MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Sunday, January 6, 2013

Where is China taking Asia? Trung Quốc đang đưa châu Á đi về đâu?





Where is China taking Asia?

Trung Quốc đang đưa châu Á đi về đâu?

Mahani Zainal Abidin, ISIS
January 5th, 2013
Mahani Zainal Abidin, ISIS
January 5/1/2013


The recent upping of the ante by China in the disputed South China Sea and the flexing of its maritime muscle has underlined the dilemma faced by many countries in the region: how can countries in Asia expand and deepen economic links and interdependence when political tension is rising?

Gần đây Trung Quốc đã tỏ ra quyết đoán hơn đối với các tranh chấp tại Biển Đông và tiếp tục phô trương lực lượng quân sự của họ. Việc này dẫn tới tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà các nước trong khu vực phải đối mặt: làm thế nào để các nước ở châu Á có thể mở rộng và thắt chặt thêm các liên kết kinh tế và phụ thuộc lẫn nhau khi căng thẳng chính trị đang tiếp tục gia tăng?

China is a very important source of economic growth, manufacturing and commercial activity for the region and beyond. Regional production networks and supply chains have intertwined China with other countries to the point that whatever happens in one part will soon have a knock-on effect in another. Therefore, recent action by China that has raised political and military tensions must be viewed seriously.

Trung Quốc là một nguồn tăng trưởng kinh tế, hoạt động sản xuất và thương mại quan trọng đối với khu vực [châu Á] cũng như nhiều nước khác. Mạng lưới sản xuất trong khu vực và chuỗi cung ứng đã gắn bó Trung Quốc với các nước khác với nhau đến mức bất cứ điều gì xảy ra tại một trong những nước này sẽ sớm đưa đến hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng đến một nước khác. Vì vậy, hành động gây căng thẳng chính trị và quân sự gần đây của Trung Quốc cần phải được xem xét một cách nghiêm trọng.


The hard stance taken by China earlier in the year on the disputed seas was thought to be an attempt to distract attention from internal problems such as the burgeoning corruption and the widening income inequality. Rising nationalism, especially among young Chinese, is another factor influencing the actions of the Chinese leadership. It is not surprising then, that outgoing president, Hu Jintao, when speaking at the 18th National Congress made a special call to ‘resolutely safeguard China’s maritime rights and interests, and build China into a maritime power’.

Lập trường cứng rắn của Trung Quốc vào đầu năm nay tại vùng biển có tranh chấp được coi là một nỗ lực nhằm đánh lạc hướng sự chú ý từ các vấn đề nội bộ như tham nhũng dai dẳng và tình trạng khoảng cách giàu nghèo [tính theo thu nhập đầu người] ngày càng trầm trọng. Chủ nghĩa dân tộc hiện đang gia tăng, đặc biệt trong giới trẻ Trung Quốc, cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến các hành động trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 18, kêu gọi ‘kiên quyết bảo vệ quyền hàng hải và lợi ích của Trung Quốc, và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc hàng hải’.

The smooth leadership transition has not reduced Chinese assertions over its strategic interests in the South China Sea. The new leadership announced that from 1 January 2013 police forces in the province of Hainan will board, search and seize ships entering what China considers its territorial waters. China will also send more maritime surveillance ships to patrol the South China Sea.


Việc chuyển đổi lãnh đạo một cách êm thắm đã không giảm tính quyết đoán của  Trung Quốc đối với lợi ích chiến lược của họ tại Biển Đông. Lãnh đạo mới của nước này thông báo rằng kể từ ngày 1 tháng Một năm 2013, lực lượng cảnh sát ở tỉnh Hải Nam sẽ tiến hành kiếm soát và bắt giam các tàu thuyền đi vào vùng [Biển Đông] mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền lãnh hải của họ. Trung Quốc cũng cho biết sẽ gửi thêm các tàu khảo sát biển tuần tra đến khu vực Biển Đông.


The policing of shipping will exacerbate earlier Chinese confrontations with Vietnamese and Philippine vessels. Free and safe passage along international shipping lanes in the South China Seas is crucial for free flow of international trade because it is the artery connecting East Asia to the Indian Ocean. The United States may be compelled to respond if this shipping passage is disrupted. China further fuelled tensions recently when it issued new Chinese passports with a map of China that includes the disputed parts of the South China Sea.


Các chính sách về vận chuyển đường biển trước đây đã làm vấn đề này trở nên trầm trọng hơn giữa các tàu thuyền Việt Nam và Philippines với phía Trung Quốc. Quyền di chuyển tự do và an toàn dọc theo tuyến đường vận chuyển quốc tế trong vùng Biển Đông rất quan trọng đối với các mối thương mại quốc tế bởi vì đây là động mạch chính kết nối Đông Á với Ấn Độ Dương. Hoa Kỳ có thể bắt buộc phải lên tiếng nếu đường vận chuyển này bị gián đoạn. Gần đây Trung Quốc cũng đã gây thêm căng thẳng khi họ phát hành phiên bản hộ chiếu mới có in bản đồ [lưỡi bò] bao gồm cả khu vực đang tranh chấp ở Biển Đông.


Are all these moves just part of a power transition, which might be expected to settle down in the first quarter of 2013? Although it is tempting to take this view and to hope for the best, it must be remembered that Chinese military actions could have long lasting economic impacts.


