MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – ĐỀ TÀI TỔNG HỢP

SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE WITH "A CORNER OF MINE"

CHIA SẺ TRI THỨC VÀ CẢI THIỆN NGÔN NGỮ VỚI "MỘT GÓC CỦA TÔI"

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOLE SEARCH

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Right Click on the link, choose open link in New tab, type your text and listen to it read in English and several other languages – Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU




Thursday, February 21, 2013

Why do once-successful societies ossify and decline? Tại sao những xã hội đã từng có thời thành công lại trở nên xơ cứng và suy tàn?






Why do once-successful societies ossify and decline?

Tại sao những xã hội đã từng có thời thành công lại trở nên xơ cứng và suy tàn?

Victor Devis HANSON

Victor Devis HANSON

Hundreds of reasons have been adduced for the fall of Rome and the end of the Old Regime in 18th-century France. Reasons run from inflation and excessive spending to resource depletion and enemy invasion, when historians attempt to understand the sudden collapse of the Mycenaeans, the Aztecs, and, apparently, the modern Greeks. In literature from Catullus to Edward Gibbon, wealth and leisure — and who gets the most of both — more often than poverty and exhaustion, cause civilization to implode.

Có hàng trăm lý do được đưa ra nhằm giải thích cho sự sụp đổ của La Mã và sự cáo chung của chế độ cũ ở Pháp vào thế kỷ XVIII. Từ lạm phát và chi tiêu hoang phí đến sự suy kiệt nguồn tài nguyên, rồi những cuộc xâm lăng của ngoại bang. Các nhà khoa học đã tìm cách giải thích sự sụp đổ bất thình lình của những vương quốc của người Mycenae*, người Aztec** và cả Hy Lạp đương đại nữa, như thế đấy. Theo các tác giả, từ Catullus đến Edward Gibbon, thì không phải là nghèo đói và tình trạng kiệt quệ mà chính là sự sung túc và nhàn cư – nhất là những người hưởng phần lớn cả hai thứ này – đã làm suy sụp nền văn minh.



*Hy Lạp cổ đại – ND
**thổ dân ở Mexico – ND

One recurring theme seems consistent in Athenian literature on the eve of the city’s takeover by Macedon: social squabbling over slicing up a shrinking pie. Athenian speeches from that era make frequent reference to lawsuits over property and inheritance, evading taxes, and fudging eligibility for the dole. After the end of the Roman Republic, reactionary Latin literature — from the likes of Juvenal, Petronius, Suetonius, and Tacitus — pointed to “bread and circuses,” as well as excessive wealth, corruption, and top-heavy government.

Một đề tài thường được nhắc đi nhắc lại trong sách báo bàn về Athens trước khi thành phố này bị người Macedon xâm chiếm: mâu thuẫn xã hội trước việc chia cái bánh đang ngày càng nhỏ đi. Những bài diễn văn của người Athens thời đó thường nhắc tới những vụ kiện tụng về tài sản và quyền thừa kế, trốn thuế và việc làm giả giấy tờ để hưởng trợ cấp. Sau khi nước cộng hòa La Mã sụp đổ, những người cầm bút theo phái phản động như Juvenal, Petronius, Suetonius và Tacitus đã nhấn mạnh vấn đề “bánh mì và hí trường” cũng như sự giàu sang quá mức, nạn tham nhũng và bộ máy nhà nước quá cồng kềnh.

For Gibbon and later French scholars, “Byzantine” became a pejorative description of a top-heavy Greek bureaucracy that could not tax enough vanishing producers to sustain a growing number of bureaucrats. In antiquity, inflating the currency by turning out cheap bronze coins was often the favored way to pay off public debts, while the law became fluid to address popular demands rather than to protect time-honored justice.

Theo Gibbon và những học giả người Pháp sau này thì từ “Byzantine” đã trở thành từ mang tính miệt thị nhằm mô tả bộ máy quản lý quá cồng kềnh của Hy Lạp, thuế thu từ những người sản xuất ngày càng ít đi, không đủ để nuôi số quan chức ngày càng gia tăng. Trong thời cổ đại, để thanh toán các khoản nợ của nhà nước, người ta thường cho đúc thêm tiền, đồng tiền vì thế mà bị mất giá. Còn luật pháp thì thường bị bóp méo nhằm giải quyết những đòi hỏi của quần chúng chứ không còn được dùng để bảo vệ công lý nữa. 

After the end of World War II, most of today’s powerhouses — China, France, Germany, Japan, South Korea, Russia, and Taiwan — were either in ruins or still pre-industrial. Only the United States and Great Britain had sophisticated economies that survived the destruction of the war. Both were poised to resupply a devastated world with new ships, cars, machinery, and communications.

Sau Thế chiến II đa số các trung tâm quyền lực hiện nay – Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Đài Loan – đều hoặc là bị tàn phá hoặc là còn trong thời tiền công nghiệp. Chỉ có Hoa Kỳ và Anh quốc, những nước có nền kinh tế hiện đại, là tránh được sự tàn phá của chiến tranh mà thôi. Cả hai nước đều sẵn sàng cung cấp cho thế giới đã bị tàn phá những chiếc tàu thủy, ô tô, máy cái và phương tiện viễn thông.

In comparison with those of Frankfurt, the factories of 1945 Liverpool had survived mostly intact. Yet Britain missed out on the postwar German economic miracles, in part because after the deprivations of the war, the war-weary British turned to class warfare and nationalized their main industries, which soon became uncompetitive.

So với Frankfurt, năm 1945 các nhà máy ở Liverpool phần lớn vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng Anh đã bỏ lỡ cơ hội và phải nhường chỗ cho thần kỳ kinh tế Đức thời hậu chiến. Một phần là vì người Anh, bị rã rời sau những thiếu thốn của thời chiến tranh, đã quay sang với cuộc chiến tranh giai cấp và quốc hữu hóa những ngành công nghiệp chính, chẳng bao lâu sau những ngành này đã mất sức cạnh tranh. 

The gradual decline of a society is often a self-induced process of trying to meet ever-expanding appetites rather than a physical inability to produce past levels of food and fuel or to maintain adequate defense. Americans have never had safer workplaces or more sophisticated medical care — and never have so many been on disability.

Sự xuống dốc từ từ của xã hội thường là quá trình tự kích nhằm đáp ứng thói “được voi đòi tiên”* chứ không phải là không có khả năng sản xuất được lương thực, thực phẩm và nhiên liệu như trước hay không đảm bảo được quốc phòng. Người Mỹ chưa bao giờ được bảo đảm về công ăn việc làm và được chăm sóc y tế tốt như hiện nay – cũng chưa bao giờ có nhiều người tàn tật, sống bằng trợ cấp như hiện nay.


