật trên thiết bị của
họ, và rằng họ "bạch hóa" các ứng dụng đã được phê duyệt, nhưng
không phải tuân thủ các bước thủ tục hoặc phần cứng và phần mềm cụ thể.
|
|
|
|
|
Working Together
Such a framework could go a long way toward assuaging
companies’ fears that a heavy-handed government agency that knows nothing
about their business will one day force them to take measures that don’t make
sense. Instead, they would be working with industry regulators to meet the
security standards however they want, with the knowledge that their
competitors must do the same.
|
Cùng nhau làm việc
Một khuôn khổ như vậy có thể tiến một chặng đường dài
hướng tới làm dịu bớt lo ngại của các công ty rằng một cơ quan chính phủ mạnh
tay mà không biết gì về việc kinh doanh của họ một ngày nào đó sẽ buộc họ
phải thực hiện các biện pháp không có ý nghĩa. Thay vào đó, họ sẽ được làm
việc với các nhà quản lý ngành công nghiệp để đáp ứng các tiêu chuẩn an ninh bằng
bất cứ cách nào họ muốn, biết rằng các đối thủ cạnh tranh của họ cũng phải
làm như vậy.
|
|
The rest is up to Congress. In addition to imposing
mandatory security standards, new legislation should clarify liability issues
for companies that suffer security breaches, and provide more legal certainty
to businesses that share threat information with the government. It should
also build on the privacy safeguards the president outlined.
|
Phần còn thì tùy thuộc Quốc hội. Ngoài việc áp đặt các tiêu
chuẩn an ninh bắt buộc, luật mới nên làm rõ vấn đề trách nhiệm pháp lý đối
với các công ty bị lỗ hổng bảo mật, và cung cấp sự chắc chắn hơn về mặt pháp
lý để các doanh nghiệp chia sẻ thông tin về đe dọa an ninh mạng với chính
phủ. Luật cũng nên xây dựng các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư mà Tổng Thống
đã nêu.
|
|
|
|
|
In the meantime, we’re left to hope the executive order
can provide adequate defense for a while. From the White House to the Defense
Department to private-sector experts around the world, the people who know
the most about cybersecurity have in recent years issued ever more lurid
warnings about the threats we face. New evidence of alarming intrusions into
our digital grid surfaces every day. And the intruders are only growing more
sophisticated. Someday soon, when a truly destructive attack occurs, none of
us will be able to say we weren’t warned.
|
Trong khi chờ đợi, chúng ta đành phải hy vọng sắc lệnh có
thể cung cấp sự bảo vệ đầy đủ trong một thời gian. Từ Nhà Trắng tới Bộ Quốc
phòng tới các chuyên gia thuộc khu vực tư nhân trên khắp thế giới, những
người hiểu rõ nhất về an ninh mạng trong những năm gần đây đã đưa ra những
cảnh báo khủng khiếp hơn bao giờ hết về những mối đe dọa mà chúng ta phải đối
mặt. Bằng chứng mới về xâm nhập đáng báo động vào mạng lưới kỹ thuật số của
chứng ta xuất hiện mỗi ngày. Và những kẻ xâm nhập ngày càng trở nên tinh vi
hơn. Một ngày nào đó sớm thôi, khi xảy ra một cuộc tấn công phá hoại thực sự,
không ai trong chúng ta sẽ có thể nói rằng chúng tôi đã không được cảnh báo.
|
|
|
Translated by nguyenquang
|
|
|
|
|
|
|
|
http://www.bloomberg.com/news/2013-02-14/obama-s-sensible-steps-on-cybersecurity.html
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)










