MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – ĐỀ TÀI TỔNG HỢP

SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE WITH "A CORNER OF MINE"

CHIA SẺ TRI THỨC VÀ CẢI THIỆN NGÔN NGỮ VỚI "MỘT GÓC CỦA TÔI"

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOLE SEARCH

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Right Click on the link, choose open link in New tab, type your text and listen to it read in English and several other languages – Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU




Wednesday, February 20, 2013

Helen McFarlane - the radical feminist admired by Karl Marx Người phụ nữ được Karl Marx ngưỡng mộ







Helen McFarlane - the radical feminist admired by Karl Marx

Người phụ nữ được Karl Marx ngưỡng mộ

By Louise Yeoman
BBC Scotland

Louise Yeoman
BBC Scotland




Helen Mcfarlane's life was not like a Jane Austen novel

Cuộc đời của Helen Mcfarlane không giống với các tiểu thuyết của nhà văn Jane Austen (trong ảnh)

Helen Mcfarlane was a radical journalist, admired by Karl Marx, who was the first translator of the Communist Manifesto into English. But why did she vanish from history?

Helen Mcfarlane là một nhà báo cấp tiến, được Karl Marx ngưỡng mộ. Bà là người đầu tiên dịch Cương lĩnh đảng Cộng sản sang tiếng Anh. Vậy tại sao bà lại biến mất khỏi lịch sử?


It is a truth universally acknowledged, that a period drama must be in want of a feisty heroine who finds love at last.

Một thực tế tất cả mọi người đều công nhận rằng đáng làm một bộ phim về người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, người cuối cùng đã tìm được tình yêu.

But our heroine, Helen Macfarlane was no fictional character and her life would have shocked Jane Austen's smocks off.

Nhưng nhân vật chính của chúng ta, Helen Macfarlane, lại không phải là một nhân vật hư cấu và cuộc đời của bà hẳn phải làm cho tác giả Jane Austen rất đỗi ngạc nhiên.

Helen was the very first translator of the Communist Manifesto. Not the one we know today, but a version that carries her own unique voice.

Bà là người đầu tiên dịch Cương lĩnh của Đảng Cộng sản sang tiếng Anh, không phải bản tiếng Anh mà chúng ta biết ngày nay nhưng là bản với giọng văn rất riêng của bà.

Her version begins: "A frightful hobgoblin stalks throughout Europe. We are haunted by a ghost, the ghost of Communism..."

Bản dịch của bà mở đầu: "Một bóng ma đáng sợ đang rình mò trên khắp châu Âu. Chúng ta đang bị ma ám, con ma của chủ nghĩa cộng sản..."

She was moonlighting as a revolutionary journalist, writing under the male pen-name 'Howard Morton' in the fiery pages of 'The Red Republican', one of the very earliest Socialist newspapers.

Bà làm thêm như một nhà báo cách mạng, viết dưới tên hiệu 'Howard Morton' cho trang 'The Red Republican', một trong những tờ báo đầu tiên theo đường lối Xã hội.

And the things she wrote - in a world where even in radical circles 'votes for women' was considered an embarrassing step too far, Helen was a full-blown feminist who dreamed of a world without slaves.

Và những điều bà viết - trong một thế giới nơi thậm chí những nhóm 'phụ nữ đòi quyền bỏ phiếu' cấp tiến bị xem là đi quá xa, thì bà là một đấu tranh cho các quyền của phụ nữ, người mơ ước một thế giới không có người nô lệ.

"A republic without poor; without classes... a society, such indeed as the world has never yet seen, not only of free men, but of free women," she wrote.

"Một nước cộng hòa không có người nghèo, không có các tầng lớp... một xã hội mà thế giới chưa từng được thấy, không chỉ gồm những người đàn ông tự do mà cả những phụ nữ tự do nữa," bà viết.

No wonder Karl Marx called her a 'rara avis', a rare bird, and praised her original ideas.

Không ngạc nhiên gì khi Karl Marx gọi bà là 'rara avis', một con chim hiếm, và ca ngợi những ý tưởng của chính bà.

But Helen vanished from history after a radical junket that went badly wrong.
Left stumped

Nhưng bà đã biến khỏi lịch sử sau một bữa tiệc cấp tiến không diễn ra như dự kiến.
Bàng hoàng

Karl Marx Marx co-authored The Communist Manifesto with Friedrich Engels

Karl Marx và Friedrich Engels là đồng tác giả của Cương lĩnh Đảng Cộng sản

A gossipy letter from Marx revealed that in true Victorian novel style, she was unforgivably snubbed by her editor's jealous wife.

Một lá thư từ Marx tiết lộ với giọng văn đúng kiểu Victoria bà đã bị người vợ đầy ghen tuông của Biên tập viên tờ báo của bà làm mất mặt.

This was her fellow radical Scot, Mary Harney, who 'declined her acquaintance'.
Mary Harney, một người Scotland cấp tiến, đã "từ chối quan hê với bà".

Helen walked out. Historians were left stumped. Nobody knew where Helen came from and nobody knew where she went.

Và bà Helen đã đứng dậy bỏ đi. Các sử gia bị bỏ ngồi lại trong bàng hoàng. Không ai biết bà Helen đến từ đâu và đi đâu.


Along with historian David Black, I decided to find out.

Cùng với sử gia David Black, tôi quyết định tìm hiểu.


Helen had red roots alright - her family came from Scotland's lucrative Turkey red dyeing industry but they were not oppressed members to the proletariat.

Gia đình bà Helen đến từ ngành công nghiệp nhuộm Thổ Nhĩ Kỳ nhưng không thuộc tầng lớp vô sản bị áp bức.

They were the mill owners.

Họ là chủ các nhà máy xay.

Miss Macfarlane was born in 1818 in Crossmill in Barrhead to a well-to-do family who were not afraid to break strikes by using the army.


Bà Macfarlane sinh năm 1818 tại Crossmill ở Barrhead trong một gia đình khá giả những người không ngần ngại phá vỡ các cuộc biểu tình bằng việc dùng tới quân đội.

She lived in a world of fashionable townhouses in Glasgow's Royal Crescent, and smelly but vibrantly radical printworks in Campsie and Crossmill.


Bà sống trong thế giới những ngôi nhà thời thượng ở Royal Crescent của Glasgow, và ở các xưởng in bốc mùi nhưng đầy sức sống tại Campsie và Crossmill.

She learnt German because her family studied their dyes with world-leading scientists in Giessen.

Bà học tiếng Đức vì gia đình bà nghiên cứu nghề nhuộm với các khoa học gia hàng đầu thế giới ở Giessen.

Helen's Communism was steeped in a radical Christianity fresh from Germany”

Chủ nghĩa cộng sản của Helen thấm nhuần trong một căn bản Kitô giáo mới mẻ của nước Đức
But on St Andrew's Day 1842, two weeks after the death of her father, Helen's life turns another sensational page.

Nhưng vào ngày Thánh Andrew, năm 1842, hai tuần sau cái chết của cha bà, cuộc đời của Helen sang một trang mới.


The business went bust. She and her brothers and sisters had to sign away their inheritance.
Công việc kinh doanh bị đổ vỡ. Bà và mấy anh chị em phải ký sang tên tài sản mà họ được thừa hưởng.

Miss Macfarlane had to go into service as a governess.

Macfarlane phải đi làm cô giáo gia sư.

Feminist manifesto

All hopes of a dazzling Jane Austen-style marriage were dashed.

Cương lĩnh Nam nữ bình quyền

Mọi hy vọng có một cuộc hôn nhân hào nhoáng như trong tiểu thuyết của Jane Austen tan vỡ.

Teaching abroad, she witnessed the 1848 revolution in Vienna and turned to revolution herself. 'Howard Morton' was born.

Dạy học ở nước ngoài, bà được chứng kiến cuộc cách mạng năm 1848 tại Vienna và chính bản thân mà đến với cách mạng.

But where did she go after the flounce?

Nhưng bà đã bỏ đi đâu?

South African historian Shelagh Spencer had the answer.

Sử gia Nam Phi Shelagh Spencer có câu trả lời.

