--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------


Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)



150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.


Saturday, March 23, 2013

Animal Farm Trại súc vật

Animal Farm
Trại súc vật

By George Orwell
George Orwell

The Freedom of the Press
Orwell's Proposed Preface to ‘Animal Farm’

Tự do báo chí
Lời tựa do Orwell đề nghị cho cuốn Trại súc vật

This book was first thought of, so far as the central idea goes, in 1937, but was not written down until about the end of 1943. By the time when it came to be written it was obvious that there would be great difficulty in getting it published (in spite of the present book shortage which ensures that anything describable as a book will ‘sell’), and in the event it was refused by four publishers. Only one of these had any ideological motive. Two had been publishing anti-Russian books for years, and the other had no noticeable political colour. One publisher actually started by accepting the book, but after making the preliminary arrangements he decided to consult the Ministry of Information, who appear to have warned him, or at any rate strongly advised him, against publishing it. Here is an extract from his letter:

Ý tưởng về cuốn sách này xuất hiện từ năm 1937, nhưng mãi đến cuối năm 1943 mới được viết. Lúc đó tôi đã thấy rõ ràng rằng xuất bản là công việc cực kì khó khăn (mặc dù tình trạng thiếu sách lúc đó, bảo đảm rằng cứ có sách là bán được) và quả thật, đã có tới 4 nhà xuất bản từ chối. Nhưng chỉ có một nhà xuất bản từ chối vì lí do ý thức hệ mà thôi. Hai nhà xuất bản khác đã xuất bản những tác phẩm bài Nga trong suốt nhiều năm, còn nhà xuất bản thứ tư thì không có bất cứ lập trường chính trị nào. Một ông chủ xuất bản ban đầu đã chấp nhận, nhưng sau khi chuẩn bị thì lại quyết định sẽ tham khảo Bộ Thông tin[1], có lẽ Bộ này đã cảnh báo, hay ít nhất cũng đã khuyên là không nên in tác phẩm này. Đây là trích đoạn bức thư của ông ta gửi cho tôi:

I mentioned the reaction I had had from an important official in the Ministry of Information with regard to Animal Farm. I must confess that this expression of opinion has given me seriously to think... I can see now that it might be regarded as something which it was highly ill-advised to publish at the present time. If the fable were addressed generally to dictators and dictatorships at large then publication would be all right, but the fable does follow, as I see now, so completely the progress of the Russian Soviets and their two dictators, that it can apply only to Russia, to the exclusion of the other dictatorships. Another thing: it would be less offensive if the predominant caste in the fable were not pigs[*]. I think the choice of pigs as the ruling caste will no doubt give offence to many people, and particularly to anyone who is a bit touchy, as undoubtedly the Russians are.

Tôi đã nói với ông câu trả lời mà tôi nhận được từ một quan chức cao cấp của Bộ Thông tin về cuốn Trại súc vật. Tôi phải nhận rằng ý kiến của ông ta buộc tôi phải suy nghĩ một cách nghiêm túc… Chính tôi cũng thấy xuất bản cuốn sách này trong lúc này có thể là một việc làm rất thiếu thận trọng. Nếu câu chuyện ngụ ngôn chỉ nói về những nhà độc tài và những chế độ độc tài nói chung thì xuất bản sẽ không sao, nhưng chuyện này – hiện nay chính tôi cũng đã thấy – đã mô tả một cách cụ thể sự phát triển của các sự kiện ở nước Nga Xô-viết và hai nhà độc tài của họ, ngoài nước Nga ra thì không có chế độ độc tài nào như thế hết. Còn một việc nữa: câu chuyện sẽ không đến nỗi kinh tởm như thế nều đẳng cấp cai trị không phải là loài lợn[2]. Tôi nghĩ rằng đưa lợn thành giai cấp cầm quyền chắc chắn sẽ làm mất lòng nhiều người, nhất là những người hay tự ái, chắc chắn người Nga là như thế.

* It is not quite clear whether this suggested modification is Mr... ’s own idea, or originated with the Ministry of Information; but it seems to have the official ring about it. [Orwell’s Note]

* Không thật rõ là liệu sửa đổi được đề xuất này là ý tưởng của riêng của ông .., hoặc có nguồn gốc với Bộ Thông tin, nhưng dường như có ý kiến chính thức về nó. [Chú thích của Orwell]
This kind of thing is not a good symptom. Obviously it is not desirable that a government department should have any power of censorship (except security censorship, which no one objects to in war time) over books which are not officially sponsored. But the chief danger to freedom of thought and speech at this moment is not the direct interference of the MOI or any official body. If publishers and editors exert themselves to keep certain topics out of print, it is not because they are frightened of prosecution but because they are frightened of public opinion. In this country intellectual cowardice is the worst enemy a writer or journalist has to face, and that fact does not seem to me to have had the discussion it deserves.

Cách suy nghĩ như thế không phải là triệu chứng tốt. Rõ ràng là chẳng ai muốn một cơ quan nào đó của chính phủ lại có quyền kiểm duyệt (trừ kiểm duyệt về an ninh, trong thời chiến không ai phản đối kiểm duyệt như thế) những cuốn sách mà chính phủ không tài trợ. Nhưng mối nguy hiểm quan trọng nhất hiện nay đối với quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận không phải là sự can thiệp trực tiếp của Bộ Thông tin hay của bất kì cơ quan nào khác. Nếu các nhà xuất bản và các biên tập viên cố gắng không cho in sách về một số đề tài nào đó, thì đấy không phải là vì họ sợ bị truy tố mà vì họ sợ dư luận xã hội. Ở nước ta, kẻ thù chính của nhà văn hay nhà báo chính là sự hèn nhát về mặt trí tuệ, và tôi có cảm tưởng là chúng ta chưa thảo luận nhiều về hiện tượng này.

Any fairminded person with journalistic experience will admit that during this war official censorship has not been particularly irksome. We have not been subjected to the kind of totalitarian ‘co-ordination’ that it might have been reasonable to expect. The press has some justified grievances, but on the whole the Government has behaved well and has been surprisingly tolerant of minority opinions. The sinister fact about literary censorship in England is that it is largely voluntary.

Bất kì người có đầu óc vô tư và có kinh nghiệm làm báo nào cũng đều đồng ý rằng trong thời gian chiến tranh, kiểm duyệt của chính phủkhông gây cho người ta quá nhiều khó chịu. Khác với chế độ toàn trị, chúng ta không bị “hướng dẫn”, mặc dù có lí do để nghĩ rằng người ta sẽ làm như thế. Những lời phàn nàn của báo chí là có căn cứ; nhưng nói chung, chính phủ đã xử sự một cách lịch sự và có thái độ khoan dung đối với ý kiến của thiểu số còn làm người ta phải ngạc nhiên. Ở Anh, thực tế khủng khiếp nhất của chế độ kiểm duyệt trong lĩnh vực văn chương chính là tự kiểm duyệt.

Unpopular ideas can be silenced, and inconvenient facts kept dark, without the need for any official ban. Anyone who has lived long in a foreign country will know of instances of sensational items of news — things which on their own merits would get the big headlines-being kept right out of the British press, not because the Government intervened but because of a general tacit agreement that ‘it wouldn’t do’ to mention that particular fact. So far as the daily newspapers go, this is easy to understand. The British press is extremely centralised, and most of it is owned by wealthy men who have every motive to be dishonest on certain important topics. But the same kind of veiled censorship also operates in books and periodicals, as well as in plays, films and radio. At any given moment there is an orthodoxy, a body of ideas which it is assumed that all right-thinking people will accept without question. It is not exactly forbidden to say this, that or the other, but it is ‘not done’ to say it, just as in mid-Victorian times it was ‘not done’ to mention trousers in the presence of a lady. Anyone who challenges the prevailing orthodoxy finds himself silenced with surprising effectiveness. A genuinely unfashionable opinion is almost never given a fair hearing, either in the popular press or in the highbrow periodicals.

Những ý tưởng không được nhiều người ưa chuộng bị bịt miệng, còn những sự kiện phiền phức thì bị giấu đi mà không cần chính phủ phải cấm đoán. Bất cứ người nào từng sống một thời gian dài ở nước ngoài cũng đều biết có những tin tức giật gân – tức là tin tức đáng in bằng chữ đậm ngay trên trang nhất – lại không được báo chí Anh đăng, không phải do chính phủ Anh can thiệp mà là do mọi người đã thỏa thuận ngầm là nhắc đến sự kiện đó là “không tốt”. Đối với báo chí hàng ngày thì đấy là điều dễ hiểu. Phần lớn báo chí Anh nằm trong tay những người giàu có, những người có đủ lí do để nói dối về một số đề tài quan trọng. Nhưng sự kiểm duyệt bị che đậy như thế cũng diễn ra với sách báo, tạp chí và cả kịch nghệ, phim ảnh và truyền thanh nữa. Mỗi thời điểm lại có một quan điểm chính thống nào đó, đấy là tập hợp những ý tưởng mà những người có tư duy lành mạnh chấp nhận mà không cần bàn cãi. Không có ý kiến nào bị cấm nói, nhưng “không nên” nói; y như ở thời Victoria “không nên” nói đến quần trước mặt phụ nữ vậy. Bất kì ai có ý thách thức quan điểm chính thống đang thịnh hành cũng thấy rằng người ta đã tìm cách bịt được miệng mình ngay lập tức. Ý kiến thực sự không được nhiều người ưa hầu như không bao giờ có điều kiện xuất hiện trên báo chí hàng ngày hay trên những tờ tạp chí mang tầm trí thức cao.

At this moment what is demanded by the prevailing orthodoxy is an uncritical admiration of Soviet Russia. Everyone knows this, nearly everyone acts on it. Any serious criticism of the Soviet régime, any disclosure of facts which the Soviet government would prefer to keep hidden, is next door to unprintable. And this nation-wide conspiracy to flatter our ally takes place, curiously enough, against a background of genuine intellectual tolerance. For though you arc not allowed to criticise the Soviet government, at least you are reasonably free to criticise our own. Hardly anyone will print an attack on Stalin, but it is quite safe to attack Churchill, at any rate in books and periodicals. And throughout five years of war, during two or three of which we were fighting for national survival, countless books, pamphlets and articles advocating a compromise peace have been published without interference. More, they have been published without exciting much disapproval. So long as the prestige of the USSR is not involved, the principle of free speech has been reasonably well upheld. There are other forbidden topics, and I shall mention some of them presently, but the prevailing attitude towards the USSR is much the most serious symptom. It is, as it were, spontaneous, and is not due to the action of any pressure group.