Liệu tất cả những động thái này chỉ là một phần trong quá trình chuyển giao quyền lực, và có thể được dự kiến ​​sẽ được giải quyết trong quý đầu tiên của năm 2013? Mặc dù việc này sẽ rất hấp dẫn để theo dõi và hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ diễn ra, nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng các hành động quân sự của Trung Quốc từ lâu đã có những tác động lâu dài đến nền kinh tế.


China is developing deeper and more extensive economic links with the region. The webs of interconnection are complex and widespread, with foreign companies establishing operations in China and investing in skills upgrading and technology transfers. China welcomes its integration with the global economy by facilitating production facilities and logistics, building infrastructure and providing labour.


Trung Quốc hiện đang phát triển sâu và rộng hơn với các nền kinh tế ở khu vực này. Sự liên kết đang trong giai đoạn rất phức tạp và lan rộng, với các công ty nước ngoài thiết lập nhiều hoạt động ở Trung Quốc cũng như đầu tư vào các kỹ năng nâng cấp và chuyển giao công nghệ. Trung Quốc hoan nghênh sự hội nhập với nền kinh tế toàn cầu bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất và hậu cần, xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp nguồn lao động.


China wants ASEAN to be its key economic partner and Nanning, the capital of South Guangxi Zhuang Autonomous Region, has been nominated to lead this initiative. The annual China–ASEAN Expo, attended by leaders from China and ASEAN, provides a venue for discussion on cooperation in trade, investment, infrastructure and tourism. In 2011, Malaysia established the Qinzhou Industrial Park in Nanning. Its sister park will soon be developed in Kuantan, forming part of a larger project to establish links between China and ASEAN via the development of the Pan Beibu region.


Trung Quốc hiện đang muốn ASEAN trở thành đối tác kinh tế trọng điểm của họ và Nam Ninh, thủ phủ thuộc khu vực tự trị tại Nam Quảng Tây, đã được đề cử để dẫn đầu sáng kiến ​​này. Hội chợ triển lãm Trung Quốc–ASEAN diễn ra hàng năm với sự tham dự của các lãnh đạo từ Trung Quốc cũng như ASEAN đã cung cấp một địa điểm để các bên có thể thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực thương mại, cơ sở hạ tầng, đầu tư và du lịch. Trong năm 2011, Malaysia đã thành lập Khu công nghiệp Qinzhou tại Nam Ninh. Một khu công nghiệp khác cũng sẽ sớm được phát triển ở Kuantan, tạo thành một phần trong dự án lớn hơn nhằm thiết lập mối liên kết giữa Trung Quốc và ASEAN thông qua sự phát triển ở khu vực Pan Beibu.


The expansion of the China–ASEAN economic relationship needs to be facilitated by deepening their free trade agreement. The present state of trade liberalisation is insufficient and more has to be done to open up trade in services, to agree on health standards and to improve trade facilitation. These additional commitments will help improve the effectiveness of the China–ASEAN FTA. As it is, studies have shown that awareness and uptake of opportunities in the FTA are not encouraging and Indonesia has raised concerns about the possible negative effect of liberalisation on its domestic industries. China and ASEAN have to work closely together to create an environment that will encourage stronger economic relations.


Việc mở rộng quan hệ kinh tế Trung Quốc–ASEAN cần được tạo điều kiện bằng cách làm sâu sắc thêm các thỏa thuận thương mại tự do giữa các nước. Hiện nay việc tự do hóa thương mại vẫn chưa đủ và cần phải làm nhiều hơn nữa để mở rộng thương mại dịch vụ, thống nhất về tiêu chuẩn y tế và tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn. Những cam kết bổ sung này sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả của Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc–ASEAN. Vì hiện tại các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức và hấp thu các cơ hội trong các thỏa thuận thương mại không được khuyến khích và Indonesia đã dấy lên những lo ngại về tác động tiêu cực có thể có từ việc tự do hóa các ngành công nghiệp trong nước. Trung Quốc và ASEAN cần phải nổ lực chặt chẽ với nhau để tạo ra một môi trường khuyến khích quan hệ kinh tế mạnh mẽ hơn.



China sees itself as an integral part of, and source of growth and prosperity for the regional economy. In this context China should be mindful that it cannot separate economics from strategic imperatives. By recklessly showing off its maritime power, China will surely create an unsettled economic environment. An environment of peace and stability must be nurtured: economic and commercial activities can only grow in a climate free from tension.


Trung Quốc cũng nhìn thấy chính họ là một phần không thể tách rời, và nguồn gốc của sự tăng trưởng và thịnh vượng đối với nền kinh tế trong khu vực. Trong bối cảnh này, Trung Quốc nên lưu tâm rằng họ không thể tách rời kinh tế ra khỏi các chính sách chiến lược. Nhưng với việc thiếu thận trọng trong việc phô trương sức mạnh quân sự tại Biển Đông, Trung Quốc chắc chắn sẽ tạo ra một môi trường kinh tế bất ổn định. Một môi trường hòa bình và ổn định phải được nuôi dưỡng: các hoạt động kinh tế và thương mại chỉ có thể phát triển trong một môi trường tự do, không có căng thẳng.


The way that China advances economically and uses its military will have far reaching implications for the region. Other countries in the region too need to walk a fine line between economic interdependence and protecting their strategic interests. The decisions that the new Chinese leadership make will largely determine the region’s future but other countries in the region, and their partners, will also have to play their card right.

