MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Monday, February 11, 2013

Currency Wars Return, 1930s Style: Who Will Lose Out? Chiến tranh tiền tệ kiểu 1930 trở lại: quốc gia nào sẽ thua cuộc




Currency Wars Return, 1930s Style: Who Will Lose Out?

Chiến tranh tiền tệ kiểu 1930 trở lại: quốc gia nào sẽ thua cuộc

By: Matt Clinch
Matt Clinch



As countries try to weaken their currencies to boost exports, the risk of a currency war similar to events seen in the 1930s has heightened, and policymakers are making sure they are on the winning side, according to Morgan Stanley.

Theo ngân hàng Morgan Stanley, khi các nước liên tiếp giảm giá đồng nội tệ để thúc đẩy xuất khẩu, thì nguy cơ một cuộc chiến tranh tiền tệ tương tự như sự kiện hồi những năm 1930 sẽ bung phát. Và các nhà vạch chính sách đều chắc chắn rằng họ sẽ là bên thắng cuộc.

The balance of power now rests with Japan, according to the bank, as Japan's policy-makers' more dovish* approach looks set to bring the world a step closer to a currency war.

Cán cân quyền lực hiện tại thuộc về Nhật Bản, ngân hàng này cho biết, khi cách tiếp cận của các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản bồ câu hơn* thì nó sẽ đưa thế giới tiến một bước gần hơn với một cuộc chiến tranh tiền tệ.

* An economic policy advisor who promotes monetary policies that involve the maintenance of low interest rates, believing that inflation and its negative effects will have a minimal impact on society. This term is derived from the docile and placid nature of the bird of the same name, and is the opposite of the term "hawk".


* Một cố vấn chính sách kinh tế mà thúc đẩy các chính sách tiền tệ liên quan đến việc duy trì mức lãi suất thấp, tin rằng lạm phát và tác động tiêu cực của nó sẽ có một tác động tối thiểu đối với xã hội. Thuật ngữ này bắt nguồn từ bản chất hiền lành và điềm tĩnh của con chim bồ câu, và từ đối nghĩa là "diều hâu".(ND)
The Bank of Japan doubled its inflation target to 2 percent in January and made an open-ended commitment to continue buying assets from next year. This follows a leadership change, with new Prime Minister Shinzo Abe openly calling for aggressive monetary stimulus from the country's central bank.

Tháng 1 vừa qua, Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản đã tăng gấp đôi mục tiêu lạm phát đến 2% và cam kết để mở sẽ mua tiếp tục mua tài sản từ năm tới. Điều này tiếp theo sau việc thay đổi lãnh đạo; tân Thủ tướng Shinzo Abe đã công khai kêu gọi Ngân hàng Trung Ương nước này thực hiện kích thích tiền tệ mạnh mẽ.

This move, Morgan Stanley said, is a "game changer" as Japan tries to invigorate its stagnating economy .

Theo Morgan Stanley, động thái này sẽ là thay đổi luât chơi trong bối cảnh Nhật Bản gắng sức vực dậy nên kinh tế đang trì trệ.

"If a weaker yen is an important pillar of the strategy to make this export-oriented economy more competitive again, it brings into the picture something that was missing from earlier interactions among central banks of the advanced economies – competitive depreciation," it said in a research note.

“Nếu một đồng yên yếu là trụ cột quan trọng trong chiến lược làm cho cho nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Nhật Bản có sức cạnh tranh trở lại, nó sẽ mang lại trong bức tranh kinh tế một điều vốn đã bị bỏ lỡ trong quá trình tương tác trước đây giữa các Ngân hàng Trung Ương của các nền kinh tế tiên tiến: giảm giá tiền tệ để cạnh tranh”, một nghiên cứu của Morgan Stanley cho biết.

"This, in turn, takes us one step closer to a currency war."

"Điều này, đến lượt, sẽ đưa chúng ta một bước gần hơn đến một cuộc chiến tranh tiền tệ."
Manoj Pradhan, an economist at the bank details the 1930s war and highlights the lessons that we can learn from the past.

Chuyên gia kinh tế Manoj Pradhan đến từ Morgan Stanley nói rõ hơn về cuộc chiến tiền tệ những năm 1930 và nhấn mạnh những bài học có thể học được từ quá khứ.

The U.K. was the first to leave the gold standard on September 19, 1931 due to painfully high unemployment. Sterling depreciated, setting off a volatile chain of events with the U.S., Norway, Sweden, France and Germany all following suit.

Vào ngày 19/9/1931, Anh là nước đầu tiên rời bỏ chế độ bản vị vàng với tỷ lệ thất nghiệp hết sức cao. Đồng bảng Anh giảm giá mạnh và gây nên phản ứng dây chuyền đối với Mỹ, Na Uy, Thụy Điển, Pháp và Đức. 

Those countries that moved early benefited at the expense of others on the gold bloc, a "beggar-thy-neighbor" outcome, according to Pradhan.

Những quốc gia mà thay đổi sớm được hưởng lợi với cái giá của những quốc gia khác trên khối vàng đó, một kiểu "kẻ ăn xin hàng xóm", Pradhan nói.
"Similarly, it is the domestic agenda that could drive competitive depreciation today," he said.

"Tương tự, chính chương trình nghị sự trong nước  điều khiển giảm giá cạnh tranh ngày nay," ông nói.

"Since global demand is likely to remain sluggish, a revival of Japan's export sector on the back of yen weakness is likely to eat into the market share of other exporters – something that could well invite measures to curb significant weakening of the yen."

“Do nhu cầu trên toàn cầu có thể tiếp tục dẫm chân tại chỗ, sự hồi sinh của khu vực xuất khẩu Nhật Bản nhờ vào đồng yên yếu sẽ ăn vào thì phần của các các nước xuất khẩu khác - điều này hẳn có thể kích thích các biện pháp nhằm ngăn chặn sự suy yếu đáng kể của đồng yên.”

In a detailed scenario of what could follow, Pradhan highlights that the European Central Bank and the Federal Reserve would ease further, using quantitative easing to dampen euro strength and debt ceiling fears.

Trong kịch bản chi tiết về những gì diễn ra tiếp theo, Pradhan nhấn mạnh rằng Ngân hàng Trung Ương châu Âu và Cục dự trữ liên bang Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng  bằng cách sử dụng nới lỏng định lượng để làm suy yếu sức mạnh của đồng Euro và lo sự về trần nợ.

Capital controls could be brought in by Latin American and other Asian economies, he said, which could be transaction taxes or even some sort of verbal interaction.