Helen had found love. She married a refugee from the 1848 revolutions, Francis Proust and had a baby named like a feminist manifesto of the day - Consuela Pauline Roland Proust.

Helen tìm thấy tình yêu. Bà kết hôn với một người tị nạn từ cuộc cách mạng năm 1848, Francis Proust, rồi sinh con và đặt tên con lấy từ cương lĩnh bình quyền nam nữ của thời đó - Consuela Pauline Roland Proust.

They went to join her aspiring Scots emigrant family who had just gone to Natal in South Africa.

Họ đi sang Natal ở Nam Phi để sống cùng với gia đình bà những người Scotland di trú.

But tragedy struck again - another page in the novel.

Nhưng thảm kịch lại đến một lần nữa - cuộc đời bà mở sang một trang mới.

Helen's ailing husband was taken off the emigrant ship before it left British waters and after the harrowing voyage, her eight-month-old baby died only days after she landed in South Africa.

Người chống ốm yếu của Helen bị đưa đi khỏi con tàu di cư trước cả khi tàu rời bến Anh Quốc và sau chuyến đi rùng rợn đó, người con mới có tám tháng tuổi của bà chết chỉ vài ngày sau khi bà đặt chân tới Nam Phi.

Bereft, Helen returned home. But by now her husband had died, and then another surprise. Reader, she married a vicar.


Đầy đau khổ, Helen hồi hương. Nhưng khí đó, chồng bà đã qua đời, và lại thêm một sự ngạc nhiên mới. Bà kết hôn với một cha xứ.

In the tiny leafy Cheshire parish of Baddiley, under a towering holly tree, you will find the grave of Helen Edwards, wife of the Reverend John Wilkinson Edwards, rector of the parish.

Tại giáo xứ Baddiley bé nhỏ thuộc Cheshire, dưới gốc cây nhựa ruồi lớn, bạn có thể thấy ngôi mộ của Helen Edwards, vợ của cha xứ John Wilkinson Edwards.

She was only 41 when she died in 1860, leaving her own two little toddlers Herbert and Walter behind her.

Bà qua đời năm 1860 khi mới 41 tuổi để lại hai con nhỏ Herbert và Walter.

Working people

But had she given up on the Revolution?
It's possible that she did - but there's one further twist.

Người lao động

Nhưng liệu bà có từ bỏ Cách mạng?
Có lẽ vậy, nhưng chỉ sau một sự kiện khác nữa.

Helen's Communism was steeped in a radical Christianity fresh from Germany.

Chủ nghĩa Cộng sản của bà Helen chìm đắm trong tinh thần Thiên chúa giáo cấp tiến từ Đức.

Jesus was the 'first martyr' of the revolution, the 'Galilean proletarian' who preached to working people.

Chúa Jesus là "thánh tử vì đạo đầu tiên' của cuộc cách mạng, 'người vô sản Galile' truyền đạo cho tầng lớp lao động.

Her revolutionary writing dripped in the Bible.
Everyone was equal across race, class, and sex because God dwelt in everyone.

Những viết lách cách mạng của bà thấm đẫm tinh thần từ Kinh thánh.
Mọi người bất kể chủng tộc, tầng lớp và giới tính đều bình đẳng vì Thượng đế ngụ trong tất cả mọi người.

It was not just immoral to use up your fellow human being for profit - it was blasphemy.

Sử dụng đồng loại để làm lợi không chỉ là vô đạo đức mà còn là báng bổ.

Helen's Hobgoblin was the spirit of Marxist history and class struggle that would inevitably bring on the great day of revolution, but it was a very close cousin to her husband's Holy Spirit and his belief in the great day - the second coming of Jesus.

'Bóng ma' của bà Helen chính là tinh thần của lịch sử chủ nghĩa Marxist và cuộc đấu tranh gia cấp sẽ không tránh khỏi mang đến một ngày cách mạng vĩ đại, nhưng nó rất gần với Đức Chúa của chồng bà và tín ngưỡng của ông về một ngày trọng đại - ngày thứ hai đức Chúa Jesus trở lại.

Even if Helen dialled back her outward radicalism so as not to frighten the horses of the Cheshire Hunt, it is unlikely that her radical thirst for justice ever went away.

Ngay cả khi Helen đã gọi trở lại chủ nghĩa cực đoan bên ngoài của mình để không cảm giác lo sợ những con ngựa of the Hunt Cheshire, thì có lẽ niềm khát khao cấp tiến muốn có công lý của bà đã không bao giờ bị mất đi.



http://www.bbc.co.uk/news/uk-scotland-20475989



Security challenge in 2013 Thách thức an ninh năm 2013






Security challenge in 2013

Thách thức an ninh năm 2013
By Zhang Jie and Li Zhifei

Zhang Jie and Li Zhifei

China Daily
China Daily
Tuesday, Jan 15th
Thứ ba, 15 Tháng 1




The United States' move to bolster its strategic presence in the Asia-Pacific region to contain China's rise and Beijing's response to it will define the security environment in the region in 2013. If Washington is expected to continue exploiting maritime disputes in Asia-Pacific to strengthen its security ties with its allies in the region, China is likely to be more determined to safeguard its maritime territories and sovereignty and resolve the islands disputes in the East China Sea and the South China Sea.

Động thái tăng cường sự hiện diện chiến lược của Hoa Kỳ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc và phản ứng đáp trả của Bắc Kinh đối sẽ xác định môi trường an ninh trong khu vực trong năm 2013. Nếu Washington dự kiến ​​sẽ tiếp tục khai thác các tranh chấp hàng hải trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương tăng cường quan hệ an ninh với các đồng minh trong khu vực, Trung Quốc có thể sẽ có thêm quyết tâm để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền biển của mình và giải quyết các tranh chấp các đảo ở Biển Hoa Đông và Biển Đông.

The US rebalancing in Asia-Pacific, irrespective of whether it succeeds or not, will create security uncertainties in China's neighborhood. It is too early to say whether John Kerry, who succeeds Hillary Clinton as the US secretary of state, will bring in the astute diplomacy of his predecessor to push forward Washington's "return to Asia" strategy. Also, it is uncertain whether the US, with fiscal budget cuts, can strengthen its military presence and hold more large-scale military drills in the Asia-Pacific.

Việc tái cân bằng ở châu Á-Thái Bình Dương Hoa Kỳ, bất chấp có thành công hay không, sẽ tạo ra bất ổn an ninh trong khu vực kế cận của Trung Quốc. Còn quá sớm để nói liệu John Kerry, người kế nhiệm Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, sẽ thừa kế chính sách ngoại giao khôn ngoan của người tiền nhiệm của mình để thúc đẩy Chiến lược "trở lại châu Á" của Washington. Ngoài ra, vẫn không chắc chắn liệu Hoa Kỳ, với các cắt giảm ngân sách tài chính, có thể tăng cường sự hiện diện quân sự của mình và tổ chức nhiều cuộc tập trận quân sự quy mô lớn trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương hay không.

But come what may, China has to work on three fronts in 2013. First, China has to prepare for a new period of Sino-US relations, especially because its foreign policy will need time to adjust after the leadership transition.

Nhưng cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa, Trung Quốc phải làm việc trên cả ba mặt trận trong năm 2013. Thứ nhất, Trung Quốc phải chuẩn bị một giai đoạn mới cho mối quan hệ Trung-Mỹ, nhất là khi chính sách đối ngoại của Bắc Kinh cần thời gian để điều chỉnh sau giai đoạn chuyển đổi lãnh đạo.

The report of the 18th Party Congress says that China will strive to establish relationships of long-term stability and sound growth with other major countries. As the most important world power, the US will continue to be a priority on China's diplomatic agenda. The two countries will enter a period of policy adjustment and adaptation this year, during which it will be a challenge for China to find ways to deal with the US' new Asia-Pacific strategy.