Cách mà Trung Quốc phát triển về kinh tế cũng như sử dụng quân sự của họ sẽ có tác động lớn đối với cả khu vực. Các quốc gia khác trong khu vực đang phải đi bên cạnh một ranh giới mong manh giữa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và bảo vệ các lợi ích chiến lược của riêng họ. Các quyết định mà giới lãnh đạo mới của Trung Quốc đưa ra phần lớn sẽ mang tính quyết định của cả khu vực trong tương lai nhưng các quốc gia khác trong vùng châu Á cũng như các đối tác của họ cũng cần phải chơi lá bài đúng đắn.


Mahani Zainal Abidin is Chief Executive of the Institute of Strategic and International Studies, Malaysia.
Mahani Zainal Abidin là Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Malaysia.





Translated by Bảo Anh




http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://www.eastasiaforum.org/2013/01/05/where-is-china-taking-asia/

Disputes in the South China Sea Tranh Chấp tại Biển Đông





Disputes in the South China Sea

Tranh Chấp tại Biển Đông
By Maj Gen PK Chakravorty
Indian defence review
Issue Vol. 27.4 Oct-Dec 2012
Tướng Chakravorty
Indian defence review
Số ra ngày 27.4 – Tháng 10-12 năm 2012


Prior to analysing the dispute it is important to understand the UN Law of the Sea. The 1982 Convention on the Law of Seas has numerous guidelines pertaining to islands, the continental shelf, enclosed seas and territorial limits. Pertinent articles as applicable to this dispute are Articles 3, 55-75, 76 and 121. Article 3 establishes that every state has the right to establish the breadth of its territorial sea up to a limit not exceeding 12 nautical miles. Articles 55-75 explain the concept of Exclusive Economic Zone (EEZ), which is an area up to 200 nautical miles beyond and adjacent to the territorial sea. The EEZ gives coastal states sovereign rights for the purpose of exploring, exploiting, conserving and managing the natural resources.

Trước khi phân tích các tranh chấp, điều quan trọng là phải hiểu Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Công ước về Luật Biển năm 1982 có rất nhiều hướng dẫn liên quan đến hải đảo, thềm lục địa, vùng biển kín và giới hạn lãnh thổ. Các điều thích hợp áp dụng cho các tranh chấp này là các Điều 3, 55-75, 76 và 121. Điều 3 quy định mọi quốc gia đều có quyền thành lập bề rộng lãnh hải của mình lên đến một giới hạn không vượt quá 12 hải lý. Điều 55-75 giải thích các khái niệm về khu đặc quyền kinh tế (EEZ), đó là diện tích lên đến 200 hải lý vượt ra ngoài và tiếp giáp với lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế cho các quốc gia ven biển quyền chủ quyền đối với mục đích thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
The South China Sea is bounded by China in the North, the Philippines in the East, Vietnam in the West, Malaysia as also Brunei in the South East and Indonesia in the South West. The area bounded by the Sea is approximately three and a half square kilometres and forms a part of the Pacific Ocean. The area includes more than 200 small islands, rocks and reefs with many of them located in the Paracel and Spratly Islands.

Biển Đông giáp biên giới với Trung Quốc ở phía Bắc, Philippines ở phía Đông, Việt Nam ở phương Tây, Malaysia cũng như Brunei ở phía Đông Nam và In-đô-nê-xi-a ở phía Tây Nam. Diện tích vùng biển khoảng ba triệu km vuông 1/2 và là một phần của Thái Bình Dương. Khu vực này bao gồm hơn 200 hòn đảo nhỏ, mỏm đá và các rạn san hô mà phần nhiều nằm trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
33 per cent of the world’s trade and 50 per cent of world’s traffic in oil and gas pass through the South China Sea.

Hơn 33% thương mại và 50% khối lượng vận tải dầu khí thế giới phải đi qua Biển Đông.
The South China Sea is a highway for trade, shipping and telecommunications. 33 per cent of the world’s trade and 50 per cent of world’s traffic in oil and gas pass through the South China Sea. It is a source of fish and is expected to be rich in hydrocarbons. Oil deposits have been found in most of the littoral countries of the South China Sea. The region has proven oil reserves estimated at about seven billion barrels and oil production in the region is currently around 2.5 million barrels per day. Natural gas reserves are estimated to be around 266 trillion cubic feet. Being an enclosed area there are difficulties with regard to conflicting claims by various countries.

Biển Đông là một cao lộ quan trọng cho các hoạt động thương mại, vận tải và viễn thông. Hơn 33% thương mại và 50% khối lượng vận tải dầu khí thế giới phải đi qua Biển Đông. Tại đây được dự báo chứa nguồn hải sản và hydrocarbon phong phú.  Nhiều mỏ dầu lớn đã được phát hiện tại hầu hết các nước ven Biển Đông. Khu vực này có trữ lượng dầu đã kiểm chứng ước tính khoảng 7 tỷ thùng và sản xuất dầu trong khu vực ước tích đang đạt khoảng 2,5 triệu thùng/ngày. Trữ lượng khí tự nhiên ước tính trên dưới 7.500 km³ (266 nghìn tỷ foot khối). Là một biển kín, Biển Đông chứa đựng nhiều mâu thuẫn liên quan đến các tuyên bố chủ quyền xung đột nhau của nhiều quốc gia duyên hải.