*dịch thoát ý cụm từ ever-expanding appetites – ND

King Xerxes’ huge Persian force of 250,000 sailors and soldiers could not defeat a rather poor Greece in 480 b.c. Yet a century and a half later, a much smaller invading force from the north under Philip II of Macedon overwhelmed the far more prosperous Greek descendants of the victors of Salamis.

Đội quân người Persic lên đến 250.000 người, cả thủy thủ và lính bộ binh, của hoàng đế Xerxes vào năm 480-479 (trước Công nguyên) đã không hạ gục được nước Hy Lạp nghèo nàn. Nhưng 150 năm sau, lực lượng ít hơn từ phía Bắc, dưới quyền chỉ huy của Philip II của Macedon, đã áp đảo được hậu duệ giàu có của những người Hy Lạp từng chiến thắng trong trận đánh ở Salamis. 

For hundreds of years, the outmanned legions of the tiny and poor Roman Republic survived foreign invasions. Yet centuries later, tribal Goths, Visigoths, Vandals, and Huns overran the huge Mediterranean-wide Roman Empire.

Những đơn vị kém hẳn về quân số của nước cộng hòa La Mã bé nhỏ và nghèo nàn đã từng chiến thắng nhiều cuộc xâm lăng của ngoại bang trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng mấy trăm năm sau, những bộ tộc người Goths, người Visigoths, người Vandals và người Huns đã tàn phá đế chế La Mã rộng lớn, chạy dài suốt rừ đầu này đến đầu kia của Địa Trung Hải. 


Given our unsustainable national debt — nearly $17 trillion and climbing — America is said to be in decline, although we face no devastating plague, nuclear holocaust, or shortage of oil or food.

Với món nợ quốc gia khủng khiếp hiện nay – gần 17 ngàn tỉ USD và còn đang tăng – nhiều người nói rằng Mỹ đang suy sụp, mặc dù chúng ta chưa giáp mặt với những thảm họa, với nạn hủy diệt của chiến tranh hạt nhân hay thiếu thốn lương thực và dầu khí.

Americans have never led such affluent material lives — at least as measured by access to cell phones, big-screen TVs, cheap jet travel, and fast food. Obesity rather than malnutrition is the greater threat to national health. Flash mobs go after electronics stores, not food markets. Americans spend more money on Botox, face lifts, and tummy tucks than on the age-old scourges of polio, smallpox, and malaria.

Người Mỹ chưa bao giờ giàu có đến như thế – ít nhất là nếu đo sự giàu có bằng số lượng điện thoại cầm tay, bằng số lượng TV màn hình lớn, đường hàng không giá rẻ và thức ăn nhanh. Bệnh béo phì chứ không phải thiếu ăn là mối đe dọa chủ yếu đối với sức khỏe của dân tộc. Đám đông chen lấn vào các cửa hàng bán đồ điện tử chứ không phải là cửa hàng thực phẩm. Người Mỹ chi cho kem Botox, kem dưỡng da và hút mỡ bụng nhiều tiền hơn là cho những căn bệnh đã từng hành hạ nhân loại trong nhiều thế kỷ như bệnh bại liệt trẻ em, bệnh đậu mùa và bệnh sốt rét. 


If Martians looked at the small houses, one-car families, and primitive consumer goods of the 1950s, they would have thought the postwar United States, despite a balanced budget in 1956, was impoverished in comparison with an indebted contemporary America where consumers jostle for each new version of the iPhone.

Nếu người trên sao Hỏa mà nhìn thấy những ngôi nhà bé như những cái hộp, những gia đình chỉ có một chiếc ô tô và những món hàng tiêu dùng thô thiển hồi những năm 1950 thì chắc chắc họ sẽ nghĩ là Mỹ là nước nghèo, mặc dù ngân sách năm 1956 vẫn còn cân đối. So với lúc đó, những người ở hành tinh khác sẽ thấy nước Mỹ đang ngập trong nợ nần hiện nay dường như đang bơi trong biển tiền bạc, nơi những người tiêu dùng giành giật nhau từng chiếc iPhones đời mới nhất. 


By any historical marker, the future of Americans has never been brighter. The United States has it all: undreamed-of new finds of natural gas and oil, the world’s preeminent food production, continual technological wizardry, strong demographic growth, a superb military, and constitutional stability.

Dùng bất cứ thước đo nào để đo thì tương lai của người Mỹ cũng chưa bao giờ tươi sáng đến như thế. Nước Mỹ có tất cả: tìm được những mỏ dầu khí mới mà trước đây không ai dám mơ tới, Mỹ là nhà sản xuất lương thực thực phẩm lớn nhất thế giới, công nghệ tiên tiến thường xuyên xuất hiện, dân số phát triển vững chắc, quân đội hùng mạnh và ổn định về thể chế.

Yet we don’t talk confidently about capitalizing and expanding on our natural and inherited wealth. Instead, Americans bicker over entitlement spoils as the nation continues to pile up trillion-dollar-plus deficits. Enforced equality, rather than liberty, is the new national creed. The medicine of cutting back on government goodies seems far worse than the disease of borrowing trillions from the unborn to pay for them.

Nhưng chúng ta không nói chuyện một cách tự tin về việc sử dụng và mở mang nguồn lực tự nhiên và tài sản mà chúng ta được thừa kế. Thay vào đó, người Mỹ chúng ta đang cãi nhau về những khoản trợ cấp, trong khi quốc gia tiếp tục thâm hụt hàng tỉ đô la. Quyền bình đẳng được tạo ra bằng áp lực chứ không phải là quyền tự do lựa chọn đã trở thành một tôn giáo mới của cả nước. Đơn thuốc là cắt bớt các khoản trợ cấp của chính phủ dường như là còn tệ hơn chính căn bệnh, mà bệnh ở đây là vay tiền của những thế hệ chưa ra đời để trả cho những khoản trợ cấp hiện nay. 


In August 1945, Hiroshima was in shambles, while Detroit was among the most innovative and wealthiest cities in the world. Contemporary Hiroshima now resembles a prosperous Detroit of 1945; parts of Detroit look like they were bombed decades ago.

Tháng 8 năm 1945, Hiroshima là một thành phố đổ nát, trong khi Detroit là một trong số những thành phố tân tiến và giàu có nhất thế giới. Hiroshima hiện nay trông như thành phố Detroit phát đạt của năm 1945; trong khi một số khu vực của Detroit lại trông như vừa bị ném bom cách đây vài chục năm vậy.

History has shown that a government’s redistribution of shrinking wealth, in preference to a private sector’s creation of new sources of it, can prove more destructive than even the most deadly enemy.

Lịch sử đã chứng tỏ rằng việc nhà nước tham gia phân phối số của cải ngày càng teo đi chứ không phải là doanh nghiệp trong lĩnh vực tư nhân sản xuất được nhiều của cải hơn có thể gây ra tai họa lớn hơn cả những kẻ thù tàn bạo nhất.