Báo cáo của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 cho rằng Trung Quốc sẽ cố gắng thiết lập các mối quan hệ ổn định lâu dài và phát triển lành mạnh với các nước lớn khác. Là cường quốc thế giới quan trọng nhất, Mỹ sẽ tiếp tục là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Hai nước sẽ bước vào một giai đoạn điều chỉnh chính sách và thích nghi trong năm nay, mà Trung Quốc sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các biện pháp để đối phó với chiến lược châu Á-Thái Bình Dương mới của Mỹ.

Second, China has to respond to the challenges from the Indochina Peninsula. Since Indochina is the meeting point of the Pacific and Indian oceans, the US has been bolstering its strategic presence there. That US President Barack Obama chose Myanmar, which is undergoing political transition, as the first foreign country to visit after his re-election is of more than symbolic significance.

Thứ hai, Trung Quốc phải đối phó với những thách thức từ bán đảo Đông Dương. Bởi vì Đông Dương là giao điểm của các đại dương Thái Bình Dương và Ấn Độ, Mỹ đã được củng cố sự hiện diện chiến lược của họ ở đó. Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chọn Myanmar, đất nước đang trải qua quá trình chuyển đổi chính trị, là nước ngoài đầu tiên ông đến thăm sau khi tái đắc cử có nhiều ý nghĩa hơn  chứ không phải chỉ là tượng trưng.


For China, the Indochina Peninsula is of great security importance, because it is contiguous to the country's southern and southwestern regions and vital for China-Myanmar energy cooperation. The Myanmar-China oil and gas pipeline, which can help China overcome the "Malacca Dilemma", is likely to be completed by the end of this year. But political changes and ethnic conflicts in Myanmar, and the debate on the oil and gas pipeline combined with Washington's changing policy toward Myanmar could make Myanmar's political landscape more complex and uncertain, create new challenges for China-Myanmar energy cooperation and threaten China's energy security.

Đối với Trung Quốc bán đảo Đông Dương rất quan trọng về mặt an ninh tại, bởi khu vực này tiếp giáp với khu vực phía Nam và Tây Nam Trung Quốc và đóng vai trò then chốt trong hợp tác năng lượng Trung Quốc-Mianma. Tuyến đường ống dẫn dầu và khí đốt Mianma-Trung Quốc có khả năng được hoàn thành cuối năm nay. Nhưng những thay đổi chính trị, xung đột sắc tộc ở Mianma và cuộc tranh luận về đường ống dẫn dầu, cùng với chính sách thay đổi của Oasinhtơn đối với Mianma có thể làm cho bức tranh chính trị của Mianma trở nên phức tạp hơn, từ đó gây nhiều trở ngại mới cho hợp tác năng lượng Trung Quốc-Mianma và đe dọa an ninh năng lượng của Trung Quốc.
In short, an unstable Indochina Peninsula will weaken the security environment in China's neighborhood. Therefore, Beijing should prepare for the challenges ahead.

Về ngắn hạn, một bán đảo Đông Dương không ổn định sẽ làm suy yếu môi trường an ninh trong khu vực kế cận của Trung Quốc. Vì vậy, Bắc Kinh cần phải chuẩn bị cho những thách thức phía trước.
Third, China has to meet the challenges posed by maritime disputes. The Diaoyu Islands dispute has become a major diplomatic thorn in China-Japan relations. Now it is up to the new leaders of the two countries to handle the issue. At a meeting of the Central Military Commission, Xi Jinping, China's top political leader and head of the military, told the military to always give priority to the country's sovereignty and security, and improve its deterrent capacity and capability of real combat to protect China's sovereignty, security and development interests. This shows the determination of the new Chinese leadership to safeguard national territory and sovereignty.

Thứ ba, Trung Quốc phải giải quyết những thách thức xuất phát từ các tranh chấp trên Biển Hoa Đông và Biển Đông. Tranh chấp quần đảo Điếu Ngư đã trở thành trở ngại ngoại giao lớn trong quan hệ Trung-Nhật. Tại một cuộc họp gần đây của Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Chủ tịch nước Tập Cận Bình tuyên bố quân đội phải luôn luôn ưu tiên bảo đảm chủ quyền và an ninh của đất nước, nâng cao khả năng ngăn chặn và khả năng tác chiến thực sự để bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển của Trung Quốc. Điều này thể hiện quyết tâm của ban lãnh đạo mới ở Trung Quốc trong việc bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.

The Japanese government's scheme is to occupy the Diaoyu Islands permanently. The "nationalization" of the Diaoyu Islands by the Japanese government is a move aimed at strengthening its "actual control" over the islands in an attempt to turn its illegal occupation into "legal possession".

Trong khi đó, Chính phủ Nhật Bản đang triển khai kế hoạch chiếm đóng lâu dài quần đảo Điếu Ngư. Nhiều khả năng Chính phủ mới của Nhật Bản sẽ tiếp tục chính sách quốc hữu hóa để hợp pháp hóa quần đảo Điếu Ngư và không thỏa hiệp với Trung Quốc. Do đó cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông có thể trở thành mối quan tâm thường trực của cả hai bên.

It is highly likely that the new Japanese government will continue with the "nationalization" policy to "legalize" its occupation of the Diaoyu Islands and refrain from reaching a compromise. As a result, the continued confrontation between China and Japan in the East China Sea could become a permanent concern with uncertainty writ large over it.

Rất có khả năng rằng chính phủ mới của Nhật Bản sẽ tiếp tục chính sách "quốc hữu hóa" để "hợp pháp hóa" việc chiếm đóng quần đảo Điếu Ngư và từ chối thỏa hiệp. Kết quả là, tiếp tục các cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông có thể trở thành nỗi lo thường trực với sự không chắc chắn về diến biến của nó.
So China has to devise ways to strengthen its legal protection mechanisms and grasp the initiative in dealing with the dispute.

Và Trung Quốc sẽ phải tìm cách tăng cường các cơ chế bảo vệ pháp lý và sáng kiến để giải quyết tranh chấp.
With China moving on the road to national rejuvenation, its relations both with the US and neighboring countries will pose huge challenges. On one hand, despite its rising influence overseas, China must adopt a calm, rational and objective attitude to assess its power projection. On the other hand, it must know that it cannot necessarily transform all its strength into "positive energy" to safeguard its interests.

Khi Trung Quốc đang trên đường phát triển, mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước láng giềng sẽ đặt ra những thách thức lớn. Một mặt, bất chấp ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở nước ngoài, Bắc Kinh phải có một thái độ bình tĩnh, hợp lý và khách quan để đánh giá đúng sức mạnh của họ. Mặt khác, Bắc Kinh cần nhận thức được rằng họ nhất thiết biến tất cả sức mạnh thành “năng lượng tích cực” để bảo vệ lợi ích quốc gia.

This makes using its growing strength positively and convincing the US and neighboring countries of China's commitment to peaceful development a comprehensive project beyond the diplomatic realm.

Điều này sẽ khiến Trung Quốc sử dụng sức mạnh đang gia tăng của mình và khiến cho Mỹ cũng như các nước láng giềng nhận thấy Trung Quốc chỉ cam kết phát triển hòa bình trong lời nói, nhưng thực tế đang tăng cường sức mạnh toàn diện.

The year 2013 not only signifies a major point on the road to building a moderately prosperous society in all respects for China, but also the beginning of a difficult period for China and its neighboring countries. And China has to see the new situation more prudently with an eye to seizing the initiatives to decrease the risks for a long-term and interactive resolution to the disputes.

Như vậy, năm 2013 không những sẽ là năm quan trọng của Trung Quốc trên con đường xây dựng một xã hội thịnh vượng trên tất cả các lĩnh vực, mà cũng là sự khởi đầu của một giai đoạn khó khăn trong việc tìm các sáng kiến giảm bớt rủi ro nhằm giải quyết các tranh chấp lâu dài với các nước láng giềng. Và Trung Quốc để xem xét tình hình mới thận trọng hơn, lưu tâm nắm bắt được những sáng kiến ​​để giảm rủi ro đối với một giải pháp lâu dài và tương tác với các tranh chấp.