Hiện nay quan điểm chính thống đang thịnh hành là hâm mộ vô điều kiện nước Nga Xô-viết. Mọi người đều biết điều này, và hầu như mọi người đều làm như thế. Tất cả những lời phê phán Liên Xô nghiêm túc, tất cả những lời tố cáo những sự kiện mà chính phủ Liên Xô muốn che giấu đều khó có thể được in. Và sự thông đồng bao trùm lên cả nước này là nhằm bợ đỡ nước đồng minh của chúng ta, thật kì quặc, lại diễn ra trong bối cảnh của thái độ khoan dung thực sự về mặt trí tuệ. Vì, mặc dù bạn không được phê phán chính phủ Liên Xô, nhưng phê phán chính phủ ta thì lại được. Tấn công Stalin thì khó có người in, nhưng tấn công Churchill thì được, ít nhất là trong sách và tạp chí. Trong năm năm chiến tranh, trong đó có hai hay ba năm phải chiến đấu một mất một còn, đã có biết bao nhiêu sách báo kêu gọi dàn xếp hòa bình được xuất bản mà không bị chính phủ can thiệp. Hơn thế nữa, chúng được xuất bản mà không gây ra nhiều lời phản đối. Khi chưa dính dáng đến uy tín của Liên Xô thì nguyên tắc tự do ngôn luận được giữ ở mức chấp nhận được. Có những đề tài bị cấm đoán khác, tôi sẽ nói sau, nhưng thái độ đang thịnh hành đối với Liên Xô là triệu chứng đáng ngại nhất. Nó được hình thành một cách tự phát, chứ không phải do hành động của bất cứ nhóm áp lực nào.

The servility with which the greater part of the English intelligentsia have swallowed and repeated Russian propaganda from 1941 onwards would be quite astounding if it were not that they have behaved similarly on several earlier occasions. On one controversial issue after another the Russian viewpoint has been accepted without examination and then publicised with complete disregard to historical truth or intellectual decency. To name only one instance, the BBC celebrated the twenty-fifth anniversary of the Red Army without mentioning Trotsky. This was about as accurate as commemorating the battle of Trafalgar without mentioning Nelson, but it evoked no protest from the English intelligentsia. In the internal struggles in the various occupied countries, the British press has in almost all cases sided with the faction favoured by the Russians and libelled the opposing faction, sometimes suppressing material evidence in order to do so. A particularly glaring case was that of Colonel Mihailovich, the Jugoslav Chetnik leader. The Russians, who had their own Jugoslav protege in Marshal Tito, accused Mihailovich of collaborating with the Germans. This accusation was promptly taken up by the British press: Mihailovich’s supporters were given no chance of answering it, and facts contradicting it were simply kept out of print.

Tinh thần nô lệ mà phần lớn giới trí thức Anh đã ăn phải và việc nhắc đi nhắc lại những lời tuyên truyền của Nga kể từ năm 1941 trở đi có thể làm người ta phải kinh ngạc, nếu trong một vài trường hợp trước đây họ chưa từng có hành động như thế.  Trong một loạt vấn đề còn gây tranh cãi, người ta nhắm mắt chấp nhận ngay quan điểm của Nga và sau đó thì quảng bá cho nó, bất chấp sự thật lịch sử và thái độ tử tế của người trí thức. Chỉ xin dẫn ra một ví dụ: BBC kỉ niệm 25 năm ngày thành lập Hồng quân mà không nhắc tới Trotsky. Có khác gì kỉ niệm chiến thắng Trafalgar mà không nhắc tới Nelson, nhưng giới trí thức Anh không hề có hành động phản đối nào. Trong những cuộc đấu tranh nội bộ tại những đất nước bị chiếm đóng, báo chí Anh hầu như bao giờ cũng đứng về phía những lực lượng được Nga ủng hộ và phỉ báng phe chống đối, ngay cả khi để làm như thế người ta phải ỉm đi các sự kiện. Đặc biệt rõ là đại tá Mihailovich, lãnh tụ của những người Chetnik ở Nam Tư[3]. Ở Nam Tư, người Nga ủng hộ nguyên soái Tito, họ lên án Mihailovich là cộng tác với Đức. Báo chí Anh lập tức vồ lấy lời kết án này: những người ủng hộ Mihailovich không có cơ hội trả lời, còn những sự kiện trái ngược với lời kết án thì đơn giản là không được đưa lên mặt báo.

In July of 1943 the Germans offered a reward of 100,000 gold crowns for the capture of Tito, and a similar reward for the capture of Mihailovich. The British press ‘splashed’ the reward for Tito, but only one paper mentioned (in small print) the reward for Mihailovich: and the charges of collaborating with the Germans continued. Very similar things happened during the Spanish civil war. Then, too, the factions on the Republican side which the Russians were determined to crush were recklessly libelled in the English leftwing [sic] press, and any statement in their defence even in letter form, was refused publication. At present, not only is serious criticism of the USSR considered reprehensible, but even the fact of the existence of such criticism is kept secret in some cases. For example, shortly before his death Trotsky had written a biography of Stalin. One may assume that it was not an altogether unbiased book, but obviously it was saleable. An American publisher had arranged to issue it and the book was in print — 1 believe the review copies had been sent out — when the USSR entered the war. The book was immediately withdrawn. Not a word about this has ever appeared in the British press, though clearly the existence of such a book, and its suppression, was a news item worth a few paragraphs.

Tháng 7 năm 1943, người Đức đưa ra khoản tiền là 100.000 đồng tiền vàng thưởng cho ai bắt được Tito và khoản thưởng tương tự cho việc bắt giữ Mihailovich. Báo chí Anh làm ầm lên về tiền thưởng cho việc bắt giữ Tito nhưng chỉ có một tờ nhắc tới tiền thưởng cho vụ bắt giữ Mihailovich (lại in chữ nhỏ): còn cáo buộc cộng tác với Đức thì vẫn tiếp tục. Những hiện tượng tương tự như thế cũng từng xảy ra trong cuộc Nội chiến ở Tây Ban Nha. Lúc đó lực lượng Cộng hòa mà Nga quyết tâm tiêu diệt cũng bị báo chí cánh tả ở Anh phỉ báng, mọi lời biện hộ cho họ, ngay cả dưới dạng những bức thư cũng đều không được công bố. Hiện nay, người ta không chỉ coi những lời chỉ trích gay gắt Liên Xô là đáng bị lên án, mà trong một số trường hợp người ta còn che giấu cả sự kiện là có những lời chỉ trích như thế. Ví dụ, ngay trước khi chết, Trotsky đã hoàn thành cuốn tiểu sử về Stalin. Có thể giả định rằng cuốn này cũng không hoàn toàn khách quan, nhưng chắc chắn là bán được. Một nhà xuất bản Mĩ đã thu xếp để phát hành và sách đã được đem in – tôi tin là một số bản đã được gửi đi rồi – thì Liên Xô tham chiến. Việc in ấn chấm dứt ngay lập tức. Báo chí Anh không nói một lời nào, thế mà rõ ràng là sự tồn tại của cuốn sách và việc cấm đoán nó là một tin đáng để người ta nói tới, dù chỉ vài dòng.

It is important to distinguish between the kind of censorship that the English literary intelligentsia voluntarily impose upon themselves, and the censorship that can sometimes be enforced by pressure groups. Notoriously, certain topics cannot be discussed because of ‘vested interests’. The best-known case is the patent medicine racket. Again, the Catholic Church has considerable influence in the press and can silence criticism of itself to some extent. A scandal involving a Catholic priest is almost never given publicity, whereas an Anglican priest who gets into trouble (e.g. the Rector of Stiffkey) is headline news. It is very rare for anything of an anti-Catholic tendency to appear on the stage or in a film. Any actor can tell you that a play or film which attacks or makes fun of the Catholic Church is liable to be boycotted in the press and will probably be a failure. But this kind of thing is harmless, or at least it is understandable. Any large organisation will look after its own interests as best it can, and overt propaganda is not a thing to object to. One would no more expect the Daily Worker to publicise unfavourable facts about the USSR than one would expect the Catholic Herald to denounce the Pope. But then every thinking person knows the Daily Worker and the Catholic Herald for what they are.

Quan trọng là phải phân biệt giữa sự kiểm duyệt mà giới trí thức Anh tự khoác lên mình và sự kiểm duyệt mà đôi khi các nhóm áp lực ép họ phải làm. Ai cũng đều biết rằng một số vấn đề không thể được đưa ra bàn thảo vì đụng chạm tới quyền lợi của ai đó. Nổi tiếng nhất là vụ ồn ào về những loại thuốc chữa bệnh độc quyền. Nhà thờ Thiên Chúa giáo có ảnh hưởng đáng kể trong báo giới và ở mức độ nào đó, có thể ngăn chặn được những lời phê phán chống lại mình. Những vụ bê bối có dính líu tới các linh mục hầu như không bao giờ được đưa ra công khai, trong khi một linh mục Anh giáo mà gặp rắc rối thì chắc chắn sẽ trở thành tin chính. Hiếm khi có tác phẩm bài Thiên Chúa giáo nào được đưa lên sân khấu hay màn ảnh. Bất kì diễn viên nào cũng có thể nói với bạn rằng vở kịch hay bộ phim tấn công hay chế giễu nhà thờ Thiên Chúa giáo chắc chắn cũng đều bị báo chí tẩy chay và có nhiều khả năng là sẽ thất bại. Nhưng chuyện này cũng không sao hoặc ít nhất là có thể hiểu được. Tổ chức lớn nào cũng tìm mọi cách bảo vệ quyền lợi của nó, chả nên chống lại bộ máy tuyên truyền công khai làm gì. Hi vọng tờ Daily Worker[4] công bố những sự kiện không hay ho về Liên Xô có khác gì hi vọng tờCatholic Herald tố cáo Giáo hoàng. Nhưng tất cả những người có suy nghĩ đều biết Daily Worker và Catholic Herald là những tờ báo như thế nào rồi.

What is disquieting is that where the USSR and its policies are concerned one cannot expect intelligent criticism or even, in many cases, plain honesty from Liberal [sic — and throughout as typescript] writers and journalists who are under no direct pressure to falsify their opinions. Stalin is sacrosanct and certain aspects of his policy must not be seriously discussed. This rule has been almost universally observed since 1941, but it had operated, to a greater extent than is sometimes realised, for ten years earlier than that. Throughout that time, criticism of the Soviet régime from the left could only obtain a hearing with difficulty. There was a huge output of anti-Russian literature, but nearly all of it was from the Conservative angle and manifestly dishonest, out of date and actuated by sordid motives. On the other side there was an equally huge and almost equally dishonest stream of pro-Russian propaganda, and what amounted to a boycott on anyone who tried to discuss all-important questions in a grown-up manner.