Kiểm soát vốn cũng được thực hiện bởi các nền kinh tế Mỹ Latinh và châu Á, mà có thể là đánh thuế giao dịch hoặc thậm chí một kiểu khẩu chiến nào đó.

"In the particularly interesting cases of Korea and Taiwan, our economist Sharon Lam believes that verbal intervention (already under way to some extent), intervention in the foreign exchange markets and capital controls represent the most likely policy reactions," he said, adding that the emerging markets of Colombia, Mexico, Peru and Chile have even u-turned towards a more dovish stance.

"Trong trường hợp đặc biệt thú vị của Hàn Quốc và Đài Loan, nhà kinh tế Sharon Lam của chúng tôi tin rằng sự can thiệp bằng lời nói (đã được tiến hành có mức độ), can thiệp vào thị trường ngoại hối và kiểm soát vốn là các phản ứng chính sách khả dĩ," Pradhan cho biết, và ông nói thêm rằng các thị trường mới nổi như Colombia, Mexico, Peru và Chile thậm chí còn quay ngoặt chuyển hướng tới một lập trường bồ câu hơn nữa.

"While a currency war is not our base case, the new-found commitment of Japan's policy-makers does raise the risk of retaliatory action to keep the yen weak," he said.

“Trong khi một cuộc chiến tiền tệ không phải là điều mong muốn, thì cam kết mới đây của các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản thực sự làm tăng nguy cơ phản ứng trả đũa để giữ đồng yên yếu.” ông nói.

"The experience of the 1930s suggests to us that such large currency crises are likely triggered by domestic issues, and that they do create distinct winners and losers. EM (emerging market) policy-makers are already gearing up to make sure they remain on the winning side, but the balance of power for now rests with Japan."

Kinh nghiệm của những năm 1930 cho thấy rẳng những cuộc khủng hoảng tiền tệ rộng lớn như thế thường bắt nguồn từ những vấn đề trong nước và tạo ra kẻ thắng người thua rõ ràng. Và các nhà hoạch định chính sách của các thị trường mới nổi cũng đang có biện pháp để đảm bảo rằng họ là bên thắng cuộc. Nhưng, lúc này, cán cân quyền lực đang thuộc về Nhật Bản", Pradhan nói.


http://www.cnbc.com/id/100441340/Currency_Wars_Return_1930s_Style_Who_Will_Lose_Out

What was Jim Crow? Jim Crow là gì?



What was Jim Crow?


Jim Crow là gì?

Dr. David Pilgrim, Professor of Sociology
Ferris State University

 

Tiến sĩ David Pilgrim, Giáo sư Xã hội học
Đại học Ferris State
Jim Crow was the name of the racial caste system which operated primarily, but not exclusively in southern and border states, between 1877 and the mid-1960s. Jim Crow was more than a series of rigid anti-black laws. It was a way of life. Under Jim Crow, African Americans were relegated to the status of second class citizens. Jim Crow represented the legitimization of anti-black racism. Many Christian ministers and theologians taught that whites were the Chosen people, blacks were cursed to be servants, and God supported racial segregation. Craniologists, eugenicists, phrenologists, and Social Darwinists, at every educational level, buttressed the belief that blacks were innately intellectually and culturally inferior to whites. Pro-segregation politicians gave eloquent speeches on the great danger of integration: the mongrelization of the white race. Newspaper and magazine writers routinely referred to blacks as niggers, coons, and darkies; and worse, their articles reinforced anti-black stereotypes. Even children's games portrayed blacks as inferior beings (see "From Hostility to Reverence: 100 Years of African-American Imagery in Games"). All major societal institutions reflected and supported the oppression of blacks.

Jim Crow là tên gọi của một chế độ giai cấp đặt cơ sở trên màu da, một chế độ được áp dụng chủ yếu, nhưng không riêng gì, tại các bang miền Nam và các bang cùng biên giới với miền Nam [xét theo địa lí của thời Nội chiến Mỹ], trong giai đoạn từ năm 1877 đến giữa thập niên 60 của thế kỉ trước. Nội hàm của Jim Crow không chỉ nằm trong một loạt luật lệ nghiêm khắc nhắm vào người da đen. Mà đó là một lối sống. Dưới chế độ Jim Crow, người Mỹ gốc châu Phi bị đưa xuống hàng công dân thứ cấp. Jim Crow tiêu biểu cho việc hợp thức hoá chế độ phân chủng chống lại người da đen. Để củng cố chế độ Jim Crow, thậm chí nhiều giáo sĩ và nhiều nhà thần học Ki-tô-giáo cũng rao giảng rằng người da trắng là dân được Chúa chọn, còn người da đen thì bị rủa sả phải làm thân nô lệ, và Thiên Chúa hậu thuẫn cho chế độ phân chủng. Các nhà nghiên cứu về sọ não, về tông giống, và cả những nhà xã hội học theo thuyết tiến hoá Darwin, đủ mọi trình độ, hùa nhau yểm trợ cái tín lí cho rằng người da đen bẩm sinh là thấp kém hơn người da trắng về mặt tri thức và văn hóa. Những chính trị gia chủ trương phân chủng cũng tung ra những bài diễn văn hùng hồn về mối hoạ to lớn của việc cho người da đen hội nhập vào dòng chính của xã hội Hoa kì: đó là sự pha giống với người da trắng. Các nhà báo cũng thường gọi người da đen bằng các từ miệt thị như niggers, coons, hay darkies, và tệ hại hơn nữa, những bài viết của họ đã làm gia tăng những định kiến tiêu cực về người da đen. Ngay cả trò chơi trẻ em cũng miêu tả dân da đen như một giống người hạ đẳng. Tất cả các định chế xã hội quan trọng đều phản ánh và hỗ trợ việc áp chế người da đen.



Seated in Rear The Jim Crow system was undergirded by the following beliefs or rationalizations: whites were superior to blacks in all important ways, including but not limited to intelligence, morality, and civilized behavior; sexual relations between blacks and whites would produce a mongrel race which would destroy America; treating blacks as equals would encourage interracial sexual unions; any activity which suggested social equality encouraged interracial sexual relations; if necessary, violence must be used to keep blacks at the bottom of the racial hierarchy. The following Jim Crow etiquette norms show how inclusive and pervasive these norms were:

Chế độ Jim Crow được củng cố bằng những tín lí và biện minh sau đây: người da trắng ưu việt hơn người da đen trong mọi phương diện quan trọng bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn trong, các lãnh vực trí tuệ, đạo lí, cách ứng xử văn minh; quan hệ tình dục giữa da đen và da trắng sẽ tạo ra một giống lai có khả năng hủy diệt nước Mỹ; việc đối xử bình đẳng với người da đen sẽ khuyến khích những tác hợp luyến ái dị chủng; bất cứ hành vi nào ngụ ý bình đẳng xã hội cũng có thể khuyến khích những quan hệ tính dục giữa hai màu da; nếu cần, phải sử dụng bạo lực để kìm hãm người da đen ở mức thấp nhất của tôn ti chủng tộc. Những chuẩn mực trong phép xã giao Jim Crow sau đây cho thấy mức độ trùm phủ đều khắp của chúng trong mọi giao tiếp xã hội:

A black male could not offer his hand (to shake hands) with a white male because it implied being socially equal. Obviously, a black male could not offer his hand or any other part of his body to a white woman, because he risked being accused of rape.