Translated by Phạm Nguyên Trường

— NRO contributor Victor Davis Hanson is a senior fellow at the Hoover Institution. His The Savior Generals will appear in the spring from Bloomsbury Books. © 2013 Tribune Media Services, Inc.
Victor Davis Hanson là nhà sử học, làm việc tại Stanford University's Hoover Institution. Tác phẩm mới nhất của ông The Savior Generals sẽ được xuất bản trong mùa xuân năm nay.

http://www.nationalreview.com/articles/340658/decline-america-victor-davis-hanson?pg=2

China’s Cybergames Trò tỷ thí trên mạng của Trung Quốc





China’s Cybergames

Trò tỷ thí trên mạng của Trung Quốc

The New York’s Times, editorial
Xã luận trên New York’s Times
February 19, 2013
ngày 19 tháng 2 năm 2013


Washington has not had much success persuading Beijing to rein in its hackers even though American officials and security experts have long known that China is the main source of cyberattacks on the United States. Two recent developments, however, should raise the political costs for China and may cause it to alter its calculus. Refusal to change its conduct could make its relations with the United States even more difficult than they are.

Washington đã không tạo được thành tích nào trong việc thuyết phục Bắc Kinh kìm cương các tin tặc của họ mặc dù các quan chức Mỹ và các chuyên gia bảo mật từ lâu đã biết rằng Trung Quốc là nguồn tấn công chính nhắm vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hai phát triển gần đây hẳn đã tăng thêm chi phí chính trị đối với Trung Quốc và có thể khiến Trung Quốc phải thay đổi tính toán của mình. Từ chối thay đổi hành vi của nó có thể khiến mối quan hệ với Hoa Kỳ thậm chí còn khó khăn hơn hiện nay.



On Tuesday, a new report from Mandiant, an American computer security firm, publicly documented an explicit link between Chinese hackers and the People’s Liberation Army. The report cites a growing body of digital forensic evidence that most of the attacks on American corporations, organizations and government agencies originate in and around a 12-story office tower on the outskirts of Shanghai that is the headquarters of P.L.A. Unit 61398.

Hôm thứ ba, một báo cáo mới từ Mandiant, một công ty an ninh máy tính Mỹ, đã công khai một tài liệu cho thấy có liên hệ rõ ràng giữa các tin tặc Trung Quốc và Quân đội Giải phóng nhân dân (PLA). Báo cáo này trích dẫn một khối lượng lớn đang gia tăng về các bằng chứng điều tra vụ án kỹ thuật số cho thấy rằng hầu hết các cuộc tấn công vào các tập đoàn, các tổ chức và các cơ quan chính phủ Mỹ đều có nguồn gốc trong và xung quanh tòa tháp văn phòng 12 tầng ở ngoại ô của Thượng Hải, là trụ sở của Đơn vị 61.398 thuộc PLA.



Mandiant tracked individual members of the most sophisticated of the Chinese hacking groups, known as “Comment Crew” or “Shanghai Group,” to the headquarters of the military unit, which is central to China’s computer espionage operations. It followed “Comment Crew” for six years, monitoring 141 attacks by looking at Web domains, malware, Internet protocol addresses and embedded codes.

Mandiant đã theo dõi các cá nhân là thành viên tinh vi nhất của các nhóm hacker Trung Quốc, được gọi là "Crew Comment" hoặc " Tập đoàn Thượng Hải," thuộc bộ chỉ huy của đơn vị quân sự này, là trung tâm đàu não chỉ huy các hoạt động gián điệp máy tính của Trung Quốc. Mandiant đã theo dõi "Crew Comment" trong sáu năm, giám sát 141 cuộc tấn công bằng cách nhắm vào các miền Web, Internet, phần mềm độc hại, các địa chỉ giao thức và mã nhúng.



Reporters for The Times confirmed the evidence contained in the report with American intelligence officials who say they have tapped into the activity of the army unit for years.

Phóng viên The Times khẳng định bằng chứng có trong báo cáo với các quan chức tình báo Mỹ. Các quan chức này cho biết họ đã đề cập tới các hoạt động của đơn vị quân đội này trong nhiều năm.

Chinese officials denounced the report, but their reaction was hardly a denial. “Hacking attacks are transnational and anonymous. Determining their origins are extremely difficult. We don’t know how the evidence in this so-called report can be tenable,” said Hong Lei, a Foreign Ministry spokesman.


Các quan chức Trung Quốc lên án báo cáo này, nhưng phản ứng của họ hầu như không phải là một sự bác bỏ. "Các cuộc tấn công hacking có tính xuyên quốc gia và vô danh. Việc xác định nguồn gốc của chúng là vô cùng khó khăn. Chúng tôi không biết làm thế nào mà các bằng chứng trong nêu trong cái gọi là báo cáo này là có thể đứng vững được", ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói.



In a second development that could further raise the stakes for Beijing, Washington decided to share with American Internet providers and antivirus vendors information about the unique signatures of the largest of the Chinese groups, including those originating from the area where Unit 61398 is based. The government warnings will not link the hackers and their computers to the Chinese Army per se, but the effects will be felt when the hackers and computers are denied access to American networks, as many of the Internet providers and antivirus vendors are expected to do.

Trong một phát triển thứ hai mà có thể làm gia tăng hơn nữa lo lắng của Bắc Kinh, Washington đã quyết định chia sẻ với các nhà cung cấp dịch vụ Internet Mỹ và các nhà cung cấp phần mềm chống virus các thông tin về chữ ký duy nhất của những nhóm trong các các nhóm Trung Quốc, bao gồm cả những nhóm có nguồn gốc từ khu vực thuộc Đơn vị 61.398 trú đóng. Cảnh báo của chính phủ sẽ không liên hệ các tin tặc và máy tính của họ với quân đội Trung Quốc về thực chất, nhưng hiệu quả sẽ được cảm nhận khi các tin tặc máy tính bị từ chối truy cập vào mạng Mỹ, như nhiều người trong số các nhà cung cấp dịch vụ Internet và các nhà cung cấp phần mềm chống virus dự định thực hiện.



American officials are increasingly concerned about cyberattacks intended not just to steal corporate secrets but also, as President Obama said in his recent State of the Union address, to “sabotage our power grid, our financial institutions, our air traffic control systems.”

Các quan chức Mỹ đang ngày càng lo ngại về các cuộc tấn công nhằm mục đích không chỉ để ăn cắp bí mật công ty mà còn, như Tổng thống Obama nói trong Thông điệp LIên Bang gần đây nhằm "phá hoại lưới điện của chúng ta, các tổ chức tài chính của chúng ta, hệ thống kiểm soát không lưu của chúng ta."

As a defensive measure, Mr. Obama last week signed an executive order promoting increased information-sharing about cyberthreats between the government and private companies that oversee the country’s critical infrastructure, including its electrical power grid, gas lines and waterworks. Congress still has not acted on legislation setting minimum requirements for how this infrastructure should be protected. A reasonably strong bill offered in the Senate last summer has been stymied by objections from some legislators that it would be too intrusive. So far, Mr. Obama has chosen not to have a public collision with China. He and his aides have largely raised their concerns in private. But patience is wearing thin as China-emanated attacks have grown and the administration pursues a more aggressive response.