The authors are with the National Institute of International Strategy under the Chinese Academy of Social Sciences. The article is an excerpt from China's Regional Security Environment Review: 2013.
Các tác giả cộng tác với Viện Chiến lược quốc tế thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Bài viết này là một đoạn trích từ đánh giá môi trường an ninh khu vực của Trung Quốc: 2013.




http://usa.chinadaily.com.cn/china/2013-01/10/content_16100364.htm

The Fall and Rise of the West Sự suy trầm và trổi dậy của phương Tây






The Fall and Rise of the West

Sự suy trầm trổi dậy của phương Tây

Roger C. Altman
Foreign Affairs
04-02-2013

Roger C. Altman
Foreign Affairs
04-02-2013



Why America and Europe Will Emerge Stronger From the Financial Crisis

Tại sao Mỹ và Châu Âu sẽ nổi lên mạnh mẽ hơn từ cuộc khủng hoảng tài chính
The 2008 financial crisis and the Great Recession that followed have had devastating effects on the U.S. economy and millions of American lives. But the U.S. economy will emerge from its trauma stronger and widely restructured. Europe should eventually experience a similar strengthening, although its future is less certain and its recovery will take longer to develop. The United States is much further along because its financial crisis struck three years before Europe’s, in 2008, causing headwinds that have pressured it ever since. It will take another two to three years for these to subside, but after that, U.S. economic growth should outperform expectations. In contrast, Europe is still in the midst of its financial crisis. If historical logic prevails there, it will take four to six years for strong European growth to materialize.

2008 cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái Great sau đó đã có tác động tàn phá đối với nền kinh tế Mỹ và hàng triệu người Mỹ. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ sẽ nổi lên từ chấn thương của nó mạnh hơn và tái cơ cấu rộng rãi. Châu Âu cuối cùng sẽ trải nghiệm một tăng cường tương tự, mặc dù tương lai của nó là ít chắc chắn hơn và phục hồi của nó sẽ mất nhiều thời gian để phát triển. Hoa Kỳ là nhiều hơn nữa cùng vì cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ba năm trước khi châu Âu, trong năm 2008, gây ra những cơn gió ngược đã gây áp lực nó từ bao giờ. Nó sẽ mất 2-3 năm để cho các giảm dần, nhưng sau đó, kinh tế Mỹ tăng trưởng tốt hơn mong đợi. Ngược lại, châu Âu vẫn còn ở giữa của cuộc khủng hoảng tài chính. Nếu lịch sử lý chiếm ưu thế đó, nó sẽ mất 4-6 năm cho Châu Âu cũng tăng mạnh mẽ trở thành hiện thực.


Such strengthening in both regions will occur for one major reason: the crisis years have triggered wide economic restructuring. Sweeping changes in government finances, banking systems, and manufacturing are under way, as are structural reforms in labor markets. All this is proving once again that global capital markets, the most powerful economic force on earth, can effect changes beyond the capacity of normal political processes. And in this case, they can refute all the forecasts of Western economic decline. Indeed, in the years ahead, the United States and Europe could once again become locomotives for global economic growth.

Như tăng cường ở cả hai miền sẽ xảy ra một trong những lý do quan trọng: những năm khủng hoảng đã kích hoạt chuyển dịch cơ cấu kinh tế rộng. Thay đổi sâu rộng trong các nguồn tài chính của chính phủ, hệ thống ngân hàng, và sản xuất đang được tiến hành, cũng như những cải cách cơ cấu trong thị trường lao động. Tất cả điều này được chứng minh một lần nữa rằng các thị trường vốn toàn cầu, lực kinh tế mạnh nhất trên trái đất, có thể ảnh hưởng thay đổi vượt quá khả năng của các quá trình chính trị bình thường. Và trong trường hợp này, họ có thể bác bỏ tất cả các dự báo về suy giảm kinh tế phương Tây. Thật vậy, trong những năm tới, Mỹ và châu Âu có thể lại một lần nữa trở thành đầu máy tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

This is not to say that the crises were worth the pain; they most definitely were not. There is palpable suffering on both sides of the Atlantic due to unemployment and government austerity measures. It is tragic that so many people have lost their jobs and will never recover them. And it is socially corrosive that the crises have accentuated existing trends toward greater income inequality. But these events happened, and the subject being addressed here is their long-term impact.

Đây không phải là để nói rằng các cuộc khủng hoảng giá trị cơn đau, họ chắc chắn không. Có thể cảm nhận được đau khổ trên cả hai mặt của Đại Tây Dương do thất nghiệp và biện pháp khắc khổ của chính phủ. Đó là bi kịch mà rất nhiều người đã bị mất việc làm của họ và sẽ không bao giờ khôi phục lại chúng. Và đó là xã hội có tính ăn mòn các cuộc khủng hoảng đã nhấn mạnh xu hướng hiện tại đối với bất bình đẳng về thu nhập lớn hơn. Tuy nhiên, những sự kiện này xảy ra, và các đối tượng được giải quyết ở đây là tác động lâu dài của họ.

The U.S. economy has been expanding — albeit in fits and starts — since the recession’s trough, in June 2009. Europe, however, is on an entirely different timetable. Unlike those in the United States, Europe’s financial systems did not implode in 2008. There were severe problems in Ireland and the United Kingdom, but capital markets did not revolt against Europe as a whole, and thus there was not a large fiscal or monetary response. It was not until 2012, when the sovereign debt and banking crises hit the continent in full force, that the eurozone confronted problems comparable to those that had afflicted the U.S. economy in 2008–9. As of today, therefore, the eurozone’s GDP is still shrinking, and its recession may not have bottomed out yet. Having experienced its crisis first, the United States now faces a shorter path to recovery. Yet if European countries can restructure their economies to the degree that the United States has, there will be cause for optimism.

Nền kinh tế Mỹ đã được mở rộng - dù ở phù hợp và bắt đầu - kể từ đáy của suy thoái kinh tế, trong tháng 6 năm 2009. Châu Âu, tuy nhiên, là một thời gian biểu hoàn toàn khác nhau. Không giống như những người ở Hoa Kỳ, hệ thống tài chính của châu Âu đã không nổ tung vào năm 2008. Có những vấn đề nghiêm trọng ở Ireland và Vương quốc Anh, nhưng thị trường vốn đã không phải nổi dậy chống lại châu Âu như một toàn thể, và do đó không có một phản ứng tài chính hoặc tiền tệ lớn. Đó không phải là cho đến năm 2012, khi nợ và khủng hoảng ngân hàng lục địa có hiệu lực đầy đủ, khu vực đồng tiền chung châu Âu đối mặt với vấn đề so sánh với những người đã bị ảnh hưởng nền kinh tế Mỹ trong 2008-9. Tính đến hôm nay, do đó, GDP của khu vực đồng euro vẫn còn thu hẹp lại, và suy thoái kinh tế của nó có thể đã chạm đáy chưa. Sau khi trải qua cuộc khủng hoảng đầu tiên, Hoa Kỳ bây giờ phải đối mặt với một con đường ngắn hơn để phục hồi. Tuy nhiên, nếu các nước châu Âu có thể cơ cấu lại nền kinh tế của họ đến mức độ rằng Hoa Kỳ có, sẽ có lý do để lạc.

Rogoff have argued that periods of economic recovery after financial crises are slower, longer, and more turbulent than those following recessions induced by the business cycle. The painfully slow recovery in the United States and the sharp economic stress in Europe corroborate this thesis. But history is filled with examples of countries whose economies grew stronger after financial implosions. Following the Asian financial crisis of 1997–98, South Korea accepted a tough bailout package from the International Monetary Fund, strengthened its financial system, and increased the flexibility of its labor markets; soon thereafter, it enjoyed an economic boom. In Mexico, the economy has performed well ever since the collapse of the peso and the U.S. rescue package of 1994. A similar phenomenon occurred in parts of Latin America following the sovereign debt crises there in the late 1980s. Although these financial crises were far smaller than the 2008 collapse in the United States, they followed the same pattern, with capital markets rejecting the old order — and then inducing major economic restructuring.