Điều làm người ta lo ngại là khi nói đến Liên Xô và chính sách của nó, không thể hi vọng có những lời phê phán sáng suốt, thậm chí trong nhiều trường hợp là sự trung thực không màu mè từ những người cầm bút và các nhà báo theo trường phái tự do, tức là những người không bị ai ép phải thay đổi quan điểm. Stalin là nhân vật bất khả xâm phạm và một số lĩnh vực của chính sách của ông ta là những vấn đề không được bàn tới. Từ năm 1941, nguyên tắc này hầu như đã được mọi người tuân thủ, nhưng nguyên tắc này còn có hiệu lực lớn hơn là đôi khi người ta vẫn nghĩ từ trước đó 10 năm. Suốt thời gian đó, những lời phê phán chế độ Xô-viết từ phía Tả khó được ai nghe. Có nhiều sách báo bài Nga được xuất bản, nhưng hầu như đều từ quan điểm Bảo thủ và hiển nhiên là thiếu trung thực, lạc hậu và với những động cơ bẩn thỉu. Từ phía bên kia cũng tuôn ra một số lượng sách báo tuyên truyền ủng hộ Nga lớn không kém và cũng bất lương không kém, và bất kì người nào có ý định thảo luận các vấn đề quan trọng một cách nghiêm túc cũng đều bị họ tẩy chay.

You could, indeed, publish anti-Russian books, but to do so was to make sure of being ignored or misrepresented by nearly me whole of the highbrow press. Both publicly and privately you were warned that it was ‘not done’. What you said might possibly be true, but it was ‘inopportune’ and played into the hands of this or that reactionary interest. This attitude was usually defended on the ground that the international situation, and me urgent need for an Anglo-Russian alliance, demanded it; but it was clear that this was a rationalisation. The English intelligentsia, or a great part of it, had developed a nationalistic loyalty towards me USSR, and in their hearts they felt that to cast any doubt on me wisdom of Stalin was a kind of blasphemy. Events in Russia and events elsewhere were to be judged by different standards. The endless executions in me purges of 1936-8 were applauded by life-long opponents of capital punishment, and it was considered equally proper to publicise famines when they happened in India and to conceal them when they happened in me Ukraine. And if this was true before the war, the intellectual atmosphere is certainly no better now.

Thực ra, bạn có thể xuất bản những cuốn sách bài Nga, nhưng làm như thế là chắc chắn bạn sẽ bị báo chí nghiêm túc lờ đi hay họ sẽ xuyên tạc quan điểm của bạn. Cả ở chỗ công cộng lẫn chỗ riêng tư bạn đều được cảnh báo rằng đấy là “việc không nên”. Điều bạn nói có thể là đúng, nhưng “không hợp thời” và có thể có lợi cho lực lượng phản động nào đó. Người ta thường biện hộ cho thái độ như thế bằng cách nói rằng tình hình quốc tế và nhu cầu cấp bách của liên minh Anh-Nga đòi hỏi như thế; nhưng rõ ràng đây chỉ là sự hợp lí hóa thôi. Giới trí thức Anh hay phần lớn giới này đã bị nhiễm lòng trung thành mang tính dân tộc chủ nghĩa đối với Liên Xô và trong thâm tâm họ nghĩ rằng chỉ cần một chút nghi ngờ sự sáng suốt của Stalin đã là báng bổ rồi. Các sự kiện ở Nga và các sự kiện ở những nước khác phải được đánh giá theo những tiêu chuẩn khác nhau. Những người suốt đời chống án tử hình lại nhiệt tình ủng hộ không biết bao nhiêu vụ hành quyết trong giai đoạn thanh trừng 1936-1938, và việc đưa lên báo nạn đói ở Ấn Độ, trong khi che giấu nạn đói ở Ukraine cũng được họ coi là thích đáng. Và nếu chuyện này đã xảy ra trong giai đoạn tiền chiến thì bầu không khí trí thức hiện nay cũng chẳng tốt đẹp gì hơn.

But now to come back to this book of mine. The reaction towards it of most English intellectuals will be quite simple: ‘It oughtn’t to have been published.’ Naturally, those reviewers who understand the art of denigration will not attack it on political grounds but on literary ones. They will say that it is a dull, silly book and a disgraceful waste of paper. This may well be true, but it is obviously not me whole of the story. One does not say that a book ‘ought not to have been published’ merely because it is a bad book. After all, acres of rubbish are printed daily and no one bothers. The English intelligentsia, or most of them, will object to this book because it traduces their Leader and (as they see it) does harm to the cause of progress. If it did me opposite they would have nothing to say against it, even if its literary faults were ten times as glaring as they are. The success of, for instance, the Left Book Club over a period of four or five years shows how willing they are to tolerate both scurrility and slipshod writing, provided that it tells them what they want to hear.

Nhưng xin quay trở lại với cuốn sách của tôi. Đa số trí thức Anh phản ứng một cách đơn giản: “Đáng lẽ ra không nên xuất bản”. Đương nhiên là những nhà phê bình nắm được nghệ thuật gièm pha, không tấn công nó về mặt chính trị mà tấn công nó về mặt văn chương. Họ sẽ bảo rằng đây là cuốn sách chán ngắt, ngớ ngẩn, chẳng nên tốn giấy in làm gì. Có thể là đúng như thế, nhưng rõ ràng là câu chuyện không chỉ có thế. Người ta không nói rằng “không nên in cuốn sách này” chỉ vì nó là cuốn sách không hay. Nói cho cùng, hàng đống rác rưởi vẫn được xuất bản mỗi ngày, nhưng có ai bận tâm đâu. Giới trí thức Anh hay phần lớn giới này sẽ phản đối cuốn sách vì nó phỉ báng Lãnh tụ của họ và (theo quan niệm của họ) là có hại đối với sự tiến bộ. Nếu cuốn sách này nói ngược lại thì họ sẽ không phản đối, ngay cả khi về mặt văn chương nó có kém hơn đến 10 lần thì cũng không sao. Sự thành công của Câu lạc bộ sách cánh tả[5], xin đưa ra một ví dụ như thế, trong bốn đến năm năm qua chứng tỏ rằng các thành viên của nó sẵn sàng tha thứ cho cả sự dối trá lẫn sự cẩu thả, miễn là tác phẩm nói những điều họ muốn nghe.

The issue involved here is quite a simple one: Is every opinion, however unpopular — however foolish, even — entitled to a hearing? Put it in that form and nearly any English intellectual will feel that he ought to say ‘Yes’. But give it a concrete shape, and ask, ‘How about an attack on Stalin? Is that entitled to a hearing?’, and the answer more often than not will be ‘No’, In that case the current orthodoxy happens to be challenged, and so the principle of free speech lapses. Now, when one demands liberty of speech and of the press, one is not demanding absolute liberty. There always must be, or at any rate there always will be, some degree of censorship, so long as organised societies endure. But freedom, as Rosa Luxembourg [sic] said, is ‘freedom for the other fellow’. The same principle is contained in the famous words of Voltaire: ‘I detest what you say; I will defend to the death your right to say it.’ If the intellectual liberty which without a doubt has been one of the distinguishing marks of western civilisation means anything at all, it means that everyone shall have the right to say and to print what he believes to be the truth, provided only that it does not harm the rest of the community in some quite unmistakable way. Both capitalist democracy and the western versions of Socialism have till recently taken that principle for granted. Our Government, as I have already pointed out, still makes some show of respecting it. The ordinary people in the street-partly, perhaps, because they are not sufficiently interested in ideas to be intolerant about them-still vaguely hold that ‘I suppose everyone’s got a right to their own opinion.’ It is only, or at any rate it is chiefly, the literary and scientific intelligentsia, the very people who ought to be the guardians of liberty, who are beginning to despise it, in theory as well as in practice.

Vấn đề ở đây rất đơn giản: Mọi ý kiến – dù không được nhiều người hâm mộ đến đâu, thậm chí là ngu xuẩn đến đâu đi nữa – có được quyền trình bày hay không? Đặt vấn đề theo cách ấy thì hầu như bất kì người có học nào ở Anh cũng cảm thấy buộc phải nói: “Có”. Nhưng đặt vấn đề một cách cụ thể, và hỏi: “Phê phán Stalin thì sao? Vấn đề này có được nói không?” thì câu trả lời sẽ thường là: “Không”.  Khi quan điểm chính thống đang thịnh hành bị thách thức thì nguyên tắc tự do ngôn luận cũng tiêu ma. Nhưng khi người ta đòi hỏi tự do ngôn luận và tự do báo chí, người ta không đòi hỏi tự do tuyệt đối. Khi còn xã hội có tổ chức thì nhất định phải có hoặc bao giờ cũng sẽ có một mức độ kiểm duyệt nào đó. Nhưng như Rosa Luxembourg đã nói, tự do nghĩa là “tự do dành cho người khác”. Voltaire cũng nói hệt nguyên tắc như thế: “Tôi ghét cay ghét đắng điều bạn nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết để bạn được quyền nói điều đó”. Nếu tự do tri thức – chắc chắn đấy đã và vẫn là chỉ dấu đặc trưng của nền văn minh phương Tây – còn có ý nghĩa nào đó thì nó có nghĩa là mọi người đều có quyền nói và in cái mà anh ta cho là sự thật, miễn là điều đó không làm hại cho phần còn lại của xã hội. Cho đến mãi thời gian gần đây, cả chế độ dân chủ tư sản lẫn các phương án của chủ nghĩa xã hội ở phương Tây đều coi nguyên tắc này là đương nhiên. Chính phủ của chúng ta, như tôi đã chỉ ra bên trên, dường như vẫn còn tôn trọng nguyên tắc này. Những người dân thường trên đường phố, một phần có thể là do họ không quá bận tâm với các tư tưởng cho nên không có thái độ bất dung vẫn lờ mờ cảm thấy rằng: “Tôi cho là mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến của mình”. Chỉ có, hay ở mức độ nào đó, chủ yếu là, giới trí thức văn chương và khoa học – những người phải bảo vệ tự do – lại là những người bắt đầu khinh thường nó, cả trên lí thuyết cũng như trong thực tế.