Như một biện pháp phòng thủ, tuần trước ông Obama đã ký một sắc lệnh thúc đẩy tăng cường chia sẻ thông tin về đe dọa mạng giữa chính phủ và các công ty tư nhân đang giám sát các cơ sở hạ tầng  trọng yếu của đất nước, bao gồm lưới điện, đường ống khí đốt và hệ thống cấp nước. Quốc hội vẫn chưa có hành động lập pháp để thiết lập các yêu cầu tối thiểu về việc các cơ sở hạ tầng này phải được bảo vệ như thế nào. Một dự luật đủ mạnh được trình tại Thượng viện vào mùa hè năm ngoái đã bị cản trở bởi sự phản đối từ một số nhà lập pháp rằng nó có tính chất quá xâm nhập. Cho đến nay, ông Obama đã chọn không va chạm công khai với Trung Quốc. Ông và các phụ tá của ông phần lớn đã dấy lên mối quan ngại của họ theo kiểu riêng tư. Nhưng kiên đã mòn mỏi khi các cuộc tấn công phát ra từ Trung Quốc đã gia tăng và chính phủ phải theo đuổi một phản ứng mạnh mẽ hơn.



China and the United States have to cooperate on numerous international security issues. But that won’t happen if they end up in a cyberwar. Publicizing China’s transgressions and blocking Internet access to hackers should be a warning to Beijing. Washington is right to defend its interests. But the two nations need to take the lead in negotiating new international understandings about what constitutes cyberaggression and how governments should respond.

Trung Quốc và Hoa Kỳ phải hợp tác về nhiều vấn đề an ninh quốc tế. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra nếu họ kẹt cứng trong một cuộc chiến tranh không gian mạng. Công khai sự vi phạm của Trung Quốc và ngăn chặn truy cập Internet với tin tặc phải là một cảnh báo đối với Bắc Kinh. Washington đúng khi bảo vệ lợi ích của mình. Tuy nhiên, hai nước cần phải đi đầu trong việc đàm phán những hiểu biết quốc tế mới về những gì tạo ra xâm lược không gian mạng và các chính phủ nên phản ứng như thế nào.


Translated by nguyenquang




http://www.nytimes.com/2013/02/20/opinion/chinas-cybergames.html

The Pacific Ocean: The Pentagon’s Next “Human Battleground” Châu Á – Thái Bình Dương: Cuộc Đấu trí tiếp theo của Lầu Năm Góc







The Pacific Ocean: The Pentagon’s Next “Human Battleground”

Châu Á – Thái Bình Dương: Cuộc Đấu trí tiếp theo của Lầu Năm Góc
By Wayne Madsen
Global Research,
January 28, 2013
By Wayne Madsen
Global Research,
28/1/2013


The Pentagon planners and their paid anthropologist shills are gearing up for the Pentagon’s next battle: the one for the Pacific that will ensure that the island nations that dot the vast maritime expanse will remain a part of the Anglo-American sphere of influence and not become part of a «Chinese lake».

Các nhà lập kế hoạch của Lầu Năm Góc và các tay cò mồi nhân chủng mà họ trả tiền thuê đang tăng tốc cho trận chiến tiếp theo của Lầu Năm Góc: trận chiến dành cho Thái Bình Dương mà sẽ đảm bảo rằng các đảo quốc nằm rải rác trong vùng biển mênh mông vẫn còn một phần nằm trong tầm ảnh hưởng của các  Anh-Mỹ và sẽ không trở thành một phần của một «Ao nhà Trung Quốc»

The Pacific Ocean has been a favorite stomping ground for U.S. government-financed anthropologists ever since Margaret Mead ‘s 1928 treatise on the Samoan people, Coming of Age in Samoa, laid the groundwork for the intelligence-related anthropological study of the peoples of the Pacific Ocean by the U.S. military and intelligence services.
Thái Bình Dương đã trở thành một địa điểm ưa thích của các nhà nhân chủng học được Chính phủ Mỹ tài trợ từ sau luận án về người Samoa năm 1928 của bà Margaret Mead, Coming of Age in Samoa, đã đặt nền móng cho nghiên cứu nhân chủng có liên quan đến tình báo về các tộc người sự tại Thái Bình Dương do các cơ quan và quân sựu và tình báo Mỹ chủ trì.


Mead later became a researcher for the CIA-connected RAND Corporation and became a supporter of CIA funding of anthropologic surveys and studies via laundered academic research grants from the U.S. Agency for International Development (USAID).

Bà Mead sau đó đã trở thành một nhà nghiên cứu của công ty RAND, có quan hệ với Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) và ủng hộ việc CIA tài trợ cho các cuộc điều tra và nghiên cứu nhân chủng học thông qua các khoản hỗ trợ nghiên cứu học thuật do Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) cấp.

USAID / CIA/Special Operations projects with names like Phoenix, Prosyms, Sympatico, and Camelot used anthropologists and social scientists to reconnoiter targeted tribal areas in South Vietnam, Indonesia, Pakistan, Colombia, and Chile to determine how U.S. Special Forces and intelligence agents could use indigenous peoples to further American military goals. The operations in the cases of Phoenix in South Vietnam and Prosyms in Indonesia resulted in genocide on a massive scale…
Các dự án Chiến dịch đặc biệt của USAID/CIA với những cái tên như Phượng Hoàng, Prosyms, SympaticoCamelot đã sử dụng các nhà nhân chủng học và khoa học xã hội để quan trắc các khu vực bộ tộc được chọn ở miền Nam Việt Nam, Inđônêxia, Pakixtan, Côlômbia và Chilê nhằm quyết định cách thức lực lượng đặc nhiệm và các điệp viên Mỹ có thể sử dụng những người thiểu số này để thúc đẩy các mục tiêu quân sự của Mỹ. Các chiến dịch trong dự án Phượng Hoàng tại miền Nam Việt Nam và Prosyms tại Inđônêxia đã dẫn đến sự diệt chủng trên quy mô lớn.

Today, the military’s tribal and native peoples targeting programs fall under the nomenclature of «human terrain systems» or HTS. Brought back to life in Afghanistan and Iraq, these genocidal programs now have their eyes on the Pacific in order to gear up for what the Pentagon and Langley planners believe is an inevitable war with China.

Ngày nay, các chương trình nhằm vào người dân bộ lạc và bản địa của quân đội Mỹ nằm trong danh mục “hệ thống địa hình con người” (HTS). Được khôi phục lại tại Afghanistan và Iraq, các chương trình diệt chủng này đang để mắt tới Thái Bình Dương để tăng tốc cho cái mà các nhà hoạch định của Lầu Năm Góc và Langley tin là một cuộc chiến không thể tránh khỏi với Trung Quốc.