The Dispute

Prior to analysing the dispute it is important to understand the UN Law of the Sea. The 1982 Convention on the Law of Seas has numerous guidelines pertaining to islands, the continental shelf, enclosed seas and territorial limits. Pertinent articles as applicable to this dispute are Articles 3, 55-75, 76 and 121. Article 3 establishes that every state has the right to establish the breadth of its territorial sea up to a limit not exceeding 12 nautical miles. Articles 55-75 explain the concept of Exclusive Economic Zone (EEZ), which is an area up to 200 nautical miles beyond and adjacent to the territorial sea. The EEZ gives coastal states sovereign rights for the purpose of exploring, exploiting, conserving and managing the natural resources.

Tranh chấp

Trước khi phân tích tranh chấp Biển Đông hiện nay, cần tìm hiểu Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Công ước Luật Biển 1982 có nhiều hướng dẫn liên quan đến đảo, thềm lục địa, biển kín và giới hạn lãnh thổ. Các điều khoản phù hợp áp dụng cho tranh chấp này bao gồm Điều 3, Điều 55-75, Điều 76 và Điều 121. Điều 3 quy định mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước. Điều 55-75 giải thích về khái niệm Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải. Vùng đặc quyền về kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Article 76 defines the continental shelf of a nation which comprises the sea and subsoil of the submarine areas that extend beyond its territorial sea throughout the natural prolongation of its land territory to the outer edge of the continental margin, or to a distance of 200 nautical missiles. This is significant as it allows every nation to exploit the continental shelf. Article 121 states that rocks that cannot sustain human habitation or economic life shall have no EEZ or continental shelf. In the case of the South China Sea, most of the claimants have established military outposts in order to conform to Article 121 in pressing their claims. The Convention also states that overlapping claims must be resolved in good faith.


Điều 76 xác định thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền thuộc quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý. Quy định này có ý nghĩa quan trọng bởi nó cho phép mỗi quốc gia được khai thác thềm lục địa. Điều 121 quy định, những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế hay thềm lục địa. Trong trường hợp Biển Đông, hầu hết các bên tranh chấp đều thành lập tiền đồn quân sự để phù hợp với Điều 121 nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền của mình. Công ước cũng nêu, các tuyên bố chồng lấn nên được giải quyết bằng thiện chí.

In the case of the South China Sea, most of the claimants have established military outposts in order to conform to Article 121 in pressing their claims…

Trong trường hợp Biển Đông, hầu hết các bên tranh chấp đều thành lập tiền đồn quân sự để phù hợp với Điều 121 nhằm khẳng định tuyên bố chủ quyền của mình.
The South China Sea contains over 250 small islands, atolls, shoals, reefs and sandbars most of which have no indigenous people, many of which are naturally under water at high tide and some of which are permanently submerged. The islands are located on a shallow continental shelf with an average depth of 250 metres. However, in the Spratly chain, the depth changes tremendously and near the Palwan Trough it is more than 5,000 metres deep. The sea floor contains Paleozoic, Mesozoic granite and metamorphic rocks. Out of the entire group only one island is volcanic and all the other islands are made of coral reef. There are no native animals except boobies and sea gulls.

Biển Đông bao gồm hơn 250 đảo nhỏ, đảo san hô, bãi cát ngầm, bãi đá ngầm và doi cát, đa số đều không có người bản địa và bị ngập dưới nước khi thủy triều lên và một số ngập hẳn dưới nước. Các đảo nằm trên thềm lục địa nông với độ sâu trung bình 250 met. Tuy nhiên, tại quần đảo Trường Sa độ sâu thay đổi nhanh và tới gần rãnh Palwan thì xuống đến hơn 5.000 met. Đáy biển chứa đá granite, đá biến chất cổ sinh và trung sinh. Trong toàn bộ nhóm đảo này, chỉ có một đảo là núi lửa, còn lại toàn bộ các đảo khác được tạo nên từ các rạn san hô. Không có động vật bản địa ngoại trừ loài chim điêu và mòng biển.

There are numerous territorial issues in this region – settled or what could be termed as ‘partially settled’ issues are as elucidated. Natuna Islands contain Indonesia’s natural gas fields. The area had no dispute till China released an official map with maritime boundaries including these islands. Indonesia responded by conducting a large naval exercise in the region in 1996. Since then, China has not voiced any protest and drilling of natural gas continues unabated. Similarly Malampaya and Camago natural gas fields of Philippines are claimed by the Chinese. However, they have not objected to the drilling of gas. Further, many of Malaysia’s natural gas field’s located offshore Sarawak is claimed by the Chinese but Malaysians are drilling with no interference by the Chinese. Vietnam and China have resolved the Gulf of Tonkin dispute and similar issues have been resolved in the Gulf of Thailand.