One of the peculiar phenomena of our time is the renegade Liberal. Over and above the familiar Marxist claim that ‘bourgeois liberty’ is an illusion, there is now a widespread tendency to argue that one can only defend democracy by totalitarian methods. If one loves democracy, the argument runs, one must crush its enemies by no matter what means. And who are its enemies? It always appears that they are not only those who attack it openly and consciously, but those who ‘objectively’ endanger it by spreading mistaken doctrines. In other words, defending democracy involves destroying all independence of thought. This argument was used, for instance, to justify the Russian purges. The most ardent Russophile hardly believed that all of the victims were guilty of all the things they were accused of: but by holding heretical opinions they ‘objectively’ harmed the régime, and therefore it was quite right not only to massacre them but to discredit them by false accusations. The same argument was used to justify the quite conscious lying that went on in the leftwing press about the Trotskyists and other Republican minorities in the Spanish civil war. And it was used again as a reason for yelping against habeas corpus when Mosley was released in 1943.

Một trong những hiện tượng kì quặc của thời đại này là người Tự do chạy làng. Ngoài lời tuyên bố của Marx mà mọi người đều biết rằng “tự do tư sản” chỉ là ảo tưởng thì nay xu hướng cho rằng chỉ có thể bảo vệ chế độ dân chủ bằng những biện pháp toàn trị lại đang lan tràn khắp nơi. Yêu dân chủ thì phải thì phải tiêu diệt kẻ thù bằng mọi phương tiện, người ta nói như thế. Vậy, ai là kẻ thù của dân chủ? Hóa ra đấy không chỉ là những người tấn công nó một cách công khai và có ý thức; mà cả những người tuyên truyền những học thuyết sai lầm, gây nguy hiểm “một cách khách quan” đối với nó cũng trở thành kẻ thù của nó. Nói cách khác, bảo vệ chế độ dân chủ đòi hỏi phải loại bỏ sự độc lập về tư tưởng. Luận cứ này được sử dụng nhằm biện hộ cho những vụ thanh trừng ở nước Nga. Những người yêu nước Nha nồng nhiệt nhất cũng khó mà tin rằng tất cả các nạn nhân đều mắc những tội lỗi mà họ bị cáo buộc: nhưng những ý kiến trái chiều của họ đã làm thiệt hại cho chế độ “một cách khách quan” và vì vậy mà tàn sát họ không chỉ là việc làm đúng đắn mà còn cần phải bôi nhọ họ bằng những lời buộc tội dối trá nữa. Luận cứ tương tự cũng được sử dụng nhằm biện hộ cho những lời dối trá có chủ đích trong báo chí cánh tả về những người theo phái Trotskyist và những nhóm theo phái Cộng hòa khác trong cuộc Nội chiến ở Tây Ban Nha.  Nó cũng được sử dụng để giải thích cho những vụ ồn ào nhằm chống lại habeas corpus[6]  khi Mosley[7] [7] được thả vào năm 1943.

These people don’t see that if you encourage totalitarian methods, the time may come when they will be used against you instead of for you. Make a habit of imprisoning Fascists without trial, and perhaps the process won’t stop at Fascists. Soon after the suppressed Daily Worker had been reinstated, I was lecturing to a workingmen’s college in South London. The audience were working-class and lower-middle class intellectuals — the same sort of audience that one used to meet at Left Book Club branches. The lecture had touched on the freedom of the press, and at the end, to my astonishment, several questioners stood up and asked me: Did I not think that the lifting of the ban on the Daily Worker was a great mistake? When asked why, they said that it was a paper of doubtful loyalty and ought not to be tolerated in war time. I found myself defending the Daily Worker, which has gone out of its way to libel me more than once. But where had these people learned this essentially totalitarian outlook? Pretty certainly they had learned it from the Communists themselves!

Những người này không biết rằng nếu anh khuyến khích những biện pháp toàn trị thì đến một lúc nào đó chúng sẽ được sử dụng nhằm chống lại anh chứ không phải vì anh nữa. Chỉ cần biến việc bỏ tù bọn phát xít mà không cần xét xử thành thói quen thì có khả năng là quá trình này sẽ không dừng lại ở bọn phát xít. Một thời gian ngắn sau khi tờ Daily Worker từng bị đàn áp lại được tái bản, tôi có giảng bài tại trường cao đẳng dành cho người lao động ở phía nam London. Thính giả là công nhân và những người có học của giai cấp trung lưu lớp dưới – tương tự như thính giả mà ta thường thấy ở các chi nhánh của Câu lạc bộ sách cánh tả. Bài giảng đề cập đến vấn đề tự do báo chí và khi kết thúc, tôi ngạc nhiên thấy rằng có mấy người đứng dậy hỏi: tôi có nghĩ rằng việc gỡ bỏ lệnh cấm tờ Daily Worker có phải là sai lầm hay không? Khi tôi hỏi tại sao thì họ bảo rằng tờ báo này không có tinh thần ái quốc và không được cho xuất bản trong thời gian chiến tranh. Tôi phát hiện ra là mình phải bảo vệ tờ Daily Worker, tờ báo đã từng phỉ báng tôi không biết bao nhiêu lần. Nhưng những người này học ở đâu được quan điểm thực chất là toàn trị như thế? Không nghi ngờ gì là họ đã học được từ chính những người cộng sản!

Tolerance and decency are deeply rooted in England, but they are not indestructible, and they have to be kept alive partly by conscious effort. The result of preaching totalitarian doctrines is to weaken the instinct by means of which free peoples know what is or is not dangerous. The case of Mosley illustrates this. In 1940 it was perfectly right to intern Mosley, whether or not he had committed any technical crime. We were fighting for our lives and could not allow a possible quisling to go free. To keep him shut up, without trial, in 1943 was an outrage. The general failure to see this was a bad symptom, though it is true that the agitation against Mosley’s release was partly factitious and partly a rationalisation of other discontents. But how much of the present slide towards Fascist ways of thought is traceable to the ‘anti-Fascism’ of the past ten years and the unscrupulousness it has entailed?
Lòng khoan dung và sự tử tế đã ăn sâu bén rễ ở nước Anh, nhưng đấy không phải là nhất thành bất biến, đôi khi những tình cảm đó phải được nuôi dưỡng bằng những cố gắng mang tính tự giác. Kết quả của việc tuyên truyền những học thuyết toàn trị là nó làm suy yếu cái bản năng, mà nhờ nó những người tự do biết được cái gì nguy hiểm, còn cái gì thì không. Vụ Mosley thể hiện rõ điều này. Năm 1940 bắt giam Mosley là hoàn toàn đúng, dù từ quan điểm pháp lí ông ta có phạm tội hay là không. Lúc đó chúng ta đang chiến đấu để giành lấy quyền sống, chúng ta không thể để một kẻ phản bội tiềm tàng tự do đi lại được. Nhưng giam trong tù trong năm 1943 mà không đưa ra tòa thì lại là một sự vi phạm trắng trợn. Việc không ai nhận ra điều này là một triệu chứng chẳng hay ho gì, mặc dù đúng là những vụ phản đối chống lại việc phóng thích Mosley một phần là giả tạo và một phần là để thể hiện những sự bất bình khác. Mười năm “chống phát xít” vừa qua đã đóng góp gì vào quá trình trượt dài sang cách thức tuy duy theo kiểu phát xít và nó đã kéo theo những sự bất cẩn [trong việc lựa chọn phương tiện - ND] như thế nào?

It is important to realise that the current Russomania is only a symptom of the general weakening of the western liberal tradition. Had the MOI chipped in and definitely vetoed the publication of this book, the bulk of the English intelligentsia would have seen nothing disquieting in this. Uncritical loyalty to the USSR happens to be the current orthodoxy, and where the supposed interests of the USSR are involved they are willing to tolerate not only censorship but the deliberate falsification of history. To name one instance. At the death of John Reed, the author of Ten Days that Shook the World — first-hand account of the early days of the Russian Revolution — the copyright of the book passed into the hands of the British Communist Party, to whom I believe Reed had bequeathed it. Some years later the British Communists, having destroyed the original edition of the book as completely as they could, issued a garbled version from which they had eliminated mentions of Trotsky and also omitted the introduction written by Lenin. If a radical intelligentsia had still existed in Britain, this act of forgery would have been exposed and denounced in every literary paper in the country. As it was there was little or no protest. To many English intellectuals it seemed quite a natural thing to do. And this tolerance or [sic = of?] plain dishonesty means much more than that admiration for Russia happens to be fashionable at this moment. Quite possibly that particular fashion will not last. For all I know, by the time this book is published my view of the Soviet régime may be the generally-accepted one. But what use would that be in itself? To exchange one orthodoxy for another is not necessarily an advance. The enemy is the gramophone mind, whether or not one agrees with the record that is being played at the moment.

Quan trọng là cần phải nhận thức được rằng sự sùng bái Nga hiện chỉ là triệu chứng của sự suy nhược của truyền thống tự do của phương Tây mà thôi. Nếu Bộ Thông tin can thiệp và dứt khoát cấm xuất bản cuốn sách này thì phần lớn giới trí thức Anh cũng sẽ chẳng thấy có điều gì làm họ phải bận tâm hết. Lòng trung thành một cách mù quáng đối với Liên Xô đang là quan điểm chính thống hiện nay, và khi nói đến quyền lợi được cho là của Liên Xô thì người ta sẵn sàng chấp nhận không chỉ kiểm duyệt mà còn cố tình xuyên tạc cả lịch sử nữa. Xin dẫn ra một ví dụ. Khi John Reed chết, ông chính là tác giả cuốn Ten Days that Shook the World(Mười ngày rung chuyển thế giới) — câu chuyện của người đã từng chứng kiến những ngày đầu tiên của cuộc Cách mạng Nga – bản quyền tác phẩm được trao cho Đảng Cộng sản Anh, tôi tin là Reed đã di chúc như thế. Mấy năm sau cộng sản Anh tìm mọi cách nhằm tiêu hủy những cuốn sách đã phát hành trong lần xuất bản đầu tiên, sau đó cho in bản đã bị cắt xén, xóa tất cả những đoạn có nhắc tới Trotsky và thậm chí bỏ cả lời giới thiệu do Lenin viết nữa. Nếu ở Anh vẫn còn giới trí thức cấp tiến thì hành động giả mạo này đã bị tất cả các nhà xuất bản chuyên về lĩnh vực văn học trong nước vạch trần và lên án rồi. Nhưng có rất ít hoặc không có lời phản đối nào. Đối với nhiều trí thức Anh, dường như đây là việc làm tự nhiên vậy. Và thái độ chấp nhận như vậy hay là sự thiếu tử tế một cách trắng trợn như thế chứng tỏ một cái gì đó lớn hơn là sự thán phục nước Nga đang là trào lưu hiện nay. Hoàn toàn có khả năng là trào lưu này sẽ không kéo dài được lâu. Theo tôi biết, có khả năng là khi cuốn sách này được xuất bản thì quan điểm của tôi về chế độ Xô-viết sẽ được mọi người chấp nhận. Nhưng như thế thì có ích gì? Thay một quan điểm chính thống này bằng quan điểm chính thống khác không chắc đã phải là tiến bộ. Kẻ thù là bộ óc hoạt động như thể cái máy hát, đồng ý hay không đồng ý với cái đĩa hát được đặt lên đó không phải là vấn đề.