It is fitting, therefore, the U.S. Army Corps of Engineers are now looking for up to 15,000 acres of land to lease on American Samoa. The U.S. military wants to establish a major training base on American Samoa for at least five years and probably longer. The base is to provide 24-hour road access that will permit 60 full days of training per year. The Army also wants the base to permit the use of pyrotechnic and blank ammunition during daytime and nighttime training. It is certain that the U.S. is looking at building a simulated rural and village tropical environment for the use of U.S. and future «coalition of the willing» armies to practice battling an enemy in the Pacific region. That «enemy» is China.

Do đó, thật sít sao, quân đội Mỹ đang tìm 15.000 acres đất cho thuê tại Samoa thuộc Mỹ. Họ muốn thành thành lập một căn cứ huấn luyện lớn trên đất Samoa trong ít nhất là 5 năm hoặc có thể lâu hơn. Căn cứ này có đường vào ra suốt 24 giờ và cung cấp huấn luyện 60 ngày tròn mỗi năm. Quân đội Mỹ muốn căn cứ này được phép sử dụng pháo hoa và đạn không sát thương trong huấn luyện ban ngày và ban đêm. Chắc chắn, Mỹ đang tìm cách xây dựng một môi trường mô phỏng làng mạc nông thôn nhiệt đới để quân đội Mỹ và các “liên minh tự nguyện” tương lai thực hành chiến đấu chống một kẻ thù tại khu vực Thái Bình Dương. Kẻ thù đó là Trung Quốc.

The United States obviously foresees the Pacific as a future battleground between American and its allied forces and China for control of the important trade routes that crisscross the vast maritime region. Not since the U.S. military campaign against Japan during World War II has the Pacific seen such an American military projection of power.

Rõ ràng, Mỹ dự kiến Thái Bình Dương là một chiến trường tương lai giữa Mỹ và các lực lượng đồng minh với Trung Quốc để giành quyền kiểm soát những tuyến đường thương mại quan trọng trong vùng biển rộng lớn này. Từ sau chiến dịch quân sự của Mỹ chống lại Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai đến nay, Thái Bình Dương mới được chứng kiến sự khuyếch trương sức mạnh quân sự lớn như vậy của Mỹ.

The decision by the Obama administration to «pivot» its military forces into Asia and the Pacific has brought about a strong response from China, which sees itself as the ultimate target for the increased U.S. military presence. China’s ambassador to Australia Chen Yuming called the stationing of 2500 U.S. Marines in Darwin an «affront» and a Cold War containment policy toward China.

Việc chính quyền của Tổng thống Barack Obama quyết định chuyển các lực lượng quân đội của họ sang châu Á-Thái Bình Dương đã tao nên một phản ứng mạnh từ phía Trung Quốc, vốn vẫn tự coi mình là mục tiêu tối hậu của sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Mỹ. Đại sứ Trung Quốc tại Australia Trần Dục Minh đã gọi việc đồn trú 2.500 lính thủy đánh bộ Mỹ tại Darwin là một sự “xúc phạm” và là chính sách ngăn chặn kiểu Chiến tranh Lạnh nhằm vào Trung Quốc.

The establishment of a U.S. military training base on American Samoa follows Secretary of State Hillary Clinton’s first ever attendance by a U.S. Secretary of State of a Pacific Islands Forum (PIF) summit in Rarotonga, Cook Islands on August 31, 2012. It was the first such visit to the Cook Islands and underscored America’s decision to maintain its stranglehold over the small Pacific island nations while at the same time beefing up its military forces in the region.

Việc thiết lập một căn cứ huấn luyện quân sự Mỹ tại Samoa thuộc Mỹ diễn ra sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lần đầu tiên tham dự hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn các quốc đảo Thái Bình Dương (PIF) có mặt Ngoại trưởng Mỹ, được tổ chức tại Rarotonga, quần đảo Cook vào ngày 31/8/2012. Đây cũng là chuyến thăm đầu tiên của một Ngoại trưởng Mỹ tới quần đảo Cook và nhấn mạnh quyết tâm của Mỹ duy trì sự kiểm soát chặt chẽ của họ đối với các đảo quốc nhỏ tại Thái Bình Dương, trong khi vẫn tăng cường các lực lượng quân sự trong khu vực.

The United States and its two Pacific overseers – Australia and New Zealand –- are attempting to cement their neo-colonialist hegemony over the Pacific states, which are independent in name only. Enter the Human Terrain practitioners from the Pentagon and CIA to keep the Pacific islanders divided. Clinton’s participation in the PIF summit is aimed at not only maintaining the status quo but in promoting the rivalries between Polynesians, Micronesians, and Melanesians among the island states.

Mỹ và hai đồng minh Thái Bình Dương là Australia và New Zealand đang tìm cách củng cố quyền bá chủ thực dân mới của họ đối với các quốc đảo Thái Bình Dương, chỉ độc lập trên danh nghĩa. Hãy đưa các nhà thực hành địa hình con người từ Lầu Năm Góc và CIA để giữ cho những người dân đảo Thái Bình Dương này luôn chia rẽ. Việc bà Clinton tham gia hội nghị cấp cao PIF không chỉ nhằm duy trì hiện trạng, mà còn thúc đẩy sự cạnh tranh giữa những người Polynesi, Micronesi và Melanesi giữa các đảo quốc này.


The United States, having virtual ownership of the quasi-independent Micronesian nations of Micronesia, Palau, and the Marshall Islands, as well as total control over the U.S. territories of Guam and the Northern Marianas, can use its influence over Micronesians to play them off against the other two major ethnic groups. They are the Melanesian Spearhead Group of Papua New Guinea, Fiji, Solomon Islands, Vanuatu, and the New Caledonia (Kanaky) liberation front and the Polynesian Leaders Group of Samoa, Tonga, Tuvalu, Cook Islands, Niue, Tokelau, French Polynesia, as well as the intelligence eyes and ears of Washington, American Samoa. The United States, Australia, and New Zealand can use their Human terrain System knowledge of ethnic rivalries in the Pacific to ensure that China is kept out of the area.

Mỹ, có quyền sở hữu chính thức các quốc gia gần như độc lập như Micronesian của Micronesia, Palau, quần đảo Marshall, cũng như hoàn toàn kiểm soát các lãnh thổ Mỹ là Guam và Bắc Marianas, có thể sử dụng ảnh hưởng của mình đối với những người Micronesi để xúi họ chống lại hai sắc tộc lớn khác. Họ là Nhóm người Melanesian Mũi Giáo của Papua New Guinea, Fiji, quần đảo Solomon, Vanuatu và mặt trận giải phóng New Caledonia (Kanaky) và Lãnh đạo người Polynesia của các nhóm Samoa, Tonga, Tuvalu, quần đảo Cook, Niue, Tokelau, Polynesia thuộc Pháp, cũng như đôi mắt và đôi tai tình báo của Washington, là Samoa thuộc Mỹ. Mỹ, Ôxtrâylia và Niu Dilân có thể sử dụng những tri thức hệ thống địa hình con người về sự tranh đua sắc tộc tại Thái Bình Dương để đảm bảo rằng Trung Quốc phải ở ngoài khu vực này.