Khu vực chứa đựng nhiều vấn đề lãnh thổ đã được giải quyết hoặc "giải quyết một phần". Quần đảo Natuna có các mỏ khí tự nhiên của Indonesia. Khu vực không hề có tranh chấp cho tới khi Trung Quốc công bố bản đồ chính thức với ranh giới biển bao gồm cả các đảo này. Indonesia phản ứng bằng việc tiến hành một cuộc tập trận hải quân quy mô lớn vào năm 1996. Từ khi đó, Trung Quốc không hề lên tiếng phản đối và hoạt động khoan khai thác khí tự nhiên không ngừng diễn ra. Tương tự, các mỏ khí tự nhiên Malampaya và Camago của Philippines cũng bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Tuy nhiên, họ không phản đối việc khai thác khí gas. Ngoài ra, nhiều mỏ khí tự nhiên của Malaysia tại ngoài khơi Sarawak cũng bị Trung Quốc khẳng định chủ quyền nhưng Malaysia vẫn đang khoan khai thác mà không vấp phải sự can thiệp nào của Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc cũng đã giải quyết thành công tranh chấp Vịnh Bắc Bộ và các vấn đề tương tự cũng đã được giải quyết tại Vịnh Thái Lan.


The present dispute pertains mainly to the Paracel and Spratly Islands. The Parcel Islands were occupied by China in 1974 when Vietnam was at war with the United States. Both these island groups are disputed and are claimed by countries of the region. Brunei reportedly claims area of Louisa bank and Rifleman bank near Spratley chain as part of its continental shelf. Philippines claims 53 of the maritime features in the Spratley Islands which it calls the Kalayaan Island group as well as the Scarborough Shoal. Similarly, Malaysia reportedly claims sovereignty over 11 maritime features in the Spratly Islands. Vietnam claims sovereignty over all the maritime features in the Paracel and Spratly Islands. China and Taiwan claim sovereignty over all the maritime features in the South China Sea. Taiwan is currently in possession of the largest maritime feature in the South China Sea, Itu Aba or Taiping.


Tranh chấp còn lại hiện nay vẫn chủ yếu liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trường Sa bị Trung Quốc xâm lược năm 1974 khi Việt Nam đang phải chiến đấu chống Mỹ. Quần đảo này đang bị tranh chấp và tuyên bố chủ quyền bởi tất cả các quốc gia trong khu vực. Brunei được cho là đòi chủ quyền khu vực bao gồm bãi Louisa và bãi Rifleman gần quần đảo Trường Sa với lý do các bãi này thuộc thềm lục địa Brunei. Philippines đòi chủ quyền 53 trong số các đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa mà nước này gọi là quần đảo Kalayaan cùng với bãi cạn Scarborough. Tương tự, Malaysia muốn chủ quyền đối với 11 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Nam khẳng định chủ quyền toàn bộ các đảo và bãi đá thuộc cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc và Đài Loan với một loạt hành động vô căn cứ của mình cũng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các đảo và bãi đá trên Biển Đông. Đài Loan hiện đang chiếm giữ đảo lớn nhất, đảo Ba Bình.


Vietnam claims sovereignty over all the maritime features in the Paracel and Spratly Islands…


Việt Nam khẳng định chủ quyền toàn bộ các đảo và bãi đá thuộc cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
The map above shows the Chinese claims based on the Nine Dash Line. China has been aggressively pursuing her claims in the South China Sea. China’s claims are based on the Eleven Dash Line drawn in 1947 by the Kuomintang Government. The claim has been made by Chinese survey teams post Second World War who included all important areas of the sea as Chinese. This map was made after China’s victory over Japan and Vietnam was under the French, Philippines were badly shaken by the war and the rest were British colonies. Possibly the Kuomintang perceived that this would remain unchallenged due to the disturbed set of circumstances that prevailed on termination of the Second World War.

Tấm bản đồ Trung Quốc sử dụng để thể hiện chủ quyền được nước này gọi là bản đồ đường 9 đoạn. Trung Quốc đã ngày càng quyết liệt theo đuổi tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông. Các yêu sách của Trung Quốc dựa trên đường 11 đoạn vẽ ra bởi chính phủ Quốc dân đảng vào năm 1947.  Các tuyên bố này được đội khảo sát Trung Quốc đưa ra sau đại chiến thế giới thứ hai với kết luận toàn bộ các khu vực quan trọng ở Biển Đông là của Trung Quốc. Bản đồ này được xuất bản giữa lúc Trung Quốc đánh thắng Nhật và Việt Nam bị Pháp đô hộ, Philippines bị chao đảo bởi chiến tranh và các nước còn lại vẫn nằm dưới chế độ thuộc địa của Anh. Có lẽ, Quốc dân đảng đã toan tính rằng bản đồ của mình sẽ không bị phản đối do một loạt các xáo trộn diễn ra sau khi kết thúc thế chiến thứ hai.

However, by 1953, China had fought the Korean War and Ho Chi Minh with his Vietnamese troops were threatening Dien Bien Phu as also many of the ASEAN countries were gaining independence that China reduced the boundary to the current Nine Dash Line. Thereafter, despite strong opposition from Vietnam, China moved into the Paracel Islands in 1974 while the Vietnamese were totally involved in fighting the US troops in South Vietnam. In this occupation 17 Vietnamese guarding these islands were killed. As on date, China has stabilised herself on this island.

Tuy nhiên, đến năm 1953, Trung Quốc tham gia chiến tranh Triều Tiên và quân đội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh bước vào trận Điện Biên Phủ giống như nhiều quốc gia ASEAN khác đang nỗ lực giành độc lập, Trung Quốc đã rút ngắn đường biên giới trên bản đồ đó xuống còn 9 đoạn. Sau đó, bất chấp sự kịch liệt phản đối của Việt Nam, Trung Quốc vẫn đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, giữa lúc Việt Nam đang dồn hết sức cho trận chiến với quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Trong cuộc xâm lược của Trung Quốc này, 17 lính bảo vệ quần đảo của Việt Nam đã hy sinh. Kể từ ngày đó, Trung Quốc chiếm giữ luôn quần đảo này.