Các nhà kinh tế Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff đã lập luận rằng thời kỳ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính có chậm hơn, dài hơn, và nhiều hơn nữa hỗn loạn hơn so với những cuộc suy thoái gây ra bởi chu kỳ kinh doanh. Đau đớn chậm phục hồi tại Hoa Kỳ và sự căng thẳng mạnh kinh tế ở châu Âu chứng minh luận án này. Nhưng lịch sử được làm đầy với các ví dụ của các nước có nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ hơn sau khi implosions tài chính. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-98, Hàn Quốc chấp nhận một gói cứu trợ khó khăn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), củng cố hệ thống tài chính, và tăng tính linh hoạt của thị trường lao động của mình, ngay sau đó, nó rất thích sự bùng nổ kinh tế. Ở Mexico, nền kinh tế đã thực hiện tốt kể từ khi sự sụp đổ của đồng peso và gói giải cứu của Mỹ năm 1994. Một hiện tượng tương tự xảy ra trong các bộ phận của châu Mỹ La tinh sau các cuộc khủng hoảng nợ có chủ quyền ở đó vào cuối những năm 1980. Mặc dù các cuộc khủng hoảng tài chính nhỏ hơn so với sự sụp đổ năm 2008 tại Hoa Kỳ, họ theo cùng một khuôn mẫu, với các thị trường vốn từ chối trật tự cũ - và sau đó lôi kéo lớn chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
The economists Carmen Reinhart and Kenneth
RESTRUCTURING AMERICA

Các kinh tế gia Carmen Reinhart và Kenneth
TÁI CẤU TRÚC NƯỚC MỸ
Why will the recent crises eventually strengthen the U.S. and European economies? In the United States, a resurgent housing sector, a revolution in energy production, a remodeled banking system, and a more efficient manufacturing industry will fuel a boom. Meanwhile, the reelection of President Barack Obama and the looming “fiscal cliff” have increased the prospects of a grand bargain on deficit reduction and a solution to the country’s debt problem.

Tại sao các cuộc khủng hoảng gần đây cuối cùng tăng cường nền kinh tế Mỹ và châu Âu? Tại Hoa Kỳ, một khu vực nhà đất đang hồi sinh, một cuộc cách mạng trong sản xuất năng lượng, một hệ thống ngân hàng remodeled, một ngành công nghiệp và sản xuất hiệu quả hơn nhiên liệu cho một sự bùng nổ. Trong khi đó, tái tranh cử của Tổng thống Barack Obama và hiện ra lờ mờ "vách đá tài chính" đã làm tăng triển vọng của một sự nhượng bộ lớn về giảm thâm hụt ngân sách và một giải pháp cho vấn đề nợ của đất nước.

First, after suffering a catastrophic collapse, the U.S. housing market is now poised for major, multiyear growth. Historically, when the U.S. housing sector has been pushed down far enough for long enough periods of time, it has eventually rebounded to very high levels. Before the recent crisis, the housing bubble had inflated so much that when it finally burst, the sector truly collapsed. Between 2000 and 2004, an average of 1.4 million single-family homes were built per year, but that number declined to 500,000 after the crisis and remained there until recently. Sales of new homes, which averaged 900,000 per year during the bubble, fell by two-thirds after the bubble popped. And overall residential investment, which accounted for four percent of U.S. GDP from 1980 to 2005, has averaged only 2.5 percent since 2008.

Đầu tiên, sau khi bị sụp đổ thảm khốc, thị trường nhà đất hiện đang sẵn sàng cho sự tăng trưởng lớn kéo dài nhiều năm,. Trong lịch sử, khi khu vực nhà đất đã được đẩy xuống đủ xa trong thời gian dài đủ thời gian, nó đã dần dần hồi phục đến mức rất cao. Trước khi cuộc khủng hoảng gần đây, bong bóng nhà đất đã tăng cao rất nhiều mà khi nó vỡ, khu vực kinh tế thực sự sụp đổ. Giữa năm 2000 và 2004, trung bình 1,4 triệu một gia đình, nhà cửa được xây dựng mỗi năm, nhưng con số này giảm đến 500.000 sau khủng hoảng và ở lại đó cho đến gần đây. Doanh số bán nhà mới, trung bình 900.000 mỗi năm trong bong bóng, giảm hai phần ba sau khi các bong bóng xuất hiện. Và tổng thể khu dân cư đầu tư, chiếm 4% GDP của Mỹ từ 1980 đến 2005, trung bình chỉ có 2,5% từ năm 2008.
Although the housing collapse meant disaster for millions of homeowners who could not service their mortgages, it also cleared out the abuses and excesses that had plagued the sector for years. As a result, U.S. banks have spent the last few years improving their mortgage-underwriting standards and securitization markets, and household attitudes toward mortgages and home-equity financing have become healthier. Now, the housing sector has finally turned a corner, with a key home price index — the S&P/Case-Shiller 20-city composite — rising by eight percent since March 2012. The levels of relevant supply have fallen sharply (in other words, fewer homes are for sale), mortgage credit is more readily available, and population growth, coupled with a recovery in household-formation rates, is likely to drive high demand — all of which means that house prices are bound to keep growing. These factors are likely to boost total residential investment, which includes new construction and home remodeling, by 15–20 percent over the next five years. This change alone could add one percentage point to annual U.S. GDP growth and as many as four million new jobs to the economy.

Mặc dù sự sụp đổ nhà ở có nghĩa là thảm họa cho hàng triệu chủ nhà không thể phục vụ thế chấp, nó cũng xóa sạch các vi lạm dụng và thái quá đã cản khu vực trong nhiều năm. Kết quả là, các ngân hàng Mỹ đã trải qua những năm cuối cùng cải thiện thế chấp bảo lãnh của họ tiêu chuẩn và thị trường chứng khoán, và thái độ của hộ gia đình đối với các khoản thế chấp và tài chính nhà vốn chủ sở hữu đã trở nên khoẻ mạnh. Bây giờ, lĩnh vực nhà đất cuối cùng đã quay một góc, với một chỉ số giá nhà chính S & P / Case-Shiller 20 thành phố tổng hợp - tăng 8% kể từ tháng ba năm 2012. Mức cung cấp có liên quan đã giảm mạnh (nói cách khác, nhà ít để bán), tín dụng thế chấp là có sẵn, và tăng trưởng dân số, cùng với sự phục hồi trong hình thành giá hộ gia đình, có khả năng để lái xe có nhu cầu cao - tất cả điều đó có nghĩa rằng giá nhà đang bị ràng buộc để tiếp tục phát triển. Những yếu tố này có khả năng tăng tổng vốn đầu tư khu dân cư, trong đó bao gồm xây dựng mới và tu sửa nhà, bằng 15-20 phần trăm trong vòng năm năm tới. Sự thay đổi này một mình có thể thêm một điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP hàng năm của Mỹ và bao nhiêu là bốn triệu việc làm mới cho nền kinh tế.
Second, new technologies are producing a spectacular turnaround in U.S. oil and gas production. Advanced seismic techniques and innovative approaches to hydraulic fracturing and horizontal drilling have opened energy deposits that were previously unknown or inaccessible. The result has been a dramatic recovery of both the natural gas and the oil industries. In 2012, U.S. natural gas output reached 65 billion cubic feet per day, which is 25 percent higher than it was five years ago and an all-time record. Shale gas accounted for much of this increase. Meanwhile, U.S. oil output has soared. It is estimated that in 2012 alone, the production of oil and other liquid hydrocarbons, such as biofuels, rose by seven percent, to 10.9 million barrels per day. This marks the largest single-year increase since 1951.