Part of the strategy relies on Taiwan’s «checkbook» diplomacy to maintain Taiwanese rather than Chinese embassies and aid missions in the small island states. There are currently Taiwanese embassies in Tuvalu, Solomon Islands, Marshall Islands, Palau, Nauru, and Kiribati. Among these, Nauru, Solomon Islands, and Kiribati switched their recognition back to Taiwan after opening up diplomatic relations with China. Kiribati came under pressure after it decided to allow China to build a missile tracking station on south Tarawa. The U.S. believed the China Space Telemetry Tracking Station was going to spy on the «Star Wars II» activity at the Ronald Reagan Ballistic Missile Defense Test Site in the Kwajalein Atoll of the Marshall Islands. The Marshallese on the atoll are under constant surveillance by well-armed U.S. security personnel.


Một phần của chiến lược này đang dựa trên hoạt động ngoại giao “tiền bạc” của Đài Loan nhằm duy trì các đại sứ quán và phái đoàn viện trợ của Đài Loan, chứ không phải của Trung Quốc tại các quốc đảo nhỏ này. Hiện Đài Loan đang có các đại sứ quán tại Tuvalu, Quần đảo Solomon, quần đảo Marshall, Palau, Nauru và Kiribati. Trong số các quốc đảo này, Nauru, Quần đảo Solomon và Kiribati đã chuyển lại sang công nhận Đài Loan sau khi mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Kiribati đã phải chịu sức ép lớn sau khi họ quyết định cho phép Trung Quốc xây dụng một trạm theo dõi tên lửa ở phía Nam Tarawa. Mỹ tin rằng Trạm theo dõi vũ trụ từ xa của Trung Quốc sẽ do thám hoạt động của chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao II” tại địa điểm thử nghiệm phòng thủ tên lửa đạn đạo mang tên Ronald Reagan trên đảo san hô Kwajalein thuộc Quần đảo Marshall. Những người dân Marshall trên đảo san hô này cũng đang phải chịu sự giám sát thường xuyên của lực lượng an ninh Mỹ được vũ trang mạnh.

In 2004, Vanuatu switched its recognition back to China from Taiwan after Prime Minister Serge Vohor paid a secret visit to Taiwan and was ejected from office in a vote of no confidence. Vohor actually punched the Chinese ambassador after Vohor returned from Taiwan. Such incidents in the Pacific Islands have been known to set off riots between opposing political parties and ethnic groups. The Pentagon will use such politico-ethnic tinderboxes as a secret weapon against China.

Năm 2004, Vanuatu đã chuyển từ công nhận Đài Loan sang Trung Quốc sau khi Thủ tướng Vanuatu hồi đó là Serge Vohor đã có chuyến thăm bí mật tới Đài Loan và bị mất quyền lực trong một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Ông Vohor đã đấm đại sứ Trung Quốc sau chuyến thăm Đài Loan. Những sự cố như vậy tại các quốc đảo Thái Bình Dương đã làm nổi bật các cuộc bạo động giữa các chính đảng đối lập và các nhóm sắc tộc. Lầu Năm Góc sẽ sử dụng những mồi lửa chính trị-sắc tộc này như một vũ khí bí mật chống lại Trung Quốc.

The CIA, Australian Security Intelligence Organization (ASIO), and New Zealand Secret Intelligence Service (NZSIS) have programs to undermine South Pacific governments that establish close relations with Beijing. However, the Human Terrain operatives have gone further. Aware of the animosity that poor Pacific Islanders have toward local successful Chinese businessmen, the bought-and-paid for anthropologists have stirred up riots, especially in Solomon Islands and Tonga, to marginalize China’s influence in the region.

CIA, Tổ chức tình báo an ninh Australian (ASIO) và Cơ quan tình báo bí mật New Zealand (NZSIS) đang có những chương trình nhằm vào phá hoại các chính phủ ở Nam Thái Bình Dương đang có các quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các gián điệp địa hình con người còn đi xa hơn. Nhận thức được sự hận thù của người dân các đảo quốc Thái Bình Dương nghèo khổ đối với các doanh nhân người Hoa địa phương thành đạt, các nhà nhân chủng học bị mua chuộc đã khuấy động bạo loạn, nhất là ở quần đảo Solomon và Tonga để gạt bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

There are contingency plans to foment riots against ethnic Chinese in Fiji, Vanuatu, and Papua New Guinea. The CIA’s Operation Prosyms in Indonesia relied on longstanding animosity between Muslim Indonesians and ethnic Chinese to stoke riots against the Chinese in the aftermath of the 1965 CIA coup against President Sukarno. The mayhem resulted in the deaths of over 100,000 ethnic Chinese and a severance of relations between the CIA-installed Suharto government and China. President Obama’s anthropologist mother, Stanley Ann Dunham, played a crucial role in Prosyms. Mrs. Dunham’s son appears prepared to reenact anti-Chinese pogroms in the islands of the Pacific.

Hiện có những kế hoạch dự phòng để kích động bạo lực chống lại những người Hoa tại Fiji, Vanuatu và Papua New Guinea. Chiến dịch Prosyms tại Indonesia dựa vào sự hận thù lâu dài giữa những người Hồi giáo Inđônêxia và những người Hoa để gây ra cuộc bạo loạn chống lại người Hoa sau cuộc đảo chính năm 1965 do CIA dàn dựng chống lại Tổng thống Sukarno. Cuộc bạo loạn này đã khiến hơn 100.000 người Hoa thiệt mạng và cắt đứt quan hệ của chính phủ của Tổng thống Suharto do CIA dựng lên với Trung Quốc. Mẹ nhà nhân chủng học của Tổng thống Obama, Stanley Ann Dunham, đóng một vai trò rất quan trọng trong chiến dịch Prosyms. Con trai của bà Dunham tỏ vẻ sẵn sàng phát động những cuộc tàn sát chống Trung Quốc ở các đảo Thái Bình Dương.

It is clear that the U.S. military training in American Samoa will be used to train Pacific Islander mercenaries, many of whom, such as Marshall Islanders, American Samoans, and Guamanians already serve in the U.S. military, to train young men from impoverished Kiribati, Micronesia, Samoa, and Fiji. Fijian and Tongan mercenaries, battle-hardened from Western campaigns in Iraq, Afghanistan, and other regions, are also available to supplement the U.S. Pacific Command’s training complex on American Samoa. If Fiji’s military-led government , which has been the subject of diplomatic sanctions by Australia and New Zealand, continues to get close to China and North Korea, these Fijian mercenaries could see coup d’état duty on behalf of the CIA, ASIO, and NZSIS in their homeland of Fiji. And the diplomats of the small Chinese embassy in Nuku’alofa, Tonga have witnessed how fast the fury of local Tongans can be turned on the Chinese business community. These blood-soaked scenarios all figure heavily into Pentagon HTS plans for the Pacific.