I am well acquainted with all the arguments against freedom of thought and speech — the arguments which claim that it cannot exist, and the arguments which claim that it ought not to. I answer simply that they don’t convince me and that our civilisation over a period of four hundred years has been founded on the opposite notice. For quite a decade past I have believed that the existing Russian régime is a mainly evil thing, and I claim the right to say so, in spite of the fact that we are allies with the USSR in a war which I want to see won. If I had to choose a text to justify myself, I should choose the line from Milton:

    By the known rules of ancient liberty.

Tôi biết rõ tất cả các luận cứ chống lại tự do tư tưởng và tự do ngôn luận – có những luận cứ khẳng định rằng không thể có tự do và những luận cứ khẳng định rằng không nên để cho tự do. Tôi trả lời đơn giản là những luận cứ đó không thuyết phục được tôi và nền văn minh trong hơn 400 năm qua của chúng ta được xây dựng trên những nguyên tắc ngược lại. Trong suốt thập niên qua, tôi tin chắc rằng chế độ ở Liên Xô chủ yếu là tồi dở, và tôi đòi quyền được nói như thế, mặc dù chúng ta là đồng minh của Liên Xô trong cuộc chiến tranh mà tôi muốn là chúng ta chiến thắng. Nếu tôi phải chọn một câu để biện hộ cho mình thì tôi xin chọn câu sau đây của Milton:
Theo những quy luật đã biết của quyền tự do cổ xưa.

The word ancient emphasises the fact that intellectual freedom is a deep-rooted tradition without which our characteristic western culture could only doubtfully exist. From that tradition many of our intellectuals arc visibly turning away. They have accepted the principle that a book should be published or suppressed, praised or damned, not on its merits but according to political expediency. And others who do not actually hold this view assent to it from sheer cowardice. An example of this is the failure of the numerous and vocal English pacifists to raise their voices against the prevalent worship of Russian militarism. According to those pacifists, all violence is evil, and they have urged us at every stage of the war to give in or at least to make a compromise peace. But how many of them have ever suggested that war is also evil when it is waged by the Red Army? Apparently the Russians have a right to defend themselves, whereas for us to do [so] is a deadly sin. One can only explain this contradiction in one way: that is, by a cowardly desire to keep in with the bulk of the intelligentsia, whose patriotism is directed towards the USSR rather than towards Britain. I know that the English intelligentsia have plenty of reason for their timidity and dishonesty, indeed I know by heart the arguments by which they justify themselves. But at least let us have no more nonsense about defending liberty against Fascism. If liberty means anything at all it means the right to tell people what they do not want to hear. The common people still vaguely subscribe to that doctrine and act on it. In our country — it is not the same in all countries: it was not so in republican France, and it is not so in the USA today — it is the liberals who fear liberty and the intellectuals who want to do dirt on the intellect: it is to draw attention to that fact that I have written this preface.
Từ “cổ xưa” nhấn mạnh sự kiện: tự do tri thức là truyền thống đã ăn sâu bén rễ vào quá khứ xa xưa, không có nó thì nền văn hóa đặc trưng của phương Tây của chúng ta khó mà có thể tồn tại được. Nhiều nhà trí thức của chúng ta đang công khai quay lưng lại với truyền thống đó. Họ theo nguyên tắc là xuất bản hay cấm đoán, ca ngợi hay lên án cuốn sách không phải vì giá trị tự thân của nó mà họ làm thế vì lợi ích chính trị. Còn những người thực sự không chia sẻ những quan điểm như thế thì lại tán thành chỉ vì hèn nhát. Thí dụ cụ thể là nhiều người ủng hộ hòa bình to mồm đã không dám lên tiếng chống lại sự sùng bái chủ nghĩa quân phiệt Nga đang thịnh hành hiện nay. Theo những người ủng hộ hòa bình này, mọi biểu hiện của bạo lực đều là xấu xa, và tại mỗi giai đoạn của cuộc chiến họ đều kêu gọi đầu hàng hay chí ít là kí hiệp ước hòa bình trên cơ sở thỏa hiệp. Nhưng có bao nhiêu người trong số họ từng nói rằng chiến tranh là xấu ngay cả khi Hồng quân tham chiến? Rõ ràng là người Nga có quyền tự vệ, trong khi đối với chúng ta thì đấy là tội không thể nào tha thứ được. Chỉ có một cách giải thích: ước muốn đê hèn nhằm đứng vào đám đông trí thức với lòng yêu nước dành cho Liên Xô chứ không phải cho Anh quốc. Tôi biết rằng giới trí thức Anh có rất nhiều lí do để giải thích tính nhút nhát và thiếu tử tế của họ; thực ra, tôi thuộc lòng những luận cứ mà họ dùng để biện hộ cho mình. Nhưng như thế thì đừng nói đến việc bảo vệ tự do khỏi chủ nghĩa phát xít nữa. Nếu tự do có một ý nghĩa nào đó thì đấy chính là quyền nói cho người ta nghe những điều người ta không muốn nghe. Cho đến nay những người bình thường vẫn tán thành một cách vô thức nguyên tắc này và tuân theo nó. Nhưng ở nước ta – ở những nước khác không thế: ở nước Cộng hòa Pháp không như thế, ở Mĩ hiện nay cũng không như thế – những người tự do lại sợ tự do và những người trí thức muốn bôi bẩn trí tuệ. Chính vì muốn làm người ta chú ý đến sự kiện đó mà tôi đã viết lời giới thiệu này.

 For some reason in their 2000 edition, Penguin decided to publish this preface (the only one) as Appendix with small intro. But it is preface? Preface for Ukrainian edition of Animal Farm was printed also as Appendix (II). (O. Dag)

    By Penguin:


Orwell’s Proposed Preface to Animal Farm.

Space was allowed in the first edition of Animal Farm for a preface by Orwell, as the pagination of the author’s proof indicates. This preface was not included and the typescript was only found years later by Ian Angus. It was published, with an introduction by Professor Bernard Crick entitled ‘How the essay came to be written’, in The Times Literary Supplement, 15 September 1972.
Ghi chú: Lời giới thiệu này không được đưa vào tác phẩm và mãi về sau bản thảo mới được Ian Angus tìm ra. Lời giới thiệu này được công bố lần đầu trên tờ The Times Literary Supplement, ra ngày 15 tháng 9  năm 1972 với lời giới thiệu do giáo sư Bernard Crick viết dưới nhan đề:How the essay came to be written. Trong lần xuất bản tác phẩm này vào năm 2000, NXV Penguin đã xuất bản Lời nói đầu này như phụ lục (Phụ lục I), còn lời giới thiệu cho bản dịch sang tiếng Ukraine thì được in kèm thành Phụ lục II.

[1] Bộ Thông tin tồn tại trong những năm Thế chiến I và Thế chiến II. Sau này chuyển thành Cục Thông tin Trung ương, chuyên sản xuất và truyền bá tin tức về nước Anh – ND.
[2] Không rõ đây có phải là ý của ông… hay nó là sản phẩm của Bộ Thông tin, nhưng dường như có chỉ đạo của Bộ – ghi chú của chính Orwell.
[3] Mihalovich (1893-1946) — viên tướng người Serb, lãnh đạo phong trào du kích trong những năm 1941-1945. Bị kết án cộng tác với Đức và bị toàn án Cộng hòa Nhân dân Liên bang Nam Tư tuyên án tử hình – ND.

[4] Daily Worker –  Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Anh, ra hàng ngày từ năm 1930 đến năm 1966 – ND.
[5] Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1936 với mục đích xuất bản và truyền bá những tác phẩm giá rẻ theo xu hướng của các phong trào dân chủ-xã hội và lao động – ND.
[6] Habeas corpus -  Luật bảo đảm cho người bị bắt tạm giam quyền được đưa ra xét xử trong thời hạn quy định để xác định tính hợp pháp của việc bắt giam. Được thông qua vào năm 1679 – ND.
[7] Mosley (1896-1980) — lãnh tụ của Đảng Phát xít Anh, kẻ tổ chức những cuộc tuần hành và đánh đập người Do Thái ở London. Hồi đầu cuộc chiến với Đức, bị tạm giam, nhưng được tha vào năm 1943 – ND.

Translated by Phạm Nguyên Trường

Animal Farm reviewed by Christopher Hitchens

Christopher Hitchens - Đọc lại “Trại súc vật”

The Guardian
Saturday 17 April 2010

The Guardian

Christopher Hitchens re-reads Animal Farm

Christopher Hitchens - Đọc lại “Trại súc vật”

Still outlawed by regimes around the world, Animal Farm has always been political dynamite – so much so, it was nearly never published. Christopher Hitchens on George Orwell’s timeless, transcendent ‘fairy story’

Vẫn bị nhiều chế độ trên thế giới cấm đoán, Trại súc vật (Animal Farm) luôn là khối thuốc nổ chính trị – đến nỗi suýt chút nữa tác phẩm này đã không bao giờ được xuất bản. Christopher Hitchens bàn về “truyện cổ tích”vượt thời gian, siêu việt của George Orwell.

Animal Farm, as its author later wrote, “was the first book in which I tried, with full consciousness of what I was doing, to fuse political purpose and artistic purpose into one whole”. And indeed, its pages contain a synthesis of many of the themes that we have come to think of as “Orwellian”. Among these are a hatred of tyranny, a love for animals and the English countryside, and a deep admiration for the satirical fables of Jonathan Swift. To this one might add Orwell’s keen desire to see things from the viewpoint of childhood and innocence: he had long wished for fatherhood and, fearing that he was sterile, had adopted a small boy not long before the death of his first wife. The partly ironic subtitle of the novel is “A Fairy Story”, and Orwell was pleased when he heard from friends such as Malcolm Muggeridge and Sir Herbert Read that their own offspring had enjoyed reading the book.

