MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Thursday, February 7, 2013

Constitutionalism Chủ nghĩa hợp hiến




Constitutionalism
Chủ nghĩa hợp hiến

By Greg Russel
Greg Russel

"Freedom of men under government is to have a standing rule to live by, common to every one of that society, and made by the legislative power erected in it."
John Lock
Democracy Papers

“Tự do của con người trong một chế độ cai trị có nghĩa là sống theo một luật lệ bền vững, chung cho cả mọi người trong xã hội; luật lệ này phải được quy định bởi quyền lập pháp đã được thiết lập trong chế độ đó.”
John Locke*
Luận cương Dân chủ

Constitutionalism or rule of law means that the power of leaders and government bodies is limited, and that these limits can be enforced through established procedures. As a body of political or legal doctrine, it refers to government that is, in the first instance, devoted both to the good of the entire community and to the preservation of the rights of individual persons.

Chủ nghĩa hợp hiến[1] hay pháp trị có nghĩa là quyền lực của những người lãnh đạo và của các cơ quan chính quyền phải được hạn chế. Chủ nghĩa hợp hiến, như một chủ thuyết về chính trị hay về luật pháp, nói về một chính quyền mà nhiệm vụ trước hết là nhằm phục vụ cho toàn thể mọi người và bảo vệ quyền cá nhân.
Constitutional government, rooted in liberal political ideas, originated in Western Europe and the United States as a defense of the individual's right to life and property, and to freedom of religion and speech. In order to secure these rights, constitutional architects emphasized checks on the power of each branch of government, equality under the law, impartial courts, and separation of church and state. The exemplary representatives of this tradition include the poet John Milton, jurists Edward Coke and William Blackstone, statesmen such as Thomas Jefferson and James Madison, and philosophers such as Thomas Hobbes, John Locke, Adam Smith, Baron de Montesquieu, John Stuart Mill, and Isaiah Berlin.

Chế độ quản lý nhà nước theo hiến pháp dựa theo các tư tưởng chính trị tiến bộ, xuất phát từ Tây Âu và Mỹ nhằm bảo vệ quyền sống và quyền tư hữu của cá nhân cũng như là quyền tự do tín ngưỡng và tự do ngôn luận. Để bảo đảm các quyền đó các nhà soạn thảo hiến pháp đã nhấn mạnh những yếu tố như kiểm soát quyền lực của các ngành trong chính quyền, bình đẳng trước pháp luật, tòa án không thiên vị và tách rời quyền lực tôn giáo với quyền lực nhà nước. Những người tiêu biểu cho chủ thuyết này gồm thi sĩ John Milton [1], các nhà luật học Edward Coke [2] và William Blackstone [3], các chính khách như Thomas Jefferson [4] và James Madison [5], và các triết gia như Thomas Hobbes [6], John Locke [7], Adam Smith [8], Baron de Montesquieu [9], John Stuart Mill [10], và Isaiah Berlin [11].

Problems of constitutional governance in the 21st century will likely be problems within governments recognized as democratic. The modern-day phenomenon of "illiberal democracies" gains legitimacy, and thus strength, from the fact that these regimes seem reasonably democratic. Illiberal democracy -- that is, nominally democratic government shorn of constitutional liberalism -- is not simply inadequate but dangerous, bringing with it the erosion of liberty, the abuse of power, ethnic divisions, and even war. The spread of democracy around the world has not always been accompanied by a corresponding spread of constitutional liberty. A number of democratically elected leaders have used their authority to justify restricting freedoms. A living tradition of political liberty contributes something even more than free and fair elections, or additional opportunities for political expression. Liberal democracy also provides a legal foundation for the separation of governmental powers so as to uphold basic freedoms of speech, assembly, religion, and property.

Những vấn đề trong việc cai trị theo hiến pháp của thế kỷ XXI có lẽ sẽ là các vấn đề hiện hữu ngay trong các chính quyền được coi là dân chủ. Hiện nay có hiện tượng là các “chế độ dân chủ phi tự do”[12] càng ngày càng được coi là hợp pháp và do đó càng ngày càng mạnh hơn. Lý do là vì các chế độ đó có vẻ như khá dân chủ. Chế độ dân chủ phi tự do – nghĩa là chế độ dân chủ trên danh nghĩa nhưng lại thiếu phần chủ nghĩa tự do theo hiến pháp – là một chế độ không những thiếu sót mà lại còn nguy hiểm bởi vì nó sẽ dẫn tới sự băng hoại quyền tự do, lạm dụng quyền lực, chia rẽ chủng tộc, thậm chí có thể gây ra chiến tranh. Sự quảng bá dân chủ trên thế giới thường không đi đôi với sự quảng bá của chế độ tự do theo hiến pháp. Một số nhà lãnh đạo được bầu lên theo thể thức dân chủ đã dùng quyền lực của mình để giới hạn các quyền tự do. Ngoài việc có bầu cử công bằng và tự do hay gia tăng cơ hội phát biểu về chính trị, một truyền thống sinh hoạt tự do chính trị thực sự còn phải cống hiến những yếu tố khác nữa. Chế độ dân chủ tự do còn phải đặt nền tảng pháp lý cho việc phân chia quyền lực để gìn giữ quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng và quyền tự do sở hữu tài sản.


Constitutionalism: historical foundations

Modern liberal political theories found practical expression in the struggle for constitutional government. The earliest, and perhaps greatest, victory for liberalism was achieved in England. The rising commercial class that had supported the Tudor monarchy in the 16th century led the revolutionary battle in the 17th, and succeeded in establishing the supremacy of Parliament and, eventually, of the House of Commons. What emerged as the distinctive feature of modern constitutionalism was not the insistence on the idea that the king is subject to law (although this concept is an essential attribute of all constitutionalism). This notion was already well established in the Middle Ages. What was distinctive was the establishment of effective means of political control whereby the rule of law might be enforced. Modern constitutionalism was born with the political requirement that representative government depended upon the consent of citizen subjects.

Chủ nghĩa hợp hiến: nền tảng lịch sử

Các lý thuyết chính trị tiến bộ hiện đại đã thể hiện trên thực tế qua quá trình đấu tranh chochủ nghĩa hợp hiến. Thắng lợi sớm nhất, và có lẽ cũng là lớn nhất, là thắng lợi đạt được tại Anh. Giai cấp thương nhân ngày càng lớn mạnh, trước kia ủng hộ chế độ quân chủ Tudor 13 trong thế kỷ XVI, đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng trong thế kỷ XVII và thiết lập được quyền tối cao của Quốc hội và sau đó là quyền tối cao của Hạ nghị viện. Đặc điểm của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại xuất phát từ cuộc đấu tranh đó, không phải là việc đòi hỏi nhà vua cũng phải tuân theo luật pháp. Tuy quan niệm này là một đặc tính cốt yếu của chủ nghĩa hợp hiến nhưng thực ra nó đã được hình thành rõ rệt từ thời Trung cổ. Điểm độc đáo (của chế độ này) là việc thiết lập các phương tiện kiểm soát chính trị hữu hiệu để thi hành chế độ pháp trị. Chủ nghĩa hợp hiến hiện đại được khai sinh với đòi hỏi là đại diện chính quyền phải lệ thuộc vào sự ủng hộ của nhân dân.

Moreover, modern constitutional government was intimately linked to economics and the power of the purse, the idea that those whose taxes fund the government must be represented in that government. The principle that economic supply and redress of grievances go hand-in-hand is the key to modern constitutional government. The decline of the king's feudal revenues, the growth of representative institutions, and a feeling of national solidarity, as opposed to symbolic allegiance to king and court, tended to make real and effective the limited character of kingship.


Hơn thế nữa, chủ nghĩa hợp hiến hiện đại liên quan mật thiết với kinh tế và chủ thể của nguồn tài chính, tức là những người đóng thuế để nuôi chính quyền phải được đại diện trong chính quyền đó. Nguyên tắc nguồn cung cấp kinh tế phải gắn liền với việc sửa sai các điều khiếu nại là điều cốt yếu trong chủ nghĩa hợp hiến hiện đại. Sự suy giảm nguồn thu của nhà vua trong chế độ phong kiến, sự lớn mạnh của các định chế đại diện cho dân và sự gia tăng tinh thần đoàn kết dân tộc – thay vì là sự thần phục có tính chất tượng trưng đối với nhà vua và triều đình – đã khiến cho việc giới hạn quyền lực của vua trở thành hiện thực và hữu hiệu.

However, as can be seen through provisions in the 1689 Bill of Rights, the English Revolution was fought not just to protect the rights of property (in the narrow sense) but to establish those liberties which liberals believed essential to human dignity and moral worth. The "rights of man" enumerated in the English Bill of Rights gradually were proclaimed beyond the boundaries of England, notably in the American Declaration of Independence of 1776 and in the French Declaration of the Rights of Man in 1789. The 18th century witnessed the emergence of constitutional government in the United States and in France, and the 19th century saw its extension with varying degrees of success to Germany, Italy, and other nations of the Western world.


Tuy nhiên, như ta có thể thấy qua các điều khoản của Đạo luật về quyền năm 1689 (Bill of Rights, 1689), cuộc cách mạng ở Anh đã được diễn ra không phải chỉ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản (theo nghĩa hẹp) mà còn thiết lập các quyền tự do mà những người tiến bộ cho là có giá trị tinh thần thiết yếu cho phẩm cách của con người. “Các quyền con người” được nêu trong Đạo luật về quyền của nước Anh dần dần được phổ biến ra ngoài biên giới của nước Anh, nhất là trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 (American Declaration of Independence, 1776) và trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp năm 1789 (Declaration of the Rights of Man, 1789). Thế kỷ XVIII chứng kiến sự xuất hiện của chế độ chủ nghĩa hợp hiến tại Mỹ và Pháp; và tới thế kỷ XIX thì chế độ này lan ra tới các nước Đức, Ý và các nước phương Tây khác với những mức độ thành công khác nhau.


Constitutionalism and the legacy of the American Founders

The constitutional order of American society is built on the foundation of the consent of free and reasonable men and women, as expressed in the symbol of the "social contract" as a trust established for limited purposes. "Social contract" theories had their greatest currency in 17th- and 18th- century Europe, and are associated with English philosophers Thomas Hobbes and John Locke, and French philosopher Jean-Jacques Rousseau. These thinkers justified the political obligation of individuals to a community on the grounds of self-interest and reason, and were well aware of the advantages of a civil society where individuals have both rights and obligations, compared to the disadvantages of a "state of nature," a hypothetical condition characterized by a complete absence of governmental authority. This idea of a "social contract" reflects an underlying awareness that a viable community -- not just a government -- must be established if free government is to exist and if human beings are to be secured against the onslaught of the passions whose rule is the very definition of disorder, tyranny, and rebellion against the rational order of being. John Jay noted, in Federalist No. 2, that the individual relinquishes certain natural rights to society if government is to have requisite power to act in order to secure the common good. As a result, participation as a citizen in a constitutional democracy carries with it the responsibility of abiding by the laws and decisions of the community in its public transactions, even when the individual sharply disagrees. Both the "beast-man" -- the nihilistic criminal or anarchist -- and the "god-man" -- the potential dictator -- who take law into their own hands must be subdued or banished from society, so thought Aristotle and Spinoza. Hobbes, Locke, and the American Founding Fathers all agreed. This is the essential condition of civil society, without which it cannot exist. The laws and policies of constitutional government not only are limited in scope and grounded in consent. They are also bound to serve the well-being of the people of the society in general and of every single individual in it.


Chủ nghĩa hợp hiến và di sản của các bậc khai quốc Hoa Kỳ

Trật tự theo hiến pháp của xã hội Mỹ đặt cơ sở trên sự ưng thuận của mọi người có lương tri, nam cũng như nữ. Sự ưng thuận này được biểu hiệu bằng một “khế ước xã hội” ấn định việc ủy thác để thực hiện một số mục đích giới hạn. Các lý thuyết về “khế ước xã hội” được thịnh hành nhiều nhất vào thế kỷ XVII và XVIII tại châu Âu, và thường được gắn liền với các triết gia người Anh như Thomas Hobbes và John Locke, và triết gia Pháp Jean Jacques Rousseau [14]. Các nhà tư tưởng này cho rằng, vì lợi ích riêng cho mình và vì lẽ phải, cá nhân phải có nghĩa vụ chính trị đối với tập thể. Các nhà tư tưởng đó nhận thức được các ưu điểm của một xã hội dân sự trong đó các cá nhân vừa có quyền và vừa có nghĩa vụ, so với các khuyết điểm của một “nhà nước tự nhiên” là tình trạng giả định trong đó hoàn toàn không có một thẩm quyền cai trị nào cả. Ý tưởng “khế ước xã hội” phản ánh nhận thức cơ bản là một tập thể sinh động – chứ không phải chỉ là một chính quyền – phải được thành lập thì mới có được một chính thể tự do trong đó con người được bảo vệ để chống lại sự tấn công của các ý tưởng mê muội gây ra sự hỗn loạn, nạn chuyên chế và tình trạng nổi loạn chống lại trật tự hợp lý của con người. Trong Luận cương Liên bang số 2 (Federalist Paper No. 2), John Jay [15] nhận xét rằng cá nhân phải nhường một số quyền tự nhiên của họ cho xã hội thì chính quyền mới có quyền lực cần thiết để hành động nhằm bảo đảm lợi ích chung. Do đó, sự tham gia của công dân vào một nền dân chủ theo hiến pháp cũng đòi hỏi người công dân phải có trách nhiệm tôn trọng các luật và các quyết định của tập thể trong các hoạt động công cộng, ngay cả khi cá nhân hoàn toàn không đồng ý với các luật và quyết định đó. Cả “người-vật” – như các kẻ tin vào thuyết hư vô và bọn vô chính phủ – lẫn những “người tự coi mình là thần thánh” – như những kẻ có khuynh hướng độc tài, toàn quyền thao túng pháp luật – cả hai loại người này đều bị Aristotle [16], Spinoza [17] cho là phải được trấn áp và xua đuổi ra khỏi xã hội. Hobbes, Locke và các bậc Khai sáng ra nước Mỹ cũng hưởng ứng quan điểm đó. Đó là điều kiện cốt yếu của một xã hội dân sự, không có nó thì xã hội dân sự không thể tồn tại. Các luật lệ và chính sách của một chính quyền theo hiến pháp không những chỉ có tầm mức giới hạn và căn cứ vào sự thỏa thuận mà còn phải có nhiệm vụ phải phục vụ cho sự an sinh của mọi người trong xã hội nói chung và còn cho cả từng cá nhân trong xã hội đó.

American statesmen -- revolutionaries and constitution-makers alike -- laid claim to this heritage as American history unfolded from the Declaration of Independence (1776), to the Articles of Confederation (1781), the conclusion of the Revolutionary War (1783), the framing of the Constitution (1787), and the ratification of the Bill of Rights (1791). A number of common themes typified this American struggle for liberty and constitutionalism.


Các chính khách Mỹ – từ những nhà cách mạng đến những người soạn thảo Hiến pháp – đều coi đó là di sản của lịch sử Hoa Kỳ. Di sản đó đã bắt đầu xuất hiện từ Tuyên ngôn Độc lập (1776), qua các Điều khoản của Liên bang (1781) (Articles of Confederation,1781), tới khi kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng (1787) (Revolutionary War, 1783), lúc hình thành Hiến pháp (1787) và việc phê chuẩn Bộ luật về quyền (1791) (Bill of Rights, 1791). Sau đây là một số các chủ đề chung tiêu biểu cho công cuộc tranh đấu cho tự do và chế độ hiến pháp tại Mỹ.

Popular sovereignty

"We the People . . . do ordain and establish this Constitution." These words are contained in the Constitution's Preamble and give expression to the doctrine of popular sovereignty, or rule by the people. The Constitution's framers crafted a governing document, which they submitted for popular ratification, based on the conception that ultimate political authority resides not in the government or in any single government official, but rather, in the people. "We the People" own our government, but under our representative democracy, we delegate the day-to-day governing powers to a body of elected representatives. However, this delegation of powers in no way impairs or diminishes the people's rights and responsibilities as the supreme sovereign. The government's legitimacy remains dependent on the governed, who retain the inalienable right peacefully to alter their govern-ment or amend their Constitution.


Chủ quyền về nhân dân

“Chúng tôi Nhân dân… quy định và lập ra Hiến pháp này.” Những từ đó trong phần Dẫn nhập của Hiến pháp diễn tả chủ thuyết chủ quyền về nhân dân, hay là nhân dân cai trị. Các nhà lập hiến đã soạn thảo và đệ trình nhân dân phê chuẩn một văn kiện dùng để cai trị, dựa trên quan niệm là quyền chính trị tối hậu không phải thuộc về chính quyền hay bất cứ một viên chức nào trong chính quyền, mà là thuộc về nhân dân. “Nhân dân chúng tôi” là người sở hữu chính quyền, nhưng dưới chế độ đại diện dân chủ, chúng ta giao quyền cai quản công việc hàng ngày cho một tập thể các đại diện dân cử. Tuy nhiên, sự ủy quyền này không hề cản trở hay giảm bớt quyền và trách nhiệm của nhân dân với tư cách là người có thẩm quyền tối cao. Tính chất chính danh của chính quyền vẫn còn thuộc về người dân được cai trị, và người dân vẫn giữ quyền bất khả xâm phạm là họ có thể thay đổi chính quyền một cách hoà bình hay thay đổi Hiến pháp của họ.

The rule of law

Under constitutional theory, however, government must be just and reasonable, not only from the viewpoint of majority sentiment but also in conformity with higher law, what the Declaration of Independence refers to as "Laws of Nature and of Nature's God." The Declaratory Act of 1766, by which the British Parliament laid claim over the American colonies "to bind (them) in all matters whatsoever," dramatized the contrast between rule of law and rule by law. Rule of law suggests an appeal to a higher standard of law and justice -- transcendent and universally understood -- than the merely mortal or the enacted law of contemporary politicians. The Founders believed that the rule of law was the lifeblood of the American social order and basic civil liberties. The rule of law suggests that if our relationships with each other (and with the state) are governed by a set of relatively impartial rules -- rather than by a group of individuals -- then we are less likely to become the victims of arbitrary or authoritarian rule. Note here that the political obligation implied by the rule of law applies not only to the rights and liberties of subject and citizen but also with equal claim to rulers and governors. By precluding both the individual and the state from transcending the supreme law of the land, the framers constructed a protective layer over individual rights and liberties.

Chế độ pháp trị

Tuy nhiên, theo chủ nghĩa hợp hiến, chính quyền phải ngay thẳng và theo lẽ phải, không những theo quan điểm của đa số quần chúng mà còn theo với một luật cao hơn mà bản Tuyên ngôn Độc lập gọi là “Luật Tự nhiên hay Luật Thượng đế của Tự nhiên”. Bộ Luật Tuyên cáo năm 1766, theo đó Quốc hội Anh tuyên bố quyền chiếm hữu thuộc địa Mỹ “…để ràng buộc (họ) trong bất cứ mọi vấn đề gì”, đã làm nổi bật sự tương phản giữa cai trị theo luật pháp và cai trị bằng luật pháp. Cai trị theo luật pháp hàm ý là phải hướng lên một nền công lý và luật pháp ở mức cao hơn (có tính chất siêu việt mà ai cũng hiểu) là mức bình thường của con người hay của luật mà các chính trị gia nhất thời ban hành. Các nhà lập quốc (Mỹ) tin rằng chế độ pháp trị là dòng máu nuôi sống trật tự xã hội Mỹ và các quyền tự do cơ bản của con người. Chế độ pháp trị cho rằng nếu quan hệ giữa chúng ta (và với nhà nước) được chi phối bởi một số luật lệ tương đối không thiên vị – thay vì bởi một nhóm người – thì sẽ bớt khả năng là chúng ta trở thành nạn nhân của một chế độ cai trị độc đoán hay chuyên quyền. Ở điểm này, cần ghi nhận là nghĩa vụ chính trị bao hàm trong pháp trị áp dụng không những cho các quyền và tự do của những người chịu quyền cai trị và công dân mà còn áp dụng cho cả những người có quyền cai trị và người lãnh đạo. Khi không cho cả cá nhân lẫn nhà nước vượt qua luật tối cao của đất nước các nhà soạn thảo hiến pháp lập ra một lớp chắn bảo vệ cho quyền và tự do cá nhân.