Một người đàn ông da đen không được đưa tay ra trước cho một người da trắng bắt, bởi vì hành vi này có ẩn ý là anh ta có bình đẳng xã hội. Một người đàn ông da đen không thể đưa tay ra hay bất cứ một phần nào của cơ thể với ý đụng chạm đến một người phụ nữ da trắng, vì làm như thế anh ta có thể bị kết tội hiếp dâm.



Blacks and whites were not supposed to eat together. If they did eat together, whites were to be served first, and some sort of partition was to be placed between them.
Người da đen không được ăn chung với người da trắng. Nếu họ phải ăn chung với nhau, người da trắng phải được phục vụ trước, và phải có một vật gì ngăn cách họ với nhau.

Under no circumstance was a black male to offer to light the cigarette of a white female -- that gesture implied intimacy.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào một người nam da đen không được tình nguyện mồi lửa cho một người nữ da trắng hút thuốc-cử chỉ này ngụ ý có sự thân mật giữa hai người.



Blacks were not allowed to show public affection toward one another in public, especially kissing, because it offended whites.

Người da đen không được bày tỏ sự âu yếm với nhau lộ liễu ở nơi công cộng, nhất là việc trai gái hôn nhau, vì hành vi này xúc phạm người da trắng.

Jim Crow etiquette prescribed that blacks were introduced to whites, never whites to blacks. For example: "Mr. Peters (the white person), this is Charlie (the black person), that I spoke to you about."

Phép xã giao theo văn hóa Jim Crow đòi hỏi ngưòi da đen phải được giới thiệu với người da trắng, và không bao giờ giới thiệu người da trắng với người da đen. Chẳng hạn, “Thưa ông Peters (da trắng), đây là Charlie (da đen), người mà tôi đã nói với ông.”


Whites did not use courtesy titles of respect when referring to blacks, for example, Mr., Mrs., Miss., Sir, or Ma'am. Instead, blacks were called by their first names. Blacks had to use courtesy titles when referring to whites, and were not allowed to call them by their first names.

Người da trắng không dùng những từ xưng hô lịch sự có ý nghĩa kính trọng với người da đen, chẳng hạn những từ như Mr. (ông), Mrs. (bà), Miss (cô), Sir (thưa ông), Ma’am (thưa bà). Thay vì như vậy, Người da đen chỉ được xưng hô bằng tên gọi (first name). Trái lại, người da đen phải dùng từ xưng hô lịch sự với người da trắng và không được xưng hô với họ bằng tên gọi.

If a black person rode in a car driven by a white person, the black person sat in the back seat, or the back of a truck.

Nếu một người da đen đi xe do một người da trắng lái, người da đen phải ngồi ghế sau, hay phần sau của xe tải.

White motorists had the right-of-way at all intersections.

Lái xe trắng có quyền ưu tiên đường ở tất cả các nút giao thông.
Stetson Kennedy, the author of Jim Crow Guide (1990), offered these simple rules that blacks were supposed to observe in conversing with whites:

Stetson Kennedy, tác giả cuốn Cẩm nang Jim Crow, đưa ra 7 qui tắc mà người da đen phải tôn trọng khi nói chuyện với người da trắng:

Never assert or even intimate that a white person is lying.

Đừng bao giờ xác quyết hay thậm chí gợi ý rằng một người da trắng đang nói dối.


Never impute dishonorable intentions to a white person.
Đừng bao giờ gán ghép những ý định bất chính cho một người da trắng.

Never suggest that a white person is from an inferior class.

Đừng bao giờ gợi ý rằng một người da trắng xuất thân từ một giai cấp thấp hèn.
Never lay claim to, or overly demonstrate, superior knowledge or intelligence.

Đừng bao giờ cho mình có, hay cố chứng tỏ mình có, kiến thức hay trí thông minh ưu việt.

Never curse a white person.
Đừng bao giờ nguyền rủa một người da trắng.

Never laugh derisively at a white person.

Đừng bao giờ cười chế nhạo một người da trắng.

Never comment upon the appearance of a white female.
Đừng bao giờ bình luận về diện mạo của một phụ nữ da trắng.

Jim Crow etiquette operated in conjunction with Jim Crow laws (black codes). When most people think of Jim Crow they think of laws (not the Jim Crow etiquette) which excluded blacks from public transport and facilities, juries, jobs, and neighborhoods. The passage of the 13th, 14th, and 15th Amendments to the Constitution had granted blacks the same legal protections as whites. However, after 1877, and the election of Republican Rutherford B. Hayes, southern and border states began restricting the liberties of blacks. Unfortunately for blacks, the Supreme Court helped undermine the Constitutional protections of blacks with the infamous Plessy v. Ferguson (1896) case, which legitimized Jim Crow laws and the Jim Crow way of life.

Những phép xã giao Jim Crow tiến hành đồng bộ với pháp quyền Jim Crow (còn gọi là luật đen, black codes). Khi nghĩ đến Jim Crow, hầu hết mọi người đều liên tưởng đến luật lệ (chứ không nghĩ đến phép xã giao Jim Crow), những luật lệ ngăn cản người da đen sử dụng nhiều phương tiện vận chuyển và tiện ích công cộng, ngăn cản họ ngồi vào bồi thẩm đoàn, làm một số công việc, lai vãng một số hàng xóm. Việc thông qua các Tu chính Hiến pháp 13,14,15 đã cho người da đen quyền được luật pháp che chở giống như người da trắng. Tuy nhiên, sau năm 1877, và sau khi Rutherford B. Hays của Đảng Cộng hòa đắc cử Tổng thống, các tiểu bang miền Nam và các tiểu bang giáp giới miền Nam bắt đầu giới hạn những quyền tự do của người da đen. Đáng tiếc là, chính Tối cao Pháp viện Liên bang lại hỗ trợ việc phá ngầm những bảo vệ hiến định dành cho người da đen, bằng phán quyết bỉ ổi trong vụ Plessy vs Ferguson (1896), một phán quyết hợp thức hoá pháp quyền Jim Crow và lối sống Jim Crow.

In 1890, Louisiana passed the "Separate Car Law," which purported to aid passenger comfort by creating "equal but separate" cars for blacks and whites. This was a ruse. No public accommodations, including railway travel, provided blacks with equal facilities. The Louisiana law made it illegal for blacks to sit in coach seats reserved for whites, and whites could not sit in seats reserved for blacks.
Năm 1890, bang Louisiana thông qua Đạo luật “dùng xe riêng biệt” (Separate Car Law), với danh nghĩa là giúp cho hành khách cảm thấy dễ chịu, bằng cách tạo ra các xe chở khách “bình đẳng nhưng riêng biệt” (equal but separate cars) cho người da đen và người da trắng. Nhưng đây chỉ là mưu mẹo thôi. Thật ra không một tiện ích công cộng nào dành cho người da đen, kể cả việc di chuyển bằng đường sắt, cung ứng những phương tiện bình đẳng cho người da đen. Luật Louisiana cấm người da đen ngồi trên toa tàu dành cho người da trắng và cấm người da trắng ngồi trên toa dành cho người da đen.



In 1891, a group of blacks decided to test the Jim Crow law. They had Homer A. Plessy, who was seven-eighths white and one-eighth black (therefore, black), sit in the white-only railroad coach. He was arrested. Plessy's lawyer argued that Louisiana did not have the right to label one citizen as white and another black for the purposes of restricting their rights and privileges. In Plessy, the Supreme Court stated that so long as state governments provided legal process and legal freedoms for blacks, equal to those of whites, they could maintain separate institutions to facilitate these rights. The Court, by a 7-2 vote, upheld the Louisiana law, declaring that racial separation did not necessarily mean an abrogation of equality. In practice, Plessy represented the legitimization of two societies: one white, and advantaged; the other, black, disadvantaged and despised.


Năm 1891, một nhóm người da đen quyết định thử thách luật pháp Jim Crow. Họ cài đặt Homer J. Plessy, một người có 7/8 huyết hệ da trắng và 1/8 huyết hệ da đen (vì thế, bị xem như da đen), vào toa tàu dành riêng cho người da trắng. Anh ta bị bắt. Luật sư của Plessy lí giải rằng bang Louisiana không có quyền “dán nhãn hiệu” công dân này là da trắng và công dân kia là da đen vì mục đích giới hạn quyền lợi của họ. Trong phán quyết vụ Plessy, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ cho rằng bao lâu mà chính quyền một tiểu bang cho phép người da đen được hưởng thủ tục pháp lí và tự do pháp lí bình đẳng với người da trắng, chính quyền tiểu bang đó được phép duy trì những cơ sở riêng biệt cho mỗi màu da nhằm tạo điều kiện để thực hiện những quyền này. Bằng tỉ số 7 thuận 2 chống, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã tán thành đạo luật của bang Louisiana, đồng thời tuyên bố rằng sự phân chủng không nhất thiết có nghĩa là vi phạm quyền bình đẳng của người dân. Trên thực tế, phán quyết trong vụ Plessy tiêu biểu cho sự hợp pháp hóa hai xã hội: một bên là xã hội da trắng có nhiều ưu đãi; còn bên kia là xã hội da đen vừa bị thiệt thòi vừa bị khinh bỉ.


Blacks were denied the right to vote by grandfather clauses (laws that restricted the right to vote to people whose ancestors had voted before the Civil War), poll taxes (fees charged to poor blacks), white primaries (only Democrats could vote, only whites could be Democrats), and literacy tests ("Name all the Vice Presidents and Supreme Court Justices throughout America's history"). Plessy sent this message to southern and border states: Discrimination against blacks is acceptable.

Người da đen bị từ chối quyền bầu cử bởi những điều khoản “truyền thừa” hay grandfather clauses (luật dành quyền bầu cử cho những người mà tổ tiên họ đã từng tham gia bầu cử trong thời gian trước Nội chiến), bởi thuế phòng phiếu (poll taxes, lệ phí đánh vào người da đen nghèo), bởi các cuộc bầu cử sơ bộ của người da trắng (chỉ có cử tri Đảng Dân chủ mới được bầu sơ bộ, và chỉ người da trắng mới có thể làm cử tri Đảng Dân chủ), và bởi những kiểm tra về khả năng đọc và viết (với những câu hỏi rắc rối như “Hãy kể tất cả các vị phó Tổng thống và các vị quan toà Tối cao Pháp viện trong lịch sử Hoa Kỳ”). Phán quyết trong vụ Plessy gửi thông điệp sau đây đến các bang miền Nam và các bang tiếp giáp miền Nam: Phân biệt đối xử người da đen là có thể chấp nhận.



Jim Crow states passed statutes severely regulating social interactions between the races. Jim Crow signs were placed above water fountains, door entrances and exits, and in front of public facilities. There were separate hospitals for blacks and whites, separate prisons, separate public and private schools, separate churches, separate cemeteries, separate public restrooms, and separate public accommodations. In most instances, the black facilities were grossly inferior -- generally, older, less-well-kept. In other cases, there were no black facilities -- no Colored public restroom, no public beach, no place to sit or eat. Plessy gave Jim Crow states a legal way to ignore their constitutional obligations to their black citizens.

Các bang Jim Crow thông qua nhiều đạo luật nghiêm khắc nhằm điều tiết các mối tương tác xã hội giữa hai chủng tộc. Các biển hiệu Jim Crow được đặt trên các vòi nước, ở cửa vào và cửa ra, cũng như ở trước các phương tiện công cộng. Có bệnh viện riêng biệt cho người da đen và người da trắng, nhà tù riêng biệt, trường học riêng biệt dù là công hay tư, nhà thờ riêng biệt, nghĩa trang riêng biệt, phòng vệ sinh riêng biệt, và các tiện ích công cộng riêng biệt. Gần như trong mọi trường hợp, so với phía da trắng, các phương tiện của người da đen có phẩm chất thua sút quá xa – thường là cũ kĩ và thiếu bảo quản. Trong một số trường hợp, người da đen không hưởng được tiện ích nào cả-không nhà vệ sinh công cộng, không bãi biển công cộng, không có chỗ để ngồi nghỉ hay để ăn uống. Phán quyết Plessy đã cho các bang Jim Crow một đường lối hợp pháp bác bỏ những nghĩa vụ hiến định đối với công dân da đen.

Jim Crow laws touched every aspect of everyday life. For example, in 1935, Oklahoma prohibited blacks and whites from boating together. Boating implied social equality. In 1905, Georgia established separate parks for blacks and whites. In 1930, Birmingham, Alabama, made it illegal for blacks and whites to play checkers or dominoes together. Here are some of the typical Jim Crow laws, as compiled by the Martin Luther King, Jr., National Historic Site Interpretive Staff:
Luật lệ Jim Crow ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống hằng ngày. Chẳng hạn, năm 1935, bang Oklahoma có luật cấm người da đen và người da trắng đi chung thuyền. Vì đi chung thuyền có ngụ ý bình đẳng xã hội. Năm 1905, bang Georgia lập công viên riêng rẽ cho người da đen và người da trắng. Năm 1930, thành phố Birmingham của bang Alabama cấm người da đen và người da trắng chơi cờ và chơi đô-mi-nô với nhau. Sau đây là một số luật lệ tiêu biểu của chế độ Jim Crow, do Nhân viên Diễn giảng của Địa điểm Lịch sử Quốc gia Martin Luther King, Jr., sưu tập:

Barbers. No colored barber shall serve as a barber (to) white girls or women (Georgia).
Thợ hớt tóc. Thợ hớt tóc da màu không được hớt tóc cho con gái và đàn bà da trắng (bang Georgia).

Blind Wards. The board of trustees shall...maintain a separate building...on separate ground for the admission, care, instruction, and support of all blind persons of the colored or black race (Louisiana).

Khu người mù. Ban quản trị phải duy trì một binđing riêng biệt trên một khu đất riêng biệt để tiếp nhận, săn sóc, huấn luyện, và giúp đỡ tất cả mọi người mù da màu và da đen (bang Louisiana).
Burial. The officer in charge shall not bury, or allow to be buried, any colored persons upon ground set apart or used for the burial of white persons (Georgia).

An táng. Nhân viên chuyên trách việc an táng không được và không cho ai chôn cất người da màu trên khu đất được dành riêng hay được sử dụng để an táng người da trắng (bang Georgia).
Buses. All passenger stations in this state operated by any motor transportation company shall have separate waiting rooms or space and separate ticket windows for the white and colored races (Alabama).

Child Custody. It shall be unlawful for any parent, relative, or other white person in this State, having the control or custody of any white child, by right of guardianship, natural or acquired, or otherwise, to dispose of, give or surrender such white child permanently into the custody, control, maintenance, or support, of a negro (South Carolina).
Xe buýt. Tất cả trạm hành khách trong tiểu bang này, dù do bất cứ công ty vận chuyển nào điều hành, cũng phải có phòng hay chỗ đợi riêng biệt và cửa sổ bán vé riêng biệt cho người da trắng và người da màu (bang Alabama).
Quyền giám hộ trẻ em. Khi cha hoặc mẹ, hoặc thân nhân, hoặc bất cứ một người da trắng nào khác, được quyền nuôi dưỡng một trẻ em da trắng do luật tự nhiên hay nhận từ kẻ khác, hay bằng bất cứ phương cách nào đi nữa, thì người đó không được phép ủy thác hoặc giao phó đứa trẻ kia cho bất cứ một người da đen nuôi giữ, săn sóc, che chở (bang South Carolina).

Education.The schools for white children and the schools for negro children shall be conducted separately (Florida).

Giáo dục. Trường học cho trẻ em da trắng và trường học cho trẻ em da đen phải được điều hành riêng biệt (bang Floria).

Libraries. The state librarian is directed to fit up and maintain a separate place for the use of the colored people who may come to the library for the purpose of reading books or periodicals (North Carolina).

Thư viện. Quản thủ thư viện tiểu bang được chỉ thị phải sắp đặt và bảo quản một nơi riêng biệt cho người da màu sử dụng phòng khi họ có nhu cầu đến thư viện đọc sách báo (bang North Carolina).

Mental Hospitals. The Board of Control shall see that proper and distinct apartments are arranged for said patients, so that in no case shall Negroes and white persons be together (Georgia).

Bệnh viện tâm thần. Ban điều hành phải đảm bảo việc thiết lập những căn phòng hợp lệ và riêng biệt, ngõ hầu người da trắng và người da đen không trà trộn với nhau (Georgia).

Militia. The white and colored militia shall be separately enrolled, and shall never be compelled to serve in the same organization. No organization of colored troops shall be permitted where white troops are available and where whites are permitted to be organized, colored troops shall be under the command of white officers (North Carolina).

Dân quân. Dân quân da trắng và da đen phải được đăng kí riêng biệt và không bị cưỡng chế phục vụ trong cùng một tổ chức. Không một tổ chức dân quân da màu nào được phép hoạt động nơi đã có dân quân da trắng và nơi nào có tổ chức dân quân da trắng thì người da đen phải nằm dưới quyền chỉ huy của sĩ quan da trắng (bang North Carolina).

Nurses. No person or corporation shall require any White female nurse to nurse in wards or rooms in hospitals, either public or private, in which negro men are placed (Alabama).

Y tá. Không một cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền đòi hỏi một nữ y tá Da trắng phải làm việc trong các khu hoặc phòng bệnh viện có bệnh nhân là đàn ông da đen - dù bệnh viện đó là công hay tư (bang Alabama).

Prisons. The warden shall see that the white convicts shall have separate apartments for both eating and sleeping from the negro convicts (Mississippi).

Nhà tù. Quản đốc trại tù phải đảm bảo rằng tù nhân da trắng được giam giữ trong các phòng riêng, ăn ngủ riêng biệt với tù nhân da đen (bang Mississippi).
Reform Schools. The children of white and colored races committed to the houses of reform shall be kept entirely separate from each other (Kentucky).

Trường cải tạo thanh thiếu niên. Những trẻ em da trắng và da màu, bị đưa vào các nhà cải tạo, phải được giữ hoàn toàn cách li với nhau (bang Kentucky).

Teaching. Any instructor who shall teach in any school, college or institution where members of the white and colored race are received and enrolled as pupils for instruction shall be deemed guilty of a misdemeanor, and upon conviction thereof, shall be fined... (Oklahoma).

Dạy học. Bất cứ một giáo viên nào dạy học tại bất cứ một trường tiểu, trung, đại học hoặc một viện giáo dục nào, mà nơi đó có thu nhận cả học sinh da trắng lẫn da đen, đều bị coi như phạm tội tiểu hình và nếu bị kết án thì sẽ phải trả tiền phạt (bang Oklahoma).
Wine and Beer. All persons licensed to conduct the business of selling beer or wine...shall serve either white people exclusively or colored people exclusively and shall not sell to the two races within the same room at any time (Georgia).1
Rượu và bia. Tất cả những ai được cấp giấp phép bán bia rượu thì phải phục vụ người da trắng riêng và người da đen riêng, chứ không bao giờ được bán bia rượu cho cả hai giống dân trong cùng một phòng (bang Geogia).

The Jim Crow laws and system of etiquette were undergirded by violence, real and threatened. Blacks who violated Jim Crow norms, for example, drinking from the white water fountain or trying to vote, risked their homes, their jobs, even their lives. Whites could physically beat blacks with impunity. Blacks had little legal recourse against these assaults because the Jim Crow criminal justice system was all-white: police, prosecutors, judges, juries, and prison officials. Violence was instrumental for Jim Crow. It was a method of social control. The most extreme forms of Jim Crow violence were lynchings.

Luật pháp và phép ứng xử Jim Crow được cũng cố nhờ bạo lực, vừa hiện thực vừa hù dọa. Người da đen nào vi phạm phép tắc Jim Crow, như uống từ vòi nước dành riêng cho người da trắng hay quyết tâm sử dụng quyền bầu cử, đều có thể chịu nguy cơ mất nhà, mất việc, thậm chí mất mạng. Người da trắng có thể hành hung người da đen mà luật pháp không can thiệp. Người da đen gần như không thể trông cậy vào luật pháp để đối chọi lại những bạo hành này vì toàn bộ hệ thống luật pháp chống tội phạm đều nằm trong tay người da trắng: từ cảnh sát, đến biện lí, đến thẩm phán, đến bồi thẩm đoàn, và thậm chí cả viên chức trại tù. Bạo hành là khí cụ của chế độ Jim Crow, là một phương pháp khống chế xã hội trong đó dạng thức bạo hành cực đoan nhất của xã hội Jim Crow có tên gọi là lynching.




Lynchings were public, often sadistic, murders carried out by mobs. Between 1882, when the first reliable data were collected, and 1968, when lynchings had become rare, there were 4,730 known lynchings, including 3,440 black men and women. Most of the victims of Lynch Law were hanged or shot, but some were burned at the stake, castrated, beaten with clubs, or dismembered. In the mid-1800s, whites constituted the majority of victims (and perpetrators); however, by the period of Radical Reconstruction, blacks became the most frequent lynching victims. This is an early indication that lynching was used as an intimidation tool to keep blacks, in this case the newly freed people, "in their places." The great majority of lynchings occurred in southern and border states, where the resentment against blacks ran deepest. According to the social economist Gunnar Myrdal (1994): "The southern states account for nine-tenths of the lynchings. More than two thirds of the remaining one-tenth occurred in the six states which immediately border the South"
Many whites claimed that although lynchings were distasteful, they were necessary supplements to the criminal justice system because blacks were prone to violent crimes, especially the rapes of white women. Arthur Raper investigated nearly a century of lynchings and concluded that approximately one-third of all the victims were falsely accused.

Lynching là những vụ giết người công khai do bàn tay của các đám đông da trắng - thường thường những đám côn đồ này tỏ ra rất thích thú với những trò tàn ác. Trong giai đoạn từ năm 1882, là thời điểm những dữ liệu đáng tin cậy bắt đầu được thu thập, đến năm 1968, là thời điểm những vụ lynching trở nên hiếm hoi, có đến 4730 vụ lynching được người ta biết tới, trong đó có 3440 nam, nữ da đen là nạn nhân. Hầu hết nạn nhân của Luật Lynch (tất nhiên là luật rừng) này bị treo cổ hoặc bị bắn, nhưng có một số bị buộc vào cọc rồi bị thiêu sống, bị thiến, bị đập chết bằng chày, bị phanh thây. Vào giữa thế kỉ 19, [là lúc có phong trào da trắng đòi bải bỏ chế độ nô lệ], người da trắng chiếm đa số thành phần nạn nhân (cũng như thủ phạm) của những vụ lynching. Tuy nhiên, vào thời kì Tái kiến thiết Triệt để (the Radical Reconstruction, do Đảng Cộng hòa chủ trương), người da đen trở nên nạn nhân thường xuyên nhất của những vụ lynching. Đây là một dấu hiệu ban đầu cho người ta biết rằng lynching được sử dụng như một khí cụ hù dọa để kìm giữ người da đen, trong trường hợp này là “những người mới được giải phóng”, phải thúc thủ trong “thân phận của mình”. Tuyệt đại đa số các vụ lynching diễn ra tại các bang miền Nam và tiếp giáp miền Nam, là những nơi mà sự thù ghét đối với dân da đen là âm ỉ nhất, sâu sắc nhất. Theo nhà kinh tế xã hội Gunnar Myrdal: “Các bang miền Nam chịu trách nhiệm đến 9/10 số vụ lynching. Hơn 2/3 trong số 1/10 còn lại diễn ra tại sáu bang tiếp giáp miền Nam.”

Under Jim Crow any and all sexual interactions between black men and white women was illegal, illicit, socially repugnant, and within the Jim Crow definition of rape. Although only 19.2 percent of the lynching victims between 1882 to 1951 were even accused of rape, lynch law was often supported on the popular belief that lynchings were necessary to protect white women from black rapists. Myrdal (1994) refutes this belief in this way: "There is much reason to believe that this figure (19.2) has been inflated by the fact that a mob which makes the accusation of rape is secure from any further investigation; by the broad Southern definition of rape to include all sexual relations between Negro men and white women; and by the psychopathic fears of white women in their contacts with Negro men" (pp. 561-562). Most blacks were lynched for demanding civil rights, violating Jim Crow etiquette or laws, or in the aftermath of race riots.

Dưới chế độ Jim Crow tất cả mọi quan hệ tình dục giữa đàn ông da đen và phụ nữ da trắng là phi pháp, bị nghiêm cấm, bị xã hội nguyền rủa, và theo định nghĩa Jim Crow chúng chỉ là những vụ hiếp dâm. Mặc dù chỉ 19,2 % nạn nhân của các vụ lynching từ năm 1882 đến 1952 thậm chí bị cáo buộc tội hiếp dâm, luật Lynch được nhiều người da trắng ủng hộ vì giới bình dân tin rằng các cuộc hành hình lynching là cần thiết để bảo vệ phụ nữ da trắng khỏi bị đàn ông da đen hiếp dâm. Myrdal đã phản bác quan niệm này như sau: “Có nhiều lí do để tin rằng con số 19,2% này đã bị thổi phồng: (a) do sự kiện là cái đám đông tung ra lời cáo buộc về nạn hiếp dâm không hề bị ai gọi đến để điều tra; (b) do định nghĩa tội hiếp dâm bao gồm tất cả quan hệ tính dục giữa đàn ông da đen và đàn bà da trắng; và (c) do sự sợ hãi có tính tâm bệnh của phụ nữ da trắng trong những tiếp xúc với đàn ông da đen.” Hầu hết người da đen bị các đám đông da trắng đem ra hành quyết (lynched) chỉ vì họ dám đòi hỏi dân quyền, vì thách đố pháp quyền và phép ứng xử Jim Crow, hoặc tiếp theo sau các cuộc bạo loạn chủng tộc do người da trắng châm ngòi.