Rõ ràng là việc huấn luỵện quân sự Mỹ tại Samoa sẽ được sử dụng để huấn luyện những binh lính đánh thuê gốc quốc đảo Thái Bình Dương. Nhiều người dân quốc đảo Thái Bình Dương như các công dân của quần đảo Marshall, Samoa và Guam đã tham gia quân đội Mỹ để huấn luyện thanh niên nghèo khổ từ Kiribati, Micronesia, Samoa và Fiji. Lực lượng đánh thuê Fiji. và Tonga, đã tham gia các chiến dịch quân sự của phương Tây tại Irắc, Afghanistan và các khu vực khác, cũng có thể tham gia lực lượng huấn luyện của Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ tại Samoa. Nếu chính phủ quân sự của Fiji, hiện đang phải chịu các biện pháp trừng phạt ngoại giao của Australia và New Zealand, vẫn tiếp tục xích lại gần Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, thì những đối tượng đánh thuê Fiji này có thể tiên hành đảo chính nhân danh CIA, ASIO và NZSIS tại quê hương họ. Một nhóm nhỏ các nhà ngoại giao tại đại sứ quán Trung Quốc tại Nuku'alofa, Tonga chứng kiến sự tức giận của người dân Tonga sẽ nhanh chóng hướng sang cộng đồng doanh nhân người Hoa. Những kịch bản tắm máu như vậy đã được Lầu Năm Góc vạch ra cho Thái Bình Dương.

The United States will continue to keep the Pacific Islands within its vast gulag to prevent the extension of Chinese influence. Today, Pacific Islanders are faced with a virtual «Berlin Wall» that keeps Pacific Islanders confined to their own islands while outsiders, like Chinese and Russians, are kept out. The method by which Washington, Canberra, and Wellington have created airline and sea transit monopolies and transit visa requirements means that Samoans from the Independent State of Samoa cannot visit nearby American Samoa without a special permit. And the U.S. Department of Homeland Security decides who will receive special permits and transit visas, including for those traveling on diplomatic passports. Any scheduled airline that connects any of the islands via American Samoa, Guam, or Hawaii requires a U.S. transit visa and that entails invasive interviews by U.S. Immigration and Customs Enforcement personnel.

Mỹ sẽ tiếp tục giữ các quốc đảo Thái Bình Dương nằm trong tầm ảnh hưởng của họ đế ngăn chặn sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc. Ngày nay, những người dân quốc đảo Thái Bình Dương đang phải đối mặt với một “Bức tường Berlin” ảo, giữ cho họ chỉ ở bên trong khu vực, trong khi những người bên ngoài như người Trung Quốc và người Nga không thể thâm nhập. Phương pháp mà theo đó Washington, Canberra, và Wellington đã tạo ra các hãng độc quyền về hàng không và quá cảnh biển và yêu cầu thị thực quá cảnh có nghĩa là người Samoa từ nước Samoa độc lập không có thể ghé thăm hòn đảo Samoa thuộc Mỹ gần đó nếu không có giấy phép đặc biệt. Và Cục Mỹ An ninh Nội địa Mỹ quyết định ai sẽ nhận được giấy phép đặc biệt và thị thực quá cảnh, kể cả cho những người đi du lịch với hộ chiếu ngoại giao. Bất kỳ hãng hàng không dự kiến nào ​​kết nối bất kỳ hòn đảo nào trung quá cảnh tại Samoa thuộc Mỹ, Guam, Hawaii đều bắt buộc phải thị thực quá cảnh Mỹ và mà điều này đòi hỏi phỏng vấn khó chịu với nhân viên thực thi pháp luật Hải quan và Di trú Hoa Kỳ.



There is a reason why so many negotiations and agreement to establish the Trans-Pacific Strategic Economic Partnership have been secret. As the title indicates, the TPP, as it is known, is a «strategic» trade bloc, which means it also has a military dimension. In essence, it is no different than the Greater East-Asia Co-Prosperity Sphere established by Imperial Japan during World War II. The United States, not wanting to be viewed as starting the bloc but wanting it to be a replacement for the Cold War military alliance, the Southeast Asia Treaty Organization (SEATO), sat in the background while New Zealand, Singapore, Brunei, and Chile signed up as charter members in 2005.


Có một lý do khiến nhiều cuộc thương thuyết và thỏa thuận thành lập Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) lại bí mật. Mặc dù, theo tên gọi TPP là một khối thương mại chiến lược, nhưng cũng bao gồm các bình diện quân sự. Về bản chất nó không khác mấy so với Khối Đồng thịnh vượng Đại Đông Á mà đế quốc Nhật Bản thành lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Mỹ không muốn bị coi là nước khởi đầu khối này, nhưng mong muốn nó sẽ thay thế cho một liên minh quân sự hồi Chiến tranh Lạnh, Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO). Nằm ở hậu cảnh trong khi New Zealand, Singapore, Brunei, và Chile tham gia như thành viên đặc quyền năm 2005.

As more nations joined, the TTP’s military profile became clearer. The countries that signed up to the TPP were all being groomed for the anti-China military bloc for the Pacific: Australia, Canada, Malaysia, Mexico, Vietnam, Peru, and the United States signed on. Japan, Thailand, South Korea, the Philippines, Colombia, Costa Rica, Laos, and Taiwan later expressed an interest in joining the TPP. The eastward blockade of China became clear. The United States already had existing military alliances with six of the other ten TPP member nations. From Darwin, Australia and Subic Bay, Philippines to Cam Ranh Bay, Vietnam and the U.S. built Mataveri Airport on Easter Island (Rapa Nui), the U.S. was delineating the borders of its own Asia-Pacific Sphere and a line over which China would be warned not to cross.

Khi có càng nhiều nước tham gia thì khía cạnh quân sự của TTP càng rõ ràng. Các nước muốn gia nhập TPP đều chuẩn bị để tham gia một khối quân sự chống Trung Quốc tại Thái Bình Dương, gồm Australia, Canada, Malaysia, Mexico, Vietnam, Peru, và Mỹ đã ký tên. Japan, Thailand, South Korea,  Philippines, Colombia, Costa Rica, Laos, and Taiwan muộn hơn cũng đã bày tỏ quan tâm muốn tham gia TPP. Sự phong tỏa phía Đông Trung Quôc đã trở nên rõ ràng. Mỹ đã có các liên minh quân sự với 6/10 thành viên TPP khác. Từ Darwin, Australia, Vịnh Subic, Philippines đến Vịnh Cam Ranh, Việt Nam và phi trường Mataveri do Mỹ xây dựng trên đảo Phục sinh (Rapa Nui), Mỹ đang vạch ra đường biên giới khu vực ảnh hưởng châu Á-Thái Bình Dương của họ, một đường mà Trung Quốc được cảnh báo là không nên vượt qua.