Trại súc vật, theo lời của chính tác giả, “là cuốn sách đầu tiên mà trong đó tôi đã cố hòa quyện mục đích chính trị và mục đích nghệ thuật thành một, và tôi hoàn toàn ý thức rõ mình đang làm gì”. Và quả thực những trang sách của tác phẩm này tổng hợp nhiều chủ đề trong số những chủ đề mà xưa nay chúng ta đã đúc kết là “mang tính Orwell”[1]. Trong số những chủ đề này có nỗi căm ghét bạo chúa, tình yêu thương loài vật và miền đồng quê nước Anh, và sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với những truyện ngụ ngôn trào phúng của Jonathan Swift. Ta có thể lồng thêm vào danh sách này ước nguyện thiết tha của Orwell muốn nhìn đời từ góc độ của tuổi thơ ấu trong trắng: ông vẫn hằng mong được làm cha và, do sợ mình bị vô sinh, ông đã nhận một cậu bé làm con nuôi trước khi người vợ đầu của ông qua đời rất lâu. Cái tiểu đề có phần châm biếm của cuốn tiểu thuyết này là “Truyện cổ tích”, và Orwell rất vui khi nghe những người bạn như Malcolm Muggeridge và Sir Herbert Read kể con họ rất thích đọc cuốn sách này.

Like much of his later work – most conspicuously the much grimmer Nineteen Eighty-Four – Animal Farm was the product of Orwell’s engagement in the Spanish civil war. During the course of that conflict, in which he had fought on the anti-fascist side and been wounded and then chased out of Spain by supporters of Joseph Stalin, his experiences had persuaded him that the majority of “left” opinion was wrong, and that the Soviet Union was a new form of hell and not an emerging utopia. He described the genesis of the idea in one of his two introductions to the book:

Giống như phần lớn những tác phẩm về sau của ông – đáng chú ý nhất là cuốn Một chín tám tư (Nineteen Eighty-Four) cay nghiệt hơn – Trại súc vật là sản phẩm của việc Orwell tham gia cuộc Nội chiến Tây Ban Nha. Trong cuộc xung đột đó, ông chiến đấu trong hàng ngũ phe chống phát xít và bị thương rồi bị phe ủng hộ Stalin rượt đuổi khỏi Tây Ban Nha. Những kinh nghiệm từ cuộc chiến đó đã khiến ông tin rằng đa số quan điểm “phái tả” là sai lầm, và Liên Xô là một dạng địa ngục mới, chứ không phải một thiên đường utopia sắp mở ra. Ông mô tả căn nguyên của ý tưởng này trong một trong hai lời giới thiệu cuốn sách này:

. . . for the past ten years I have been convinced that the destruction of the Soviet myth was essential if we wanted a revival of the socialist movement. On my return from Spain I thought of exposing the Soviet myth in a story that could be easily understood by almost anyone . . . However, the actual details of the story did not come to me for some time until one day (I was then living in a small village) I saw a little boy, perhaps ten years old, driving a huge carthorse along a narrow path, whipping it whenever it tried to turn. It struck me that if only such animals became aware of their strength we should have no power over them, and that men exploit animals in much the same way as the rich exploit the proletariat.

I proceeded to analyse Marx’s theory from the animals’ point of view.

… trong mười năm qua, tôi đã tin rằng rất cần phá bỏ huyền thoại Xô viết nếu chúng ta muốn hồi sinh phong trào xã hội chủ nghĩa. Lúc hồi hương từ Tây Ban Nha, tôi đã nghĩ đến việc vạch trần huyền thoại Xô viết bằng một câu chuyện mà gần như bất cứ ai cũng dễ dàng hiểu được… Tuy nhiên, những tình tiết thật sự của câu chuyện này mãi về sau mới nảy ra trong đầu tôi. Một hôm (lúc đó tôi đang sống ở một làng nhỏ), tôi thấy một cậu bé, chừng mười tuổi, đánh chiếc xe ngựa lớn trên con đường chật hẹp, thẳng tay quật roi mỗi khi con ngựa cố rẽ ngang. Tôi chợt nghĩ rằng chẳng may mà những con vật đó biết rõ sức mạnh của chúng, chúng ta đừng hòng chế ngự được chúng, và nhận ra rằng con người bóc lột loài vật hệt như kiểu người giàu bóc lột giai cấp vô sản.

Tôi bắt tay vào phân tích học thuyết của Marx từ góc độ của loài vật.

The simplicity of this notion is in many ways deceptive. By undertaking such a task, Orwell was choosing to involve himself in a complex and bitter argument about the Bolshevik revolution in Russia: then a far more controversial issue than it is today. Animal Farm can be better understood if it is approached under three different headings: its historical context; the struggle over its publication and its subsequent adoption as an important cultural weapon in the cold war; and its enduring relevance today.

Tính đơn giản của khái niệm này dễ bị hiểu lầm theo nhiều cách. Khi dấn thân vào một việc như vậy, Orwell chọn con đường can dự vào một cuộc tranh luận phức tạp và quyết liệt về cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga: thời đó là một vấn đề gây tranh cãi nhiều hơn hiện nay. Trại súc vật có thể được hiểu rõ hơn nếu được tiếp cận theo ba đề mục khác nhau: bối cảnh lịch sử của tác phẩm; cuộc đấu tranh xung quanh việc xuất bản tác phẩm và chuyện về sau tác phẩm được dùng như một vũ khí văn hóa trong Chiến tranh Lạnh; và việc đến tận ngày nay tác phẩm vẫn hợp thời.

The book was written at the height of the second world war, and at a time when the pact between Stalin and Hitler had been replaced abruptly by an alliance between Stalin and the British empire. London was under Nazi bombardment, and the manuscript of the novel had to be rescued from the wreckage of Orwell’s blitzed home in north London.

Cuốn sách được viết ở thời kỳ cao điểm của Chiến tranh Thế giới thứ hai, và ở thời điểm hiệp ước giữa Stalin và Hitler đã bị thay thế đột ngột bằng một liên minh giữa Stalin và đế chế Anh. London đang bị Đức Quốc xã ném bom, và bản thảo cuốn tiểu thuyết này phải được cứu ra khỏi đống hoang tàn sau khi căn nhà của Orwell ở phía bắc London bị san bằng.

The cynical way in which Stalin had switched sides had come as no surprise to Orwell, who was by then accustomed to the dishonesty and cruelty of the Soviet regime. This put him in a fairly small minority, both within official Britain and among the British left.

Lối hành xử tráo trở khi Stalin chuyển từ phe này sang phe kia chẳng có gì đáng ngạc nhiên đối với Orwell; lúc đó ông đã quen với sự bất lương và tính tàn bạo của chế độ Xô viết. Điều đó khiến ông nằm trong một nhóm nhỏ thiểu số, cả ở nước Anh chính thống lẫn trong phái tả ở Anh.

With a few slight alterations to the sequence of events, the action approximates to the fate of the 1917 generation in Russia. Thus the grand revolutionary scheme of the veteran boar Old Major (Karl Marx) is at first enthusiastically adopted by almost all creatures, leading to the overthrow of Farmer Jones (the Tsar), the defeat of the other farmers who come to his aid (the now-forgotten western invasions of Russia in 1918–19) and the setting up of a new model state. In a short time, the more ruthless and intelligent creatures – naturally enough the pigs – have the other animals under their dictatorship and are living like aristocrats.

Với một vài thay đổi nhỏ về trình tự của các sự kiện, diễn biến câu chuyện gần giống với số phận của thế hệ 1917 ở Nga. Như vậy kế hoạch cách mạng vĩ đại của con lợn kỳ cựu Thủ Lĩnh [Old Major][2] (Karl Marx) thoạt đầu được gần như tất cả các loài vật nhiệt tình áp dụng, dẫn đến việc lật đổ Nông Dân Jones (Nga hoàng), việc đánh bại những người nông dân khác đến chi viện cho ông Jones (những cuộc xâm lấn Nga của phương Tây trong hai năm 1918–1919 mà hiện nay người ta đã quên) và việc thành lập một nhà nước kiểu mẫu mới. Trong một thời gian ngắn, những con vật mới thông minh hơn và tàn ác hơn – đương nhiên chính là lũ lợn – đặt những con vật khác dưới sự cai trị độc tài của chúng và sống thụ hưởng như quý tộc.

Inevitably, the pigs argue among themselves. The social forces represented by different animals are easily recognisable – Boxer the noble horse as the embodiment of the working class, Moses the raven as the Russian Orthodox church – as are the identifiable individuals played by different pigs. The rivalry between Napoleon (Stalin) and Snowball (Trotsky) ends with Snowball’s exile and the subsequent attempt to erase him from the memory of the farm. Stalin had the exiled Trotsky murdered in Mexico less than three years before Orwell began work on the book.

Lũ lợn tất yếu sẽ đến lúc có bất đồng nội bộ. Có thể dễ dàng nhận ra những lực lượng xã hội được đại diện bằng những con vật khác nhau – con tuấn mã Chiến Sĩ [Boxer] là hiện thân của giai cấp lao động, con quạ Moses là Giáo hội Chính thống Nga– cũng như những nhân vật dễ nhận diện do những con lợn khác nhau đóng vai. Sự kình địch giữa Napoleon (Stalin) và Tuyết Tròn [Snowball] (Trotsky) kết thúc bằng việc lưu đày của Tuyết Tròn, và sau đó là nỗ lực xóa sổ Tuyết Tròn khỏi ký ức của trại súc vật. Stalin đã cho người sát hại Trotsky đang lưu vong ở  Mexico chưa đầy ba năm trước khi Orwell bắt tay vào viết cuốn sách này.

Some of the smaller details are meticulously exact. Due to the exigencies of the war, Stalin had made various opportunistic compromises. He had recruited the Russian Orthodox church to his side, the better to cloak himself in patriotic garb, and he was to abolish the old socialist anthem “The Internationale” for being too provocative to his new capitalist allies in London and Washington. In Animal Farm, Moses the raven is allowed to come croaking back as the crisis deepens, and the poor exploited goats and horses and hens are told that their beloved song “Beasts of England” is no longer to be sung.