Thứ hai, công nghệ mới đang sản xuất một sự thay đổi ngoạn mục ở Mỹ sản xuất dầu và khí. Kỹ thuật tiên tiến địa chấn và phương pháp tiếp cận sáng tạo để bẻ gãy thủy lực và khoan ngang đã mở tiền gửi năng lượng mà trước đó chưa biết hoặc không thể tiếp cận. Kết quả là một sự phục hồi mạnh mẽ của khí tự nhiên và các ngành công nghiệp dầu. Trong năm 2012, sản lượng khí đốt tự nhiên của Mỹ đạt 65 tỷ feet khối mỗi ngày, đó là 25% cao hơn so với năm năm trước đây và ghi lại tất cả các thời gian. Shale khí chiếm phần lớn sự gia tăng này. Trong khi đó, sản lượng dầu của Mỹ đã tăng vọt. Theo ước tính, chỉ trong năm 2012, việc sản xuất dầu và hydrocarbon lỏng khác, như nhiên liệu sinh học, tăng bảy phần trăm, lên 10,9 triệu thùng mỗi ngày. Điều này đánh dấu sự gia tăng một năm lớn nhất kể từ năm 1951.
Moving forward, the U.S. Department of Energy forecasts that American liquid hydrocarbon production will rise another 500,000 barrels in 2013, and the International Energy Agency projects that the United States will surpass Saudi Arabia as the world’s largest oil producer by about 2017. Overall, this energy boom could add three percent to U.S. GDP over the next decade, in addition to as many as three million direct and indirect jobs, almost all of which will pay high wages. The United States could cut its oil imports by one-third, improving its balance-of-payments deficit. Also, the higher natural gas output will reduce the average consumer’s utility bill by almost $1,000 per year, representing a further stimulus to the U.S. economy. And the American public’s hunger for economic recovery and jobs has softened opposition to this energy revolution.

Di chuyển về phía trước, Bộ Năng lượng Mỹ dự báo sản xuất hydrocarbon lỏng của Mỹ sẽ tăng thêm 500.000 thùng trong năm 2013, và các dự án Cơ quan Năng lượng Quốc tế rằng Hoa Kỳ sẽ vượt qua Ả-rập Xê-út là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới khoảng 2017. Nhìn chung, đây bùng nổ năng lượng có thể thêm ba phần trăm GDP của Mỹ trong thập kỷ tới, ngoài bao nhiêu là ba triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, gần như tất cả trong số đó sẽ trả lương cao. Hoa Kỳ có thể cắt giảm nhập khẩu dầu của mình bằng một phần ba, cải thiện cán cân thanh toán thâm hụt. Ngoài ra, cao hơn sản lượng khí đốt tự nhiên sẽ làm giảm hóa đơn tiện ích của người tiêu dùng trung bình là gần $ 1.000 mỗi năm, đại diện cho một gói kích thích nền kinh tế Mỹ. Và đói cho phục hồi kinh tế và việc làm của công chúng Mỹ đã làm mềm đối lập với cuộc cách mạng năng lượng.
Third, negative publicity aside, the U.S. banking system has been recapitalized and thoroughly restructured since 2008. No one could have reasonably imagined the speed of the improvements in banks’ capital and liquidity ratios that have occurred since then. The largest banks have consistently passed the rigorous stress tests administered by the U.S. Federal Reserve, and, surprisingly, they are well ahead of schedule in meeting their required capital ratios under the Basel III international regulatory framework. Midsize banks are in even better shape. Although the job is not yet finished, these institutions have rapidly rid themselves of their troubled legacy assets, especially mortgage-backed securities. Both large and midsize banks have divested from broad swaths of assets and raised substantial new capital from public and private sources. In many cases, moreover, they have revamped their management teams and boards of directors. In light of these changes, the earlier, acute concerns about the financial stability of U.S. banks have largely dissipated.

Thứ ba, công khai tiêu cực sang một bên, hệ thống ngân hàng đã được recapitalized và triệt để cơ cấu lại từ năm 2008. Không ai có thể tưởng tượng tốc độ của những cải thiện về vốn của ngân hàng và các chỉ số thanh khoản đã xảy ra kể từ đó hợp lý. Các ngân hàng lớn đã thống nhất thông qua các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt quản lý Dự trữ Liên bang Mỹ, và, đáng ngạc nhiên, họ cũng trước thời hạn trong việc đáp ứng yêu cầu tỷ lệ vốn của mình theo khuôn khổ Basel III quy định quốc tế. Ngân hàng hạng trung là trong hình dạng tốt hơn. Mặc dù công việc vẫn chưa kết thúc, các tổ chức này đã nhanh chóng thoát khỏi bản thân tài sản di sản đang gặp khó khăn của họ, đặc biệt là các chứng khoán thế chấp. Cả hai ngân hàng lớn và trung bình có từ bỏ từ những mảng rộng của các tài sản và lớn lên đáng kể vốn mới từ các nguồn công cộng và tư nhân. Trong nhiều trường hợp, hơn nữa, họ đã sửa lại đội ngũ quản lý, Ban Giám đốc. Trong ánh sáng của những thay đổi này, trước đó, mối quan tâm cấp tính về sự ổn định tài chính của các ngân hàng Mỹ phần lớn đã tiêu tan.


In fact, banks are already lending aggressively again to both businesses and consumers. According to the Federal Reserve, outstanding loans to U.S. businesses now total $1.45 trillion, having increased at double-digit rates for each of the past four quarters. This number is still below the 2008 peak, but the gap is closing quickly. In terms of consumer credit, the previous record high was surpassed in 2011, and the total rose by another three to four percent in 2012. All this credit is boosting GDP growth, and the banking sector is likely to expand its loan totals consistently over the next few years.

Trong thực tế, các ngân hàng đã cho vay mạnh mẽ một lần nữa để cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Theo Cục Dự trữ Liên bang, dư nợ cho vay các doanh nghiệp Mỹ hiện nay tổng số 1,45 nghìn tỷ đồng, tăng hai con số cho mỗi 4/4 vừa qua. Con số này vẫn dưới mức đỉnh năm 2008, nhưng khoảng cách là đóng cửa một cách nhanh chóng. Trong điều khoản của tín dụng tiêu dùng, mức cao kỷ lục trước đó đã được vượt qua trong năm 2011, và tổng số tăng thêm 3-4% vào năm 2012. Tất cả điều này tín dụng thúc đẩy tăng trưởng GDP, và lĩnh vực ngân hàng có khả năng mở rộng tổng số cho vay liên tục trong vài năm tới.


Fourth, the Great Recession has quietly spurred greater efficiencies in the U.S. manufacturing sector. Unit production costs are down by 11 percent in the United States compared with ten years ago, even as they continue to rise in many other industrialized countries. And the differences between U.S. and Chinese labor costs are narrowing. The U.S. economy has added half a million new manufacturing jobs since 2010, and this growth should persist for a number of years. The transformation of the U.S. manufacturing sector is perhaps best reflected in the auto industry. In 2005, U.S. automakers’ hourly labor costs were 40 percent higher than those of foreign producers that operate plants in the United States. But today, these costs are virtually identical, and the Big Three — Chrysler, Ford, and General Motors — have regained market share in North America.

Thứ tư, cuộc Đại suy thoái đã lặng lẽ thúc đẩy hiệu quả cao hơn trong lĩnh vực sản xuất của Mỹ. Đơn giá chi phí sản xuất xuống 11% ở Hoa Kỳ so với mười năm trước đây, ngay cả khi họ tiếp tục tăng lên ở nhiều nước công nghiệp khác. Và sự khác biệt giữa Mỹ và chi phí lao động Trung Quốc đang thu hẹp. Nền kinh tế Mỹ đã có thêm nửa triệu việc làm sản xuất mới từ năm 2010, và sự tăng trưởng này nên kéo dài một số năm. Sự biến đổi của khu vực sản xuất của Mỹ có lẽ là tốt nhất phản ánh trong ngành công nghiệp tự động. Trong năm 2005, chi phí lao động theo giờ của Mỹ là 40% cao hơn so với các nhà sản xuất nước ngoài hoạt động các nhà máy tại Hoa Kỳ. Nhưng ngày nay, các chi phí này hầu như giống hệt nhau, và Big Three - Chrysler, Ford và General Motors - đã lấy lại thị phần ở Bắc Mỹ.

The resurgence of the housing and energy sectors will also positively affect the manufacturing industry. Given that the outlook for residential construction is so strong — and considering that new homes contain so many manufactured products — further manufacturing job growth is a near certainty. Moreover, decreasing natural gas prices will aid the petrochemical sector and all types of manufacturing that use this fuel.

Sự trỗi dậy của các lĩnh vực nhà ở và năng lượng cũng sẽ ảnh hưởng tích cực đến ngành công nghiệp sản xuất. Cho rằng triển vọng để xây chung cư là rất mạnh mẽ - và xem xét rằng ngôi nhà mới có chứa rất nhiều sản phẩm được sản xuất tiếp tục tăng trưởng sản xuất công việc là gần như chắc chắn. Hơn nữa, giảm giá khí đốt tự nhiên sẽ hỗ trợ các lĩnh vực hóa dầu và tất cả các loại sản xuất sử dụng nhiên liệu này.

Finally, although there are no guarantees, the chances that Washington will fix the national debt problem have increased. With Obama citing deficit reduction as the foremost goal of his second term — and with election results that were unfavorable to Republicans, whose anti-tax position now lacks public sanction — the prospects for a decisive deficit-reduction agreement have improved. If this occurs in 2013, it will provide a further boost to business and investor confidence, as well as to overall private investment.

Cuối cùng, mặc dù không có bảo đảm, cơ hội là Washington sẽ khắc phục vấn đề nợ quốc gia đã tăng lên. Với Obama trích dẫn giảm thâm hụt ngân sách là mục tiêu quan trọng nhất của nhiệm kỳ thứ hai của mình - và với kết quả bầu cử là bất lợi cho đảng Cộng hòa, chống thuế vị trí bây giờ thiếu xử phạt công cộng - triển vọng cho một thỏa thuận giảm thâm hụt ngân sách quyết định đã được cải thiện. Nếu điều này xảy ra vào năm 2013, nó sẽ cung cấp hơn nữa để thúc đẩy kinh doanh và niềm tin của các nhà đầu tư, cũng như đầu tư tư nhân nói chung.
HOPE FOR EUROPE
       
In Europe, there is less evidence, so far, that economies will emerge stronger from the crisis years. This is largely because after a sharp dip in 2008, Europe was recovering until the eurozone’s twin sovereign debt and banking crises struck in 2011. Furthermore, compared with that of the United States, the amount of economic restructuring required in Europe is deeper and harder to achieve. In part, this reflects the sheer complexity of the European Union, which is composed of 27 very different countries. It is also an outgrowth of the inherently inflexible, sclerotic nature of many European economies. Therefore, the consequences of the European crisis and the question of whether it will truly lead to wide-scale restructuring remain unclear. Nevertheless, it is logical that large and positive changes could emerge, and a few encouraging signs are already visible. The eurozone has been fitfully moving toward fiscal union and banking reform. Across the EU, economies are boosting their productivity and making their exports more competitive, and governments are reining in their public sectors.

Hy vọng cho châu Âu

Tại châu Âu, có ít bằng chứng, cho đến nay, các nền kinh tế sẽ nổi lên mạnh mẽ hơn từ những năm khủng hoảng. Điều này phần lớn là bởi vì sau khi một sự sụt giảm mạnh trong năm 2008, châu Âu đang phục hồi cho đến khi sinh đôi của khu vực đồng tiền chung châu Âu nợ và khủng hoảng ngân hàng xảy ra vào năm 2011. Hơn nữa, so với Hoa Kỳ, số lượng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở châu Âu là sâu hơn và khó khăn hơn để đạt được. Điều này một phần phản ánh sự phức tạp tuyệt đối của Liên minh châu Âu, trong đó bao gồm 27 quốc gia rất khác nhau. Đây cũng là một kết quả tự nhiên về bản chất linh hoạt vốn đã xơ cứng, nhiều nền kinh tế châu Âu. Vì vậy, hậu quả của cuộc khủng hoảng châu Âu và câu hỏi liệu nó có thực sự sẽ dẫn đến tái cơ cấu quy mô rộng vẫn còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, nó là hợp lý rằng những thay đổi lớn và tích cực có thể nổi lên, và một vài dấu hiệu đáng khích lệ là đã có thể nhìn thấy. Khu vực đồng tiền chung châu Âu đã được fitfully di chuyển về phía liên minh tài chính và cải cách ngân hàng. Trên toàn EU, các nền kinh tế đang thúc đẩy năng suất của họ và làm cho xuất khẩu của họ trở nên cạnh tranh hơn, và chính phủ đang kiềm chế trong các lĩnh vực công cộng của họ.

There are also precedents within Europe of restructuring and strengthening after major financial crises, such as Sweden’s experience in the 1990s. In that case, a credit and real estate boom coincided with a long period of public-sector expansion and a debt-to-GDP ratio of around 80 percent. Sweden, at the time, was widely considered the model of the European welfare state. In 1992, however, its banking system collapsed and unemployment rose to 12 percent, triggering wide-ranging economic, fiscal, and banking reform. Stockholm raised taxes, deregulated the electricity and telecommunications sectors, and slashed federal spending, including on pensions and unemployment benefits. All these steps improved Swedish competitiveness and boosted GDP growth, which rebounded to four percent two years later, in 1994.

Ngoài ra còn có tiền lệ ở châu Âu của tái cơ cấu và tăng cường sau khi cuộc khủng hoảng tài chính lớn, chẳng hạn như kinh nghiệm của Thụy Điển trong những năm 1990. Trong trường hợp đó, sự bùng nổ tín dụng và bất động sản thực sự trùng hợp với một thời gian dài mở rộng lĩnh vực công cộng và tỷ lệ nợ so với GDP khoảng 80%. Thụy Điển, vào thời điểm đó, được coi là mô hình nhà nước phúc lợi châu Âu. Tuy nhiên, vào năm 1992, hệ thống ngân hàng sụp đổ và thất nghiệp tăng lên 12%, gây ra những cải cách kinh tế, tài chính, ngân hàng trên phạm vi rộng. Stockholm tăng thuế, bãi bỏ quy định ngành điện, viễn thông, và cắt giảm chi tiêu liên bang, bao gồm cả lương hưu và trợ cấp thất nghiệp. Tất cả các bước cải thiện khả năng cạnh tranh của Thụy Điển và thúc đẩy tăng trưởng GDP, tăng trở lại bốn phần trăm hai năm sau, vào năm 1994.
In the eurozone today, governments are making tentative progress. Consider, for a start, the fiscal side, where there has been movement toward instituting a central fiscal authority with meaningful control over budgets and debt on a country-by-country basis. The eurozone members will probably not accord the eventual fiscal union with the legal authority to completely reject national budgets. Still, if it has credibility in financial markets, the fiscal union will possess real power, because its expressions of disapproval could induce punitive reactions from those markets.

Trong khu vực châu Âu ngày hôm nay, các chính phủ đang làm cho tiến độ dự kiến. Xem xét, cho một khởi đầu, phía bên tài chính, nơi có phong trào hướng tới instituting một cơ quan trung tâm tài chính có kiểm soát có ý nghĩa hơn ngân sách và nợ trên cơ sở quốc gia nước. Các thành viên khu vực đồng euro có thể sẽ không phù hợp các công đoàn cuối cùng tài chính với cơ quan pháp luật để hoàn toàn từ chối ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, nếu nó có uy tín trong thị trường tài chính, liên minh tài chính sẽ có quyền lực thực sự, bởi vì biểu thức không chấp thuận có thể gây ra các phản ứng trừng phạt từ những thị trường này.

Second, the eurozone’s decision to give the European Central Bank supervision over the continent’s largest private banks is also a major step forward. As a result of this move, these banks will finally be regulated in a modern, transparent, and independent fashion — a far cry from the present situation, in which weak local overseers coddle the banks. It also moves the European Central Bank closer to the more powerful and flexible model of the U.S. Federal Reserve. This is an essential change.

Thứ hai, quyết định của khu vực đồng tiền chung châu Âu để cung cấp cho sự giám sát của Ngân hàng Trung ương châu Âu qua các ngân hàng tư nhân lớn nhất của lục địa này cũng là một bước tiến lớn. Như một kết quả của động thái này, các ngân hàng này cuối cùng cũng sẽ được quy định trong một thời trang hiện đại, minh bạch, và độc lập, khác xa với tình hình hiện nay, trong đó yếu địa phương đốc công chiều chuộng các ngân hàng. Nó cũng di chuyển của Ngân hàng Trung ương châu Âu gần gũi hơn với mô hình công cụ mạnh mẽ và linh hoạt hơn của Fed. Đây là một sự thay đổi cần thiết.

To fully repair its banking system, the eurozone needs an entity similar to the United States’ Troubled Asset Relief Program, known as TARP, and the recapitalization of Spain’s banks is a first step in that direction. The EU’s bailout fund, the European Stability Mechanism, is providing Spanish banks with capital conditional on an overall cleanup of their balance sheets. If this approach were adopted throughout Europe, it would ultimately produce a healthier financial system.

Đầy đủ sửa chữa hệ thống ngân hàng, khu vực đồng tiền chung châu Âu cần một thực thể tương tự như Chương trình Troubled của Hoa Kỳ cứu trợ tài sản, được gọi là TARP, và tái cấp vốn của các ngân hàng của Tây Ban Nha là một bước đầu tiên theo hướng đó. Quỹ cứu trợ của EU, Cơ chế ổn định châu Âu, được cung cấp cho các ngân hàng Tây Ban Nha với vốn có điều kiện dọn dẹp tổng thể của bảng cân đối kế toán của họ. Nếu phương pháp này đã được áp dụng trên toàn châu Âu, cuối cùng nó sẽ tạo ra một hệ thống tài chính lành mạnh.

Third, some countries in Europe are in the process of improving their structural productivity problems, which were a major, albeit less widely noted, contributor to the crisis. It looks increasingly possible that the least competitive European economies, mainly located along the continent’s southern periphery, will make substantial improvements in productivity. Without local currencies to depreciate, these countries have been cutting costs through internal devaluations, which involve cutting labor inputs. In Greece, Portugal, and Spain — the eurozone countries under the most financial pressure — unit labor costs have fallen significantly since 2010. These countries have also initiated crucial labor-market reforms, such as curbing minimum-wage requirements and eliminating restrictions on hiring, firing, and severance. Ireland’s path is instructive. After the Irish banking system collapsed in 2008, Dublin cut manufacturing costs sharply and boosted productivity. Today, just a few years removed from its crisis, Ireland is again one of the most efficient places in Europe for production.


Thứ ba, một số quốc gia ở châu Âu đang trong quá trình cải thiện vấn đề năng suất cấu trúc của chúng, đó là một chính, mặc dù đóng góp, ít người chú ý với cuộc khủng hoảng. Có vẻ ngày càng có thể rằng các nền kinh tế cạnh tranh nhất châu Âu, chủ yếu nằm dọc theo ngoại vi phía nam của lục địa này, sẽ cải thiện đáng kể về năng suất. Nếu không có đồng nội tệ để giảm giá, các quốc gia này đã được cắt giảm chi phí thông qua phá giá đồng nội bộ, trong đó liên quan đến lao động cắt. Tại Hy Lạp, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha - nước dưới áp lực tài chính khu vực châu Âu - đơn vị chi phí lao động đã giảm đáng kể từ năm 2010. Các nước này cũng đã bắt đầu cải cách thị trường lao động rất quan trọng, chẳng hạn như hạn chế mức lương yêu cầu tối thiểu và loại bỏ các hạn chế về việc thuê, sa thải, và thôi. Con đường của Ireland là bài học. Sau khi hệ thống ngân hàng Ireland sụp đổ trong năm 2008, Dublin cắt giảm chi phí sản xuất mạnh và tăng năng suất. Ngày nay, chỉ một vài năm ra khỏi cuộc khủng hoảng, Ireland lại là một trong những nơi hiệu quả nhất ở châu Âu cho sản xuất.

Fourth, exports in the peripheral countries — which have long labored under large trade deficits with Germany and other northern European states — are regaining their competitiveness. As a result, Italy, Portugal, and Spain now enjoy reduced deficits in both trade and their current accounts, reflecting the lower costs of their exports and a weaker euro. In Greece, despite the severity of that country’s economic fall, the absolute level of exports has returned to pre-crisis levels.
Thứ tư, xuất khẩu ở các nước ngoại vi - từ lâu đã lao động theo thâm hụt thương mại lớn với Đức và Bắc Âu các tiểu bang khác - đang lấy lại được khả năng cạnh tranh của họ. Kết quả là, Italy, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha bây giờ được hưởng thâm hụt ngân sách giảm trong cả hai thương mại và tài khoản hiện tại của họ, phản ánh chi phí thấp hơn xuất khẩu của họ và một đồng euro yếu hơn. Tại Hy Lạp, mặc dù mức độ nghiêm trọng của mùa thu kinh tế của nước đó, mức độ tuyệt đối của xuất khẩu đã trở lại mức trước khủng hoảng.

Finally, by beginning to trim their public sectors, eurozone governments are playing an important role in the continent’s economic renewal, as these spending cuts will create more room for the private sector to grow. According to the European Commission, the collective deficit of the 17 members of the eurozone fell to 4.1 percent of GDP in 2011, a significant decrease from the 6.2 percent figure in 2010. Moreover, the broader EU saw its collective deficit cut by one-third in 2011. To be sure, many of the European countries’ deficit-to-GDP ratios remain well above the official target of three percent, and debt actually grew faster than GDP in the eurozone as a whole last year. Still, pressure from financial markets should continue to shrink European public sectors into the future.

Cuối cùng, bằng cách bắt đầu để cắt các khu vực công của họ, chính phủ các nước khu vực châu Âu đang chơi một vai trò quan trọng trong đổi mới kinh tế của châu lục này, như những cắt giảm chi tiêu sẽ tạo ra phòng nhiều hơn cho khu vực tư nhân phát triển. Theo Ủy ban châu Âu, thâm hụt tập thể của 17 thành viên của khu vực đồng tiền chung châu Âu giảm xuống còn 4,1% GDP trong năm 2011, giảm đáng kể từ con số 6,2% trong năm 2010. Hơn nữa, EU rộng lớn hơn thấy thâm hụt tập thể cắt giảm một phần ba vào năm 2011. Để chắc chắn, nhiều người trong số các nước châu Âu tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP vẫn cao hơn mục tiêu chính thức của ba phần trăm, và nợ thực tế tăng trưởng nhanh hơn so với GDP trong khu vực đồng tiền chung châu Âu như là một toàn bộ năm ngoái. Tuy nhiên, áp lực từ thị trường tài chính nên tiếp tục co lại châu Âu khu vực công cộng trong tương lai.

Throughout modern history, severe financial crises have caused great pain to vulnerable segments of affected societies, but they have also often strengthened underlying economies. Both of these countervailing phenomena are asserting themselves in the United States today. Europe is inherently more fragile, but initial evidence suggests that the same dynamic is occurring there. If this historical pattern holds true, the United States and Europe could defy conventional wisdom and again lead growth in the world economy.
Trong suốt lịch sử hiện đại, cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng đã gây ra đau đớn để phân đoạn dễ bị tổn thương của các xã hội bị ảnh hưởng, nhưng họ cũng đã thường xuyên củng cố nền kinh tế cơ bản. Cả hai của các hiện tượng đối kháng được khẳng định bản thân ở Hoa Kỳ ngày hôm nay. Châu Âu vốn đã mỏng manh hơn, nhưng bằng chứng ban đầu cho thấy rằng cùng một năng động đang xảy ra ở đó. Nếu mô hình này lịch sử đúng, Hoa Kỳ và Châu Âu có thể thách thức sự khôn ngoan thông thường và tăng trưởng trở lại dẫn đầu trong nền kinh tế thế giới.



ROGER C. ALTMAN is Executive Chair of Evercore Partners.
He was U.S. Deputy Treasury Secretary in 1993–94.

ROGER C. ALTMAN là Chủ tịch điều hành của các đối tác Evercore.
Ông là Thứ trưởng Tài chính Hoa Kỳ trong 1993-94.





http://www.foreignaffairs.com/articles/138463/roger-c-altman/the-fall-and-rise-of-the-west