In the 1980s, China improved relations with the US-led international community. A global sea level joint observation plan was adopted by the UNESCO Inter-governmental Oceanographic Commission in February 1987, commissioned by the Chinese government establishing five marine observation stations. Nansha station of China is located on the Yongshu reef. In early February 1988, the Chinese launched the construction of Observatory No 74 on Yongshu reef. Vietnam learnt about this activity and its Navy began to patrol the Spratly Islands.


Những năm 1980, Trung Quốc cải thiện quan hệ với cộng đồng quốc tế do Mỹ đứng đầu. Một kế hoạch khảo sát chung mực nước biển toàn cầu được Ủy ban Liên chính phủ về Hải dương học của UNESCO thông qua vào tháng 2/1987, dưới sự ủy quyền của chính phủ Trung Quốc đã thành lập 5 trạm quan trắc hải dương. Trạm Nam Sa của Trung Quốc đặt tại bãi đá ngầm Vĩnh Thử. Đầu tháng 2/1988, Trung Quốc tiến hành xây dựng Đài quan sát số 74 trên bãi Vĩnh Thử. Việt Nam phát hiện hoạt động này và  đưa quân đội tuần tra quần đảo Trường Sa

On March 13, 1988, three Vietnamese transport ships arrived at the reef and set up Vietnamese flags. A little later, four large Chinese warships arrived and warned the Vietnamese. The Vietnamese did not respond. The Chinese mobilised more warships and next day early morning despatched 40 marines in three motor boats to physically remove the Vietnamese flags. The Vietnamese held their ground and the Chinese had to return to their war ships. The Chinese now fired their 37mm anti aircraft guns destroying the lightly armed Vietnamese on the reef. About 80 Vietnamese soldiers were killed in this skirmish. Thereafter, the PLA occupied several reefs in the Spratly Islands. Vietnam occupied other islands on the reef and the Chinese war ships withdrew to avoid escalation.

Ngày 13 Tháng Ba năm 1988, ba tàu vận tải Việt Nam đến rạn san hô và cắm cờ Việt Nam. Một lát sau, bốn tàu chiến lớn của Trung Quốc đã đến và cảnh cáo phía Việt Nam. Phía Việt Nam không trả lời. Trung Quốc huy động tàu chiến và ngày hôm sau sáng sớm phái 40 lính thủy quân lục chiến xuống ba chiếc xuồng máy để tự tay nhổ bỏ những lá cờ của Việt Nam. Phía Việt Nam đã cố thủ giữ đảo và Trung Quốc đã phải quay trở lại tàu chiến của họ. Lính Trung Quốc bây giờ nả súng phòng không 37mm bắn vào lính Việt Nam trang bị nhẹ trên rạn san hô. Khoảng 80 binh sĩ Việt Nam đã bị thiệt mạng trong cuộc giao tranh này. Sau đó, quân đội Trung Quốc chiếm đóng một số rạn san hô ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam đã chiếm đóng các đảo khác trên rạn san hô và các tàu chiến Trung Quốc rút lui để tránh sự leo thang.

In July 2010, US Secretary of State Hillary Clinton called for the People’s Republic of China to resolve the territorial dispute. China replied that the US stay out of the issue. The US Department of Defence issued a statement on August 18, 2010, where it opposed the use of force to resolve disputes in the South China Sea and accused China of assertive behaviour. Issues kept simmering and in May 2011, Chinese naval ships attacked and cut the cable of a Vietnamese exploration ship.

Tháng 7/2010, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton kêu gọi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giải quyết tranh chấp lãnh thổ này. Trung Quốc đáp lại, Mỹ nên tránh xa vấn đề. Bộ Quốc phòng Mỹ đưa ra tuyên bố ngày 18/8/2010 phản đối việc sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp Biển Đông và lên án hành vi hung hăng của Trung Quốc. Vấn đề tiếp tục âm ỉ và đến tháng 5/2011, tàu hải quân Trung Quốc lại tấn công và cắt cáp tàu khảo sát địa chất Việt Nam.

Chinese Objection to Indian Oil Exploration

On July 22, 2011, the INS Airavat, an Indian naval amphibious assault ship was on a friendly visit to Vietnam. The ship was repeatedly contacted at a distance of 45 nautical miles from the Vietnamese coast on an open radio channel by a vessel identifying itself as Chinese Navy which warned the Indian ship that she was entering Chinese waters. Indian Navy clarified that no ship or aircraft was visible from INS Airavat and the ship moved on without paying any heed to the cautionary warning. Furthermore, India clearly stated that she supported freedom of navigation in international waters including the South China Sea.