Mrs. Clinton may have arrived in Rarotonga last year amid waves and smiles but her sinister plans for the Pacific region have more to do with using the Pacific Islanders for cannon fodder in what Washington expects to be a coming regional war with China.
Bà Clinton có thể đã tới Rarotonsa với nụ cười và cả những kế hoạch độc địa của Mỹ đối với khu vực Thái Bình Dương, sử dụng những người dân quốc đảo Thái Bình Dương làm bia đỡ đạn trong một cuộc chiến tranh khu vực sắp tới với Trung Quốc.





http://www.globalresearch.ca/the-pacific-ocean-the-pentagons-next-human-battleground/5320775

What is Constitutionalism? Chủ nghĩa hợp hiến là gì?






What is Constitutionalism?
Chủ nghĩa hợp hiến là gì?
WISE  GEEK
WISE  GEEK


Constitutionalism is a concept in political theory that explains that a government does not derive its power from itself, but gains its power as the result of there being a set of written laws that give the governing body certain powers. This concept is in sharp opposition to monarchies, theocracies, and dictatorships, in which the power does not derive from a pre-drawn legal document. In a monarchy, the power is derived as an inalienable right of the king or queen. In a theocracy, all of the power of a governing party is derived from a set of religious beliefs, which are thought to exist as a result of the will of God, and in a dictatorship, the power is derived from the will of a single or group of people and their ideology, which does not necessarily represent the will of the people.

Trong lý thuyết chính trị, chủ nghĩa hợp hiến là một khái niệm giải thích rằng một chính quyền không thể có được quyền lực từ chính bản thân mình, mà  quyền lực của chính quyền là kết quả của việc có được một văn bản pháp luật mà trao cho thể chế cai trị những quyền lực nhất định. Khái niệm này là đối lập rõ nét với chế độ quân chủ, chế độ thần quyền, và chế độ độc tài, trong đó quyền lực không xuất phát từ một văn bản pháp luật đã được soạn ra trước. Trong chế độ quân chủ, quyền lực bắt nguồn như là quyền bất khả xâm phạm của quân vương hoặc nữ hoàng. Trong một chế độ thần quyền, tất cả sức mạnh của một đảng cầm quyền có nguồn gốc từ một tập hợp các niềm tin tôn giáo, được cho là tồn tại do ý muốn của Thượng đế, và trong một chế độ độc tài, quyền lực được bắt nguồn từ ý chí của một người hoặc một nhóm người và ý thức hệ của họ, mà không không nhất thiết phải đại diện cho ý chí của nhân dân.

Constitutionalism therefore naturally prescribes a system of government in which the government’s powers are limited. Government officials, whether elected or not, cannot act against their own constitutions if they see fit. Constitutional law is the highest body of law in the land, which all citizens, including the government, are subjected to. Several nations around the world have adopted forms of constitutionalism in their governments.

Do đó chủ nghĩa hợp hiến tất nhiên quy định một hệ thống của chính quyền, trong đó quyền lực của chính phủ được giới hạn. Các viên chức chính phủ, dù do dân cử hay không, đều không được hành động chống lại hiến pháp của chính họ nếu hiến pháp ấy phù hợp. Hiến pháp là thể thức luật pháp cao nhất của một đất nước, trong đó mọi công dân, kể cả chính phủ, đều phải tuân thủ. Khá nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các hình thức của chủ nghĩa hợp hiến trong chính phủ của họ.




In the United States, not only does the constitution itself limit the power of the government, it prescribes that the three different branches of the government limit the powers of the other branches of government by imposing a system of checks and balances. For example, in the United States, the president, who is the chief of the executive branch of government, may not declare war on another nation without congressional approval. The United States Constitution was set up in this way to limit the power of any one branch of its government.


Tại Hoa Kỳ, không chỉ bản thân hiến pháp hạn chế quyền lực của chính phủ, mà còn quy định rằng ba ngành khác nhau của chính phủ hạn chế quyền hạn của các ngành khác của chính phủ bằng cách áp đặt một hệ thống kiểm soát và cân bằng. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Tổng Thống, người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ, không thể tuyên bố chiến tranh chống một quốc gia khác mà không có sự chấp thuận của Quốc hội. Hiến pháp Hoa Kỳ được thành lập theo cách này để hạn chế quyền lực của bất kỳ một nhánh nào của chính phủ.

Another form of constitutionalism in the world exists in the United Kingdom, New Zealand, and Israel. These nations all have uncodified constitutions. An uncodified constitution is not a written constitution, but rather a system of unwritten laws, which depend heavily on legislative precedence and parliamentary procedure. Regardless of the lack of an actual physical document in which the supreme law of the land is used, the “constitution” may be referred to in court in these nations, to which the government themselves must also submit and cannot act against.

Một hình thức khác của chủ nghĩa hợp hiến trên thế giới tồn tại ở Vương quốc Anh, New Zealand, và Israel Các quốc gia này có hiến pháp bất thành văn. Một hiến pháp bất thành văn là không phải là một hiến pháp đã được viết ra thành văn bản, mà là một hệ thống luật không được viết ra, mà phụ thuộc rất nhiều vào ưu tiên lập pháp và thủ tục quốc hội. Bất chấp thiếu vắng một văn bản vật thể thực sự, trong đó luật tối cao của đất được sử dụng, loại "hiến pháp" này có thể được tham khảo tại tòa án ở các quốc gia, này, mà bản thân các chính phủ cũng tuân thủ và không thể hành động chống lại.


There is also a different interpretation and usage of the term constitutionalism in political discussion. In prescriptive constitutionalism, the concept focuses on “constitutional questions,” or differing opinions on what a constitution ought to have in its content. An example of this form of constitutionalism exists in American politics, whenever the differing sides of an political debate argue over whether or not the constitution ought to be amended, which the United States Constitution allows to occur.
Ngoài ra còn có một cách giải thích và cách sử dụng khác của thuật ngữ chủ nghĩa hợp hiến trong thảo luận chính trị. Trong chủ nghĩa hợp hiến chính/chuẩn tắc, tiêu điểm chính là các “câu hỏi hiến pháp", hoặc các ý kiến ​​khác nhau về những gì mà hiến pháp cần phải đề cập trong nội dung của nó. Một ví dụ về hình thức này của chủ nghĩa hợp hiến tồn tại trong nền chính trị Mỹ, bất cứ khi nào các bên khác nhau của một cuộc tranh luận chính trị lập luận rằng liệu hiến pháp cần phải được tu chính/sửa đổi hay không, thì Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép điều đó xảy ra.





http://www.wisegeek.com/what-is-constitutionalism.htm