Lynchings were most common in small and middle-sized towns where blacks often were economic competitors to the local whites. These whites resented any economic and political gains made by blacks. Lynchers were seldomly arrested, and if arrested, rarely convicted. Raper (1933) estimated that "at least one-half of the lynchings are carried out with police officers participating, and that in nine-tenths of the others the officers either condone or wink at the mob action" (pp. 13-14). Lynching served many purposes: it was cheap entertainment; it served as a rallying, uniting point for whites; it functioned as an ego-massage for low-income, low-status whites; it was a method of defending white domination and helped stop or retard the fledgling social equality movement.

Lynching thường diễn ra nhiều nhất tại các thành phố cỡ nhỏ hoặc cỡ vừa, là những nơi mà người da đen đôi khi có khả năng cạnh tranh kinh tế với người da trắng ở trong cùng một địa phương. Những người da trắng này đâm ra cay cú trước những thành quả kinh tế và chính trị mà người da đen đã đạt được. Những thủ phạm giết người trong các vụ lynching ít khi bị bắt giữ, và nếu có bị bắt giữ thì cũng ít khi bị kết án trước toà. Rapier ước tính rằng “chí ít một nửa tổng số các vụ lynching được thực hiện có sự tham dự của cảnh sát, và rằng trong 9/10 số vụ còn lại cảnh sát đã dung túng hay nháy mắt đồng thuận với hành động của đám côn đồ.” Lynching phục vụ nhiều mục đích: nó là một trò giải trí không tốn kém; nó được dùng như một điểm tập hợp, thắt chặt tình đoàn kết của người da trắng; nó có chức năng xoa dịu lòng tự ái của giới da trắng có lợi tức và địa vị thấp kém trong xã hội; nó là một phương thức bảo vệ sự thống trị của người da trắng đồng thời chận đứng hoặc trì kéo phong trào bình đẳng xã hội đang ở trong thời kì phôi thai.

Lynch mobs directed their hatred against one (sometimes several) victims. The victim was an example of what happened to a black man who tried to vote, or who looked at a white woman, or who tried to get a white man's job. Unfortunately for blacks, sometimes the mob was not satisfied to murder a single or several victims. Instead, in the spirit of pogroms, the mobs went into black communities and destroyed additional lives and property. Their immediate goal was to drive out -- through death or expulsion -- all blacks; the larger goal was to maintain, at all costs, white supremacy. These pogrom-like actions are often referred to as riots; however, Gunnar Myrdal (1944) was right when he described these "riots" as "a terrorization or massacre...a mass lynching" (p. 566). Interestingly, these mass lynchings were primarily urban phenomena, whereas the lynching of single victims was primarily a rural phenomena.

Các đám đông tham dự cuộc hành hình nhắm mũi dùi của lòng căm thù đối với một (hoặc đôi khi vài) nạn nhân. Nạn nhân là tấm gương soi cho bất cứ người da đen nào dám sử dụng lá phiếu, dám nhìn ngắm phụ nữ da trắng, hay dám kiếm một việc làm của người da trắng. Bất hạnh thay cho người da đen, đôi khi đám đông không thỏa mãn với việc giết một hoặc vài nạn nhân. Thay vào đó, như trong các cuộc tàn sát Do Thái dưới thời Sa hoàng, nhiều đám đông da trắng còn tiến vào các cộng đồng da đen để giết hại và phá hoại nhiều hơn nữa. Mục đích gần của họ là đuổi sạch người da đen - bằng cách sát hại và trục xuất; mục đích to lớn hơn là, bằng mọi giá, phải duy trì ưu thế Da trắng. Những hành động mang tính Pogrom này thường được gọi là bạo loạn; nhưng Gunnar Myrdal đã nhận định đúng hơn khi ông gọi những “cuộc bạo loạn” này là “một cuộc khủng bố, một cuộc tàn sát tập thể hay lynching tập thể”. Điều đáng lưu ý là, các vụ lynching tập thể này chủ yếu là những hiện tượng xảy ra ở đô thị, còn các vụ lynching mà nạn nhân là một hai cá nhân thì chủ yếu xảy ra ở vùng quê.

James Weldon Johnson, the famous black writer, labeled 1919 as "The Red Summer." It was red from racial tension; it was red from bloodletting. During the summer of 1919, there were race riots in Chicago, Illinois; Knoxville and Nashville, Tennessee; Charleston, South Carolina; Omaha, Nebraska; and two dozen other cities. W.E.B. DuBois (1986), the black social scientist and civil rights activist, wrote: "During that year seventy-seven Negroes were lynched, of whom one was a woman and eleven were soldiers; of these, fourteen were publicly burned, eleven of them being burned alive. That year there were race riots large and small in twenty-six American cities including thirty-eight killed in a Chicago riot of August; from twenty-five to fifty in Phillips County, Arkansas; and six killed in Washington" (p. 747).

James Weldon Johnson, nhà văn da đen nổi tiếng, đã gọi năm 1919 là “mùa Hè đỏ” (the Red Summer). Đỏ vì căng thẳng chủng tộc; đỏ vì có đổ máu. Mùa Hè 1919 chứng kiến nhiều cuộc bạo loạn chủng tộc đồng loạt xảy ra tại các thành phố Chicago (bang Illinois), Knoxville và Nashville (bang Tennessee), Charleston (bang South Carolina), Omaha (bang Nebraska) và trên hai mươi thành phố khác. W.E.B. DuBois, nhà khoa học xã hội cũng vừa là nhà tranh đấu dân quyền da đen, viết: “Trong năm đó có đến 72 người da đen bị các đám côn đồ da trắng đem ra hành quyết (lynched); trong số này có một phụ nữ và 11 binh sĩ, có 14 người bị thiêu trước đám đông, trong đó có 11 người bị đốt sống. Trong năm đó có nhiều bạo loạn lớn nhỏ ở 26 thành phố Hoa Kỳ khiến 38 người bị giết vào tháng Tám tại Chicago; từ 25 đến 50 người tại Phillips County (bang Arkansas) và 6 người bị giết tại thủ đô Washington”.