Separation of powers and a system of checks and balances

The Founders had to answer the question of how to implement a government of laws and not of men, when there were only men available to rule. After all, these leaders were political realists who attempted to connect the spirit of constitutionalism to unique features of their time and place. Perhaps the best statement on this philosophical and practical dilemma comes from James Madison in Federalist No. 51. Ambition, Madison declared, had to counteract ambition. The interests of men had to be indissolubly wed to the constitutional rights of the place. Just a little knowledge of human nature would suggest to us that "such devices should be necessary to control the abuses of government." If men and women were angels, then neither external nor internal controls on government would be necessary. But Madison was a realist. Constitutionalism, again to use the words of Madison, entails a policy of "supplying, by opposite and rival interests, the defect of better motives." A constitutional framework, built on a prudent regard for human beings, must enable the government to control the governed. No less important, however, is the auxiliary precaution of checking and balancing within government itself.


Phân chia quyền lực và hệ thống kiểm soát và cân bằng
Các nhà lập quốc (Mỹ) đã phải trả lời câu hỏi: vì cần có con người mới làm được công việc cai trị, thì làm sao thiết lập được một chế độ cai trị theo luật chứ không phải cai trị theo người? Tựu chung là vì các vị đó cũng là những nhà chính trị thực tế nên muốn gắn liền tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến vào những đặc điểm độc đáo đương thời của mình. Vấn đề nan giải vừa có tính chất triết lý vừa có tính chất thực tiễn này có lẽ được diễn tả rõ nhất bởi James Madison trong Luận cương Liên bang số 51. Madison nói rằng phải dùng tham vọng để trị tham vọng. Tư lợi của con người cần phải được gắn liền vào quyền do hiến pháp quy định. Chỉ cần hiểu biết một chút ít về bản chất của con người cũng cho ta thấy rằng “cần phải có những cơ chế như vậy mới ngăn chặn được sự lạm dụng quyền lực của chính quyền”. Nếu con người đều là thần thánh cả thì sẽ không cần có các cơ chế bên trong và bên ngoài để kiểm soát chính quyền. Nhưng Madison là con người thực tế. Cũng theo lời của Madison, chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi phải có một chính sách “dùng các sự mâu thuẫn và đối nghịch trong tư lợi để khai thác những điểm yếu của (luôn luôn có ngay cả trong) các động cơ cao thượng”. Một thể chế hợp hiến, xây dựng trong tinh thần khôn ngoan tôn trọng con người, cần phải cho chính quyền có thể kiểm soát được những người dưới quyền cai trị của chế độ. Tuy nhiên, đi đôi với điều đó, nhưng không kém phần quan trọng, là phải có một cơ cấu đề phòng để kiểm soát và giữ quân bằng ngay trong chính quyền (chính quyền tự kiểm soát lấy mình).

By dividing the business of government among three independent branches, the Constitutional framers ensured that the principle powers of government -- legislative, executive, and judicial -- were not monopolized by any single branch. Allocating government authority among three separate branches also prevented the formation of too strong a national government capable of overpowering individual state governments. Governmental powers and responsibilities intentionally overlap. One example is how congressional authority to make laws can be checked by a presidential veto. This veto, in turn, can be overridden by a two-thirds vote in both houses of Congress. The president serves as commander-in-chief, but only Congress has the authority to raise and support an army, and formally to declare war. The president has the power to appoint all federal judges, ambassadors, and other high government officials, but all appointments must have the advice and consent of the Senate. No law can go into effect unless it is passed by both houses of Congress.


Bằng cách chia công việc cai trị ra cho ba ngành độc lập, các nhà soạn thảo Hiến pháp Mỹ muốn giữ cho các quyền lực chính – lập pháp, hành pháp và tư pháp – không bị độc quyền nắm giữ bởi bất cứ một ngành nào. Phân bổ quyền cai trị cho ba ngành khác nhau cũng ngăn chặn việc chính quyền quốc gia lấn át quyền của các tiểu bang. Quyền lực và trách nhiệm của chính quyền đều được cố ý để cho chồng chéo lên nhau. Một thí dụ là quyền hạn làm luật của Quốc hội có thể bị chặn lại bởi quyền phủ quyết của tổng thống. Nhưng quyền phủ quyết này lại có thể bị bác bỏ bởi 2/3 số phiếu của cả hai viện. Tổng thống nắm quyền tổng tư lệnh quân đội nhưng chỉ có Quốc hội mới có quyền lập ra và hỗ trợ quân đội và có quyền chính thức tuyên chiến. Tổng thống có quyền bổ nhiệm thẩm phán liên bang, đại sứ và các viên chức cao cấp trong chính quyền, nhưng mọi sự bổ nhiệm phải có sự tham vấn và chấp thuận của Thượng viện. Không một luật nào có hiệu lực nếu không được cả hai viện thông qua.

The Supreme Court has the final authority to strike down both legislative and executive acts as unconstitutional. Herein lies the root of judicial review and the empowerment of the federal judiciary in the United States after Marbury v. Madison (1803). The power of judicial review derives not from the written U.S. Constitution, which contains no explicit reference to this authority, but from a series of court cases dating back to the late 1700s. What is common to these cases, at least as a philosophical or ethical justification of court authority, is the link between judicial review and higher law. Americans of the time would have embraced the ancient teaching that, if positive or human law departs from the law of nature, it is no longer law but a perversion of the law. The general idea is captured in James Otis' Rights of British Colonies Asserted and Proved (1764), wherein he stipulates:

Tòa án tối cao có quyền tối hậu hủy bỏ các hành động trái với hiến pháp của cả lập pháp lẫn hành pháp. Đây là nguồn gốc của vai trò duyệt xét luật pháp và trao quyền cho giới thẩm phán liên bang tại Hoa Kỳ sau vụ Marbury kiện Madison (1803). Quyền duyệt xét lại luật pháp không phát xuất từ văn bản của Hiến pháp Mỹ (trong Hiến pháp không có minh thị đề cập tới thẩm quyền này) nhưng là từ một số phán xét của tòa vào những năm cuối của thế kỷ XVIII. Đặc điểm chung của tất cả các vụ phán xét đó là mối liên hệ giữa việc duyệt xét luật pháp và luật tối cao, ít ra là làm cơ sở có tính chất triết lý hay đạo đức để biện minh cho thẩm quyền của tòa án. Người Mỹ thời bấy giờ chắc đã tin theo một lời dạy của người xưa cho rằng nếu luật của con người đưa ra không thuận với luật tự nhiên thì không còn được coi là luật nữa mà đã trở thành một luật đã bị hủ hoá. Ý tưởng này đã được James Otis (18) diễn đạt một cách ngắn gọn trong bài “Quyền của các thuộc địa Anh quốc đã được khẳng định và chứng minh” (Rights of British Colonies Asserted and Proved (1764)) như sau:

The law of nature was not of man's making, nor is it in his power to mend or alter its course. He can only perform and keep or disobey and break it. The last is never done with impunity, even in this life, if it is any punishment for a man to feel himself depraved, to find himself degraded by his own folly and wickedness from the rank of a virtuous and good man to that of a brute, or to be transformed from the friend, perhaps father, of his country to a devouring lion or tiger.

“Luật tự nhiên không phải do con người tạo ra, mà con người cũng không có quyền sửa đổi luật đó. Con người chỉ có thể hoặc tuân theo và thi hành luật đó hoặc chống lại và vi phạm luật. Nhưng không bao giờ hành động chống lại hoặc vi phạm như vậy lại không bị trừng phạt; ngay cả trong cuộc đời này, sự trừng phạt đó có thể dưới hình thức khiến cho con người cảm thấy mình trở thành sa đọa, hay cảm thấy mình, vì sự điên rồ và ác độc của mình, đã bị đào thải ra khỏi tập thể của những người tốt và đạo đức (và bị đẩy) xuống hàng thú vật, hay là từ cương vị là người bạn, và có lẽ là người cha, của đất nước đã biến thành loài hung bạo như sư tử, hùm beo”[19].

Federalism

The Founders also determined that power must be divided among the different levels of government: national and state. The failure of the Articles of Confederation (1781-87) to create a viable government for the American colonies led delegates at the 1787 Constitutional Convention in Philadelphia to establish more power at the center of government.

Thể chế liên bang

Các nhà lập quốc (Mỹ) cũng quyết định là quyền lực phải được phân chia giữa các cấp chính quyền toàn quốc và tiểu bang. Sự thất bại của Các Điều khoản của Liên minh (1781-1787) để lập ra một chính phủ có thể hoạt động được tại thuộc địa Mỹ đã khiến cho các đại biểu trong cuộc Đại hội về Hiến pháp tại Philadelphia năm 1787 đặt thêm quyền lực tại trung tâm của chính quyền.


The Articles served as a bridge between the initial government by the Continental Congress of the Revolutionary period and the federal government created by the U.S. Constitution of 1787. Because the experience of overbearing British central authority was vivid in colonial minds, the drafters of the Articles deliberately established a "confederation" of sovereign states. However, the Articles gave Congress no power to enforce its requests to the states for money or troops, and by the end of 1786, governmental effectiveness had broken down.


Các Điều khoản của Liên minh là một cách sắp xếp chuyển tiếp từ hệ thống chính quyền đầu tiên lập ra bởi Đại hội Toàn châu trong thời kỳ cách mạng sang hệ thống chính quyền liên bang lập ra bởi Hiến pháp Mỹ năm 1787. Vì đã từng thấy quá rõ tính chất áp chế của chính quyền trung ương nước Anh, nên các nhà soạn thảo Các Điều khoản của Liên minh cố tình lập ra một “liên minh” gồm các tiểu bang có chủ quyền. Tuy nhiên, các Điều khoản không cho Quốc hội có quyền buộc các tiểu bang phải đóng góp tiền và quân đội theo yêu cầu của Quốc hội nên tới cuối năm 1786, chính quyền đã mất hữu hiệu và trở nên hoàn toàn tê liệt.


Under the U.S. Constitution, confederation was to give way to federation -- a system in which power would be shared between one national and several state governments. The national government was to be supreme in certain areas, but the states were not to become mere administrative units of the central government. States' rights were protected in a number of ways. First, the 10th Amendment to the Constitution made clear that a number of spheres of activity were to be reserved for the states. State governments, for instance, are largely responsible for managing their own budgets and making and enforcing laws in many areas that impact residents of the state. Second, states were also protected by their representation inside the U.S. Senate: two senators to a state, irrespective of the size of the state. Third, the Electoral College, the body that formally elects the U.S. president, was to be an aggregation of electors selected by the states, with each state awarded a minimum of three delegates. Fourth, the amending procedure of the Constitution itself also reflected state interests, for any amendment to the Constitution requires approval by three-fourths of all state legislatures as well as two-thirds of the members of both houses of Congress. These protections were built into the Constitution as well, to prevent the smaller states from being dominated by the power of the larger states. The sharing of power between states and the national government is one more structural check in an elaborate scheme of checks and balances.


Theo Hiến pháp Mỹ, thể chế liên minh (confederation) sẽ được thay thế bằng thể chế liên bang (federation), trong đó quyền lực sẽ được chia sẻ giữa một chính quyền toàn quốc và nhiều chính quyền tiểu bang. Chính quyền toàn quốc có quyền tối cao trong một số lĩnh vực nhưng tiểu bang không phải chỉ thuần tuý là các đơn vị hành chính của chính quyền trung ương. Quyền của các tiểu bang được bảo vệ bằng nhiều cách. Trước hết, bản Tu chính thứ 10 của Hiến pháp nói rõ là một số lĩnh vực hoạt động được dành riêng cho các tiểu bang. Chẳng hạn, chính quyền tiểu bang phần lớn chịu trách nhiệm quản lý ngân sách của mình và thực thi luật pháp trong nhiều lĩnh vực trực tiếp ảnh hưởng tới dân cư ngụ trong tiểu bang. Thứ hai là quyền đại diện của các tiểu bang tại Thượng viện cũng được bảo vệ. Mỗi tiểu bang, dù lớn hay nhỏ, đều có hai nghị sĩ. Thứ ba là Cử tri đoàn (electoral college), tức là tổ chức chính thức bầu ra tổng thống, là một tập hợp của các cử tri do tiểu bang chọn, mỗi tiểu bang được quyền có tối thiểu ba người. Thứ tư là chính thể thức tu chính Hiến pháp cũng phản ánh quyền lợi của các tiểu bang, vì bất cứ một tu chính Hiến pháp nào cũng cần phải có sự chấp thuận của viện lập pháp của 3/4 số tiểu bang và 2/3 của đại diện dân cử của cả hai Viện. Các điều bảo vệ đó đều được ghi rõ trong Hiến pháp để giữ cho các tiểu bang nhỏ không bị lấn át bởi các tiểu bang lớn. Sự chia sẻ quyền lực giữa chính quyền tiểu bang và chính quyền toàn quốc là một sự kiểm soát có tính chất cơ cấu trong một hệ thống kiểm soát và cân bằng rất tinh tế.

The struggle for individual rights

The Preamble to the Constitution looked to a new American political order based on the following principles: to form a more perfect union, to provide for the common defense, to establish justice, and secure the blessings of liberty for present and future generations. Even earlier, the Declaration of Independence had spoken of "inalienable rights" that were inherent in all people by virtue of their being human and that no government could take away. Just how best to secure justice and the blessings of liberty (then as well as now) inspired fierce partisan differences. When first drafted and submitted to the states for ratification, the Constitution did not include any reference to individual rights. One explanation for this anomaly is that the framers assumed that the powers of the newly created national government were so carefully limited that individual rights really required no additional protections. In addition, other Federalists made the case that enumerating additional rights carried an additional liability -- that is, those rights deemed essential yet left unspecified would become vulnerable to government encroachment.


Công cuộc tranh đấu cho quyền cá nhân

Phần dẫn nhập của Hiến pháp đi tìm một trật tự chính trị mới dựa trên các nguyên tắc sau đây: để thành lập một sự liên minh hoàn thiện hơn, để tạo ra một hệ thống phòng vệ chung, để lập ra một chế độ công bằng, và để đảm bảo những niềm hạnh phúc tự do cho các thế hệ hiện tại và mai sau. Ngay cả trước đó, bản Tuyên ngôn Độc lập đã nói tới các “quyền bất khả xâm phạm” cố hữu trong bản chất của con người mà không một chính quyền nào có thể tước bỏ. Vào thời đó, mà ngay cả cho tới bây giờ, đã diễn ra những cuộc bất đồng ý kiến gay gắt giữa các phe phái về vấn đề làm thế nào để đảm bảo những niềm hạnh phúc tự do đó. Khi mới được soạn thảo và đưa ra các tiểu bang để phê chuẩn, Hiến pháp không nói gì tới quyền tự do cá nhân. Một cách giải thích cho sự khác thường này là bởi các nhà soạn thảo Hiến pháp cho rằng quyền lực của chính quyền quốc gia mới được lập ra đã được giới hạn một cách cẩn thận đến mức không cần phải có thêm các bảo vệ khác cho quyền cá nhân. Hơn nữa, có nhà chủ trương thể chế liên bang lập luận rằng nếu kể rõ thêm các quyền thì cũng có thêm một điều đáng ngại nữa là có những quyền được coi là thiết yếu nhưng nếu không được nêu ra thì có thể bị chính quyền xâm phạm.

Although the Antifederalists were defeated in the battle over drafting the 1787 Constitution, they were able to force concessions from their opponents. Fearful of the power of the new national government, they demanded that a series of specific protections of individual rights be written into the Constitution. They also obtained promises from Federalist leaders in some state conventions to support the passage of appropriate amendments to the Constitution. Unless assured that a bill of rights would be passed, a number of states threatened to withhold ratification of the Constitution. The Federalists kept their promises. In 1789, the first Congress of the United States adopted the first 10 amendments to the Constitution. By 1791, the Bill of Rights, constituting these first 10 amendments, had been ratified by the required number of states. Moreover, the Ninth Amendment -- expressly protecting fundamental rights not specifically described in the Constitution -- laid to rest Federalist fears that singling out any right for protection would jeopardize the protection of all other rights not similarly identified.

Mặc dầu phe chống Liên bang thua trong vòng tranh đấu khi soạn thảo Hiến pháp 1787, nhưng họ cũng đã có thể bắt buộc đối phương phải nhượng bộ. Vì e ngại quyền lực của chính quyền toàn quốc mới (quá mạnh), họ đòi hỏi là phải ghi vào trong Hiến pháp một loạt điều bảo vệ cụ thể cho quyền cá nhân. Tại một số đại hội ở cấp tiểu bang, họ được các lãnh tụ của phe Liên bang hứa là sẽ ủng hộ thông qua những tu chính Hiến pháp thích hợp. Một số tiểu bang còn đe dọa sẽ không phê chuẩn Hiến pháp trừ phi họ được đảm bảo là phải thông qua một đạo luật về quyền. Phe chủ trương Liên bang đã giữ lời hứa. Năm 1789, Quốc hội đầu tiên của Mỹ đã chấp thuận 10 tu chính đầu tiên của Hiến pháp. Tới năm 1791, Bộ luật về quyền, gồm 10 điều tu chính này, đã được đủ số tiểu bang phê chuẩn. Hơn thế nữa, Tu chính số 9 – minh thị bảo vệ các quyền cơ bản không được nêu rõ trong Hiến pháp – cũng khiến cho phe chủ trương Liên bang không còn e ngại là liệt kê những quyền được bảo vệ sẽ làm phương hại tới các quyền khác không được liệt kê ra một cách rõ rệt như vậy.



The Bill of Rights limits the ability of government to trespass upon certain individual liberties, including freedom of speech, press, assembly, and religion. It also prohibits Congress from passing laws respecting the "establishment" of any official religion, that is, favoring one religion over another. Nearly two-thirds of the Bill of Rights is geared to safeguarding the rights of persons suspected or accused of crime. These rights encompass due process of law, fair trials, freedom from self-incrimination and from cruel and unusual punishment, and being held twice in jeopardy for the same crime. When first adopted, the Bill of Rights applied only to the actions of the national government.


Bộ luật về quyền cũng giới hạn khả năng chính quyền xâm phạm vào quyền cá nhân, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và tự do tín ngưỡng. Bộ luật này cũng cấm Quốc hội thông qua các luật về việc thiết lập một tôn giáo chính thức, nghĩa là ưu đãi một tôn giáo này hơn một tôn giáo khác. Gần 2/3 số điều khoản trong Bộ luật về quyền là nhằm bảo vệ quyền của những người bị nghi là phạm tội hay bị truy tố vì có hành vi phạm pháp. Các quyền này bao gồm các điều như áp dụng thủ tục đúng theo luật pháp quy định, xử án công bằng, không bị ép buộc phải nhận tội, không phải chịu các hình phạt độc ác hay khác thường hay bị xử hai lần cho cùng một tội. Khi mới được thông qua, Bộ luật về quyền chỉ áp dụng cho các hoạt động thuộc chính quyền liên bang.

Restraining state infringements upon civil liberties was the subject of the 13th (1865), 14th (1868), and 15th (1870) amendments, the so-called Reconstruction Amendments passed after the Civil War and intended to dismantle the institution of slavery. Over the past 100 years, many of the liberties provided for in the first 10 amendments have been incorporated in the 14th amendment's guarantee that no state shall deprive its citizens of either due process or equal protection of the law. Especially after the 1920s, the Constitution's first 10 amendments played an increasingly active and significant role in resolving difficult questions of public policy -- from the constitutionality of school prayer and mandatory drug testing laws to birth control and capital punishment. And basic founding principles such as "justice" or "liberty," as well as constitutional precepts such as "due process" and "equal protection under the law," have been given new meaning by succeeding generations. These developments, often accompanied by protest movements and civil disobedience, reflect changes in human sensibilities and social mores over the past 200 years.

Kiềm chế khả năng nhà nước xâm phạm quyền tự do của công dân là đề tài của các tu chính án số 13 (1865), 14 (1868) và 15 (1870), được mệnh danh là các Tu chính án kiến thiết (Reconstruction Amendments), được thông qua sau cuộc Nội chiến để giải thể các định chế của chế độ nô lệ. Trong hơn 100 năm qua, nhiều quyền tự do quy định trong 10 tu chính án đầu tiên đã được bao gồm trong tu chính thứ 14 với điều bảo đảm là không một nhà nước nào có thể không cho công dân được hưởng quyền xét xử theo luật định và quyền được luật pháp bảo vệ. Nhất là từ sau những năm 1920, mười tu chính đầu tiên của Hiến pháp đã giữ một vai trò ngày càng tích cực và ngày càng có ý nghĩa trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn trong chính sách công – từ tính chất hợp hiến của việc đọc kinh trong trường học và luật thử ma túy cho tới các vấn đề như kiểm soát sinh đẻ và hình phạt tử hình. Các nguyên tắc cơ bản như “công bằng” hay “tự do” cũng như các phương châm của Hiến pháp như “xét xử theo luật định” và “quyền được luật pháp bảo vệ một cách bình đẳng” đã được các thế hệ kế tiếp cho những ý nghĩa mới. Những phát triển đó, thường đi kèm theo các phong trào phản đối và bất tuân luật pháp của quần chúng, phản ánh những thay đổi trong cảm nhận của con người và của tập tục xã hội Hoa Kỳ trong 200 năm vừa qua.

The philosophical justification for the Bill of Rights is that it places certain liberties beyond the reach of majorities on the premise that depriving citizens of fundamental rights would diminish their civil standing and, in fact, their very humanity. The vast array of rights secured by the Bill of Rights and Constitution compose the texture of a free government. Civil rights may arise directly from natural rights or indirectly through political arrangements in a society built upon the consent of the people given in constitutions, common law precedent, and statutes. The success story of Madison and his colleagues at the Constitutional Convention, and at the first Congress, reflects the way they set about creating a self-adjusting set of processes and structures that could legally enforce rights and supply standards for their realization in the United States.

Sự biện minh có tính chất triết lý cho rằng Bộ luật về quyền đã đặt một số quyền tự do ra ngoài tầm kiểm soát của khối đa số. Điều này căn cứ vào tiền đề là tước bỏ quyền cơ bản của công dân sẽ làm giảm tư cách công dân của họ và thực chất là làm giảm ngay cả tư cách con người của họ. Cái tập hợp lớn gồm các quyền được Bộ luật về quyền và Hiến pháp bảo vệ họp thành kết cấu thiết yếu của một chính quyền tự do. Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từ quyền tự nhiên hay gián tiếp qua các xếp đặt chính trị trong một xã hội được xây dựng với sự thỏa thuận của dân chúng thể hiện trong Hiến pháp, qua các tiền lệ của thông luật và qua các luật lệ. Sự thành công của Madison và những đồng nghiệp của ông trong Đại hội Hiến pháp (Constitutional Convention) và trong Quốc hội đầu tiên phản ánh quy cách mà các vị đó đã tiến hành để dựng lên các quy trình và cơ cấu có khả năng tự điều chỉnh để thi hành quyền một cách hợp pháp và đưa ra những tiêu chuẩn thực hiện các quyền đó ở nước Mỹ.

Constitutionalism, freedom, and the new world order

The end of the Cold War, along with the collapse of the Soviet Union and communist client states throughout Eastern Europe, ushered in a sense of triumphalism and optimism about the promise of liberal-democratic ideas and constitutional government. In December, 2000, Freedom House, a not-for-profit organization that promotes democracy worldwide, released a major study detailing the state of political rights and civil liberties in today's world of 191 countries. The study, Freedom in the World 2000-2001, finds that a decade-long trend of positive, incremental gains for freedom continued in the year 2000. According to the organization's annual survey, 86 countries representing 2.5 billion [thousand million] people (or 40.7 percent of the world's population, the highest proportion in the survey's history) are rated "free." Their inhabitants enjoy a broad range of rights. Fifty-nine countries, representing 1.4 billion people (23.8 percent), are considered "partly free." Political rights and civil liberties are more limited in these countries, which are often characterized by corruption, dominant ruling parties, and, in some cases, ethnic or religious strife. The survey finds that 47 countries, representing 2.2 billion people (35.5 percent), fall into the "not free" category. Inhabitants of these countries are denied basic political rights and civil liberties.

Chủ nghĩa hợp hiến, tự do và trật tự thế giới mới

Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và các nước phụ thuộc tại Đông Âu đã đưa tới một cảm giác chiến thắng và lạc quan trước triển vọng tốt đẹp của các ý tưởng tự do dân chủ và thể chế cai trị theo hiến pháp. Tháng 12 năm 2000, tổ chức Freedom House (Nhà Tự do), một tổ chức phi lợi nhuận với mục đích phát triển dân chủ trên thế giới, đã phổ biến một tài liệu nghiên cứu quy mô về tình trạng hiện tại về quyền chính trị và quyền tự do của 191 nước trên thế giới. Tập tài liệu nghiên cứu, có tiêu đề là Tự do trên Thế giới năm 2000-2001, cho thấy xu hướng tự do gia tăng từng mức độ nhỏ kéo dài suốt 10 năm vẫn còn tiếp tục trong năm 2000. Theo nghiên cứu hàng năm của tổ chức này, 86 quốc gia gồm 2,5 tỷ (tức 2.500 triệu) người (hay 40,7 % dân số thế giới, tỷ số cao nhất từ khi tổ chức này làm điều tra nghiên cứu) được đánh giá là “có tự do”. Người dân ở những nước này được hưởng một số quyền tự do rộng rãi. Năm mươi chín quốc gia, gồm 1,4 tỷ người (23,8%) được coi là “tự do một phần”. Trong các quốc gia đó quyền chính trị và quyền tự do bị giới hạn hơn. Các quốc gia đó cũng là những nước có các đặc điểm như tham nhũng, đảng cầm quyền có tính chất áp chế và một số nước có xung đột về tôn giáo hay chủng tộc. Cuộc điều tra nghiên cứu cũng cho thấy có 47 quốc gia, gồm 2,2 tỷ người (35,5 %) thuộc loại “không có tự do”. Người dân tại những nước này không có các quyền chính trị và quyền tự do cơ bản.

The Freedom House survey reinforces the widespread conviction that there are no longer respectable alternatives to democracy; it has become an established bulwark of modernity. Another part of this post-Cold War legacy, however, is proving much more challenging and problematic for policy-makers and political thinkers alike. Democratically elected regimes, often ones that have been re-elected or reaffirmed through referenda, are routinely ignoring constitutional limits on their power and depriving their citizens of basic rights and freedoms. In many regions of the world, we see the rise of a disturbing phenomenon in international life -- illiberal democracy.


Cuộc điều tra nghiên cứu của Nhà Tự do củng cố sự tin tưởng rất phổ biến hiện nay rằng không còn có một chế độ nào khác tốt hơn chế độ dân chủ. Chế độ này đã trở thành một tường thành bảo vệ trong thời hiện đại. Tuy nhiên một phần di sản khác của thời kỳ Chiến tranh lạnh đã trở thành một vấn đề thử thách và nan giải cho cả những nhà làm chính sách lẫn các nhà tư tưởng về chính trị. Các chế độ được bầu lên theo thể thức dân chủ và thông thường ngay cả những chế độ đã được bầu lại hay được xác nhận lại qua các cuộc trưng cầu dân ý, lại không để ý đến những giới hạn quy định trong hiến pháp và do đó đã không cho người dân được hưởng các quyền cơ bản và quyền tự do. Tại nhiều vùng trên thế giới ta thấy phát sinh hiện tượng ngày càng gia tăng của chế độ dân chủ phi tự do.

At the heart of the matter is the difference between democracy and constitutional government. The problem has been difficult to recognize since, for at least a century in the West, democracy has coincided with liberal democracy. The mix of freedoms associated with constitutional liberalism is theoretically distinct from democracy. From the time of Plato and Aristotle, democracy has meant rule by the people. This view of democracy, as a process of selecting governments, has been articulated by scholars ranging from Alexis de Tocqueville to Joseph Schumpeter and Robert Dahl. Political Scientist Samuel Huntington has explained why this is the case: Elections -- open, free, and fair -- are the essence of democracy, the inescapable sine qua non. Yet governments produced by elections may be inefficient, corrupt, shortsighted, irresponsible, dominated by special interests, and incapable of adopting policies demanded by the public good. While these qualities make such governments undesirable, they do not make them undemocratic. Democracy is one public virtue, not the only one, and the relation of democracy to other public virtues and vices can only be understood if democracy is clearly distinguished from the other characteristics of political systems. But elections and mass mobilization do not always vouchsafe liberal constitutional government. There is a growing unease at the rapid spread of multiparty elections across south-central Europe, Asia, Africa, and Latin America, perhaps because of what happens after the elections. Some elected popular leaders have bypassed their parliaments and ruled by presidential decree, eroding basic constitutional practices.


Cốt lõi của vần đề này nằm ở sự khác biệt giữa chế độ dân chủ và chủ nghĩa hợp hiến. Vấn đề này khó được nhận rõ vì ở phương Tây, ít ra là trong một thế kỷ, dân chủ thường là đi đôi với tự do. Trên lý thuyết, sự liên hệ của tự do với một chủ nghĩa hợp hiến thực ra khác với liên hệ của tự do với chế độ dân chủ. Từ thời đại của Platon và Aristotle, dân chủ đã có nghĩa là chính quyền của nhân dân. Quan niệm như vậy về dân chủ, tức là quá trình lựa chọn chính quyền, đã được trình bày rõ ràng bởi các học giả từ Alexis de Tocqueville [20] tới Joseph Schumpeter [21] và Robert Dahl [22]. Nhà chính trị học Samuel Huntington [23] đã giải thích tại sao lại có tình trạng như vậy: bầu cử – công khai, tự do và công bằng – là điều thiết yếu, không thể thiếu được trong chế độ dân chủ. Tuy nhiên chính phủ được bầu lên có thể không hữu hiệu, thối nát, thiển cận, vô trách nhiệm, bị chi phối bởi các đặc lợi, và do đó không thể thi hành được những chính sách theo đúng với lợi ích chung. Những điều đó khiến cho các chính phủ không được ưa chuộng nữa nhưng không phải vì thế mà các chính quyền đó không dân chủ. Dân chủ là một đặc trưng tốt cho xã hội nhưng nó không là đặc trưng duy nhất. Sự liên hệ của dân chủ với các đặc trưng tốt cũng như xấu khác của xã hội chỉ có thể hiểu rõ hơn nếu ta tách rời dân chủ ra khỏi những đặc trưng khác của các hệ thống chính trị. Nhưng chế độ bầu cử và sự hậu thuẫn của quần chúng không phải lúc nào cũng bảo đảm một chế độ tự do và cai trị theo hiến pháp. Càng ngày người ta càng cảm thấy không yên tâm trước sự lan tràn của các cuộc bầu cử có nhiều đảng phái tham gia tại miền nam trung tâm châu Âu, tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, có lẽ vì những điều gì đã xảy ra sau khi bầu cử. Một số lãnh tụ được lựa chọn do bầu cử sau đó đã qua mặt quốc hội và cai trị bằng sắc lệnh của tổng thống và do đó đã làm băng hoại các thể thức cai trị theo hiến pháp.

Naturally there is a spectrum of illiberal democracy, ranging from modest offenders to near-tyrannies. In Latin America, many democracies have now survived for over a decade through harsh economic conditions, with no explicit challenges from the military or anti-system parties. Yet most of these regimes have yet to be consolidated. Certain countries have persisted in the face of weak institutionalization of formal democratic structures. Yet democratic consolidation is incomplete without the support of constitutional liberalism. In addition to agreement on rules for the competition of power, there must be fundamental and self-enforcing restraints on the exercise of power. One effect of overemphasizing pure democracy as the ultimate test for freedom is that little effort is given to creating imaginative constitutions for transitional countries. This is done not simply by scheduling frequent elections or writing up a list of rights, but by constructing a system which will not violate those rights. Constitutional government looks beyond the procedures for selecting a government to the kind of deliberative arrangements, insulated from public passions, that defend individual liberty and the rule of law. This requires a mutual commitment among elites -- through the coordinating mechanism of a constitution, related political institutions, and often through an elite pact or settlement as well, where governments maintain order by building coalitions among leading political parties and interest groups. The goal is to enforce limits on state authority, no matter which party or faction may control the state at any given time. At the beginning of the 20th century, Woodrow Wilson wanted to make the world safe for democracy. The challenge for the next century may be to make democracy safe for the world.

Lẽ dĩ nhiên cũng có những mức độ khác nhau trong các chế độ dân chủ phi tự do: từ những chế độ vi phạm nho nhỏ cho tới chế độ gần như là chuyên chế. Tại châu Mỹ La tinh có những chế độ đã tồn tại hàng thập niên qua các hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn mà vẫn không gặp phải sự chống đối công khai nào của giới quân đội cũng như của các đảng chống chính phủ. Nhưng các chế độ đó vẫn chưa được củng cố. Có nhiều nước vẫn tồn tại mặc dầu vẫn còn yếu kém về phương diện định chế hóa các cơ cấu chính thức của chế độ dân chủ. Tuy nhiên, củng cố dân chủ không thể nào hoàn tất được nếu không có chế độ tự do theo hiến pháp. Ngoài việc thỏa thuận về các quy tắc cạnh tranh quyền lực, về cơ bản còn cần phải có những cơ chế tự kiểm soát việc thực thi quyền lực. Một hậu quả của việc quá nhấn mạnh dân chủ thuần túy như một trắc nghiệm tối hậu để xem có tự do hay không là có ít nỗ lực trong việc làm ra các hiến pháp sáng tạo cho các quốc gia đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp. Chỉ đưa ra lịch trình bầu cử thường xuyên hay làm bảng liệt kê các quyền cũng chưa đủ mà phải xây dựng một hệ thống để đảm bảo các quyền đó không bị xâm phạm. Chính thể theo hiến pháp không thể chỉ giới hạn trong việc ấn định thể thức lựa chọn chính quyền mà phải nhìn xa hơn để tạo ra các cơ cấu có cân nhắc kỹ lưỡng, không bị chi phối bởi các tình cảm sôi nổi của quần chúng, để bảo vệ quyền tự do cá nhân và chế độ pháp trị. Điều này đòi hỏi phải có sự cam kết hỗ tương giữa các thành phần tinh hoa của đất nước – qua cơ chế điều hợp của hiến pháp, qua các định chế chính trị liên hệ và thường là qua cả các sự thỏa hiệp hay dàn xếp giữa các thành phần tinh hoa nữa – để cho chính quyền có thể duy trì trật tự bằng cách thành lập các liên minh giữa các đảng chính trị và các nhóm lợi ích. Mục đích là để có thể thực hiện được các giới hạn đối với chính quyền, dù là chính quyền đó dưới sự kiểm soát của bất cứ đảng nào và vào bất cứ lúc nào. Vào đầu thế kỷ 20, Tổng thống Woodrow Wilson muốn thế giới an toàn để thực thi dân chủ. Sự thử thách trong thế kỷ sắp tới có thể sẽ là phải làm sao cho dân chủ an toàn đối với thế giới.


Greg Russell is associate professor of political science at the University of Oklahoma in Norman and is the author, among other works, of Hans J.Morgenthau and the Ethics of American Statecraft (1990) and John Quincy Adams and the PublicVirtues of Diplomacy (1995) and Reconciling Internal Rights and External Wrongs: The Force of Arms and Ideas in War. He has published extensicely in the areas of political ethics and diplomatic his tory and currently working on a book entitled Theodore Roosevelt and the Soul of American Statecraft.
Greg Russell là Giám đốc chương trình nghiên cứu sinh tại phân khoa Chính trị học, Đại học Oklahoma, Hoa Kỳ. Ông là tác giả của các tác phẩm: Hans J. Morgenthau and the Ethics of American Statecraft, John Quincy Adams and the Public Virtues of Diplomacy, và Reconciling Internal Rights and External Wrongs: The Force of Arms and Ideas in War. Ông cũng viết nhiều bài cho các tạp chí về các đề tài như triết lý chính trị, lịch sử ngoại giao của Mỹ và bang giao quốc tế. Ông đã hoàn tất bản thảo tác phẩm về thuật trị nước của Theodore Roosevelt.

Translated by Đỗ Kim Thư, Trần Lương Ngọc, Nguyễn Hồng Liên, Nông Duy Trường
Edited by: Nguyễn Trang Nhung, Vũ Công Giao


Chú thích:
1. John Milton (1608-1674): Thi sĩ lớn tại Anh, tác giả thiên trường ca nổi tiếng Paradise Lost (1667)
2. Edward Coke (1552–1634): Luật gia nổi tiếng trong lịch sử luật pháp tại Anh.
3. Sir William Blackstone (1723-1780): Luật gia và giáo sư luật nổi tiếng của nước Anh. Tác giả của tác phẩm nổi tiếng về thông luật có tiêu đề là Commentaries on the Laws of England (1765–1769).
4. Thomas Jefferson (1743-1826): Tổng thống thứ ba cùa Hoa Kỳ trong giai đoạn 1801-1809.
5. James Madison (1751-1836): Tổng thống thứ tư cùa Hoa Kỳ trong giai đoạn 1809-1817.
6. Thomas Hobbes (1588-1679): Triết gia chính trị của nước Anh. Tác phẩm nổi tiếng là Leviathan (1651).
7. John Locke (1632-1704): Triết gia nổi tiếng của nước Anh. Các tư tưởng của ông về cai trị với sự thỏa thuận của nhân dân, quyền tự nhiên của nhân dân (quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản) có ảnh hưởng rất nhiều đến triết học chính trị.
8. Adam Smith (1723-1790): Nhà kinh thế chính trị và triết gia về đạo đức của Scotland. Tác phẩm nổi tiếng của ông (Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations), giúp tạo ra khoa kinh tế học và đưa ra các lý luận nổi tiếng về tự do mậu dịch và chủ nghĩa tư bản.
9. Charles-Louis de Secondat, Baron de La Brède et de Montesquieu (1689-1755): Thường được gọi là Montesquieu, nhà tư tưởng chính trị của Pháp, sinh trưởng trong Thời kỳ Khai sáng (thế kỷ 18). Ông nổi tiếng là người chủ trương phân chia quyền lực trong chính quyền.
10. John Stuart Mill (1806-1873): Triết gia và chính trị kinh tế gia của nước Anh, một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng của trường phái tự do cổ điển.
11. Sir Isaiah Berlin (1909-1997): Triết gia chính trị và sử gia về tư tưởng, một trong những nhà tư tưởng tiến bộ nổi tiếng trong thế kỷ 20.
12. Tức là chế độ dân chủ không có tự do.
13. Thời đại Tudor trong lịch sử nước Anh kéo dài 118 năm từ 1485 tới 1603.
14. Jean-Jacques Rousseau (1712-1778): Triết gia, nhà văn hào và lý thuyết gia chính trị, người Pháp gốc Thụy Sĩ. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Social Contract (Khế ước xã hội).
15. John Jay (1745-1829): Chính trị gia và luật gia nổi tiếng của Mỹ. Thẩm phán đầu tiên và cũng là ít tuổi nhất của Toà án Tối cao Mỹ từ 1789 tới 1794.
16. Aristotle (384-322 trước Công nguyên): Triết gia cổ Hy Lạp, môn đệ của Plato và thầy dạy của Alexander Đại đế (Alexander the Great).
17. Benedictus de Spinoza (1632-1677): Triết gia thuộc môn phái duy lý vào thế kỷ 17. Tác phẩm nổi tiếng là Đạo đức học (Ethics).
18.James Otis (1725-1783): Luật sư tại Massachusetts khi Mỹ còn là thuộc địa của Anh. Ông thuộc trong số những người sớm đưa ra những quan điểm chính trị mở đường cho cuộc Cách mạng tại Mỹ.
19. “Hà chính mãnh ư hổ giã” (sách lược trị quốc trị hà khắc còn ghê gớm hơn cọp) – Khổng Tử.
20. Alexis-Charles-Henri Clérel de Tocqueville (1805-1859): Nhà tư tưởng chính trị và sử gia của Pháp. Tác phẩm nổi tiếng của ông là “Dân chủ tại Mỹ” [Democracy in America, 1835 và 1840] và “Chế độ cũ và cuộc Cách mạng” [The Old Regime and the Revolution (1856)].
21. Joseph Alois Schumpeter (1883-1950): Kinh tế gia người Áo, nổi tiếng về các tác phẩm về lịch sử tư tưởng kinh tế.
22. Robert Dahl: Giáo sư danh dự tại phân khoa Chính trị học, Đại học Yale, hội viên Viện hàn lâm Khoa học quốc gia, Hội triết học Hoa Kỳ và viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ.
23. Samuel P. Huntington: Giáo sư Đại học Albert J. Weatherhead III, tốt nghiệp Đại học Yale khi 18 tuổi, tham gia quân đội, lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Harvard và bắt đầu giảng dạy tại đại học này khi mới 23 tuổi.



http://infousa.state.gov/government/overview/dmpaper2.html

Human Rights and Asian Values Nhân Quyền và Các Giá Trị Á Đông




Human Rights and Asian Values
Nhân Quyền và Các Giá Trị Á Đông



By Amartya Sen
The New Republic
July 21, 1997
Amartya Sen
The New Republic
14-July 21/7/1997


In 1776, just when the Declaration of Independence was being adopted in this country, Thomas Paine complained, in Common Sense, that Asia had "long expelled" freedom. In this lament, Paine saw Asia in company with much of the rest of the world (America, he hoped, would be different): "Freedom hath been hunted round the globe. Asia and Africa have long expelled her. Europe regards her as a stranger and England hath given her warning to depart." For Paine, political freedom and democracy were valuable anywhere, though they were being violated nearly everywhere.

Năm 1776 khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập vừa được công bố ở Hoa Kỳ thì, trong tiểu luận Common Sense, Thomas Paine[1] đã than rằng Á châu "từ lâu đã tống xuất" tự do ra khỏi lục địa này. Trong lời than này Paine thấy rằng Á châu cũng đồng hội đồng thuyền với nhiều nước khác trên thế giới (ông mong rằng Hoa Kỳ sẽ khác họ): "Tự Do bị người ta săn lùng ở khắp nơi trên hoàn cầu. Á châu và Phi Châu đã tống xuất tự do ra ngoài từ lâu. Âu Châu xem tự do như một kẻ xa lạ và Anh Quốc đã cảnh cáo là tự do phải rời khỏi xứ họ." Đối với Paine, tự do chính trị và dân chủ ở bất kỳ nơi nào cũng là điều vô cùng quý báu, nhưng lại bị vi phạm ở hầu như tất cả mọi nơi.

The violation of freedom and democracy in different parts of the world continues today, if not as comprehensively as in Paine's time. There is a difference, though. A new class of arguments have emerged that deny the universal importance of these freedoms. The most prominent of these contentions is the claim that Asian values do not regard freedom to be important in the way that it is regarded in the West. Given this difference in value systems-the argument runsAsia must be faithful to its own system of philosophical and political priorities.


Hiện nay trong nhiều vùng khác nhau trên thế giới, quyền tự do và dân chủ vẫn tiếp tục bị vi phạm, tuy không toàn diện như dưới thời của Paine. Nhưng vẫn có sự khác biệt. Một kiểu lý luận mới đã được dùng để phủ nhận tính quan trọng toàn cầu của những quyền tự do này. Lập luận đáng chú ý nhất được dùng trong các cuộc tranh luận này là trong hệ thống giá trị của Á Đông tự do không được coi trọng như ở Tây Phương. Vì sự khác biệt về hệ thống giá trị, lập luận này dẫn đến một kết luận là Á Đông phải trung thành với hệ thống triết lý và các ưu tiên chính trị của mình.


Cultural differences and value differences between Asia and the West were stressed by several official delegations at the World Conference on Human Rights in Vienna in 1993. The foreign minister of Singapore warned that "universal recognition of the ideal of human rights can be harmful if universalism is used to deny or mask the reality of diversity." The Chinese delegation played a leading role in emphasizing the regional differences, and in making sure that the prescriptive framework adopted in the declarations made room for regional diversity. The Chinese foreign minister even put on record the proposition, apparently applicable in China and elsewhere, that "Individuals must put the states' rights before their own."


Trong Hội Nghị Thế Giới về Nhân Quyền tại thành phố Vienna năm 1997, phái đoàn của các chính phủ đã nhấn mạnh những khác biệt về văn hóa và giá trị giữa Á Đông và Tây Phương. Bộ trưởng Ngoại giao của Singapore đã lên tiếng cảnh cáo là "sự thừa nhận toàn cầu về lý tưởng nhân quyền có thể gây nên tai hại, nếu thuyết phổ biến toàn cầu này được dùng để chối bỏ hoặc che đậy cho thực tế đa sắc tộc." Phái đoàn Trung Quốc giữ vai trò quan trọng trong việc nhấn mạnh những đặc tính giữa những vùng khác nhau và họ cũng quyết tâm bảo vệ quan điểm này để cái khung hoạt động do bản tuyên ngôn này đề ra có chỗ để dung nạp sự khác biệt giữa các vùng miền. Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc còn ghi vào hồ sơ biên bản những lời đề nghị, đã được áp dụng tại Trung Quốc và các nơi khác, là "Các cá nhân phải đặt quyền lợi của tổ quốc trên quyền lợi của chính họ."

I want to examine the thesis that Asian values are less supportive of freedom and more concerned with order and discipline, and that the claims of human rights in the areas of political and civil liberties, therefore, are less relevant and less appropriate in Asia than in the West. The defense of authoritarianism in Asia on the grounds of the special nature of Asian values calls for historical scrutiny, to which I shall presently turn. But there is also a different justification of authoritarian governance in Asia that has received attention recently. It argues for authoritarian governance in the interest of economic development. Lee Kuan Yew, the former prime minister of Singapore and a great champion of the idea of "Asian values," has defended authoritarian arrangements on the ground of their alleged effectiveness in promoting economic success.


Tôi muốn xem xét cái luận điểm cho rằng các giá trị Á Đông ít chú trọng tới quyền tự do hơn là tới việc lưu tâm đến trật tự và kỷ luật, và những lập luận khác phát xuất từ luận điểm này cho rằng những đòi hỏi nhân quyền trong lãnh vực chính trị và tự do dân sự, đối với Á Đông, chẳng phải là điều đáng quan tâm như tại Tây Phương. Lời biện hộ cho sự độc tài tại Á Đông dựa trên bản chất đặc biệt của các giá trị Á Đông cần được nghiên cứu một cách kỹ càng về lịch sử; điều này tôi sẽ trở lại sau. Nhưng gần đây cũng có thêm một sự biện minh khác cho sự cai trị độc tài tại Á Đông, và lập luận này cũng thu hút được nhiều chú ý. Đó là độc tài để phát triển kinh tế. Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singaprore và cũng là nhà tiên phong cổ võ cho lập luận "giá trị Á Đông," đã biện hộ cho việc áp dụng các biện pháp độc tài vì đó là những biện pháp được coi như là "hữu hiệu" nhằm đẩy mạnh các thành quả kinh tế.

Does authoritarianism really work so well? It is certainly true that some relatively authoritarian states (such as South Korea, Lee's Singapore, and post-reform China) have had faster rates of economic growth than many less authoritarian ones (such as India, Costa Rica or Jamaica). But the "Lee hypothesis" is based on very selective and limited information, rather than on any general statistical testing over the wide-ranging data that are available. We cannot really take the high economic growth of China or South Korea in Asia as "proof positive" that authoritarianism does better in promoting economic growth-any more than we can draw the opposite conclusion on the basis of the fact that Botswana, the fastest-growing African country (and one of the fastest growing countries in the world), has been a oasis of democracy in that unhappy continent. Much depends on the precise circumstances.

Chế độ độc tài quả thật có hữu hiệu không? Sự kiện này rất đúng đối với vài xứ dưới chế độ độc tài (như Nam Hàn, Singapore dưới thời họ Lý, và Trung Quốc sau cuộc đổi mới) mà mức độ phát triển kinh tế nhanh hơn nhiều xứ khác với sự cai trị độc tài ít khắt khe hơn (như ở Ấn Độ, Costa Rica hay Jamaica). Nhưng "giả thuyết của họ Lý" được đặt trên căn bản của những tin tức được chọn lọc kỹ càng và giới hạn thay vì trên những thống kê đã được phân tích từ nhiều nguồn dữ kiện. Chúng ta không thể dựa vào cao điểm của sự phát triển kinh tế tại Trung Quốc và Nam Hàn ở Á Đông như những "bằng chứng khẳng định" rằng nhờ chế độ độc tài mà nền kinh tế của họ được phát triển mạnh mẽ hơn, cũng như ta không thể kết luận ngược lại rằng trên thực tế xứ Botswana, một nước với đà tiến triển nhanh nhất trong khối Phi Châu (và một trong những xứ tiến nhanh nhất trên hoàn cầu), là biểu tượng cho sự phồn thịnh của chế độ dân chủ trong vùng đất khốn khổ này. Nhiều yếu tố tùy thuộc vào những trường hợp đặc biệt để được nhận diện một cách rõ ràng.

There is little general evidence, in fact, that authoritarian governance and the suppression of political and civil rights are really beneficial in encouraging economic development. The statistical picture is much more complicated. Systematic empirical studies give no real support to the claim that there is a general conflict between political rights and economic performances. The directional linkage seems to depend on many other circumstances, and while some statistical investigations note a weakly negative relation, others find a strongly positive one. On balance, the hypothesis that there is no relation between freedom and prosperity in either direction is hard to reject. Since political liberty has a significance of its own, the case for it remains untarnished.

Thật vậy, có rất ít bằng cớ tổng quát chứng minh rằng sự cai trị độc tài và sự đàn áp quyền tự do chính trị và tự do dân sự, quả thật, làm lợi cho việc khuếch trương kinh tế. Hình ảnh [của sự phát triển kinh tế] qua các dữ kiện thống kê phức tạp hơn nhiều. Các nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống không đưa ra được chứng cớ nào làm cơ sở cho lập luận là có sự đối lập giữa quyền tự do chính trị và phát triển kinh tế (nghĩa là nếu có tự do chính trị cao thì phát triển kinh tế thấp hay ngược lại). Quan hệ trực tiếp giữa hai sự kiện này dường như còn tùy thuộc vào nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một số các nghiên cứu dùng dữ kiện thống kê cho thấy chỉ có một mối tương quan ngược rất mong manh (mang chỉ số âm-cái này tăng, thì cái kia giảm) giữa hai sự kiện này, trong khi một số nghiên cứu khác lại cho thấy có một sự quan hệ thuận (mang chỉ số dương) giữa hai sự kiện này. Cho nên, tổng kết lại, ta có thể kết luận là cái giả thuyết cho rằng không có mối quan hệ nào hết giữa tự do và phát triển kinh tế theo cả hai chiều là một lập luận khó chấp nhận được.Và vì tự do chính trị tự nó có một chỉ số đặc biệt riêng (thuật ngữ thống kê), nên cần được nghiên cứu cẩn thận hơn.


There is also a more basic issue of research methodology. We must not only look at statistical connections, we must examine also the causal processes that are involved in economic growth and development. The economic policies and circumstances that led to the success of east Asian economies are by now reasonably well understood. While different empirical studies have varied in emphasis, there is by now a fairly agreed-upon list of "helpful policies," and they include openness to competition, the use of international markets, a high level of literacy and education, successful land reforms, and public provision of incentives for investment, exporting, and industrialization. There is nothing whatsoever to indicate that any of these policies is inconsistent with greater democracy, that any one of them had to be sustained by the elements of authoritarianism that happened to be present in South Korea or Singapore or China. The recent Indian experience also shows that what is needed for generating faster economic growth is a friendlier economic climate rather than a harsher political system.

Còn một vấn đề nữa căn bản hơn trong phương pháp nghiên cứu. Chúng ta không những phải chú ý đến các quan hệ theo thống kê mà ta còn phải phân tích nguyên nhân của sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển. Bây giờ thì chúng ta đã hiểu khá rõ ràng về chính sách nào và hoàn cảnh nào đã mang đến sự thành công kinh tế ở Đông Á. Mặc dù những nghiên cứu thống kê có khác nhau về trọng tâm nghiên cứu, nhưng nay thì hầu như cùng đồng ý trên một bản liệt kê những "chính sách có lợi cho sự phát triển kinh tế." Những chính sách này gồm có: cởi mở cho việc canh tranh, sử dụng thị trường quốc tế, nâng cao mức học vấn và giáo dục, và các điều luật khuyến khích đầu tư, xuất cảng và công nghiệp hóa (chữ in nghiêng của người dịch ). Không có một điểm nào cho thấy các chính sách đó mâu thuẫn với sự cởi mở dân chủ hơn, hoặc cần được duy trì bằng sự độc tài như tình cờ đang xảy ra tại Nam Hàn, hoặc Singapore hoặc Trung Quốc. Kinh nghiệm gần đây của Ấn Độ cho thấy rằng điều cần thiết để cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng hơn là một môi trường kinh tế thân thiện hơn chứ không phải là một hệ thống chính trị khắt khe hơn.


It is also important, in this context, to look at the connection between political and civil rights, on the one hand, and the prevention of major disasters, on the other. Political and civil rights give people the opportunity to draw attention forcefully to general needs and to demand appropriate public action. The governmental response to acute suffering often depends on the pressure that is put on it, and this is where the exercise of political rights (voting, criticizing, protesting, and so on) can make a real difference. I have discussed (in these pages and in my book Resources, Values, and Development) the remarkable fact that, in the terrible history of famines in the world, no substantial famine has ever occurred in any independent and democratic country with a relatively free press. Whether we look at famines in Sudan, Ethiopia, Somalia, or other dictatorial regimes, or in the Soviet Union in the 1930s, or in China from 1958 to 1961 (at the failure of the Great Leap Forward, when between 23 and 30 million people died), or currently in North Korea, we do not find exceptions to this rule. (It is true that Ireland was part of democratic Britain during its famine of the 1840s, but the extent of London's political dominance over the Irish was so strong-and the social distance so great and so old, as illustrated by Spenser's severely unfriendly description of the Irish in the sixteenth century-that the English rule over Ireland was, for all practical purposes, a colonial rule.)


Trong phạm vi vấn đề này, điều quan trọng là, một mặt, ta phải xem xét mối quan hệ giữa các quyền tự do chính trị và dân sự, và mặt khác, mối quan hệ giữa các quyền này với sự ngăn ngừa không để các đại họa xảy ra. Quyền tự do chính trị và dân sự cho người dân cơ hội để đòi hỏi sự chú ý đến những nhu cầu chung cần có những hành động thích ứng của chính quyền. Các biện pháp của chính quyền nhằm đối phó với những vấn nạn gay gắt này tùy thuộc vào sức ép của dân chúng và đó cũng là một cách sử dụng quyền tự do chính trị (như đi bầu, phê bình, biểu tình, vân vân) có thể tạo ra những thay đổi thực sự. Tôi đã bàn (trong những trang này và trong cuốn sách "Tài nguyên, Giá trị, và Phát triển" của tôi) rằng một sự kiện đáng chú ý là trong lịch sử của những nạn đói kinh khủng trên thế giới, chưa bao giờ nạn đói lại xảy ra ở các nước độc lập, dân chủ và tương đối có tự do báo chí. Dù ở bất cứ xứ nào mà chúng ta nhìn lại về nạn đói như các xứ Sudan, Ethiopia, Somalia hay những nơi với chế độ độc tài hay ở Khối Xô-Viết vào năm 1930, hoặc ở Trung Quốc từ năm 1958 đến 1961 (dưới sự thất bại của kế hoạch "Đại Nhẩy vọt" khiến cho 23 đến 30 triệu dân Trung Hoa chết), hoặc hiện nay ở Bắc Hàn, chúng ta không tìm thấy một ngọai lệ nào trong nguyên tắc này. (Sự thật thì xứ Ái Nhĩ Lan, một phần của nước Anh dân chủ có trải qua một nạn đói vào trong khoảng thập niên 1840, nhưng lúc đó quyền khống chế chính trị của Anh Quốc quá khắc nghiệt và sự cách biệt xã hội quá gay gắt cũng như quá lạc hậu, theo như lời diễn tả đầy bất lợi của Spenser đối với nước Anh dưới thế kỷ thứ mười sáu, và Ái nhĩ lan chỉ là một thuộc địa không hơn không kém).

While this connection is clearest in the case of famine prevention, the positive role of political and civil rights applies to the prevention of economic and social disasters generally. When things go fine and everything is roufinely good, this consequence of democracy may not be sorely missed. But it comes into its own when things get fouled up, for one reason or another. Then the political incentives provided by democratic governance acquire great practical value. To concentrate only on economic incentives (which the market system provides) while ignoring political incentives (which democratic systems provide) is to opt for a deeply unbalanced set of ground rules.


Dù sự liên hệ này được thể hiện rõ ràng nhất trong trường hợp ngăn ngừa nạn đói, nhưng nói chung thì vai trò tích cực nhất của quyền tự do chính trị và dân sự là khi nó được áp dụng để ngăn chặn những tai họa kinh tế và xã hội . Khi việc gì cũng trôi chảy và những việc thông thường đều hoạt động một cách hài hòa thì không ai nhớ đến tầm quan trọng của chế độ dân chủ. Nhưng nếu vì một lý do nào mà một việc không may xảy ra thì khi ấy người ta mới nhớ đến chế độ dân chủ. Lúc đó động cơ chính trị, trong cơ quan thống trị của chế độ dân chủ, mới được nhận thức là có một giá trị thực tế quan trọng. Nếu ta chỉ chú trọng đến những động cơ kinh tế (mà hệ thống thị trường cung cấp) trong khi ta bác bỏ những động cơ chính trị (mà chế độ dân chủ cung cấp) thì chính ta đã tự chọn cho mình một số luật lệ căn bản không cân xứng.

Let’s turn now to the nature and the relevance of Asian values. This is not an easy exercise, for various reasons. The size of Asia is itself a problem. Asia is where about 60 percent of the world's population lives. What can we take to be the values of so vast a region, with so much diversity? It is important to state at the outset that there are no quintessential values that separate the Asians as a group from people in the rest of the world and which fit all parts of this immensely large and heterogeneous population. The temptation to see Asia as a single unit reveals a distinctly Eurocentric perspective. Indeed, the term "the Orient," which was widely used for a long time to mean essentially what Asia means today, referred to the positional vision of Europe, as it contemplated the direction of the rising sun.

Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang xem xét về bản chất và sự thích đáng của giá trị Á Đông. Đây không phải là một việc dễ dàng vì nhiều lý do. Kích thước rộng lớn của vùng Á Đông đã là một vấn đề. Á Đông là nơi gần 60 phần trăm dân số trên thế giới cư ngụ. Chúng ta lấy gì để so sánh những giá trị của một vùng to lớn, với nhiều thành phần chủng tộc phức tạp như vậy? Điều quan trọng trước nhất là ta phải nhận thức rằng không có giá trị siêu tuyệt nào tách rời những dân tộc Á Đông, như một nhóm người, ra khỏi những dân tộc khác trên thế giới và, những giá trị đó, nếu có, cũng không thể thích hợp hết với tất cả những thành phần khác nhau của một dân số quá to lớn và không đồng nhất như vậy. Cái khuynh hướng xem Á Đông là một đơn vị duy nhất thể hiện quan điểm cố hữu của những người xem Âu châu là tâm điểm của vũ trụ. Thực vậy, người ta vẫn dùng từ ngữ "Phương Đông" một cách rộng rãi từ lâu và cho đến nay phương đông vẫn là hình ảnh của mặt trời mọc, dưới ánh mắt của Âu Châu nhìn từ vị trí của họ.


In practice, the advocates of "Asian values" have tended to look primarily at east Asia as the region of their particular applicability. The generalization about the contrast between the West and Asia often concentrates on the land to the east of Thailand, though there is an even more ambitious claim that the rest of Asia is rather "similar." Lee Kuan Yew outlines "the fundamental difference between Western concepts of society and government and East Asian concepts" by explaining that "when I say East Asians, I mean Korea, Japan, China, Vietnam, as distinct from Southeast Asia, which is a mix between the Sinic and the Indian, though Indian culture itself emphasizes similar values."

Trên thực tế, những kẻ biện hộ cho "những giá trị Á Đông" có khuynh hướng xem miền Đông Á như một vùng họ có thể ứng dụng theo chiều hướng đặc biệt của họ. Người ta thường tổng quát hóa sự tương phản giữa Tây Phương và Á Đông mà đối với họ Á Đông bắt đầu từ vùng đất thuộc về phía đông của Thái Lan, mặc dầu cũng có nhiều ý kiến mạnh bạo hơn cho rằng phần đất còn lại của Á Đông cũng giông giống như vậy. Lý Quang Diệu vạch ra những nét chính về "sự khác biệt căn bản giữa khái niệm xã hội và chính quyền của Tây Phương với khái niệm của Đông Á" bằng sự lý giải rằng "khi tôi nói đến những người Đông Á, tôi muốn nói đến các nước Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, tách rõ ràng ra khỏi vùng Đông Nam Á, một nơi pha trộn hai nền văn hóa của Trung Hoa và Ấn Độ, tuy văn hóa Ấn Độ cũng chú trọng về những giá trị tương tự."

In fact, even east Asia itself has much diversity, and there are many variations to be found between Japan and China and Korea and other parts of east Asia. Various cultural influences from inside and outside this region have affected human lives over the history of this large territory. These influences still survive in a variety of ways. Thus, my copy of Houghton Mifflin's Almanac describes the religion of the 124 million Japanese in the following way: 112 million Shintoist, 93 million Buddhist. Cultures and traditions overlap in regions such as east Asia and even within countries such as Japan or China or Korea, and attempts at generalization about "Asian values" (with forceful and often brutal implications for masses of people in this region with diverse faiths, convictions, and commitments) cannot but be extremely crude. Even the 2.8 million people of Singapore have vast variations of cultural and historical traditions, despite the fact that the conformism that characterizes its political leadership and the official interpretation of Asian values is very powerful at this time.

Thật vậy, ngay cả trong những vùng Đông Á Châu ta cũng nhận thấy những khác biệt phức tạp, và nhiều điểm không giống nhau giữa Nhật Bản và Trung Quốc và Đại Hàn và những vùng khác ở Đông Á Châu. Nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài lẫn bên trong của vùng này đã tác động đến lịch sử của đời sống dân chúng ở miền đất bao la này. Những ảnh hưởng này vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của dân chúng vùng này cho đến ngày nay. Và như vậy, trong niên lịch Houghton Mifflin của tôi, tôi đã mô tả tôn giáo của 124 triệu người Nhật Bản như sau: 112 triệu dân Nhật Bản theo Thần đạo, 93 triệu theo Phật giáo. Trong những vùng Đông Á Châu và ngay trong những xứ như Nhật Bản hay Trung Quốc hay Đại Hàn mà văn hóa và truyền thống chồng chéo lên nhau thì những cố gắng để tổng hợp hóa về "giá trị Á Đông" (bằng cách áp đặt một cách thô bạo lên một khối dân số khác nhau về tín ngưỡng, niềm tin và ý chí) chỉ là một việc không thể thực hiện được nếu không muốn nói rằng cực kỳ thô thiển. Ngay cả 2.8 triệu dân của xứ Singapore mà còn giữ những đặc thù văn hóa và phong tục của họ, mặc dù hiện nay họ được chỉ thị phải tuân theo một cách tuyệt đối, sự chỉ đạo chính trị và cách áp dụng giá trị Á Đông của xứ họ.

Still, the recognition of heterogeneity in the traditions of Asia does not settle the issue of the presence or the absence of a commitment to individual freedom and political liberty in Asian culture. The traditions extant in Asia differ among themselves, but they may share some common characteristics. It has been asserted, for example, that the treatment of elderly members of the family (say, aged parents) is more supportive in Asian countries than in the West. It is possible to argue about this claim, but there would be nothing very peculiar if some similarities of this kind or other kinds were to obtain across the diverse cultures of Asia. Diversities need not apply to every field. The question that has to be asked, rather, is whether Asian countries share the common feature of being skeptical of freedom and liberty, while emphasizing order and discipline. The advocates of Asian particularism allow internal heterogeneity within Asia, but in the context of a shared mistrust of the claims of political liberalism.


Tuy nhiên, sự thừa nhận về sự không đồng nhất của phong tục Á Đông không chứng minh được rõ ràng là có hiện hữu hay không một niềm tin vào tự do cá nhân và tự do chính trị trong văn hóa Á Đông. Hiện nay, dù phong tục tập quán ở Á Đông có những sự khác biệt, nhưng họ vẫn chia sẻ nhiều điểm giống nhau. Thí dụ, người ta xác nhận rằng ở những xứ Á Đông, việc đối xử một cách cung kính với những người lớn tuổi trong gia đình (như cha mẹ già) được khuyến khích nhiều hơn là ở các xứ Tây Phương. Tuy ta có thể tranh luận về sự kiện này, nhưng ta cũng sẽ không tìm ra được một dấu hiệu đặc biệt nào cho rằng Á Đông có những sắc thái giống nhau dưới nhiều nền văn hóa phức tạp. Những sự phức tạp đó không thể áp dụng trong mọi tình huống. Như vậy, câu hỏi nên đặt ra là có phải những xứ ở Á Đông cùng chia sẻ một đặc điểm giống nhau là họ rất đa nghi về vấn đề tự do và đặc quyền, trong lúc họ lại đặt mọi chú trọng về vấn đề trật tự và kỷ luật. Những kẻ biện hộ cho chủ nghĩa đặc thù ở Á Đông thừa nhận sự hỗn tạp nội bộ trong vùng Á Châu, nhưng họ chỉ chia sẽ sự ngờ vực trong phạm vi của luận thuyết về chủ nghĩa tự do chính trị mà thôi.


Authoritarian lines of reasoning often receive indirect backing from certain strains of thought in the West itself. There is clearly a tendency in America and Europe to assume, if only implicitly, the primacy of political freedom and democracy as a fundamental and ancient feature of Western cultureone not to be easily found in Asia. There is a contrast, it is alleged, between the authoritarianism implicit in, say, Confucianism and the respect for liberty and autonomy allegedly deeply rooted in Western liberal culture. Western promoters of personal and political freedom in the non-Western world often see such an analysis as a necessary preliminary to bringing Western values to Asia and Africa.


Lối suy luận của những nhà độc tài cũng được một vài khuynh hướng tư tưởng tại Tây Phương gián tiếp ủng hộ. Khuynh hướng này rõ rệt nhất ở Mỹ và Âu châu, dù không nói thẳng ra, nhưng ám chỉ rằng tự do chính trị và dân chủ là một đặc tính cổ điển và căn bản của văn hóa Tây Phương mà không dễ gì tìm được tại Á Đông. Họ cho rằng có một sự tương phản giữa chủ nghĩa độc đoán hàm chứa trong đạo Khổng, và sự tôn trọng quyền tự do và quyền tự trị gần như đã ăn sâu bám rễ trong văn hóa tự do của Tây Phương. Những người biện hộ cho tự do cá nhân và chính trị trong thế giới ngoài vùng Tây Phương thường xem sự phân tích đó như là một bước mở đầu cần thiết cho việc gieo truyền giá trị Tây Phương đến với Á Châu và Phi Châu.


In all this, there is a substantial tendency to extrapolate backwards from the present. Values that the European enlightenment and other relatively recent developments have made widespread cannot really be seen as part of the Western heritage as it was experienced over millennia. In answer to the question, "at what date, in what circumstances, the notion of individual liberty ... first became explicit in the West," Isaiah Berlin has noted: "I have found no convincing evidence of any clear formulation of it in the ancient world." This view has been disputed by Orlando Patterson, among others. He points to particular features in Western culture, particularly in Greece and Rome, and in the tradition of Christianity, which indicate the presence of selective championing of individual liberty.


Trong tất cả những sự tranh luận này, có một khuynh hướng nổi bật đáng chú ý, đó là lối phỏng đoán ngoại suy từ hiện tại về quá khứ. Những giá trị được phát huy từ thời Khai Sáng tại Âu châu cùng các sự phát triển tương đối mới gần đây và đã được phổ biến rộng rãi không thể được xem là một phần của di sản văn hóa Tây Phương như đã trải qua hơn mười thế kỷ. Để trả lời câu hỏi: "vào thời điểm nào, trong hoàn cảnh nào mà ý niệm về tự do cá nhân được diễn tả một cách rõ ràng tại Tây Phương," Isaiah Berlin đã ghi nhận rằng: "Tôi chẳng tìm thấy một chứng cớ nào có tính thuyết phục là từ thời cổ đã có một công thức phô diễn rõ ràng ý niệm này." Orlando Patterson và nhiều người khác nữa không đồng ý với nhận định này. Patterson chỉ ra các đặc tính của văn hóa Tây Phương, đặc biệt trong văn hóa Hy Lạp và La Mã, và trong truyền thống Cơ đốc giáo, những đặc tính cho thấy có sự hiện hữu của việc ủng hộ cho quyền tự do cá nhân dù chỉ cho một số thành phần được chọn lựa trong xã hội.


The question that does not get adequately answeredit is scarcely even askedis whether similar elements are absent in other cultures. Berlin's thesis concerns the notion of individual freedom as we now understand it, and the absence of "any clear formulation" of this can certainly co-exist with the advocacy of selected components of the comprehensive notion that makes up the contemporary idea of individual liberty. Such components are found in the Greco-Roman world and in the world of Jewish and Christian thought. But such an acknowledgment has to be followed up by examining whether these components are absent elsewhere-that is, in non-Western cultures. We have to search for the parts rather than the whole, in the West and in Asia and elsewhere.


Có một câu hỏi vẫn thường không được trả lời đầy đủ, vì ít có ai đặt ra, đó là phải chăng những phần tử tương tự cũng vắng bóng trong các nền văn hóa khác. Luận điểm của Berlin liên quan đến ý niệm tự do cá nhân như ta hiểu ngày nay, và sự vắng bóng của một "công thức" rõ ràng về ý niệm này chắc chắn cũng có thể cùng hiện hữu với sự cổ võ cho một số thành tố được lựa chọn trong toàn bộ ý niệm tổng hợp tạo nên khái niệm đương đại về quyền tự do cá nhân. Những thành tố này ta có thể tìm thấy trong thế giới Hy-La, trong tư tưởng Do thái và Cơ đốc giáo. Nhưng sau khi đã chấp nhận kết luận này, ta phải tiếp tục xét xem liệu có phải những thành tố này cũng vắng bóng trong các nền văn hóa khác không thuộc Tây Phương hay không. Ta phải đi tìm các thành phần [tạo nên cái tổng thể] hơn là tìm cái tổng thể dù ở Tây Phương, Á Đông, hay bất cứ nơi nào khác.


To illustrate this point, consider the idea that personal freedom for all is important for a good society. This claim can be seen as being composed of two distinct elements: (1) the value of personal freedom: that personal freedom is important and should be guaranteed for those who "matter" in a good society; and (2) the equality of freedom: that everyone matters, and personal freedom should be guaranteed, on a shared basis, for all. Aristotle wrote much in support of the former proposition, but in his exclusion of women and slaves he did little to defend the latter. Indeed, the championing of equality in this form is of quite recent origin. Even in a society stratified according to class and caste, freedom could be valued for the privileged-such as the Mandarins and the Brahmins-in much the same way that freedom was valued for non-slave men in corresponding Greek conceptions of a good society.


Để làm sáng tỏ điểm này, hãy xem xét ý niệm cho rằng trong một xã hội "tốt," tự do cá nhân cho tất cả mọi người là điều được xem là quan trọng. Ta có thể xem nhận định này được lập thành từ hai thành tố khác nhau: thứ nhất là giá trị của tự do cá nhân: trong một xã hội tốt, tự do cá nhân là điều quan trọng và nên được bảo đảm cho những người được coi là "quan trọng;" và, thứ hai là sự bình đẳng của tự do: mọi người đều quan trọng như nhau và tự do cá nhân nên được bảo đảm trên căn bản đồng đều cho tất cả. Aristotle đã viết rất nhiều để ủng hộ cho thành tố thứ nhất, nhưng hầu như không để ý gì đến thành tố thứ hai, khi không xét đến phụ nữ và nô lệ. Thực ra, ý niệm bình đẳng về tự do chỉ gần đây mới có. Ngay cả trong những xã hội phân chia theo giai cấp và đẳng cấp, tự do là giá trị mà chỉ những phần tử được hưởng đặc quyền, đặc lợi như thành phần quan lại hoặc giáo sĩ mới được hưởng. Điều này cũng giống y như quan niệm tự do chỉ dành cho những kẻ không phải nô lệ theo như nếp suy nghĩ của Hy Lạp về một xã hội tốt.


Or consider another useful distinction, between (1) the value of toleration: that there must be toleration of diverse beliefs, commitments and actions of different people; and (2) the equality of tolerance: that the toleration that is offered to some must be reasonably offered to all (except when tolerance of some will lead to intolerance for others). Again, arguments for some tolerance can be seen plentifully in earlier Western writings, without being supplemented by arguments for universal tolerance. The roots of modern democratic and liberal ideas can be sought in terms of constitutive elements, rather than as a whole.


Hãy xét đến một đặc điểm khác nữa; đó là điều khác biệt giữa giá trị của lòng bao dung và sự bình đẳng của lòng bao dung. Giá trị của lòng bao dung gồm có sự bao dung về những niềm tin, cách hành xử và nghĩa vụ của những dân tộc khác nhau, và sự bình đẳng của lòng bao dung nghĩa là lòng bao dung dành cho một số người này thì cũng phải giống như lòng bao dung đối với mọi kẻ khác (ngoại trừ trường hợp lòng bao dung cho một số người dẫn đến sự không dung thứ những người khác). Một lần nữa ta thấy lập luận ủng hộ cho sự bao dung [giới hạn] cho một số người nào đó xuất hiện đầy dẫy trong các tác phẩm chính trị Tây Phương thời xưa, mà chẳng có lập luận bổ sung nào để chúng tỏ tính cách phổ cập của lòng khoan dung cho tất cả mọi người. Ta chỉ có thể tìm thấy gốc rễ của các khái niệm dân chủ và tự do trong những phần tử cấu tạo nên khái niệm này chứ không phải từ ngay các khái niệm đó.


In the terms of such an analysis, the question has to be asked whether these constitutive components can be found in Asian writings in the way they can be found in Western thought. The presence of these components must not be confused with the absence of the opposite, that is, with the presence of ideas and doctrines that clearly do not emphasize freedom and tolerance. The championing of order and discipline can be found in Western classics as well. Indeed, it is by no means clear to me that Confucius is more authoritarian than, say, Plato or Augustine. The real issue is not whether these non-freedom perspectives are present in Asian traditions, but whether the freedom-oriented perspectives are absent from them.


Trong cách phân tích này, câu hỏi được đặt ra là những yếu tố cấu tạo nên sự bao dung có thể hiện trong những tài liệu ở Á Đông như đã được tìm thấy trong tư tưởng Tây Phương chăng. Sự hiện hữu của những phần tử này không nên bị lầm lẫn với sự vắng mặt của những điều đối nghịch, hay nói một cách khác là sự hiện hữu của những ý niệm và lý thuyết không chú trọng tới tự do và sự bao dung không có nghĩa là không có những ý niệm và lý thuyết cổ xúy cho tự do và bao dung. Trong những tác phẩm kinh điển Tây Phương ta cũng tìm thấy những lập luận ủng hộ cho việc gìn giữ kỷ luật và trật tự. Thực ra, đối với tôi, chưa chắc Khổng Tử đã chuyên chế hơn Plato hay Augustine. Vấn đề thực sự không phải là [chúng tỏ] truyền thống Á Đông có những quan điểm phi-tự do, mà là xét xem có thiếu những quan điểm ủng hộ tự do trong truyền thống Á Đông hay không.


This is where the diversity of Asian value systems becomes quite central. An obvious example is the role of Buddhism as a form of thought. In Buddhist tradition, great importance is attached to freedom, and the traditions of earlier Indian thinking to which Buddhist thoughts relate allow much room for volition and free choice. Nobility of conduct has to be achieved in freedom, and even the ideas of liberation (such as moksha) include this feature. The presence of these elements in Buddhist thought does not obliterate the importance of the discipline emphasized by Confucianism, but it would be a mistake to take Confucianism to be the only tradition in Asia-or in China. Since so much of the contemporary authoritarian interpretation of Asian values concentrates on Confucianism, this diversity is particularly worth emphasizing.


Tới đây thì sự đa dạng của các hệ thống giá trị Á Đông trở thành tâm điểm trong cuộc tranh luận. Một thí dụ rõ ràng là vai trò của Phật giáo như một hệ tư tưởng. Trong truyền thống Phật giáo, tự do mang một ý nghĩa trọng đại, và cũng theo thuyết nhà Phật là nơi phát xuất tư tưởng Ấn Độ lúc sơ khởi thì người ta có quyền lựa chọn và làm theo ý muốn của họ. Đức tính thanh cao của tư cách phải được hoàn thành trong sự tự do, kể cả ý tưởng giải thoát khỏi kiếp luân hồi cũng vậy. Sự hiện diện của những nguyên tố này trong luận thuyết tư tưởng Phật giáo không xóa đi tầm quan trọng của kỷ luật mà đạo Khổng chú trọng, tuy nhiên, nếu ta nhận thức rằng chỉ có đạo Khổng trong phong tục ở Á Đông hay Trung Quốc thì đó là một sự lầm lẫn. Nhưng vì hiện nay quá nhiều giả thuyết về chế độ dộc tài gắn liền với giá trị Á Đông được tập trung vào đạo Khổng, nên ta cần chú trọng một cách đặc biệt đến sự đa dạng này.


Indeed, the reading of Confucianism that is now standard among authoritarian champions of Asian values does less than justice to Confucius's own teachings, to which Simon Leys has recently drawn attention. Confucius did not recommend blind allegiance to the state. When Zilu asks him "how to serve a prince," Confucius replies: "Tell him the truth even if it offends him." The censors in Singapore or Beijing would take a very different view. Confucius is not averse to practical caution and tact, but he does not forgo the recommendation to oppose a bad government. "When the [good] way prevails in the state, speak boldly and act boldly. When the state has lost the way, act boldly and speak softly."


Thực vậy, các nhà độc tài cổ võ cho thuyết giá trị Á Đông hiện nay đang dùng đạo Khổng làm căn bản cho lý luận của họ, nhưng như Simon Leys nhận xét, làm như vậy họ đã diễn giải sai lệch những gì Khổng Tử dạy. Khổng Tử đâu có dạy phải mù quáng tuân phục nhà nước. Khi Tử Lộ hỏi ngài: "Làm sao thờ vua cho tốt?" Khổng Tử đáp: "Cho nhà vua biết sự thật dù sự thật có làm nhà vua phật lòng." Các quan kiểm duyệt ở Singapore hay Bắc Kinh sẽ không nghĩ như vậy. [Mặc dù] Khổng Tử là người chủ trương cẩn trọng và khéo xử thế, nhưng ngài cũng khuyến khích chống lại một chính quyền tồi tệ. "Khi nước có đạo, hãy nói thẳng và hành động dũng cảm. Còn khi nước đã mất đạo, hãy hành động dũng cảm và nói năng nhỏ nhẹ."


Indeed, Confucius clearly points to the fact that the two pillars of the imagined edifice of Asian values, loyalty to family and obedience to the state, can be severely in conflict with each other. The Governor of She told Confucius, "Among my people, there is a man of unbending integrity: when his father stole a sheep, he denounced him." To this, Confucius replied: "Among my people, men of integrity do things differently: a father covers up for his son, a son covers up for his father-and there is integrity in what they do."

Đúng như vậy, Khổng Tử đã vạch rõ ràng là hai cột trụ của cái gọi là nền tảng của giá trị Á Đông, sự trung thành với gia đình và sự phục tùng với tổ quốc, có thể xung đột với nhau một cách trầm trọng. Diệp Công nói với Khổng Tử rằng: "Trong dân của ta có một người rất chính trực: khi cha nó ăn trộm một con trừu, nó tố cáo cha nó." Khổng Tử trả lời rằng: "Trong dân của chúng tôi, những người liêm chính sử xự cách khác: người cha che chở cho người con, người con che chở cho người cha - và đó là sự chính trực trong cách họ đối xử với nhau."

Elias Canetti observed that, in understanding the teachings of Confucius, we have to examine not only what he says, but what he does not say. The subtlety involved in what is often called "the silence of Confucius" seems to have escaped his austere modern interpreters, who tend to assume that what is not explicitly supported must be implicitly forbidden. It is not my contention that Confucius was a democrat, or a great champion of freedom and dissent. Yet there is certainly good reason to question the monolithic image of an authoritarian Confucius that is championed by the contemporary advocates of Asian values.

Elias Canetti nhận thức rằng, khi chúng ta muốn hiểu về lời dạy của Khổng Tử, chúng ta không những phải chú ý đến những gì ngài nói mà còn phải chú trọng đến những gì ngài không nói. Sự tinh tế nằm ở điểm thường gọi là "sự im lặng của Khổng Tử" mà những kẻ chỉ biết dịch theo từng câu, từng chữ trong thời đại của chúng ta không nhận ra; đó là những kẻ cho rằng điều gì không được ủng hộ một cách rõ ràng phải bị cấm một cách tuyệt đối. Những gì tôi trình bày ở đây không phải là để chứng minh Khổng Tử là một nhà dân chủ, hay một nhà tranh đấu cho tự do và sự bất đồng ý kiến, nhưng [qua đó], ta có lý do chính đáng để thắc mắc về hình tượng kiên cố như đá tảng của một ông Khổng Tử độc tài mà các nhà biện sĩ cho giá trị Á Đông thời nay đang ngoan cố dùng để chứng minh cho lập luận của họ.

If we turn our attention from China to the Indian subcontinent, we are in no danger of running into a hard-tointerpret silence. It is difficult to out-do the Indian traditions in arguing endlessly and elaborately. India not only has the largest religious literature in the world, it also has the largest volume of atheistic and materialistic writings among the ancient civilizations. The Indian epic Mahabharata, which is often compared to the Iliad or the Odyssey, is in fact seven times as long as the Iliad and the Odyssey put together. In a well-known Bengali poem written in the nineteenth century by the religious and social leader Ram Mohan Ray, the horror of death is described thus: "Just imagine how terrible it will be on the day you die, / Others will go on speaking, but you will not be able to respond."

Nếu chúng ta xoay tầm chú ý từ Trung Quốc sang Ấn Độ, chúng ta sẽ không bị bức tường im lặng cản trở. Không ai có thể vượt qua được Ấn Độ về khoa tranh biện một cách triền miên và tỉ mỉ. Không những Ấn Độ có một văn sử về tôn giáo vĩ đại nhất thế giới mà Ấn Độ còn có những tác phẩm về thuyết vô thần và duy vật lớn nhất trong nền văn minh đời thượng cổ. Sự thật là thiên sử thi về Mahabharata của Ấn Độ, mà người ta thường so sánh với Thiên sử Iliad hoặc Odyssey, còn lớn hơn bảy lần chuyện Iliad và Odyssey nhập lại. Trong một bài thơ trứ danh của vùng Bengal do tác giả Ram Mohan Ray, một nhà lãnh đạo tôn giáo và xã hội viết vào thế kỷ thứ mười chín, ông ta tả sự chết như sau: "Cứ tưởng tượng là sẽ khủng khiếp như thế nào nếu ngày anh chết,/Người ta cứ tiếp tục nói chuyện, nhưng anh lại không thể trả lời được."

This fondness for disputation, for discussing things at leisure and at length, is itself somewhat in tension with the order and discipline championed in allegedly Asian values. But the content of what has been written also displays a variety of views on freedom, tolerance, and equality. In many ways, the most interesting articulation of the need for tolerance on an egalitarian basis can be found in the writings of the emperor Ashoka in the third century B.C. Ashoka commanded a larger Indian empire than any other Indian king (including the Moghuls, and even the Raj, if we omit the native states that the British let be). He turned his attention to public ethics and enlightened politics after being horrified by the carnage that he witnessed in his own victorious battle against the king of Kalinga, in what is now Orissa.

Chính sự ưa chuộng tranh luận, bàn cãi về mọi việc một cách thong thả và liên tục tự nó đã tạo ra một mối căng thẳng [và mâu thuẫn với lập luận] trật tự và kỷ cương mà các giá trị Á Đông cổ xúy. Không những thế nội dung của những tác phẩm được viết ra cũng đã trình bày các quan điểm khác nhau về quyền tự do, sự khoan dung, và sự bình đẳng. Trên nhiều phương diện, những văn bản đáng chú ý nhất và thảo luận rõ ràng nhất về sự khoan dung trên căn bản bình đẳng là những bài viết của hoàng đế Ashoka vào thế kỷ thứ ba trước Công lịch. Ashoka thống trị trên vùng đất Ấn Độ lớn hơn tất cả các vua khác của Ấn Độ ( kể cả Moghuls và ngay cả Raj, nếu chúng ta gạt ra những quốc gia nhỏ mà Anh Quốc để cho họ làm chủ). Sau khi chiến thắng vua xứ Kalinga, tức là xứ Orissa ngày nay, Ashoka đã khiếp sợ trước những sự thảm khốc do chính chiến thắng của mình mang lại, nên đã chú trọng đến giáo dục đạo đức cho dân chúng và [đưa ra] các chính sách cai trị sáng suốt hơn.

The emperor converted to Buddhism. He helped to make it a world religion by sending emissaries abroad with the Buddhist message to East and West, and he covered the country with stone inscriptions describing forms of good life and the nature of good government. The inscriptions give a special importance to tolerance of diversity. The edict (now numbered XII) at Erragudi, for example, puts the issue thus: ... a man must not do reverence to his own sect or disparage that of another man without reason. Depreciation should be for specific reason only, because the sects of other people all deserve reverence for one reason or another.

Ashoka cải đạo theo Phật Giáo. Chính ông đã có công lớn trong việc hoằng khai Phật giáo trên thế giới bằng cách gởi các quan khâm sai mang những thông điệp Phật Giáo đến các xứ từ Đông sang Tây, đồng thời cũng cho khắc trên bia đá trên toàn vương quốc dạy bảo dân chúng những thể thức để sống một đời sống tốt lành và thế nào là bản chất của một chế độ tốt đẹp. Những câu ghi trên bia đá đặc biệt chú trọng đến vấn đề khoan dung đối với các thành phần chủng tộc khác biệt. Thí dụ như sắc lệnh (nay được đánh số XII) tại Erragudi, có đề cập đến vấn đề này như sau: ...Không kẻ nào được quyền tôn kính giáo phái của mình hay miệt thị giáo phái của một kẻ khác mà không có lý do.

By thus acting, a man exalts his own sect, and at the same time does service to the sects of other people. By acting contrariwise, a man hurts his own sect, and does disservice to the sects of other people. For he who does reverence to his own sect while disparaging the sects of others wholly from attachment to his own, with intent to enhance the splendour of his own sect, in reality by such conduct inflicts the severest injury on his own sect.

Sự chê bai chỉ được dùng trong trường hợp thật đặc biệt mà thôi, vì giáo phái của những người khác đều đáng được kính trọng vì lý do này hay một lý do khác. Khi làm như vậy, người đó đề cao giáo phái của mình và đồng thời hổ trợ giáo phái của người khác. Khi làm ngược lại, người đó chẳng những làm hại giáo phái của mình mà lại còn làm hại dến giáo phái của người khác. Vì khi một người sùng kính giáo phái của họ mà lại miệt thị giáo phái của người khác với dụng ý tâng bốc sự rực rỡ của môn phái mình thì trên thực tế đã làm tổn thương nặng nề chính môn phái của mình.

The importance of tolerance is emphasized in these edicts from the third century B.C.-their importance as public policy by the government and as advice for the behavior of citizens toward each other.

Điều quan trọng của sự khoan dung đã được nhấn mạnh trong những sắc lệnh kể từ thế kỷ thứ ba trước công lịch - đó cũng vừa là một chính sách của nhà nước và cũng vừa là lời khuyên để dân chúng cư xử với nhau.

About the domain and the jurisdiction of tolerance, Ashoka was a universalist. He demanded this for all, including those whom he described as "forest people," the tribal population living in pre-agricultural economic formations. Condemning his own conduct before his conversion, Ashoka notes that in the war in Kalinga "men and animals numbering one hundred and fifty thousands were carried away [captive] from that [defeated] kingdom." He goes on to state that the slaughter or the taking of prisoners "of even a hundredth or thousandth part of all those people who were slain or died or were carried away [captive] at that time in Kalinga is now considered very deplorable" by him. Indeed, he proceeds to assert that now he believes that "even if [a person] should wrong him, that [offense] would be forgiven if it is possible to forgive it." The object of his government is described as "non-injury, restraint, impartiality, and mild behavior" applied "to all creatures."


Trong phạm vi và quyền lực pháp lý về sự khoan dung, Ashoka là một người theo thuyết phổ độ. Ông đòi hỏi qui luật này áp dụng cho tất cả mọi người, kể cả những "người rừng," [tức là] các bộ lạc thiểu số trong xã hội trước thời kỳ tiến hóa nông nghiệp và kinh tế. Tự kết án mình trước khi đổi sang đạo Phật, Ashoka ghi nhận rằng trong chiến trận ở Kalinga một trăm năm chục ngàn "người và thú vật của xứ thua trận đã bị bắt dẩn đi." Việc giết hại hoặc bắt tù binh mà hàng trăm ngàn người đã thiệt mạng hoặc chết trên đường bị tù đày đối với ông giờ này là một việc rất đáng chê trách. Thực vậy, ông lại tiếp tục quả quyết là giờ đây ông tin rằng "dù là có một người nào đã có ý làm hại ông, tội ấy cũng phải được tha thứ nếu có thể tha thứ được." Mục tiêu của chính phủ của ông được mô tả là "không gây thiệt hại, thận trọng, công bằng, và ôn hòa" đối với "tất cả mọi sinh vật."


Ashoka's championing of egalitarianism and universal tolerance may appear un-Asian to some commentators, but his views are firmly rooted in lines of analysis already in vogue in intellectual Buddhist circles in India in the preceding centuries. In this context, however, it is interesting to look at another author whose treatise on governance and political economy was also profoundly influential. I refer to Kautilya, the author of Arthashastra, which can be translated as "economic science," though it is at least as much concerned with practical politics as with economics. Kautilya was a contemporary of Aristotle. He lived in the fourth century B.C., and worked as a senior minister of emperor Chandragupta Maurya, Ashoka's grandfather, who had established the large Maurya empire across the subcontinent.

Sự tranh đấu của Ashoka cho bình đẳng và khoan dung toàn cầu có thể được những nhà bình luận xem như phi-Á Đông, nhưng quan điểm của ông đã bắt rễ sâu xa trong cùng một mạch lý luận rất phổ thông trong giới trí thức Phật Giáo ở Ấn Độ các thế kỷ trước. Cũng trong phạm vi này, có một tác giả khác viết luận án về đề tài cai trị và chính sách kinh tế cũng tạo ảnh hưởng sâu đậm không kém Ashoka. Đó là Kautilya, tác giả của cuốn Arthashastra, mà người ta dịch ra là "khoa học kinh tế," nhưng cũng quan tâm đến nền chính trị thực tiễn ngang hàng với yếu tố kinh tế. Kautilya sống cùng thời với Aristotle vào thế kỷ thứ tư trước công lịch, và giữ chức bộ trưởng cao cấp trong triều của hoàng đế Chandragupta Maurya, tức là ông nội của Ashoka, và là người thành lập đế quốc Maurya rộng lớn trải dài trên tiểu lục địa Ấn độ.

Kautilya's writings are often cited as proof that freedom and tolerance were not valued in the Indian classical tradition. There are two aspects of the impressively detailed account of economics and politics to be found in Arthashastra that tend to suggest the view that there is no support here for a liberal democracy. First, Kautilya is a consequentialist of quite a narrow kind. While the objectives of promoting the happiness of the subjects and the order in the kingdom are strongly backed up by detailed policy advice, the king is seen as a benevolent autocrat, whose power, albeit to do good, is to be maximized through proper organization. Thus, Arthashastra presents ideas and suggestions on such practical subjects as famine prevention and administrative effectiveness that remain relevant even today-more than 2,000 years later-and at the same time it advises the king about how to get his way, if necessary through the violation of the freedom of his adversaries.

Tác phẩm của Kautilya thường được sử dụng như những bằng chứng là quyền tự do và sự khoan dung không có giá trị trong phong tục cổ xưa của Ấn Độ. Trong cuốn Arthashastra có phần nghiên cứu cực kỳ tỉ mỉ về kinh tế và chính trị và có hai hướng suy luận thường được dùng để hỗ trợ cho luận cứ là [văn hóa Ấn độ] không đề cao dân chủ tự do. Thứ nhất, Kautilya là người theo chủ thuyết công lợi hẹp hòi.[2] Nếu các chính sách của nhà nước đạt được mục tiêu là mang lại hạnh phúc cho dân và giữ yên bờ cõi, thì vị vua được xem như là một vị chuyên quyền nhân từ, mà quyền lực, mặc dù chỉ được dùng vào việc tốt, sẽ được gia tăng tối đa qua cơ cấu thích đáng. Như vậy, cuốn Arthashastra đưa ra những ý kiến và các đề nghị thực tiễn như ngăn ngừa nạn đói và những phương pháp cai trị hữu hiệu mà đến nay suốt 2,000 năm vẫn còn được áp dụng và đồng thời cũng chỉ cho nhà vua cách thức đạt được mục tiêu của mình dù có phải vi phạm quyền tự do của kẻ thù, nếu cần.


Second, Kautilya seems to attach little importance to political or economic equality, and his vision of the good society is strongly stratified according to lines of class and caste. Even though his objective of promoting happiness applies to all, his other objectives clearly have an inegalitarian form and content. There is an obligation to provide the less fortunate members of the society the support that they need for escaping misery and enjoying life-Kautilya specifically identifies as the duty of the king to "provide the orphans, the aged, the infirm, the afflicted, and the helpless with maintenance," along with providing "subsistence to helpless women when they are carrying and also to the [newborn] children they give birth to"; but this obligation is very far from valuing the freedom of these people to decide how they wish to live. The tolerance of heterodoxy is not to be found here. Indeed, there is very little tolerance in Kautilya, except tolerance for the upper sections of the community.


Điểm thứ hai, dường như Kautilya ít chú ý đến tầm quan trọng về bình đẳng chính trị hay kinh tế, và chủ trương rằng một xã hội "tốt" phải được xếp hạng theo thứ tự giai cấp và địa vị. Dù mục đích của ông là xây dựng hạnh phúc cho mọi người, nhưng ông có những mục tiêu khác có hình thức và nội dung bất bình đẳng. Giúp đỡ những người kém may mắn trong xã hội để họ có thể thoát khỏi sự khổ sở và vui sống là một bổn phận, và Kautilya chỉ định đó là nhiệm vụ của nhà vua [phải] "cung cấp điều kiện sinh sống cho trẻ mồ côi, người già, yếu, bệnh tật, không nơi nương tựa, cùng với giúp phương tiện cho phụ nữ cơ nhỡ đang mang thai và cho những trẻ sơ sinh;" nhưng nghĩa vụ này rất cách xa giá trị của quyền tự do mà những người dân muốn sống theo sự lựa chọn của họ. Ta không tìm thấy sự dung hòa của dòng tư tuởng trái ngược với sự chính thống ở đây. Thật vậy, trong luận thuyết của Kautilya , lòng khoan dung ít được đề cập đến, trừ ra sự khoan dung cho giai cấp thượng lưu của cộng đồng.


What, then, do we conclude from this? Certainly Kautilya is no democrat, no egalitarian, no general promoter of everyone's freedom. And yet, when it comes to the characterization of what the most favored people-the upper classes-should get, freedom figures quite prominently. The denial of personal liberty of the upper classes (the socalled "Arya") is seen as unacceptable. Indeed, regular penalties, some of them heavy, are specified for the taking of such adults or children in indentureeven though the slavery of the existing slaves is seen as perfectly acceptable. To be sure, we do not find in Kautilya anything like Aristotle's clear articulation of the importance of free exercise of capability. But the focus on freedom is clear enough in Kautilya as far as the upper classes are concerned. It contrasts with the governmental duties to the lower orders, which take the paternalistic form of state assistance for the avoidance of acute deprivation and misery. Still, insofar as a view of the good life emerges in all this, it is an ideal that is entirely consistent with a freedom-valuing ethical system. Its domain is limited, to be sure; but this is not wildly different from the Greek concern with free men as opposed to slaves or women.

Như vậy chúng ta rút tỉa được kết quả gì qua vấn đề trên? Nhất định Kautilya không phải là một nhà dân chủ, không là một nhà theo chủ nghĩa bình đẳng, cũng không phải là một người tranh đấu cho quyền tự do cho mọi người. Ấy thế mà khi ta mô tả những đặc điểm mà giới thượng lưu cần phải có thì quyền tự do là yếu tố nổi bật đứng hàng đầu. Phủ nhận quyền tự do cá nhân của giai cấp thượng lưu (giai cấp "Arya") là điều không thể chấp nhận được. Thật vậy, có những hình phạt rất nặng ngăn cấm việc thuê mướn người lớn hay trẻ con làm việc, dù chế độ nô lệ được coi như hợp pháp. Có một điều chắc chắn là trong kinh điển của Kautilya ta không thể nào tìm thấy sự phân tích rõ ràng như của Aristotle về tính quan trọng của sự tự do phát huy năng lực. Nhưng riêng với giai cấp thượng lưu, sự tự do của giai cấp này được Kautilya chú trọng rất rõ ràng. Điểm này tương phản với nhiệm vụ của chính quyền đối với các giai cấp thấp hơn, dưới hình thức giúp đỡ của nhà nước như cha mẹ giúp đỡ cho con cái tránh khỏi sự nghèo khốn cùng cực. Dù sao, qua những nhận xét vừa kể ta thấy được quan niệm về một đời sống tốt, đó là một lý tưởng phù hợp với hệ thống đạo đức trân trọng tự do. Phạm vi của hệ thống này còn bị giới hạn, chắc chắn như vậy; nhưng cũng chẳng khác gì mấy với việc người Hy lạp đối xử với những người tự do, so với phụ nữ hay nô lệ.

I have been discussing in some detail the political ideas and practical reason presented by two forceful, but very different, expositions in India respectively in the fourth and third centuries B.C., because their ideas have influenced later Indian writings. I do not want to give the impression that all Indian political commentators took lines of approach similar to Ashoka's or Kautilya's. Quite the contrary. There are many positions, before and after Kautilya and Ashoka, that contradict their respective claims, just as there are others that are more in line with Ashoka or Kautilya.


Tôi đã thảo luận khá chi tiết về các tư tưởng chính trị và lý do thực tiễn từ hai nguồn tư tưởng lớn, rất khác nhau nhưng cùng ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà tư tưởng khác của Ấn độ sau này. Nhưng xin độc giả để ý là tôi không có ý ám chỉ là tất cả các nhà bình luận chính trị của Ấn độ đi theo nhận định của Ashoka hay Kautilya. Thật ra, cũng có nhiều nhận định trước và sau Kautilya và Ashoka và mâu thuẫn hẳn với hai người này, cũng như có nhiều người khác chia sẻ cùng suy nghĩ với họ.


The importance of tolerance, even the need for its universality, is eloquently expressed in different media: in Shudraka's drama, in Akbar's political pronouncements, and in Kabir's poetry, to name just a few examples. The presence of these contributions does not entail the absence of opposite arguments and recommendations. The point, rather, is that the heterogeneity of Indian traditions contains a variety of views and reasonings, and they include, in different ways, arguments in favor of tolerance, of freedom, and even (in the case of Ashoka) of equality at a very basic level.

Tầm quan trọng của sự khoan dung, ngay cả trong việc chưa có tính cách phổ thông, đã được phát biểu một cách hùng hồn qua nhiều phương tiện khác nhau, như: bi kịch của Shudraka, tuyên bố chính trị của Akbar, và thi ca của Kabir. Sự hiện diện của những đóng góp này không có nghĩa là không có những tranh luận hoặc đề nghị tương phản. Đúng hơn, vấn đề là phong tục hỗn tạp của Ấn Độ chứa đựng nhiều ý kiến và lý luận khác nhau, và bao gồm những vụ tranh luận, dưới nhiều hình thức khác nhau, thiên về sự khoan dung, quyền tự do và ngay cả trong (trường hợp của Ashoka) sự bình đẳng từ tầng lớp căn bản nhất.


Among the powerful expositors and practitioners of tolerance of diversity in India, of course, we must count the great Moghul emperor Akbar, who reigned between 1556 and 1605. Again, we are not dealing here with a democrat. He was, instead, a powerful king who emphasized the acceptability of diverse forms of social and religious behavior, and who accepted human rights of various kinds, including freedom of worship and religious practice, that would not have been so easily tolerated in parts of Europe in Akbar's time.


Trong số những vị có quyền lực để giải thích và thực thi sự khoan dung và chấp nhận sự đa dạng ở Ấn Độ, phải kể tới Đại Đế Akbar, trị vì xứ Moghul từ 1556 đến 1605. Một lần nữa xin nhớ rằng Akbar không phải là một nhà dân chủ. Ngược lại, ông là một nhà vua đầy quyền lực, là người chấp nhận sự đa dạng về sinh hoạt xã hội và tôn giáo, và đã chấp nhận các quyền căn bản của con người kể cả tự do thờ phượng và hành đạo, những quyền tự do không dễ dàng được bao dung tại một số nước Âu châu cùng thời với Akbar.


Consider an example. As the year 1000 in the Muslim Hijra calendar was reached in 1591-92, there was excitement about it in Delhi and Agra (not unlike what is happening now, as the Christian year 2000 approaches). Akbar issued various enactments at this juncture of history, and these focused inter alia on religious tolerance, including the following:


Ta hãy xem một thí dụ. Năm 1000 trong lịch của Muslim Hijra là năm 1591-92 dương lịch, ở Delhi và Agra có nhiều nhộn nhịp (không khác gì trong dương lịch khi năm 2000 của người Thiên Chúa Giáo sắp đến). Tại thời điểm lịch sử này, Akbar đã ban hành nhiều sắc luật, và nhấn mạnh đến nhiều điều trong đó có sự khoan dung tôn giáo, gồm có lời lẽ như sau:

No man should be interfered with on account of religion, and anyone [is] to be allowed to go over to a religion he pleased. If a Hindu, when a child or otherwise, had been made a Muslim against his will, he is to be allowed, if he pleased, to go back to the religion of his fathers.


Không ai có quyền ngăn cản một người nào về tôn giáo của họ, và không ai có quyền cản họ thay đổi sang một tôn giáo khác nếu họ muốn. Nếu một đứa trẻ Hindu hay một người nào bị bắt buộc theo đạo Hồi, thì người đó có quyền trở lại tôn giáo trước kia của ông bà họ, nếu họ muốn.


Again, the domain of tolerance, while neutral with respect to religion, was not universal in other respects-with respect to gender equality, or to equality between younger and older people. Akbar's enactment went on to argue for the forcible repatriation of a young Hindu woman to her father's family if she had abandoned it in pursuit of a Muslim lover. In the choice between supporting the young lovers and the young woman's Hindu father, old Akbar's sympathies are entirely with the father. Tolerance and equality at one level are combined with intolerance and inequality at another level. And yet the extent of general tolerance on matters of belief and practice is quite remarkable. It may not be irrelevant to note, especially in the light of the hard sell of "Western liberalism," that while Akbar was making these pronouncements on religious tolerance, the Inquisition was in full throttle in Europe.


Như vậy, trên phạm vi khoan dung, dù rằng đã giữ được tính cách trung lập trong vấn đề tôn giáo, nhưng vẫn không được phổ thông dưới nhiều khía cạnh khác - như vấn đề nam nữ bình quyền hoặc sự bình đẳng giữa những người trẻ và những người già. Akbar ban hành một sắc lệnh buộc một cô gái trẻ Hindu phải trở về nhà cha mẹ cô nếu cô đi theo một người yêu theo đạo Hồi. Giữa sự chọn lựa ủng hộ hai kẻ yêu nhau và cha của cô gái Hindu thì Akbar hoàn toàn nghiêng về phía người cha. Sự khoan dung và bình đẳng ở một vị trí này có thể được phối hợp với sự bất khoan dung và bất bình đẳng ở một vị trí khác. Tuy vậy trên thực tế, sự khoan dung, nói chung trên phương diện tín ngưỡng và thực hành, thật phi thường. Cũng chẳng phải vô ích, nhất là khi "thuyết tự do Tây Phương" còn đang khó bán ở Á đông, để ghi nhận rằng: khi Akbar tuyên bố khoan dung tôn giáo, thì Giáo hội Thiên chúa La Mã còn dựng nên không biết bao nhiêu phiên tòa xử dị giáo tại Âu châu.

It is important to recognize that many of these historical leaders in Asia not only emphasized the importance of freedom and tolerance, they also had clear theories as to why this is the appropriate thing to do. This would apply very strongly to Ashoka and Akbar. Since the Islamic tradition is sometimes seen as being monolithic, this is particularly important to emphasize in the case of Akbar. Akbar was a Muslim emperor who was deeply interested in Hindu philosophy and culture, and he also took much interest in the beliefs and practices of other religions, including Christianity, Jainism and the Parsee faith. In fact, he also attempted to establish something of a synthetic religion for India, the Din Ilahi, drawing on the different faiths in the country.

Điều quan trọng cần nhìn nhận ở đây là những nhà lãnh đạo trong lịch sử Á Đông không những nhấn mạnh về tầm quan trọng của tự do và khoan dung, mà họ còn có những lý thuyết rõ ràng tại sao làm như vậy là hợp lý. Trường hợp đó được áp dụng thật rõ ràng đối với Ashoka và Akbar. Vì phong tục Hồi Giáo được xem như một khối thuần nhất cho nên trường hợp của Akbar phải được nhấn mạnh một cách đặc biệt. Akbar là một hnoàng đế Hồi Giáo mà lại rất chú ý đến nền triết lý, và văn hóa Ấn giáo, và ông cũng chú trọng đến những tín ngưỡng và những thực hành của những tôn giáo khác, kể cả đạo Thiên Chúa, Đạo Jaina và tín ngưỡng Hỏa giáo Parsee. Thật vậy, ông dã từng cố gắng thành lập một tôn giáo tổng hộp cho xứ Ấn Độ, gọi là Đạo Din Ilahi, kết hợp từ những tôn giáo khác nhau trong xứ.


There is an interesting contrast here between Ashoka's and Akbar's forms of religious tolerance. Both stood for religious tolerance by the state, and both argued for tolerance as a virtue to be practiced by all. But Ashoka combined this with his own Buddhist pursuits (and tried to spread its "enlightenment" at home and abroad), while Akbar tried to "combine" the distinct religions of India, incorporating the "good points" of different religions. Akbar's court was filled with Hindu as well as Muslim intellectuals, artists, and musicians, and he tried in every way to be nonsectarian and fair in the treatment of his subjects.


Ta thấy có một tương phản đáng chú ý về nội dung của sự khoan hồng tôn giáo giữa Ashoka và Akbar. Cả hai đều đấu tranh cho sự khoan dung tôn giáo quốc gia, và cả hai đều lập luận rằng sự khoan dung phải được xem như là một đức tánh mà tất cả mọi người phải thi hành. Nhưng Ashoka tổng hợp việc này với những lý thuyết ông đeo đuổi về Phật Giáo (và cố gắng phổ biến "ánh sáng đạo" này ở trong xứ và ở ngoại quốc), trong lúc Akbar cố gắng "kết hợp" những "điểm hay" của các tôn giáo khác biệt tại Ấn Độ. Trong triều đình của Akbar có rất nhiều nhà trí thức, nghệ sĩ và nhạc sĩ người Ấn Độ cũng như người Hồi, và ông cố gắng bằng mọi cách xử sự không bè phái và công bằng với mọi người dân của ông.


It is also important to note that Akbar was not unique among the Moghul emperors in being tolerant. In many ways, the later Moghul emperor, the very intolerant Aurangzeb, who violated many of what we would now call the human rights of Hindus, was something of an exception to the Moghul rule. The exponents of Hindu politics in contemporary India often try to deny the tolerant nature of much of Moghul rule, but this tolerance was handsomely acknowledged by Hindu leaders of an earlier vintage. Sri Aurobindo, for example, who established the famous ashram in Pondicherry, specifically identified this aspect of the Moghul rule: "[T]he Mussulman domination ceased very rapidly to be a foreign rule.... The Moghul empire was a great and magnificent construction and an immense amount of political genius and talent was employed in its creation and maintenance. It was splendid, powerful and beneficent and, it may be added, in spite of Aurangzeb's fanatical zeal, infinitely more liberal and tolerant in religion than any medieval or contemporary European kingdom or empire."

Việc quan trọng đáng chú ý là Akbar không phải là hoàng đế duy nhất của xứ Moghul trong vấn đề khoan dung. Trên nhiều phạm vi, hoàng đế kế tiếp của Moghul, Aurangzeb, lại người thật bất khoan hồng và đã vi phạm những điều mà ngày nay ta gọi là nhân quyền của dân Ấn Độ, đã trở thành một trường hợp ngoại lệ dưới thời cai trị Moghul. Những người thuyết giảng về chính trị của Ấn giáo thời nay bên Ấn Độ thường muốn phủ nhận bản chất khoan dung dưới thời thống trị của Moghul, nhưng sự khoan dung này đã được thừa nhận một cách rõ rệt bởi những nhà lãnh đạo Ấn Độ của thời xa xưa, thí dụ như Sri Aurobindo, người xây cất nhà tu đạo ở Pondicherry, đã đặc biệt ghi nhận đặc tính [khoan dung] dưới thời cai trị Moghul như sau: "Sự thống trị của Hồi giáo đã chấm dứt thật nhanh chóng, không còn là một thống trị của ngoại bang... Đế quốc Moghul là một công trình vĩ đại và huy hoàng và một số đông những nhà tài ba lỗi lạc chính trị đã được trọng dụng trong việc sáng tạo và bảo quản thành trì đó. Chúng ta có thể nói thêm rằng, mặc dù Aurangzeb là người cuồng nhiệt , thành trì đó quả thật tráng lệ, hùng cường và hữu ích và vô cùng rộng rãi và khoan hồng trong vấn đề tôn giáo hơn là bất cứ một vương quốc nào dưới thời trung cổ hay hiện đại ở các vương quốc hay đế quốc tại Âu Châu ."


And, even in the case of Aurangzeb, it is useful to consider him not in isolation, but in his familial setting. For none of his immediate family seemed to have shared Aurangzeb's intolerance. Dara Shikoh, his elder brother, was much involved with Hindu philosophy and, with the help of some scholars, he prepared a Persian translation of some of the Upanishads, the ancient texts dating from about the eighth century B.C. In fact, Dara had much stronger claims to the Moghul throne than Aurangzeb, since he was the eldest and the favorite son of his father, the emperor Shah Jahan. Aurangzeb fought and killed his brother Dara, and imprisoned his father, Shah Jahan, for the rest of his life (leaving him, the builder of the Taj Mahal, to gaze at his creation in captivity).


Và, ngay cả trong trường hợp của Aurangzeb, ta không nên đánh giá ông như một trường hợp cá biệt mà cần xét luôn hoàn cảnh gia đình. Không một người nào trong gia đình ông chia sẻ sự bất khoan dung của Aurangzeb. Người anh lớn là Dara Shilok đã để nhiều tâm trí vào triết lý Ấn Độ, và với sự cộng tác của một số học giả đã soạn dịch sang tiếng Ba Tư một phần của Áo nghĩa thư (Upanishads), bản văn cổ từ khoảng thế kỷ thứ tám trước công lịch. Thật ra, Dara có nhiều quyền để nối ngôi vua Moghul hơn Aurangzeb vì ông là con trưởng và cũng là người con được vua cha là hoàng đế Shah Jahan thương yêu nhất. Aurangzeb giành quyền và giết chết người anh Dara, rồi bỏ tù cha của ông là hoàng đế Shah Jahan cho đến hết cuộc đời ( Vua Shah Jahan, người xây cất Tai Mahal phải ngắm sáng tác vĩ đại của ông từ trong ngục tù).


Aurangzeb's son, also called Akbar, rebelled against his father in 1681 and joined hands in this enterprise with the Hindu kingdoms in Rajasthan and later the Marathas. (Akbar's rebellion was ultimately crushed by Aurangzeb.) While fighting from Rajasthan, Akbar wrote to his father, protesting his intolerance and his vilification of his Hindu friends. Indeed, the issue of the tolerance of differences was a subject of considerable discussion among the feuding parties. The father of the Maratha king, Raja Sambhaji, whom the young Akbar had joined, was none other than Shivaji, whom the present-day Hindu political activists treat as a super-hero, and after whom the intolerant Hindu party Shiv Sena is named.


Con trai của Aurangzeb, cũng tên Akbar, chống lại cha năm 1681 và hợp tác với vương quốc Ấn Độ ở Rajasthan và sau đó là xứ Marathas. (cuối cùng sự chống đối của Akbar cũng bị Aurangzeb tiêu diệt.) Trong lúc chiến đấu từ Rajasthan, Akbar đã viết một bức thư cho cha, phản đối sự bất khoan dung và sự phỉ báng của Aurangzeb đối với những người bạn Ấn Độ của ông. Thật vậy, sự khác biệt về vấn đề khoan dung đã là một đề tài cho những cuộc tranh luận sôi nổi giữa những đảng phái cừu hận. Cha của vua xứ Maratha là Raja Sambhaji, người mà chàng trẻ Akbar liên kết, không ai khác hơn là Shivaji, người mà những nhà tranh đấu chính trị Ấn Độ ngày nay xem như là một vị anh hùng vĩ đại. Sau này tên ông được đảng Ấn Độ Shiv Sena, một đảng chủ trương sắc tộc quá khích, chọn làm tên gọi.


Shivaji took quite a tolerant view of religious differences. As the Moghul historian Khafi Khan, no admirer of Shivaji in other respects, reports: "[Shivaji] made it a rule that wherever his followers were plundering, they should do no harm to the mosques, the book of God, or the women of anyone. Whenever a copy of the sacred Quran came into his hands, he treated it with respect, and gave it to some of his Mussulman followers." A very interesting letter to Aurangzeb on the subject of tolerance is attributed to Shivaji by some historians (such as Sir Jadunath Sarkar, the author of the classic Shivaji and His Times, published in 1919), though there are some doubts about this attribution. No matter who among Aurangzeb's Hindu contemporaries wrote this letter, the ideas in it are interesting. The text contrasts Aurangzeb's intolerance with the liberal policies of earlier Moghuls (Akbar, Jahangir, Shah Jahan), and then says: "If Your Majesty places any faith in those books by distinction called divine, you will there be instructed that God is the God of all mankind, not the God of Muslims alone. The Pagan and the Muslim are equally in His presence.... In fine, the tribute you demand from the Hindus is repugnant to justice."

Shivaji nhận thức những khác biệt của các tôn giáo với một cái nhìn khá bao dung. Như sử gia người Moghul tên Khafi Khan, là người không ưa Shivaji trên nhiều quan điểm khác, đã viết: "Shivaji ra lệnh là mỗi khi quân lính của ông tước đoạt của cải của những kẻ khác, họ không được làm hư hại các đền thờ, kinh sách, hay động chạm đến phụ nữ của những kẻ khác. Bất cứ lúc nào gặp quyển kinh Ko-ran, ông cũng nâng quyển kinh một cách cung kính, và sau đó trao lại cho những tín đồ Hồi giáo." Có một lá thư gây rất nhiều sự chú ý đã được gởi đến Aurangzeb về đề tài khoan dung mà những sử gia cho rằng Shivaji là tác giả (như sử gia Sir Jadunath Sarkar, tác giả của tác phẩm kinh điển "Thời đại Shivaji," in vào năm 1919), tuy người ta vẩn còn đặt nghi vấn về xuất xứ của tác phẩm này. Nhưng dù ai trong những tác giả đương thời của Aurangzeb đã viết bức thư này thì ý nghĩa trong bức thư đó cũng đáng được chú ý. Nội dung nêu lên sự trái ngược giữa chính sách bất khoan dung của Aurangzeb với những chính sách rộng rãi hơn của những vị vua Moghul trước đó (Akbar, Jahangir, Shah Jahan), và nội dung ghi rằng: "Nếu Thánh Thượng đặt niềm tin vào những cuốn sách thánh này, ngài sẽ thấy rằng Thượng Đế là Thượng Đế của cả nhân loại, chứ không phải chỉ là Thượng Đế của người theo Hồi giáo. Những người Dị giáo và Hồi giáo đều bình đẳng trước mặt Thượng Đế. Nói tóm lại những vật ngài đòi dân Ấn giáo triều cống đi ngược với sự công bằng."


The subject of tolerance was much discussed by many writers during this period of confrontation between the religious traditions and their associated politics. One of the earliest writers on this subject was the eleventh century Iranian writer Alberuni, who came to India with the invading army of Mahmood of Ghazni and recorded his revulsion at the atrocities committed by the invaders. He proceeded to study Indian society, culture, religion, and ideas (his translations of Indian mathematical and astronomical treatises were quite influential in the Arab world, which in turn was deeply influential on Western mathematics), and he also wrote on the subject of the intolerance of the unfamiliar.

Đề tài khoan dung đã được nhiều tác giả thảo luận trong thời kỳ đối đầu giữa truyền thống tôn giáo và những quan điểm chính trị của họ. Một trong những tác giả đầu tiên viết về vấn đề này là một người Ba Tư tên là Alberuni vào thế kỷ thứ mười một, ông theo đoàn quân xâm lăng của Mahmood ở Ghazni và ông đã ghi lại sự kinh khiếp của mình khi chứng kiến sự tàn bạo của những kẻ xâm lăng. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu về xã hội, văn hóa, tôn giáo và tư tưởng Ấn Độ (bản dịch các luận đề toán học và thiên văn học của ông từ tiếng Ấn độ gây một ảnh hưởng khá lớn trong thế giới Á Rập, và qua đó ảnh hưởng rất sâu đậm đến nền toán học của Tây Phương), và ông cũng có viết về vấn đề bất khoan dung đối với những "người xa lạ."

... in all manners and usages, [the Hindus] differ from us to such a degree as to frighten their children with us, with our dress, and our ways and customs, and as to declare us to be devil's breed, and our doings as the very opposite of all that is good and proper. By the bve, we must confess, in order to be just, that a similar depreciation of foreigners not only prevails among us and the Hindus, but is common to all nations towards each other.

...trong tất cả mọi cử chỉ và cách đối xử, người theo Ấn độ khác chúng ta đến mức độ họ dùng chúng ta để dọa con cháu họ bằng cách ăn mặc, cách cư xử và phong tục của chúng ta, và đến độ họ đã tuyên bố chúng ta xuất phát từ giống ma qủy, và tất cả những hành động của chúng ta đều đi ngược lại những gì tốt đẹp và đứng đắn. Để cho công bằng, chúng ta phải thú nhận rằng sự kinh miệt những người ngoại quốc không chỉ xảy ra trong chúng ta hay người Ấn độ mà thôi, mà còn phổ thông trong mọi nước khi đối xử với nhau.

The point of discussing all this now is to demonstrate the presence of conscious theorizing about tolerance and freedom in substantial and important parts of the Asian traditions. We could consider many more illustrations of this phenomenon from writings in early Arabic, Chinese, Indian and other cultures. Again, the championing of democracy and political freedom in the modern sense cannot be found in the pre-enlightenment tradition in any part of the world, West or East. What we have to investigate, instead, are the constituents, the components, of this compound idea. It is the powerful presence of some of these elements-in non-Western as well as Western societies-that I have been emphasizing. It is hard to make sense of the view that the basic ideas underlying freedom and rights in a tolerant society are "Western" notions, and somehow alien to Asia, though that view has been championed by Asian authoritarians and Western chauvinists.

Mục đích của sự thảo luận này bây giờ là để chứng tỏ có sự hiện diện của một ý thức được lý thuyết hóa về sự khoan dung và quyền tự do cùng vai trò lớn lao và trọng yếu của ý niệm này trong phong tục tập quán Á Đông. Chúng ta có thể xem xét thêm những thí dụ khác của hiện tượng này qua những tài liệu trong thời đầu của văn hóa Á Rập, Trung Quốc, Ấn Độ và những văn hóa khác. Một lần nữa, sự đấu tranh cho nền dân chủ và tự do chính trị theo nghĩa hiện đại không thể tìm thấy trong truyền thống của thời đại tiền-Khai sáng ở bất cứ nơi nào trên thế giới, Tây Phương hay Đông Phương. Thay vào đó, điểm mà chúng ta phải điều tra là nơi những phần tử, những thành phần cấu tạo, đã kết hợp lý thuyết này. Tôi đã thường nhấn mạnh là yếu tố này hiện diện trong những phần tử nằm trong xã hội không-Tây Phương cũng như xã hội Tây Phương. Thật khó mà hiểu được cái quan điểm cho rằng những ý tưởng cơ bản của tự do và nhân quyền trong một xã hội bao dung là "ý tưởng của Tây Phương," và xa lạ với Á đông, dù có rất nhiều nhà độc tài tại Á Đông và những kẻ "sô-vanh" Tây Phương, những kẻ cao ngạo về sự văn minh của Tây Phương, vẫn rêu rao.

I would like to conclude with a rather different issue, which is sometimes linked to the debate about the nature and the reach of Asian values. The championing of Asian values is often associated with the need to resist Western hegemony. The linkage of the two issues, which has increasingly occurred in recent years, uses the political force of anticolonialism to buttress the assault on civil and political rights in post-colonial Asia.


Tôi muốn kết luận bằng một đề tài hơi khác mà lắm lúc có liên hệ đến cuộc tranh luận về bản chất và phạm vi của giá trị Á Đông. Sự cổ xúy cho giá trị Á Đông thường có liên hệ đến nhu cầu chống đối lại quyền bá chủ Tây Phương. Sự liên hệ giữa hai vấn đề này, gia tăng trong nhiều năm qua, đã ứng dụng sức mạnh chính trị của chủ nghĩa chống thuộc địa để làm điểm tựa cho sự đàn áp quyền dân sự và chính trị trong thời hậu thuộc địa ở Á Đông.


This linkage, though quite artificial, can be rhetorically quite effective. Thus Lee Kuan Yew has emphasized the special nature of Asian values, and has made powerful use of the general case for resisting Western hegemony to bolster the argument for Asian particularism. The rhetoric has extended to the apparently defiant declaration that Singapore is "not a client state of America." This fact is certainly undeniable, and it is an excellent reason for cheer, but the question that has to be asked is what this has to do with the issue of human rights and political liberties in Singapore, or any other country in Asia.


Sự liện hệ này, dù trên bề mặt khá giả tạo, nhưng được hùng biện một cách có hiệu quả. Như vậy Lý Quang Diệu đã nhấn mạnh về bản chất đặc biệt của giá trị Á Đông, và đã dùng một trường hợp tổng quát để chống lại quyền bá chủ Tây Phương và bênh vực cho cuộc tranh luận cho chủ nghĩa đặc thù Á Đông. Sự hùng biện này đã đưa đến việc tuyên bố ngang ngạnh rằng Singapore "không phải là một ‘tiểu bang' của Hoa Kỳ." Thực tế này không thể chối cải được, và đó cũng là một lý do để vui mừng, tuy nhiên câu hỏi được đặt ra là việc ấy có can hệ gì đến nhân quyền và tự do chính trị ở Singapore, hay ở trên bất cứ xứ nào trong vùng Á Châu đâu.

The people whose political and other rights are involved in this debate are not citizens of the West, but of Asian countries. The fact that individual liberty may have been championed in Western writings, and even by some Western political leaders, can scarcely compromise the claim to liberty that people in Asia may otherwise possess. As a matter of fact, one may grumble, with reason, that the political leaders of Western countries take far too little interest in issues of freedom in the rest of the world. There is plenty of evidence that the Western governments have tended to give priority to the interests of their own citizens engaged in commerce with the Asian countries and to the pressures generated by business groups to be on good terms with the ruling governments in Asia. It is not that there has been more bark than bite; there has been very little bark, too. What Mao once described as a "paper tiger" looks increasingly like a paper mouse.

Những người, mà quyền chính trị và những quyền khác, liên hệ đến cuộc tranh luận này không phải là những người dân Tây Phương mà là dân của những xứ Á Đông. Việc mà quyền tự do cá nhân đã được bênh vực trong những tác phẩm Tây Phương, và ngay cả bởi các vị lãnh đạo chính trị Tây Phương, không làm tổn hại đến những đòi hỏi về quyền tự do mà người dân ở Á Đông đã sẵn có. Thật vậy, ta có thể cằn nhằn với lý do chính đáng, rằng các vị lãnh đạo chính trị của những xứ Tây Phương ít chú trọng đến vấn đề tự do trong các xứ khác trên thế giới. Có rất nhiều bằng chứng cho ta thấy rằng những chánh phủ Tây Phương có chiều hướng đặt ưu tiên trên quyền lợi của những người dân của họ khi kinh doanh với những xứ Á Đông và vì áp lực của những nhóm kinh doanh đó, họ phải giữ một sự giao hảo với những chánh phủ cầm quyền ở Á Đông. Không phải vì [các nước Tây Phương] sủa nhiều hơn cắn; nhưng [thật ra] cũng có rất ít tiếng sủa. Cái mà Mao mô tả như "cọp giấy" thì giờ có nhiều điểm ngày càng giống chuột giấy hơn.


But even if this were not the case, and even if it were true that Western governments try to promote political and civil rights in Asia, how can that possibly compromise the status of the rights of Asians? In this context, the idea of "human rights" has to be properly understood. In the most general form, the notion of human rights builds on our shared humanity. These rights are not derived from citizenship in any country, or membership in any nation. They are taken as entitlements of every human being. These rights differ, therefore, from constitutionally created rights guaranteed for specified people (such as American citizens or French nationals). The human right of a person not to be tortured is affirmed independently of the country of which this person is a citizen, and also irrespective of what the government of that country-or any other country-wants to do. Of course, a government can dispute a person's legal right not to be tortured, but that will not amount to disputing what must be seen as the person's human right not to be tortured.


Nhưng dù không phải là trường hợp đó, và mặc dù nếu những chánh phủ Tây Phương có cố gắng đẩy mạnh quyền chính trị và dân sự ở Á Đông , thì việc ấy làm sao tác hại đến trạng thái của quyền căn bản nơi người Á Đông? Trong phạm vi này, chân ý nghĩa "nhân quyền" phải được thấu hiểu một cách rõ ràng. Trên một hình thức tổng quát nhất, khái niệm về nhân quyền được xây dựng trên sự chia sẻ của tình nhân loại. Những quyền căn bản này không xuất phát từ tư cách công dân của bất cứ một xứ nào, hay từ một thành viên của bất cứ một quốc gia nào. Những quyền này được xem là quyền tự nhiên của con người. Vì vậy, những quyền này khác với những quyền mà chính quyền tạo ra được hiến pháp bảo đảm dành riêng cho một dân tộc riêng biệt nào đó (như dân của nước Mỹ hay của nước Pháp). Nhân quyền không bị tra tấn của một người đã được xác nhận một cách độc lập với tư cách công dân của người đó, và cũng không ăn thua gì đến việc nước này hay nước nọ muốn làm gì. Lẽ dĩ nhiên, một chánh quyền có thể tranh luận là về phương diện pháp lý người công dân có quyền không bị tra tấn, nhưng việc ấy không đủ lý lẽ để tranh luận cho yếu tố quyền không bị tra tấn do pháp luật quy định với nhân quyền của một người không bị tra tấn.

Since the conception of human rights transcends local legislation and the citizenship of the individual, the support for human rights can come from anyone-whether or not she is a citizen of the same country as the individual whose rights are threatened. A foreigner does not need the permission of a repressive government to try to help a person whose liberties are being violated. Indeed, insofar as human rights are seen as rights that any person has as a human being (and not as a citizen of any particular country), the reach of the corresponding duties can also include any human being (irrespective of citizenship).


Vì khái niệm nhân quyền vượt qua khỏi tầm pháp luật địa phương và tư cách công dân của cá nhân, nên sự ủng hộ cho nhân quyền có thể đến từ bất cứ ai - dù người ấy có phải là người dân cùng một xứ với đương sự, mà quyền căn bản đang bị đe dọa, hay không. Một người ngoại quốc không cần xin phép một chánh phủ độc tài áp bức để tìm cách giúp đỡ người mà quyền căn bản bị vi phạm. Thật vậy, kể từ lúc nhân quyền được xem là quyền cơ bản của bất cứ ai như quyền của một con người (và không phải như công dân của một xứ nào đặc biệt), thì mọi người có thể ủng hộ trong khả năng trách nhiệm tương ứng (không kể là công dân của quốc gia nào).




This basic recognition does not suggest, of course, that everyone must intervene constantly in protecting and helping others. That may be both ineffective and unsettling. There is no escape from the need to employ practical reason in this field, any more than in any other field of human action. Ubiquitous interventionism is not particularly fruitful or attractive within a given nation, nor is it across national boundaries. There is no obligation to roam the four corners of the earth in search of liberties to protect. My claim is only that the barriers of nationality and citizenship do not preclude people from taking legitimate interest in the rights of others and even from assuming some duties related to them. The moral and political examination that is central to determining how one should act applies across national boundaries, and not merely within them.


Tuy nhiên, sự thừa nhận cơ bản này không gợi ý là tất cả [mọi người] đều phải liên tục can thiệp vào việc bảo vệ và giúp đở những kẻ khác. Làm như vậy có thể vừa không hiệu quả và vừa gây rắc rối. Trong lãnh vực này cũng như trong mọi lãnh vực khác chúng ta phải vận dụng lý trí thực tiễn, chứ không chỉ hành động theo cảm tính. Việc can thiệp vào nội bộ cùng khắp nơi thực sự không mang lại kết quả mỹ mãn hay rực rỡ trong riêng một quốc gia nào, hay vượt qua biên giới sang nước khác. Ta không cần phải đi lùng khắp năm châu bốn bể để tìm tự do mà bảo vệ. Vấn đề tôi đặt ra là những bức tường quốc gia và quốc tịch không ngăn cản người ta không được có những quan tâm hợp pháp đến quyền của những kẻ khác mà còn là trách nhiệm gánh vác thêm những bổn phận liên hệ. Việc nghiên cứu về mặt luân lý và chính trị là trọng tâm để xác định cách thức hành động xuyên qua những biên giới quốc gia, và không chỉ trong vòng giới hạn nội bộ của một nước nào.


To conclude, the so-called Asian values that are invoked to justify authoritarianism are not especially Asian in any significant sense. Nor is it easy to see how they could be made, by the mere force of rhetoric, into an Asian cause against the West. The people whose rights are being disputed are Asians, and, no matter what the West's guilt may be (there are many skeletons in many closets throughout the world), the rights of Asians can scarcely be compromised on those grounds. The case for liberty and political rights turns ultimately on their basic importance and on their instrumental role. And this case is as strong in Asia as it is elsewhere.

Để kết luận, cái gọi là giá trị Á Đông được mang ra để biện minh cho sự độc tài không phải là những giá trị đặc biệt Á Đông, theo bất cứ nghĩa nào. Cũng không dễ gì nhận ra, qua những ngôn từ hùng biện, những giá trị này đã được vận dụng thành một nguyên cớ chống lại Tây Phương. Những người mà [nhân] quyền đang bị đàn áp là những người Á Đông, và cũng không cần biết Tây Phương có mặc cảm tội lỗi nào hay không (khắp thế giới nơi nào mà chẳng có những điều xấu xa được dấu diếm), nhân quyền của người dân Á Đông không thể bị mặc cả vì những lý do đó. Sau cùng, trường hợp của quyền tự do và quyền chính trị cũng sẽ chuyển hướng theo tầm quan trọng thiết thực và vai trò cơ năng của nó. Và trường hợp này cũng đáng được chú ý ở Á Đông cũng như ở các nơi khác.

There is a great deal that we can learn from studies of values in Asia and Europe, but they do not support or sustain the thesis of a grand dichotomy (or a "clash of civilizations"). Our ideas of political and personal rights have taken their particular form relatively recently, and it is hard to see them as "traditional" commitments of Western cultures. There are important antecedents of those commitments, but those antecedents can be found plentifully in Asian cultures as well as Western cultures.

Có nhiều điều ta có thể học được từ cuộc nghiên cứu các giá trị Á châu và Âu châu, nhưng những điều này không tạo nên nền tảng lý luận cho lý thuyết nhị phân mang tính toàn cầu (hay còn gọi là "sự xung đột giữa các nền văn minh"). Ý niệm của chúng ta về các quyền cá nhân và chính trị cũng chỉ mới vừa thành hình trong thời gian gần đây mà thôi, và do đó khó lòng mà bảo những ý niệm này là niềm tin "truyền thống" của văn hóa Tây Phương. Trước khi có những niềm tin này đã có nhiều tiền lệ quan trọng, và những tiền lệ này có đầy dẫy trong văn hóa Á Đông cũng như trong văn hóa Tây Phương.


The recognition of diversity within different cultures is extremely important in the contemporary world, since we are constantly bombarded by oversimple generalizations about "Western civilization," "Asian values," "African cultures," and so on. These unfounded readings of history and civilization are not only intellectually shallow, they also add to the divisiveness of the world in which we live. The authoritarian readings of Asian values that are increasingly championed in some quarters do not survive scrutiny. And the grand dichotomy between Asian values and European values adds little to our understanding, and much to the confounding of the normative basis of freedom and democracy.


Việc thừa nhận những khác biệt của những văn hóa khác nhau thật là vô cùng quan trọng trong thế giới hiện đại của chúng ta, vì chúng ta thường xuyên bị oanh tạc tới tấp bởi những từ ngữ được giản dị và tổng quát hóa như " Nền văn minh Tây Phương," "Giá trị Á Đông," "Văn Hóa Phi Châu," và vân vân. Những bài luận vô căn cứ về lịch sử và nền văn minh không những nông cạn về chiều tri thức mà chúng còn làm tăng sự chia rẽ trong thế giới chúng ta đang sống. Những luận thuyết của các nhà độc tài về giá trị Á Đông mà đã được cổ xúy ở nhiều nơi không tồn tại được dưới sự nghiên cứu kỹ lưỡng. Và lý thuyết nhị phân vĩ đại giữa giá trị Á Đông và giá trị Âu Châu mang đến cho chúng ta rất ít sự hiểu biết, và gây thêm nhiều lầm lẫn cho quy tắc căn bản của quyền tự do và dân chủ.


AMARTYA SEN is Lamont University Professor and Professor of Economics and Philosophy at Harvard University.

Amartya Sen là Giáo sư Đại học Lamont và Giáo sư Kinh tế và Triết học tại Đại học Harvard.
[1] Thomas Paine sinh tại Anh năm 1737, di cư sang Mỹ năm 1774. Paine làm phụ tá chủ bút cho tờ Tạp Chí Pennsylvania. Tiểu luận "Common Sense" được xuất bản vào tháng Giêng 1776 và bán được tới 120.000 bản chỉ trong vòng 3 tháng. Điều đáng lưu ý là tiểu luận này ra đời 6 tháng trước khi Mỹ tuyên bố độc lập vào ngày 4 tháng 7, 1776.

[2] Chủ nghĩa Công lợi dựa trên kết quả (consequentialism) thoát thai từ chủ nghĩa Công lợi, chủ trương đem lại cái tốt nhất cho số đông nhất. Chủ nghĩa công lợi dựa trên kết quả cho rằng chỉ có kết quả là đáng kể; nếu kết quả ấy tốt thì hành động tạo ra kết quả ấy được coi là có giá trị đạo đức tốt chứ không tùy thuộc vào bản chất của hành động đó hay hoàn cảnh khi hành động được thi hành. Xem thêm tại: Stanford Encyclopedia of Philosophy http://www.science.uva.nl/~seop/entries/consequentialism/#WhaCon



https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/sen.htm