Trung Quốc phản đối hoạt động thăm dò dầu khí của Ấn Độ

Ngày 22/7/2011, INS Airavat, một tàu đổ bộ tấn công của Ấn Độ có chuyến thăm hữu nghị đến Việt Nam. Tàu liên tục nhận được cảnh báo bằng tần sóng phát thanh mở của tàu xác định là của hải quân Trung Quốc nói rằng tàu Ấn Độ đang đi vào vùng biển Trung Quốc, mặc dù trên thực tế tàu chỉ hoạt động cách bờ biển Việt Nam 45 hải lý. Hải quân Ấn Độ khẳng định không nhìn thấy tàu hay máy bay nào từ tàu Ấn Độ và tiếp tục hoạt động bất chấp các cảnh báo vừa nhận được. Tiếp đến, Ấn Độ cũng khẳng định ủng hộ tự do hàng hải trên các vùng biển quốc tế, trong đó có Biển Đông.


India and Vietnam signed an agreement seeking to contain a dispute over the South China Sea in September 2011. Further Oil and Natural Gas Commission’s (ONGC) overseas investment arm ONGC Videsh Limited had signed a three-year deal with Petro Vietnam for developing long term cooperation in the oil sector. Further it had accepted Vietnam’s offer of exploration in specified blocks in the South China Sea. This was met with stiff opposition from China who claimed that no exploration could be undertaken in areas over which China has sovereign rights. The Government of India correctly responded by stating that while China had concerns but India was going by the agreement signed with Vietnam. The Chinese claim was rejected by both India and Vietnam and as per the UN, the area of exploration belongs to Vietnam.

Tháng 9/2011, Ấn Độ và Việt Nam ký một thỏa thuận thăm dò khai thác dầu khí trên Biển Đông. Chi nhánh đầu tư nước ngoài ONGC Videsh Limited của tập đoàn dầu khí ONGC Ấn Độ vừa ký hợp đồng 3 năm với Petro Vietnam về phát triển hợp tác dài hạn trong lĩnh vực dầu khí. Tiếp đó, công ty này chấp nhận đề nghị thăm dò một số lô dầu khí trên Biển Đông của Việt Nam. Thỏa thuận này vấp phải sự phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc khi nước này quả quyết không hoạt động thăm dò nào được phép tiến hành trong các khu vực mà Trung Quốc "có quyền chủ quyền". Chính phủ Ấn Độ khẳng định bất chấp tuyên bố của Trung Quốc, Ấn Độ vẫn sẽ tiếp tục thực hiện thỏa thuận đã ký với Việt Nam. Tuyên bố của Trung Quốc bị cả Ấn Độ và Việt Nam phản đối, và theo LHQ, khu vực thăm dò này hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam.

India has firmly stated that ONGC will continue to explore oil in the South China Sea. Furthermore, India has clarified that the entire Indian Ocean Region stretching from East African coast to South China Sea remains crucial to its foreign trade, energy and national security. Vietnam has remained steadfast on the issue and in July 2012, the National Assembly of Vietnam passed a law demarcating Vietnamese sea borders to include the Paracel and Spratly Islands.

Ấn Độ kiên quyết khẳng định ONGC sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí trên Biển Đông. Ngoài ra, Ấn Độ cũng nêu rõ, toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương trải dài từ bờ biển Tây Phi đến Biển Đông có vai trò quan trọng đối với hoạt động ngoại thương, năng lượng và an ninh quốc gia của Ấn Độ. Việt Nam cũng kiên định trong vấn đề này và tháng 7/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật phân định biên giới biển Việt nam, quy định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Creation of Chinese Township of Sansha

The latest development is the setting up of a prefecture by China by the name of Sansha in the Paracel Islands. On July 24, 2012, the city was formally inaugurated as the centre of Government for the Spratly and Paracel Islands. The government offices are located at Yongxing (Woody Island) on which some 1,000 civilians currently reside. The island is the biggest island in the group and has an area of about five square miles. The island is served by an airport which was completed in July 1990 with a 2,700-metre runway. It is capable of handling the Sukhoi Su-30 of the PLA Air Force.

Trung Quốc thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa"

Diễn biến mới đây trong tranh chấp là việc Trung Quốc thành lập một thành phố cấp tỉnh với tên gọi "Tam Sa" tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 24/7/2012, "thành phố" này chính thức được khánh thành là trung tâm hành chính quản lý Hoàng Sa và Trường Sa. Trụ sở thành phố đặt tại đảo Phú Lâm của Việt Nam với khoảng 1.000 dân cư hiện đang sinh sống. Đây là đảo lớn nhất trong quần đảo và có diện tích khoảng 5 dặm vuông. Đảo có một sân bay xây dựng tháng 7/1990 với đường băng 2.700 met. Sân bay có khả năng tiếp nhận máy bay Sukhoi Su-30.

There is also a Coast Guard station and a hospital. While Vietnam strongly contends that Paracel and Spratly Islands are its territory, the Chinese have left no stone unturned to build infrastructure for militarily occupying these islands. Meanwhile, Taiwan is in possession of the largest maritime feature in the South China Sea, Itu Aba or Taiping.

Trên đảo Trung Quốc cũng xây dựng một trạm cảnh sát biển và một bệnh viện. Bất chấp việc Việt nam luôn khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc vẫn quyết xây bằng được cơ sở hạ tầng hòng đánh chiếm các đảo này bằng quân sự. Trong khi đó, Đài Loan đang chiếm giữ đảo lớn nhất của Biển Đông, đảo Ba Bình.

Resolution of the Dispute

All countries, particularly the US and ASEAN want the issues to be resolved peacefully. China has been dealing with the issue bilaterally without any success. Its forceful occupation of territory is challenged particularly by Vietnam who has demonstrated its military capabilities and would counter use force judiciously.
Giải quyết tranh chấp

Tất cả các quốc gia, đặc biệt là Mỹ và ASEAN muốn giải quyết vấn đề hòa bình. Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề trên cơ sở song phương nhưng chưa đạt được thành công nào. Việc xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực bị Việt Nam đặc biệt phản đối và Việt Nam đã chứng minh có đủ tiềm lực quân sự và sẽ chống trả việc sử dụng vũ lực một cách sáng suốt.

The obvious question that arises is about the options for resolving the issue. Broadly speaking, there are two options. The first is to resolve the problem through negotiations bilaterally or multilaterally. In the event of no success during negotiations the parties could resort to other modalities of dispute settlement such as conciliation, arbitration and adjudication. Since this is a sovereignty dispute, it would be difficult to refer it to any form of third party without the consent of the parties involved.

Câu hỏi rõ ràng đang nảy sinh là có những lựa chọn nào cho giải quyết tranh chấp Biển Đông. Nói rộng ra, có hai lựa chọn. Trước hết là giải quyết vấn đề thông qua đàm phán song phương hoặc đa phương. Trong trường hợp không đạt được thành công nào thông qua đàm phán, các bên có thể sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, trọng tài. Do đây là tranh chấp chủ quyền, nên sẽ rất khó để áp dụng phương thức nào của bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của các bên liên quan.

Furthermore, China has exercised her right under Article 298 of the UN Convention of Law of Seas to opt out of a compulsory binding dispute settlement. Therefore, the case cannot go before the International Tribunal for Law of Sea. The other option would be to set aside sovereignty issues and to undertake the joint development of disputed areas. Joint development has produced tangible results between Malaysia and Thailand (1979-1990), Malaysia and Vietnam (1992) as also between Australia and Timor Leste (2002). This issue can be applied to Disputed Areas. However, China has yet to clarify its claims. Thereafter, the aspect of Joint Development could be analysed.

Hơn nữa, Trung Quốc đã thực hiện quyền theo điều 298 Công ước LHQ về Luật Biển không tham gia giải quyết tranh chấp ràng buộc bắt buộc. Do đó, vụ việc không thể đưa ra trước Tòa án quốc tế về Luật Biển. Lựa chọn khác là bỏ qua các vấn đề chủ quyền và tiến hành cùng nhau khai thác các khu vực tranh chấp. Khai thác chung đã mang lại những kết quả rõ rệt giữa Malaysia và Thái Lan (1979-1990), Malaysia và Việt nam (1992) cũng như giữa Australia và Đông Timor (2002). Vấn đề cũng có thể áp dụng cho Khu vực tranh chấp. Thuy nhiên, Trung Quốc vẫn chưa làm rõ các tuyên bố của mình. Do đó, giải pháp cùng nhau khai thác có thể xem xét.


China holds the key to resolution of problems in the South China Sea. China resolves a border problem after protracted negotiations so as to exploit time to its advantage. Paracel Islands was secured in 1974 by China without worthwhile opposition from Vietnam as they were involved in the war for unification. They would like to get a clearer perspective of hydrocarbon availability prior to clarifying their claims. Out of all the other claimants, Vietnam would fight for its rights and settle for a judicious resolution.

Trung Quốc nắm giữ chìa khóa giải quyết tranh chấp Biển Đông. Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề biên giới sau các đàm phán sau các cuộc đàm phán kéo dài để lợi dụng thời gian tạo lợi thế cho mình. Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1974 và nhận được sự phản đối chưa đủ mạnh của Việt Nam do đang phải dồn lực cho cuộc chiến thống nhất đất nước. Nhưng Việt nam sẽ đấu tranh vì quyền lợi của mình và tìm kiếm một giải pháp đúng đắn.

Conclusion

Resolution of disputes in the South China Sea would depend on China’s keenness to clarify its claims and be prepared to negotiate with other claimants. This would possibly occur once oil exploration results are available possibly in about another five years which would allow China to provide space to other claimants leading to rapprochement between the contestants to these territories. India has taken a correct stand to explore oil in the region and should remain firm on this aspect. This would send a signal to China that it is dealing with a country that can stand up to China for projecting her energy interests. As of now, all claimants have to dig in their heels and wait for China to clarify its claims.
Kết luận

Giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ phụ thuộc vào việc Trung Quốc có muốn làm rõ các tuyên bố của mình và sẵn sàng tham gia đàm phán với các bên khác hay không. Điều này có thể xảy ra khi các kết quả thăm dò dầu khí được hoàn tất trong khoảng 5 năm tới, cho phép Trung Quốc mở không gian cho các quốc gia khác. Ấn Độ đã giữ quan điểm đúng đắn về thăm dò dầu khí trong khu vực và sẽ kiên định lập trường của mình. Điều đó đã gửi đi một tín hiệu đến Trung Quốc rằng họ đang đối đầu với một quốc gia có thể chống lại Trung Quốc vì lợi ích năng lượng của mình. Cho tới nay, tất cả các bên tranh chấp đều đang chờ đợi xem Trung Quốc sẽ làm rõ các tuyên bố của mình ra sao.



Translated by Trâm Anh
Edited by nguyenquang
http://www.indiandefencereview.com/news/disputes-in-the-south-china-sea/0/