The riots of 1919 were not the first or last "mass lynchings" of blacks, as evidenced by the race riots in Wilmington, North Carolina (1898); Atlanta, Georgia (1906); Springfield, Illinois (1908); East St. Louis, Illinois (1917); Tulsa, Oklahoma (1921); and Detroit, Michigan (1943).

Các cuộc bạo loạn năm 1919 không phải là các cuộc lynching tập thể đầu tiên hoặc cuối cùng nhắm vào người da đen; điều này được chứng minh bằng các cuộc bạo loạn khác tại Wilmington (bang North Carolina, 1898), tại Atlanta (bang Georgia, 1906), tại Springfield (bang Illinois, 1908), tại Tulsa (bang Oklahoma, 1921) và tại Detroit (bang Michigan, 1943).

Joseph Boskin, author of Urban Racial Violence (1976), claimed that the riots of the 1900s had the following traits:
Joseph Boskin, tác giả cuốn Urban Racial Violence (Bạo loạn chủng tộc tại các đô thị) cho rằng những cuộc dấy loạn trong thập niên 1900 có những đặc tính sau đây:

In each of the race riots, with few exceptions, it was white people that sparked the incident by attacking black people.

Trong mỗi cuộc bạo loạn chủng tộc, trừ vài ngoại lệ, chính người da trắng đã châm ngòi vụ việc bằng cách tấn công người da đen.

In the majority of the riots, some extraordinary social condition prevailed at the time of the riot: prewar social changes, wartime mobility, post-war adjustment, or economic depression.

Trong đa phần các cuộc bạo loạn ấy, một trong những tình trạng xã hội bất bình thường sau đây vốn đã tràn lan ở thời điểm bạo loạn xảy ra: những biến chuyển xã hội trước khi chiến tranh bùng nổ, tính cơ động thời chiến, sự trở về hội nhập xã hội sau chiến tranh, hoặc khủng hoảng kinh tế.

The majority of the riots occurred during the hot summer months.

Đa số các cuộc bạo loạn thường xảy ra vào các tháng nóng nực mùa hè.

Rumor played an extremely important role in causing many riots. Rumors of some criminal activity by blacks against whites perpetuated the actions of the white mobs.

Tin đồn đóng một vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo ra nhiều cuộc bạo loạn. Chỉ cần đồn thổi về một vài hành vi tội phạm nào đó của người da đen nhắm vào người da trắng là đủ sức nuôi dưỡng lâu dài những bạo động của các đám côn đồ da trắng.

The police force, more than any other institution, was invariably involved as a precipitating cause or perpetuating factor in the riots. In almost every one of the riots, the police sided with the attackers, either by actually participating in, or by failing to quell the attack.

Lực lượng cảnh sát, hơn bất cứ cơ quan nào khác, luôn luôn can dự như một nguyên nhân thúc đẩy hoặc như một yếu tố làm kéo dài tình trạng căng thẳng trong các cuộc bạo loạn.


In almost every instance, the fighting occurred within the black community.
Trong hầu hết mọi trường hợp, bạo loạn diễn ra ngay trong các cộng đồng da đen.

Boskin omitted the following: the mass media, especially newspapers often published inflammatory articles about "black criminals" immediately before the riots; blacks were not only killed, but their homes and businesses were looted, and many who did not flee were left homeless; and, the goal of the white rioters, as was true of white lynchers of single victims, was to instill fear and terror into blacks, thereby buttressing white domination. The Jim Crow hierarchy could not work without violence being used against those on the bottom rung. George Fredrickson (1971), a historian, stated it this way: "Lynching represented...a way of using fear and terror to check 'dangerous' tendencies in a black community considered to be ineffectively regimented or supervised. As such it constituted a confession that the regular institutions of a segregated society provided an inadequate measure of day-to-day control"

Tác giả Boskin đã bỏ sót những thuộc tính sau đây của các cuộc bạo loạn do người da trắng giật dây: (a) vai trò của báo đài, đặc biệt là những tờ báo đăng các bài kích động về “các tội phạm da đen” ngay trước khi bạo loạn diễn ra; (b) người da đen không những bị giết hại, mà nhà cửa và cơ sở kinh doanh của họ còn bị cướp phá, nhiều người không trốn thoát đã trở thành những kẻ vô gia cư; (c) mục tiêu của những người da trắng gây bạo loạn trong các cộng đồng da đen cũng như mục tiêu của các đám đông da trắng sử dụng lynching cho từng nạn nhân riêng lẻ là, khủng bố tinh thần và gieo sợ hãi cho người da đen, nhằm củng cố sự thống trị của người da trắng. Tôn ti của chế độ phân chủng Jim Crow không thể tồn tại nếu không sử dụng bạo lực đối với thành phần ở nấc thang thấp nhất. George Fredrickson, một sử gia, đã diễn tả thế này: “Lynching tiêu biểu cho một phương thức sử dụng sợ hãi và khủng bố để chận đứng những khuynh hướng ‘nguy hiểm’ trong một cộng đồng da đen mà người da trắng xét thấy không thể tổ chức và kiểm soát một cách hiệu quả. Như thế, lynching biểu hiện một thú nhận là những cơ chế chính qui của một xã hội phân chủng vẫn chỉ có thể cung ứng một biện pháp rất thiếu sót để kềm kẹp người da đen từ ngày này sang ngày khác”.

Many blacks resisted the indignities of Jim Crow, and, far too often, they paid for their bravery with their lives.

Nhiều người da đen đã chống lại những sỉ nhục mà chế độ Jim Crow áp đặt lên họ, và quá ư thông thường, họ đã trả giá cho sự can trường bằng mạng sống của mình.



1 This list was derived from a larger list composed by the Martin Luther King, Jr., National Historic Site Interpretive Staff. Last Updated January 5, 1998.
[1] Jim Crow là một từ miệt thị dành cho người da đen. Từ này phát xuất từ một điệu nhảy có tên là “Jump Jim Crow”, một điệu nhảy vẽ lên hình ảnh lố bịch của người da đen. (ND chú thích.)


Translated by Trần Ngọc Cư
References

Boskin, J. (1976). Urban racial violence in the twentieth century (2nd ed.). Beverly Hills, CA: Glencoe Press.

Dubois, W. E. B. (1986). Writings. N. Huggins, (Ed.). New York NY: Literary Classics of the United States.

Kennedy, S. (1959/1990). Jim Crow guide: The way it was. Boca Raton, FL: Florida Atlantic University Press.

Myrdal, G. (1944). An American dilemma: the Negro problem and modern democracy. New York, NY: Harper.

Raper, A. F. (1933). The tragedy of lynching. Chapel Hill, NC: University of North Carolina Press.

http//www.nps.gov/malu/documents/jim crowlaws.htm.