Một số chi tiết nhỏ hơn chính xác đến tỉ mỉ. Do tình thế cấp bách của chiến tranh, Stalin đã có nhiều nhượng bộ mang tính cơ hội. Ông đã thu phục   Giáo hội Chính thống Nga về phe với mình, để càng dễ khoác lên mình cái áo yêu nước, và ông sẽ từ bỏ “Quốc tế ca” vì bài hát chính thức từ xưa của phong trào xã hội chủ nghĩa có vẻ quá khiêu khích đối với những đồng minh tư bản chủ nghĩa mới của ông ở London và Washington. Trong Trại súc vật, con quạ Moses được phép lên tiếng trở lại khi khủng hoảng càng trở nên trầm trọng, và đám dê cùng lũ ngựa cùng đàn gà nghèo khổ bị bóc lột được bảo là bài ca chúng hằng yêu quý “Súc sinh Anh quốc” [Beasts of England] sẽ không còn được phép hát nữa.

There is, however, one very salient omission. There is a Stalin pig and a Trotsky pig, but no Lenin pig. Similarly, in Nineteen Eighty-Four we find only a Big Brother Stalin and an Emmanuel Goldstein Trotsky. Nobody appears to have pointed this out at the time (and if I may say so, nobody but myself has done so since; it took me years to notice what was staring me in the face).

Tuy nhiên có một sự bỏ sót rất đáng chú ý. Có lợn Stalin và lợn Trotsky, nhưng không có lợn Lenin. Tương tự, trong Một chín tám tư, ta chỉ bắt gặp Anh Cả Stalin và một Emmanuel Goldstein Trotsky. Dường như lúc đó chẳng ai chỉ ra điều này (và có thể nói, kể từ đó đến nay, chẳng có ai ngoài tôi chỉ ra điều đó; tôi mất nhiều năm mới nhận ra điều rành rành trước mắt như thế).

It is sobering to consider how close this novel came to remaining unpublished. Having survived Hitler’s bombing, the rather battered manuscript was sent to the office of TS Eliot, then an important editor at Faber & Faber. Eliot, a friendly acquaintance of Orwell’s, was a political and cultural conservative, not to say reactionary. But, perhaps influenced by Britain’s alliance with Moscow, he rejected the book on the grounds that it seemed too “Trotskyite”. He also told Orwell that his choice of pigs as rulers was an unfortunate one, and that readers might draw the conclusion that what was needed was “more public-spirited pigs”. This was not perhaps as fatuous as the turn-down that Orwell received from the Dial Press in New York, which solemnly informed him that stories about animals found no market in the US. And this in the land of Disney . . .

Việc cuốn tiểu thuyết này suýt bị xếp xó không được xuất bản thật đáng suy gẫm. Sau khi thoát được trận oanh tạc của Hitler, bản thảo tơi tả được gởi đến văn phòng của TS Eliot, lúc đó là một biên tập viên quan trọng của nhà xuất bản Faber & Faber. Eliot, một người quen khá thân thiện của Orwell, là người bảo thủ về chính trị và văn hóa, nếu không muốn nói là phản động. Song, có lẽ chịu ảnh hưởng của liên minh giữa nước Anh và Moskva, ông đã từ chối cho in sách với lý do là sách quá nặng “tính Trotsky”. Ông cũng bảo Orwell rằng việc Orwell chọn lũ lợn làm kẻ cầm quyền là lựa chọn đáng tiếc, và độc giả có thể kết luận rằng cần phải có “thêm những con lợn có tinh thần phục vụ công chúng”. Nhận xét này có lẽ không ngu xuẩn bằng lời từ chối mà Orwell nhận được từ nhà Dial Press ở in New York; họ trịnh trọng thông báo với ông là truyện về súc vật không có thị trường ở Mỹ. Mà đó lại là nhận xét từ xứ sở của Disney…

The wartime solidarity between British Tories and Soviet Communists found another counterpart in the work of Peter Smollett, a senior official in the Ministry of Information who was later exposed as a Soviet agent. Smollett made it his business to warn off certain publishers, as a consequence of which Animal Farm was further denied a home at the reputable firms of Victor Gollancz and Jonathan Cape. For a time Orwell considered producing the book privately with the help of his radical Canadian poet friend, Paul Potts, in what would have been a pioneering instance of anti-Soviet samizdat or self-publishing. He even wrote an angry essay, entitled “The Freedom of the Press”, to be included as an introduction: an essay which was not unearthed and printed until 1972. Eventually the honour of the publishing business was saved by the small company Secker & Warburg, which in 1945 brought out an edition with a very limited print-run and paid Orwell £45 for it.

Tình đoàn kết thời chiến giữa Đảng Bảo thủ Anh và Đảng Cộng sản Liên Xô cũng nhận được sự bảo vệ tích cực của Peter Smollett, một quan chức cao cấp trong Bộ Thông tin, và người sau này bị vạch trần là gián điệp cho Liên Xô. Smollett tự thân khuyến cáo một số nhà xuất bản từ chối bản thảo, vì thế Trại súc vật không được chấp nhận ở những hãng xuất bản danh tiếng của Victor Gollancz và Jonathan Cape. Có lúc Orwell đã nghĩ đến việc tự in sách với sự giúp đỡ của người bạn Paul Potts, nhà thơ cấp tiến người Canada; nếu vậy, đó có lẽ là một trường hợp tiên phong của trào lưu tự xuất bản hay samizdat (in và phát hành lén lút) chống Liên Xô. Ông thậm chí còn viết một tiểu luận đầy phẫn nộ với tựa đề “Tự do Báo chí” (The Freedom of the Press), dự kiến đưa vào làm lời giới thiệu: tiểu luận này mãi đến năm 1972 mới được phát hiện và in. Rốt cuộc, danh dự của ngành xuất bản được cứu vãn bởi công ty xuất bản nhỏ Secker & Warburg: năm 1945, công ty này ấn hành một số lượng rất hạn chế và trả cho Orwell 45 bảng Anh.

It is thinkable that the story might have ended in this damp-squib way, but two later developments were to give the novel its place in history. A group of Ukrainian and Polish socialists, living in refugee camps in post-war Europe, discovered a copy of the book in English and found it to be a near-perfect allegory of their own recent experience. Their self-taught English-speaking leader and translator, Ihor Sevcenko, found an address for Orwell and wrote to him asking permission to translate Animal Farm into Ukrainian. He told him that many of Stalin’s victims nonetheless still considered themselves to be socialists, and did not trust an intellectual of the right to voice their feelings. “They were profoundly affected by such scenes as that of animals singing ‘Beasts of England’ on the hill . . . They very vividly reacted to the ‘absolute’ values of the book.” Orwell agreed to grant publication rights for free (he did this for subsequent editions in several other eastern European languages). It is affecting to imagine battle-hardened ex-soldiers and prisoners of war, having survived all the privations of the eastern front, becoming stirred by the image of British farm animals singing their own version of the discarded “Internationale”, but this was an early instance of the hold the book was to take on its readership. The emotions of the American military authorities in Europe were not so easily touched: they rounded up all the copies of Animal Farm that they could find and turned them over to the Red Army to be burnt. The alliance between the farmers and the pigs, so hauntingly described in the final pages of the novel, was still in force.

Rất có thể câu chuyện này đã có kết cuộc đáng thất vọng như vậy, nhưng hai diễn biến về sau đã giúp cho tiểu thuyết này có vị trí trong lịch sử. Một nhóm những nhà xã hội chủ nghĩa Ukraina và Ba Lan, lúc đó đang sống trong các trại tị nạn ở Châu Âu hậu chiến, tìm thấy một bản tiếng Anh và thấy cuốn sách là một truyện ngụ ngôn thể hiện gần như hoàn hảo kinh nghiệm của chính họ không lâu trước đó. Ihor Sevcenko, thủ lĩnh biết tiếng Anh nhờ tự học và dịch giả của nhóm này, tìm được địa chỉ của Orwell và viết thư xin phép ông cho dịch Trại súc vật sang tiếng Ukraina. Ông nói với Orwell rằng nhiều nạn nhân của Stalin vẫn tự xem mình là người của phe xã hội chủ nghĩa, và không tin tưởng một trí thức của phái hữu nói lên cảm xúc của họ. “Họ vô cùng xúc động trước những cảnh như cảnh những con vật hát vang bài ‘Súc sinh Anh Quốc’ trên đồi… Họ rất cảm kích trước những giá trị ‘tuyệt đối’ của cuốn sách”. Orwell đồng ý cấp bản quyền xuất bản miễn phí (ông cũng làm vậy đối với những ấn bản về sau bằng nhiều ngôn ngữ Đông Âu). Thật cảm động khi hình dung những cựu quân nhân và cựu tù nhân đã chai lì qua trận mạc, sau khi vượt qua được bao thiếu thốn của mặt trận phía đông, nay lại mủi lòng trước hình ảnh những con vật ở nông trại nước Anh cất tiếng ca bài hát được xem là phiên bản của bài “Quốc tế ca” đã bị bãi bỏ, nhưng đây chỉ mới là một ví dụ ban đầu của tầm ảnh hưởng mà cuốn sách sẽ có đối với độc giả. Giới chức quân sự Mỹ ở Châu Âu thì không dễ mủi lòng đến thế: tìm được bản in nào của cuốn Trại súc vật là họ gom hết rồi giao cho Hồng quân để đốt. Liên minh giữa những người nông dân và lũ lợn, được mô tả đậm nét đến mức ám ảnh ở những trang cuối sách, vẫn còn hiệu lực.

But in the part-acrimonious closing scene, usually best-remembered for the way in which men and pigs have become indistinguishable, Orwell predicted, as on other occasions, that the ostensible friendship between east and west would not long outlast the defeat of nazism. The cold war, a phrase that Orwell himself was the first to use in print, soon created a very different ideological atmosphere. This in turn conditioned the reception of Animal Farm in the US. At first rejected at Random House by the communist sympathiser Angus Cameron, it was rescued from oblivion by Frank Morley of Harcourt, Brace, who while visiting England had been impressed by a chance encounter with the novel in a bookshop in Cambridge. Publication was attended by two strokes of good fortune: Edmund Wilson wrote a highly favourable review for the New Yorker, comparing Orwell’s satirical talent to the work of Swift and Voltaire, and the Book-of-the-Month Club made it a main selection, which led to a printing of almost half a million copies. The stupidity of the Dial Press notwithstanding, the Walt Disney company came up with a proposal for a film version. This was never made, though the CIA did later produce and distribute an Animal Farm cartoon for propaganda purposes. By the time Orwell died in January 1950, having just finished Nineteen Eighty-Four, he had at last achieved an international reputation and was having to issue repeated disclaimers of the use made of his work by the American right wing.

Nhưng ở cảnh kết thúc có phần chua cay, thường được người ta nhớ nhất về chuyện không thể phân biệt được đâu là người đâu là lợn, Orwell đã tiên đoán, cũng nhưng trong những dịp khác, rằng tình bạn giả tạo bề ngoài giữa Đông và Tây sẽ không tồn tại được lâu sau khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại. Chiến tranh Lạnh, cụm từ mà chính Orwell là người đầu tiên dùng trong sách in, nhanh chóng tạo ra một bầu không khí ý thức hệ khác hẳn. Điều này lại quyết định cách tiếp nhận Trại súc vật ở Mỹ. Ban đầu bị Angus Cameron, người có cảm tình với cộng sản ở nhà xuất bản Random House, từ chối, tác phẩm tưởng đã chìm vào quên lãng được Frank Morley của nhà Harcourt, Brace, cứu vớt. Khi thăm nước Anh, Frank Morley tình cờ bắt gặp cuốn tiểu thuyết này trong một hiệu sách ở Cambridge, và ông rất mê. Việc xuất bản [ở Mỹ] lại gặp hai cái phúc: Edmund Wilson viết một bài điểm sách đầy thiện cảm cho tạp chíThe New Yorker, so sánh tài năng trào phúng của Orwell với tác phẩm của Swift và Voltaire, và Câu lạc bộ Sách tiêu biểu trong tháng đã chọnTrại súc vật là đầu sách chính, nhờ đó sách được in tới gần nửa triệu bản. Bất chấp sự ngu xuẩn của nhà xuất bản Dial Press, công ty Walt Disney đề xuất chuyển thể sách thành phim. Phim này đã không được dựng, dù về sau CIA có sản xuất và phát hành một bộ phim hoạt hìnhTrại súc vật dùng để tuyên truyền. Đến lúc Orwell mất vào tháng Giêng năm 1950, sau khi vừa mới viết xong Một chín tám tư, ông rốt cuộc đã có danh tiếng quốc tế và nhiều lần phải viết lời phủ nhận trách nhiệm về việc phái hữu ở Mỹ sử dụng tác phẩm của ông.

Probably the best-known sentence from the novel is the negation by the pigs of the original slogan that “All Animals Are Equal” by the addition of the afterthought that “Some Animals Are More Equal than Others”. As communism in Russia and eastern Europe took on more and more of the appearance of a “new class” system, with grotesque privileges for the ruling elite and a grinding mediocrity of existence for the majority, the moral effect of Orwell’s work – so simple to understand and to translate, precisely as he had hoped – became one of the many unquantifiable forces that eroded communism both as a system and as an ideology. Gradually, the same effect spread to Asia. I remember a communist friend of mine telephoning me from China when Deng Xiaoping announced the “reforms” that were to inaugurate what we now know as Chinese capitalism. “The peasants must get rich,” the leader of the party announced, “and some will get richer than others.” My comrade was calling to say that perhaps Orwell had had a point after all. Thus far, Animal Farm has not been legally published in China, Burma or the moral wilderness of North Korea, but one day will see its appearance in all three societies, where it is sure to be greeted with the shock of recognition that it is still capable of inspiring.

Có lẽ câu nổi tiếng nhất từ tiểu thuyết này là việc lũ lợn phủ nhận khẩu hiệu ban đầu “Mọi con vật sinh ra đều bình đẳng” bằng cách thêm ý mới “Nhưng có một số con bình đẳng hơn những con khác”. Khi chủ nghĩa cộng sản ở Nga và Đông Âu càng ngày càng lộ rõ bộ mặt của một hệ thống “giai cấp mới”, với những đặc quyền phi lý đến lố bịch dành cho giới chóp bu cầm quyền trong khi đa số thường dân cắn răng sống lê sống lết cho hết một kiếp tầm thường, ảnh hưởng đạo đức của tác phẩm Orwell – đơn giản đến mức rất dễ hiểu và dễ dịch, đúng y như ông đã hy vọng – trở thành một trong nhiều động lực không thể định lượng được làm xói mòn chủ nghĩa cộng sản cả về mặt hệ thống lẫn về mặt ý thức hệ. Ảnh hưởng này dần dần lan sang Châu Á. Tôi nhớ một người bạn cộng sản của tôi gọi điện cho tôi từ Trung Quốc khi Đặng Tiểu Bình công bố “những cải cách” mà sau này đã khơi mào cái mà bây giờ chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản Trung Quốc. “Nông dân phải giàu lên”, vị lãnh tụ Đảng tuyên bố, “và một số người sẽ giàu hơn những người khác”. Đồng chí của tôi gọi điện nói rằng có lẽ Orwell suy cho cùng cũng có lý. Đến nay, Trại súc vật vẫn chưa được xuất bản hợp pháp ở Trung Quốc, Miến Điện hay vùng hoang tàn về đạo đức Bắc Triều Tiên, nhưng rồi sẽ đến ngày tác phẩm này xuất hiện ở cả ba xã hội này, nơi mà nó chắc chắn sẽ được chào đón với cảm giác sửng sốt khi người ta nhận thấy nó vẫn còn có khả năng tạo cảm hứng.

In Zimbabwe, as the rule of Robert Mugabe’s kleptocratic clique became ever more exorbitant, an opposition newspaper took the opportunity to reprint Animal Farm in serial form. It did so without comment, except that one of the accompanying illustrations showed Napoleon the dictator wearing the trademark black horn-rimmed spectacles of Zimbabwe’s own leader. The offices of the newspaper were soon afterwards blown up by a weapons-grade bomb, but before too long Zimbabwean children, also, will be able to appreciate the book in its own right.

Ở Zimbabwe, khi ách cai trị của bè lũ tham nhũng thối nát của Robert Mugabe ngày càng trở nên quá sức chịu đựng, một tờ báo đối lập nắm lấy cơ hội in lại Trại súc vật dưới dạng truyện nhiều kỳ. Tờ báo đăng truyện mà không bình phẩm gì, ngoại trừ trường hợp một trong những hình minh họa kèm theo vẽ tên độc tài Napoleon mang cặp kính có gọng sừng đen đặc trưng của chính nhà lãnh đạo Zimbabwe. Tòa soạn tờ báo này ít lâu sau đó bị đánh bom, nhưng chẳng bao lâu nữa trẻ em Zimbabwe cũng sẽ có thể thưởng thức cuốn sách này đúng như bản chất của nó.

In the Islamic world, many countries continue to ban Animal Farm, ostensibly because of its emphasis on pigs. Clearly this can not be the whole reason – if only because the porcine faction is rendered in such an unfavourable light – and under the theocratic despotism of Iran it is forbidden for reasons having to do with its message of “revolution betrayed”.

Ở thế giới Hồi giáo, nhiều nước tiếp tục cấm Trại súc vật, với lý do bề ngoài là sách nhấn mạnh đến lợn. Rõ ràng đây không thể là toàn bộ lý do – nếu chỉ vì bè lũ lợn được khắc họa với một sắc màu rất thiếu thiện cảm – và dưới chế độ chuyên chế thần quyền của Iran, sách bị cấm vì những lý do liên quan đến thông điệp “cách mạng bị phản bội” trong sách.

There is a timeless, even transcendent, quality to this little story. It is caught when Old Major tells his quiet, sad audience of overworked beasts about a time long ago, when creatures knew of the possibility of a world without masters, and when he recalls in a dream the words and the tune of a half-forgotten freedom song. Orwell had a liking for the tradition of the English Protestant revolution, and his favourite line of justification was taken from John Milton, who made his stand “By the known rules of ancient liberty”. In all minds – perhaps especially in those of children – there is a feeling that life need not always be this way, and those malnourished Ukrainian survivors, responding to the authenticity of the verses and to something “absolute” in the integrity of the book, were hearing the mighty line of Milton whether they fully understood it or not.

Câu chuyện nhỏ này có một tính chất vượt thời gian, thậm chí siêu việt. Tính chất này được thể hiện khi Thủ Lĩnh [Old Major] kể cho đám thính giả trầm lặng và buồn bã gồm những súc vật đã làm việc quá sức về một thời xa xưa, khi loài vật biết đến khả năng có một thế giới không có các ông chủ, và khi trong một giấc mơ nó nhớ lại lời và điệu nhạc của một bài hát tự do gần như đã bị lãng quên. Orwell có cảm tình với truyền thống cách mạng Tin Lành ở Anh, và lời biện minh ưa thích của ông được trích từ John Milton, người đã bày tỏ quan điểm “Theo những quy luật đã biết của quyền tự do cổ xưa”[3]. Trong tâm trí tất cả mọi người – có lẽ đặc biệt là trong tâm trí trẻ em – có một cảm nhận là cuộc sống không nhất thiết phải luôn luôn như thế, và những người Ukraina thiếu ăn sống sót qua chiến tranh, khi phản ứng trước tính xác thực của những vần thơ đó và trước điều gì đó ‘tuyệt đối” về tính chính trực của cuốn sách này, đang nghe câu thơ hùng hồn của Milton bất luận họ có hiểu trọn vẹn câu thơ đó hay không.

“Christopher Hitchens re-reads Animal Farm”, The Guardian, 17/4/2010
Translated by Phạm Vũ Lửa Hạ

[1] Cũng như nhiều tính từ phát sinh từ tên riêng của tác giả/học giả/nhân vật lịch sử, ví dụ như  “Machiavellian” và “Freudian”, từ “Orwellian” mang nhiều nội hàm ngữ nghĩa và không thể dịch bằng một từ duy nhất trong tiếng Việt. Do ảnh hưởng lớn từ các tác phẩm của George Orwell, đặc biệt là Một chín tám tư và Trại súc vật, từ “Orwellian” thường dùng để mô tả một chế độ/nhà nước toàn trị và những nỗi kinh hoàng, và những tính chất hủy hoại cuộc sống an lành của một xã hội mở và tự do. (N.D.)

[2] Tên các nhân vật lấy theo bản dịch Trại súc vật của Phạm Minh Ngọc (ở đây). Để tiện theo dõi, tên tiếng Anh được để trong dấu [].(N.D.)

[3] Câu thơ này (By the known rules of ancient liberty) là câu thứ hai trong bài Sonnet XII của nhà thơ Anh John Milton (1608-1674). George Orwell trích lại câu này trong tiểu luận “Tự do Báo chí”. (N.D.)

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn