MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Saturday, June 30, 2012

Why China Can’t Pick Good Leaders Vì sao Trung Quốc không thể chọn được lãnh đạo tốt?




Why China Can’t Pick Good Leaders

Vì sao Trung Quốc không thể chọn được lãnh đạo tốt?

Minxin Pei
Minxin Pei

The Diplomat
June 28, 2012
The Diplomat
28-06-2012

China’s next generation of leaders are expected to be chosen later this year. But factional strength and patronage may well trump talent.


Thế hệ các nhà lãnh đạo kế tiếp của Trung Quốc dự định sẽ được chọn vào cuối năm nay. Nhưng sức mạnh và sự đỡ đầu của các phe phái có thể vượt qua những người có tài.


As China’s top leaders get ready for their summer retreat in Beidaihe, the exclusive beach resort  225 kilometers north of Beijing, the rest of the world remains in the dark about the jockeying for power inside the world’s largest ruling party. By convention, the appointments for the party’s top positions are usually finalized when Chinese leaders escape the oppressive summer heat, pollution, and humidity engulfing Beijing to swim and relax toward the end of July in Beidaihe, known for its cool weather and clean air.


Khi các nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc sẵn sàng cho việc rút lui vào mùa hè này ở Beidaihe, một khu nghỉ mát riêng biệt có bãi biển, khoảng 225 km về phía bắc của Bắc Kinh, các nước còn lại trên thế giới vẫn mù tịt về việc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng cầm quyền lớn nhất thế giới. Theo quy ước, việc bổ nhiệm các vị trí hàng đầu của đảng thường hoàn tất khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc thoát khỏi cái nóng ngột ngạt của mùa hè, sự ô nhiễm, và ẩm ướt nhấn chìm Bắc Kinh, để bơi lội và thư giãn ở Beidaihe vào cuối tháng 7, một nơi được biết đến với khí hậu mát mẻ và không khí trong lành.


The ugly purge of Bo Xilai may have removed a lethal threat to leadership unity at the top for the moment, but that hasn’t ended the fierce competition for the most senior and desirable positions or reduced the uncertainty over the impact of leadership change on China's domestic and foreign policies. Compared with previous leadership transitions, the impending shift is perhaps among the most significant in terms of scope and timing.


Vụ thanh lọc tệ hại, Bạc Hy Lai, có thể tạm thời đã loại bỏ mối đe dọa chết người, để thống nhất trong giới lãnh đạo cao cấp, nhưng điều đó không thể chấm dứt sự tranh giành khốc liệt các chức vụ cao cấp, cũng như các chức vụ mà họ mong muốn hoặc làm giảm sự mơ hồ về tác động của việc thay đổi lãnh đạo liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc. So với quá trình chuyển đổi lãnh đạo trước đây, sự thay đổi sắp xảy ra có lẽ là một trong những thay đổi quan trọng nhất về mức độ và thời gian.


Of the nine members of the Politburo Standing Committee (PSC), seven will retire. There will be seven new faces if the party decides to maintain the PSC’s current size. Should the party reduce the size of the PSC to seven, a move that may streamline decision-making, five new members will be chosen at the next party congress scheduled for the autumn. While analysts have focused most of their attention on the leading contenders for the PSC, the party's most powerful decision-making body, it’s worth noting that the 25-member Politburo itself will have at least 15 fresh faces. Of these, two or three new members under the age of 52 will likely be strong contenders for the party’s top two positions in five years. In other words, this transition will select not just the next generation of leaders, but also identify the promising candidates to succeed Xi Jinping and Li Keqiang, respectively the incoming general secretary of the Communist Party and the premier of the State Council.


Trong số chín ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị (PSC), bảy người sẽ nghỉ hưu. Sẽ có bảy gương mặt mới nếu đảng quyết định duy trì số lượng ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị hiện tại. Nếu đảng giảm số lượng ủy viên Bộ Chính trị xuống còn bảy người, một quyết định có thể giúp sắp xếp lại [ban lãnh đạo] hiệu quả hơn, năm ủy viên mới sẽ được chọn tại đại hội đảng sắp tới, đã lên kế hoạch vào mùa thu. Trong khi các nhà phân tích tập trung toàn bộ sự chú ý vào các ứng viên hàng đầu của Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan có quyền ra các quyết sách quan trọng nhất của đảng, đáng chú ý là trong số 25 ủy viên Bộ Chính trị, sẽ có ít nhất 15 gương mặt mới. Trong số [15 người] này, hai hoặc ba ủy viên mới dưới 52 tuổi, sẽ có khả năng trở thành các đối thủ mạnh cho hai chức vụ hàng đầu của đảng trong 5 năm. Nói cách khác, quá trình chuyển đổi này không những sẽ lựa chọn thế hệ các nhà lãnh đạo kế tiếp, mà còn xác định các ứng viên có triển vọng để kế nhiệm Tập Cận Bình với chức tổng bí thư Đảng Cộng sản và Lý Khắc Cường, chức thủ tướng chính phủ sắp tới.


In terms of timing, the transition is taking place at a critical juncture of the party’s rule.  Economically, the much-hyped “China Model” is seen as exhausted. Economic growth is slowing, due to slumping exports and weak final domestic demand. Huge risks in the financial system are piling up. The real estate sector is on the brink of a spectacular bust. Most sensible people, including those inside the government, have realized that growth driven by investment and export can no longer continue. Difficult structural reforms await the next leadership.


Về vấn đề thời gian, sự chuyển giao quyền lực đang diễn ra vào thời điểm quan trọng trong việc cầm quyền của đảng. Về mặt kinh tế, “Mô hình Trung Quốc” được phóng đại, bị xem như kiệt sức. Tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, do xuất khẩu sụt giảm cũng như nhu cầu nội địa thấp. Các rủi ro rất lớn trong hệ thống tài chính đang chồng chất. Lĩnh vực bất động sản thì đang trên bờ vực phá sản. Những người có óc xét đoán nhất, gồm cả những người bên trong chính phủ, đã nhận ra rằng, không thể tiếp tục tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu. Cải cách cơ cấu khó khăn đang chờ đợi ban lãnh đạo kế tiếp.


Politically, the Bo affair has revealed the deep rift within the ruling elites over the distribution of power and protection of their private interests. Elite unity, the glue holding together the regime, has shown signs of fraying. Chinese citizens increasingly want to have a say in how the country is governed. Despite the party’s costly censorship system, the spread of the information revolution, particularly Weibo, the Chinese version of the Twitter, is challenging the authority of the party.  Dissidents have become more defiant, as the example of Chen Guangcheng’s daring escape from illegal house detention in late April shows. Calls for democracy and political reform, long suppressed by the party, have resurfaced in the Chinese media.   These are the warning signs that the post-1989 political paradigm, which combines selective repression with promises of ever-rising standards of living, is about to unravel.


Về mặt chính trị, sự kiện Bạc Hy Lai đã tiết lộ những rạn nứt sâu kín bên trong giới cầm quyền trong việc phân chia quyền lực và bảo vệ lợi ích cá nhân của họ. Đoàn kết trong giới lãnh đạo cao cấp là chất keo gắn kết mọi người trong chế độ lại với nhau, cho thấy có các dấu hiệu xung đột. Người dân Trung Quốc ngày càng muốn có tiếng nói vệ việc đất nước được điều hành như thế nào. Mặc dù hệ thống kiểm duyệt của đảng tốn kém, nhưng sự lây lan của cuộc cách mạng thông tin, đặc biệt là Weibo, phiên bản Twitter của Trung Quốc, thách thức quyền lực của đảng. Bất đồng chính kiến càng trở nên thách thức hơn, như trường hợp trốn thoát táo bạo của ông Trần Quang Thành, thoái khỏi sự quản chế bất hợp pháp tại gia hồi cuối tháng 4. Các lời kêu gọi dân chủ và cải cách chính trị, từ lâu bị đảng đàn áp, đã xuất hiện trở lại trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc. Đây là những dấu hiệu cảnh báo mô hình chính trị sau [sự kiện Thiên An Môn] năm 1989, kết hợp đàn áp có chọn lọc với những lời hứa luôn gia tăng mức sống, sắp sửa được làm sáng tỏ.


So the question is whether the new leaders are up to these challenges?


Cho nên câu hỏi được đặt ra là, liệu các nhà lãnh đạo mới có chuẩn bị cho những thách thức này không?

In the eyes of most Western elites, businessmen and politicians alike, Chinese leaders are practically synonymous with “smart, capable, dynamic, decisive, and forward looking.” Many of them are impressed, usually after relatively brief meetings, by the perceived sophistication, intelligence, and leadership skills of Chinese officials.

Dưới mắt của giới ưu tú phương Tây thì doanh nhân và chính trị gia đều như nhau, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực tế đồng nghĩa với “thông minh, có khả năng [lãnh đạo], năng động, quyết định, và hướng tới tương lai”. Thường sau các cuộc họp tương đối ngắn, nhiều người trong số họ có ấn tượng, qua cảm nhận về sự tinh tế, thông minh và kỹ năng lãnh đạo của các quan chức Trung Quốc.

The truth is, of course, quite different.  Compared with their revolutionary predecessors, the current generation of leaders is obviously better educated, younger, culturally more sophisticated. But does the current system in China actually promote the most capable leaders to the top? Can such leaders actually govern effectively once installed?

Dĩ nhiên, sự thật thì hoàn toàn khác. So với những nhà lãnh đạo cách mạng tiền nhiệm của họ, thế hệ các nhà lãnh đạo hiện tại rõ ràng là được giáo dục tốt hơn, trẻ hơn, văn hóa tinh tế hơn. Nhưng hệ thống hiện tại ở Trung Quốc có thực sự thúc đẩy các nhà lãnh đạo có khả năng nhất lên nắm các chức vụ hàng đầu hay không? Các lãnh đạo như thế có thể thực sự lãnh đạo một cách hiệu quả khi được đưa vào [nắm giữ các chức vụ hàng đầu]?


Evidence based on academic research and press reports in China suggest that personal patronage and factional strength, not demonstrated achievements, are far more important in the selection of top leaders than objective factors such as record of administration. For example, Victor Shih of the University of California in San Diego and his collaborators combed through extensive personnel data and local economic growth rates to find whether promotion of officials in China actually depends on their demonstrated ability to deliver economic growth.  Their conclusion is that political patronage (specifically ties with powerful leaders), not growth rates, determines promotion.

Bằng chứng dựa vào các nghiên cứu và tin tức từ báo chí ở Trung Quốc, cho thấy rằng, thay vì chứng minh những thành tựu đã đạt được, sự đỡ đầu cá nhân và sức mạnh phe phái thì quan trọng hơn nhiều trong việc lựa chọn các nhà lãnh đạo hàng đầu, so với các yếu tố khách quan như lý lịch điều hành công việc. Ví dụ, Victor Shih thuộc Đại học San Diego (UCSD) và các cộng sự của ông đã nghiên cứu kỹ các dữ liệu hồ sơ nhân sự tổng quát và tốc độ tăng trưởng kinh tế nội địa để tìm xem việc thăng tiến của các quan chức ở Trung Quốc có thực sự phụ thuộc vào khả năng của họ là làm cho kinh tế tăng trưởng hay không. Kết luận của nhóm nghiên cứu là, sự đỡ đầu chính trị (đặc biệt các mối quan hệ với các nhà lãnh đạo đầy quyền lực), quyết định việc thăng tiến, thay vì tốc độ tăng trưởng.


This finding equally applies to the selection of top leaders. With a small number of exceptions, most candidates slated for top positions in the PSC and the Politburo don’t have records that inspire confidence and admiration. Other than the most strict and objective limit – their age – the only factor that influences their chances of being elevated to the top is whether they have powerful backers.


Phát hiện này tương tự cũng đúng trong việc lựa chọn của các nhà lãnh đạo hàng đầu. Với một số ít trường hợp ngoại lệ, hầu hết các ứng viên dự kiến sẽ vào các chức vụ hàng đầu trong Ban Thường vụ và Bộ Chính trị, không có lý lịch có thể truyền cảm hứng về sự tự tin và sự ngưỡng mộ [của người dân]. Ngoài các giới hạn nghiêm ngặt nhất và giới hạn khách quan như độ tuổi của họ, yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến cơ hội để họ được vào các chức vụ hàng đầu là liệu những người ở đằng sau họ có quyền hành mạnh mẽ để ủng hộ họ hay không.


Political patronage at the top in the leadership transition process can only produce a fragile coalition, cobbled together through bargaining and horse-trading. Key appointments are made not based on individual competence or proven record, but on personal loyalty and considerations of how such appointments help balance the distribution of power among factions. Under such circumstances, mismatch of skill sets and policy portfolios is the norm, not the exception.


Việc đỡ đầu chính trị cho các chức vụ hàng đầu trong quá trình thay đổi lãnh đạo chỉ có thể sản sinh một liên minh mong manh, sắp đặt mọi thứ lại với nhau một cách cẩu thả, thông qua các cuộc thương lượng và mặc cả. Những bổ nhiệm quan trọng được thực hiện không dựa trên năng lực cá nhân hoặc thành tích đã được chứng minh, mà dựa vào sự trung thành cá nhân và những cất nhắc về việc bổ nhiệm như thế có thể giúp cân bằng sự phân chia quyền lực giữa các phe phái như thế nào. Những trường hợp như thế, vai trò của những người làm chính sách không phù hợp với các kỹ năng của họ, vẫn thường xảy ra, không phải là trường hợp ngoại lệ.


But the most damaging effect of this Byzantine system of leadership selection is that it inevitably results in a collective leadership prone to factional compromise, even policy paralysis. The fact that China has failed to undertake much-needed economic reforms to rebalance the economy in the previous decade must be attributed to such a fundamentally flawed system of picking leaders.


Tuy nhiên, hậu quả tai hại nhất của hệ thống lựa chọn lãnh đạo phức tạp này là, chắc chắn kết quả của sự lãnh đạo tập thể nghiêng về sự thỏa hiệp giữa các phe phái, thậm chí làm tê liệt chính sách. Thực tế là Trung Quốc đã thất bại trong việc thực hiện các cải cách kinh tế cần thiết để tái cân bằng lại nền kinh tế trong thập kỷ trước đó, về căn bản phải được quy cho hệ thống rạn nứt trong việc chọn lãnh đạo như thế.


To be fair to the Communist Party, such political pathology is not unique to China. All autocratic regimes without strongman rule pick leaders through oligarchic bargaining, with predictable outcomes: these regimes ossify and ultimately fall from power.


Để công bằng đối với Đảng Cộng sản, căn bệnh chính trị này không chỉ xảy ra đối với riêng Trung Quốc. Tất cả các chế độ độc tài không có nguyên tắc vững chắc trong việc chọn lãnh đạo, mà thông qua độc quyền mặc cả, với kết quả có thể tiên đoán là: các chế độ này trở nên cứng nhắc và cuối cùng sẽ bị rơi khỏi quyền lực.


It’s doubtful whether Chinese leaders are willing to do anything to change the current system, even though they must be aware of its fatal flaws. So the Beidaihe summer conclave will produce plenty of suspense and drama, but not the right leaders for steering China in a different direction.
Không chắc liệu các nhà lãnh đạo Trung Quốc có sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thay đổi hệ thống hiện tại hay không, mặc dù họ nhận thấy những sai sót chết người đó. Cho nên hội nghị vào mùa hè này ở Beidaihe sẽ cho ra nhiều màn hồi hộp và đầy kịch tích, thay vì cho ra những nhà lãnh đạo đúng đắn, chỉ đạo Trung Quốc đi theo một hướng khác.





Minxin Pei is a professor of government at Claremont McKenna College. His research has been published in Foreign Policy, Foreign Affairs, The National Interest, Modern China, China Quarterly, Journal of Democracy and many edited books and his op-eds have appeared in the Financial Times, New York Times, Washington Post, Newsweek International, and International Herald Tribune, and other major newspapers.

Minxin Pei là một giáo sư về chính phủ học ở Claremont McKenna College. Nghiên cứu của ông đã được xuất bản trên các tạp chí Foreign Policy, Foreign Affairs, The National Interest, Modern China, China Quarterly, Journal of Democracy and many edited books and his op-eds have appeared và nhiều ấn phẩm khác đã xuất hiện trên các tờ Financial Times, New York Times, Washington Post, Newsweek International, và International Herald Tribune, và các tờ báo lớn khác.


Translated by Dương Lệ Chi

http://thediplomat.com/author/minxin/

Guarding the guardians Canh gác người canh gác




The party makes sure that the people who guarantee its rule are themselves under tight control

Đảng muốn chắc chắn những người thi hành mệnh lệnh phải bị kiểm soát chặt chẽ



Guarding the guardians

Canh gác người canh gác

The Economist
Jun 30th 2012
The Economist
30/6/2012


CHINA’S leaders, it seems, are stepping up the policing of the police who help secure their rule. In the provinces police chiefs are being put more firmly under the Communist Party’s thumb. Some liberals detect in this a sign of possible reform in the way the party polices China’s citizens. More probable, however, is that after a season of tumult, the control of the police force itself is now under scrutiny. China’s vast and costly domestic-security apparatus is still behaving as aggressively as ever.


Dường như các lãnh đạo Trung Quốc đang gia tăng kiểm soát lực lượng an ninh đang bảo vệ quyền hành của đảng. Tại các tỉnh thành, các cảnh sát trưởng đang bị xiết chặt hơn dưới bàn tay của Đảng Cộng sản. Vài nhà cấp tiến phát hiện ra rằng, đây là dấu hiệu của sự thay đổi về chính sách kiểm soát người dân Trung Quốc của Đảng. Tuy nhiên, có khả năng là sau một thời gian xáo trộn, chính việc kiểm soát lực lượng cảnh sát hiện đang được xem xét kỹ lưỡng. Bộ máy an ninh quốc nội to lớn và tốn kém của Trung Quốc vẫn hành động một cách hung hăng như thuở nào.


In the run-up to this autumn’s Communist Party Congress, at which China will change its most senior leaders for the first time in ten years, provincial- and lower-level party committees have already been revamped. In the process, provincial chiefs of police are being taken down a peg.

Trong thời gian sắp tới ngày Đại hội Đảng Cộng sản vào mùa thu năm nay, thời điểm Trung Quốc sẽ thay đổi các lãnh đạo cao cấp nhất lần đầu tiên trong vòng 10 năm, các chi bộ đảng cấp tỉnh và thấp hơn đã được thay đổi. Trong tiến trình đó, các cảnh sát trưởng của tỉnh đang bị kiềm chế.


First, they are being dropped as leaders of the party’s “political-legal” committees, which oversee the police, courts and prosecutors. These committees have enormous power. The security forces they oversee are not just officers of the law but guardians of Communist rule. In recent years they have faced a series of crises, such as ethnically charged unrest in the regions of Tibet, Xinjiang and Inner Mongolia, and challenges from lawyers and activists. Their response has been to crackdown, often with mass detentions; some detainees disappear.


Trước tiên, họ bị tước bỏ chức lãnh đạo ủy ban “chính trị-pháp luật” của đảng, có nhiệm vụ giám sát cảnh sát, tòa án và viện kiểm sát. Các ủy ban này có quyền hành rất lớn. Lực lượng an ninh mà họ coi sóc không chỉ là những viên chức an ninh mà còn là những kẻ bảo vệ sự cai trị của đảng. Trong những năm gần đây, họ đối diện với một loạt khủng khoảng, như bất ổn sắc tộc ở các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông, và những thách thức từ giới luật sư và các nhà hoạt động. Sự đáp trả của họ là đàn áp, thường đi kèm với các vụ bắt bớ tập thể; vài người bị bắt đã biến mất.


According to Southern Weekend, a Chinese newspaper, the party’s organisation department decreed in 2010 that political-legal committee heads should no longer double as police chiefs. The paper seems to have been right, at least about the trend. Of the 30 secretaries of provincial political-legal committees chosen this year, only nine are police chiefs, down from 13 out of 31 less than five years ago. And—unthinkable until recently—in Guangdong province in the south and Qinghai in the west, not one of the 29 police chiefs at the administrative tier below the province, the prefecture, is also the political-legal head.


Theo tuần báo Trung Quốc, Southern Weekend, năm 2010, vụ tổ chức [các bộ] của đảng đã ban hành sắc lệnh, chủ tịch ban chính trị-pháp luật không được kiêm thêm chức cảnh sát trưởng. Tuần báo này nói đúng, ít nhất về chiều hướng [thay đổi]. Trong số 30 bí thư của ủy ban chính trị-pháp luật tỉnh được chọn năm nay, chỉ có 9 người là cảnh sát trưởng, giảm từ 13 so với 31 người cách đây gần 5 năm. Và điều không thể tưởng tượng được cho tới gần đây, tỉnh Quảng Đông, miền nam [Trung Quốc] và tỉnh Thanh Hải, miền tây [Trung Quốc], không có một người nào trong số 29 cảnh sát trưởng thuộc bộ phận hành chánh bên dưới cấp tỉnh, tức cấp quận, kiêm chức bí thư ủy ban chính trị-pháp luật.


A corollary of this trend is a second blow to the police chiefs’ standing: they are also being denied places on the Communist Party’s regional standing committees. These rule the provinces much as the nine-member Politburo standing committee in Beijing rules China as a whole. Of the 30 provincial-level committees named so far this year (ie, all except Beijing’s, whose congress begins on June 29th), only ten include the regional police chief, down from 14 less than five years ago. This change makes the provincial set-up look more like that in the central party and government, where the minister of public security, Meng Jianzhu, is not on the 24-member Politburo, let alone the standing committee.


Một hệ quả của xu hướng này là một cú đánh vào vị thế cảnh sát trưởng: họ cũng không được xếp vào ủy ban thường vụ khu vực của Đảng Cộng sản. Các ủy ban này điều hành các tỉnh thành giống như 9 ủy viên Ban Thường vụ Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung quốc cai trị toàn bộ đất nước Trung Quốc. Trong số 30 [bí thư] ủy ban chính trị-pháp luật cấp tỉnh đã được chỉ định năm nay (nghĩa là tất cả các tỉnh thành, ngoại trừ ở Bắc Kinh, nơi mà đại hội bắt đầu vào ngày 29 tháng 6), chỉ có 10 bí thư kiêm chức cảnh sát trưởng, giảm xuống từ 14 người cách đây gần 5 năm. Sự thay đổi này làm cho cơ cấu tổ chức tỉnh thành giống như trung ương đảng và chính phủ, nơi mà Bộ trưởng Công an Mạnh Kiến Trụ không phải là một trong 24 ủy viên của Bộ Chính trị, chứ đừng nói tới [ủy viên] Ban Thường vụ.


One reason to think the power of the police is on the wane is the recent decline in the fortunes of the central political-legal chief, Zhou Yongkang. Mr Zhou was party secretary at the ministry of public security from 2002-07, before becoming the Politburo’s man in charge of domestic security—secret police and all. He was an ally of Bo Xilai, a fellow Politburo member, until Mr Bo was purged earlier this year.


Một lý do để nghĩ rằng quyền hành công an đang trên đà suy giảm, là sự suy sụp gần đây của Chu Vĩnh Khang, bí thư ủy ban chính trị- pháp luật trung ương. Ông Chu là bí thư của bộ công an từ năm 2002 – 2007, trước khi trở thành người của Bộ Chính trị, phụ trách an ninh quốc nội – công an mật vụ và tất cả các ngành liên hệ. Ông là một đồng minh với Bạc Hy Lai, là ủy viên Bộ Chính trị, cho tới khi ông Bạc bị thanh lọc đầu năm nay.


Mr Zhou, who is said to have backed Mr Bo to succeed him, has presided over heady days for the men and women in blue (and plainclothes). China’s domestic-security budget has surged to an astonishing $110 billion a year, larger than declared defence spending. Some party rivals must surely have chafed at such a grab for power and money, and grumbled privately about Mr Zhou’s effectiveness. After all, the number of destabilising protests across China has continued to climb, to as high as 180,000 in 2010, by one estimate.


Ông Chu, người được cho là đã hỗ trợ ông Bạc để thay thế chức vụ của ông, đã chỉ huy các nhân viên an ninh áo xanh (và thường phục) trong những ngày tháng xáo trộn. Ngân sách an ninh quốc nội của Trung Quốc đã tăng lên đến con số kinh ngạc là 110 tỷ đô la một năm, lớn hơn chi tiêu quốc phòng đã được công bố. Vài đối thủ trong đảng hẳn phải ganh ghét với sự sở hữu quyền lực và số tiền đó, và kín đáo phàn nàn về hiệu quả làm việc của ông Chu. Cuối cùng, số lượng những cuộc biểu tình gây bất ổn khắp Trung Quốc tiếp tục gia tăng, tới mức 180.000 vụ trong năm 2010, theo một nguồn tin ước đoán.


No senior leader has argued in public, however, that the rise of the security state has been counterproductive. Wen Jiabao, the prime minister, who presents himself as reform-minded, may have opposed Mr Zhou’s preference for the iron fist. But if so, he was outnumbered. Police and security powers have steadily expanded at the expense of legal procedure, the courts, prosecutors and even other party leaders. Their leadership of the political-legal committees, which are charged with balancing the interests of the police, courts and prosecutors, enhanced the police chiefs’ scope to sidestep formal institutions. Lofty hopes for the rule of law have repeatedly dashed against the rocks of the security state.


Tuy nhiên, không có lãnh đạo cao cấp nào tuyên bố công khai rằng sự gia tăng lực lượng an ninh chính phủ trở nên phản tác dụng. Thủ tướng Ôn Gia Bảo, người tự cho là có đầu óc cải cách, có lẽ chống đối khuynh hướng bàn tay sắt của ông Chu. Nhưng nếu chống đối như thế, thì ông đã bị áp đảo. Quyền hành của cảnh sát và an ninh đã từ từ mở rộng, lấn át quy trình luật pháp, tòa án, công tố và ngay cả những lãnh đạo đảng khác. Sự lãnh đạo của họ (lực lượng an ninh) trong ủy ban chính trị- pháp luật, với nhiệm vụ cân bằng quyền lợi của cảnh sát, tòa án và các công tố, đã gia tăng quyền hạn của các cảnh sát trưởng để né tránh quy trình luật pháp. Những hy vọng hão huyền về pháp trị liên tục đụng phải những tảng đá của lực lượng an ninh.




Cheng Li, an expert on Chinese elite politics at the Brookings Institution, a Washington think-tank, says police power grew partly because Mr Zhou lacked powerful rivals in China’s “collective leadership” system; partly in response to the threat posed by lawyers and activists keen to use the law against the party; and partly in reaction to the crises of unrest.


Ông Cheng Li, một chuyên gia nghiên cứu về chính trị trong giới cao cấp Trung Quốc, thuộc Viện Brookings, một viện nghiên cứu ở Washington (Hoa Kỳ), nói rằng quyền lực cảnh sát lớn mạnh một phần do ông Chu thiếu đối thủ mạnh trong hệ thống “lãnh đạo tập thể”; một phần để đáp trả lại mối đe dọa từ các luật sư và các nhà hoạt động chuyên dùng luật pháp để chống lại đảng, và một phần để đối phó với các cuộc khủng hoảng do bất ổn.


Until this year each perceived new challenge to party rule seemed to bolster Mr Zhou’s personal standing. As central political-legal chief, he is also in charge of state security and shadowy irregular units, including the 610 Office, which was created in 1999 to crush the Falun Gong spiritual movement and remains active today.


Cho tới năm nay, một cảm nhận về thách thức mới đối với sự cầm quyền của đảng dường như ủng hộ vị thế cá nhân của ông Chu hơn. Với chức vụ bí thư ủy ban chính trị- pháp luật trung ương, ông ta cũng chịu trách nhiệm về vấn đề an ninh của đất nước và những đơn vị bất thường trong bóng tối, gồm Phòng 610, được thành lập vào năm 1999, để đàn áp phong trào Pháp Luân Công và [văn phòng này] vẫn còn hoạt động cho tới nay.


The security strategy itself has not changed this year. But Mr Zhou seems a diminished figure. A turning-point came in February when Wang Lijun, the former police chief of the south-western municipality of Chongqing, briefly took refuge in an American consulate. That was one tile in a tumble of dominoes that ended the career of Mr Bo, Chongqing’s party secretary.


Chiến lược an ninh vẫn không thay đổi trong năm nay. Nhưng ông Chu có vẻ là một nhân vật mờ nhạt. Một bước ngoặt quyết định đã đến vào tháng 2, khi Vương Lập Quân, cảnh sát trưởng thành phố Trùng Khánh, miền tây nam [Trung Quốc], đã ẩn náu một thời gian ngắn ngủi tại lãnh sự quán Hoa Kỳ. Đó là một miếng gạch trong sự sụp đổ dây chuyền đã chấm dứt sự nghiệp của ông Bạc, bí thư thành ủy Trùng Khánh.


Mr Zhou’s record, damaged by his links to Mr Bo, was further besmirched in April, when Chen Guangcheng, a blind legal activist, escaped from his home in Shandong province, where he was being detained—illegally—by the authorities. The episode highlighted the extralegal powers of the security forces, which had hired thugs to guard and intimidate Mr Chen and his family, and to keep well-wishers at bay, sometimes by beating them up. The political-legal chief and the police chief in Shandong were both soon sacked. Reformers took this as a hopeful sign, but it was hardly surprising: when Mr Chen also sought American protection, the incident became a national embarrassment.


Hồ sơ của ông Chu bị tổn hại do các mối liên hệ với ông Bạc, lại càng bị lem luốc hơn vào tháng 4, khi ông Trần Quang Thành, một nhà hoạt động pháp lý khiếm thị, trốn khỏi nhà của ông ở tỉnh Sơn Đông, nơi ông bị nhà cầm quyền giam giữ bất hợp pháp. Câu chuyện này đã làm nổi bật vấn đề quyền hành của lực lượng an ninh cao hơn cả luật pháp, như lực lượng an ninh đã từng thuê mướn côn đồ để canh giữ và đe dọa ông Trần và gia đình ông, và ngăn cản những người tới thăm ông, bằng cách thỉnh thoảng đánh đập họ. Bí thư ủy ban chính trị-pháp luật và cảnh sát trưởng ở Sơn Đông chẳng bao lâu sau đã bị sa thải. Những nhà cải cách xem đây như một dấu hiệu đầy hy vọng, nhưng điều này không có gì đáng ngạc nhiên là: khi ông Trần tìm kiếm sự bảo vệ từ người Mỹ, thì sự cố này đã trở thành một điều xấu hổ cho đất nước [Trung Quốc].


There is much speculation in Beijing as to whether the successor to Mr Zhou as political-legal chief to be named this autumn will also join the new Politburo standing committee. Mr Li of Brookings and Fu Hualing of the University of Hong Kong believe that the system of political-legal committees will eventually be abolished as a step towards the rule of law. That reform, however, does not seem imminent.


Có nhiều sự đồn đoán ở Bắc Kinh, liệu người kế vị ông Chu với chức vụ bí thư ủy ban chính trị-pháp luật sẽ được chỉ định vào mùa thu này, có được vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị mới hay không. Ông Li thuộc viện Brookings và ông Fu Hualing thuộc Đại học Hong Kong tin rằng, hệ thống ủy ban chính trị-pháp luật rốt cuộc sẽ bị phế bỏ như một bước tiến tới tinh thần pháp trị. Tuy nhiên, sự cải cách đó dường như vẫn chưa sắp xảy ra.


Put simply, it looks as if China’s police chiefs are being reminded who is in charge. In the same vein, since the downfall of Mr Bo, who counts some army generals among his friends, party leaders have also repeatedly reminded the army that its master is the Communist Party, not the state, let alone any individual.


Một cách đơn giản, có vẻ như các cảnh sát trưởng của Trung Quốc đang được nhắc nhở rằng ai là người [thực sự] nắm quyền. Trong cùng ý hướng, từ sự thất thế của ông Bạc, người có vài người bạn là tướng lãnh quân đội, lãnh đạo đảng cũng liên tục nhắc nhở quân đội rằng người chỉ huy của quân đội là Đảng Cộng sản, không phải chính phủ, chứ đừng nói tới bất kỳ cá nhân nào.


Out of the barrel of the party

The dilemma for the party, as Mr Li sees it, is that the very factors that threaten the party and made Mr Zhou and the security state powerful still exist: “If you reduce the spending on police, on security, then how to deal with the possible protests?” So murky units such as the 610 Office, whose members have surfaced, for example, in Mr Chen’s security cordon, still thrive. Ai Weiwei, a dissident and artist who was detained in irregular fashion last year by police, says security officers can be vague about precisely which branch of the party-state they work for. One way or another, though, they do the same job. Communist Party leaders cling tightly to their security state, even as they struggle to control it.
Ra khỏi nòng súng của đảng

Như ông Li nhận thấy, thế khó xử của đảng là, các yếu tố đe dọa đảng và làm ông Chu và bộ máy an ninh chính phủ có nhiều quyền hành thì vẫn còn đó: “Nếu anh cắt giảm chi tiêu của cảnh sát, an ninh, thì anh đối phó với các cuộc biểu tình thế nào?” Vì thế những đơn vị bí mật như Phòng 610, mà các thành viên đã tiết lộ, ví dụ như hàng rào an ninh canh giữ ông Trần vẫn phát triển. Ngải Vị Vị, một người bất đồng chính kiến và là họa sĩ, đã bị cảnh sát giam giữ một cách bất thường hồi năm ngoái, nói rằng, các nhân viên an ninh có thể không biết chính xác họ làm việc cho bộ phận nào của đảng và nhà nước. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, họ làm cùng công việc. Các lãnh đạo Đảng Cộng sản bám chặt bộ máy an ninh nhà nước, ngay cả khi họ cố gắng kiểm soát nó.






Translated by Trần Văn Minh




http://www.economist.com/node/21557760

The Future of American Power TƯƠNG LAI CỦA SỨC MẠNH MỸ



The Future of American Power

TƯƠNG LAI CỦA SỨC MẠNH MỸ

By Joseph S. Nye Jr.
Foreign Affair Nov-Dec/2010
Joseph S. Nye Jr.
Foreign Affair 11-12/2010

Dominance and Decline in Perspective
Triển vọng thống soái hay suy thoái


The twenty-first century began with a very unequal distribution of power resources. With five percent of the world's population, the United States accounted for about a quarter of the world's economic output, was responsible for nearly half of global military expenditures, and had the most extensive cultural and educational soft-power resources. All this is still true, but the future of U.S. power is hotly debated. Many observers have interpreted the 2008 global financial crisis as the beginning of American decline. The National Intelligence Council, for example, has projected that in 2025, "the U.S. will remain the preeminent power, but that American dominance will be much diminished."


Thế kỷ 21 bắt đầu bằng một sự phân phối rất không đồng đều các nguồn lực sức mạnh. Với 5 phần trăm dân số thế giới, Mỹ chiếm khoảng một phần tư sản lượng kinh tế toàn cầu, chịu trách nhiệm đối với gần một nửa chi phí quân sự toàn cầu, và có các nguồn lực sức mạnh mềm văn hoá và giáo dục rộng lớn nhất. Tất cả điều này vẫn đúng, nhưng tương lai của sức mạnh Mỹ được tranh luận một cách sôi nổi. Nhiều nhà quan sát đã lý giải cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 như là khởi đầu cho sự suy đoán của Mỹ. Chẳng hạn, Hội đồng Tình báo quốc gia đã dự đoán rằng vào năm 2025, “Mỹ sẽ vẫn là cường quốc ưu việt, nhưng ưu thế đó của Mỹ sẽ bị giảm đi nhiều”.


Power is the ability to attain the outcomes one wants, and the resources that produce it vary in different contexts. Spain in the sixteenth century took advantage of its control of colonies and gold bullion, the Netherlands in the seventeenth century profited from trade and finance, France in the eighteenth century benefited from its large population and armies, and the United Kingdom in the nineteenth century derived power from its primacy in the Industrial Revolution and its navy. This century is marked by a burgeoning revolution in information technology and globalization, and to understand this revolution, certain pitfalls need to be avoided.

Sức mạnh là khả năng đạt được những kết quả mà người ta mong muốn, và các nguồn lực tạo ra nó thay đổi trong những bối cảnh khác nhau. Tây Ban Nha trong thế kỷ 16 đã tận dụng quyền kiểm soát của mình đối với các thuộc địa và váng nén, Hà Lan trong thế kỷ 17 đã hưởng lợi từ thương mại và tài chính, Pháp trong thế kỷ 18 đã hưởng lợi từ dân số và quân đội to lớn của mình, và Anh trong thế kỷ 19 đã tìm được sức mạnh từ sự ưu việt của mình trong Cách mạng Công nghiệp và hải quân của nước này. Thế kỷ này được đánh dấu bằng một cuộc cách mạng phát triển nhanh chóng trong công nghệ thông tin và toàn cầu hoá, và để hiểu cuộc cách mạng này, cần phải tránh một số cạm bẫy.


First, one must beware of misleading metaphors of organic decline. Nations are not like humans, with predictable life spans. Rome remained dominant for more than three centuries after the peak of its power, and even then it did not succumb to the rise of another state. For all the fashionable predictions of China, India, or Brazil surpassing the United States in the next decades, the greater threat may come from modern barbarians and nonstate actors. In an information-based world, power diffusion may pose a bigger danger than power transition. Conventional wisdom holds that the state with the largest army prevails, but in the information age, the state (or the nonstate actor) with the best story may sometimes win.


Thứ nhất, người ta phải thận trọng trước những phép ẩn dụ gây hiểu lầm của sự suy thoái hữu cơ. Các quốc gia không giống như con người, với tuổi thọ có thể dự đoán được. La Mã vẫn thống trị trong hơn ba thế kỷ sau thời kỳ đỉnh cao quyền lực của mình, và thậm chí khi đó nó đã không khuất phục trước sự trỗi dậy của một nhà nước khác. Mặc dù những dự đoán có vẻ hợp thời về việc Trung Quốc, Ấn Độ hay Braxin vượt qua Mỹ trong những thập kỷ tới, mối đe doạ lớn hơn có thể đến từ những người man di hiện đại và những bên tham gia không phải nhà nước. Trong một thế giới dựa trên thông tin, sự khuếch tán sức mạnh có thể tạo ra một nguy cơ lớn hơn sự chuyển tiếp quyền lực. Sự hiểu biết thông tin thường cho rằng nhà nước với quân đội lớn nhất chiếm ưu thế, nhưng trong thời đại thông tin, nhà nước (hoặc bên tham gia không phải nhà nước) với câu chuyện hay nhất có thể đôi khi giành chiến thắng.


Power today is distributed in a pattern that resembles a complex three-dimensional chess game. On the top chessboard, military power is largely unipolar, and the United States is likely to retain primacy for quite some time. On the middle chessboard, economic power has been multipolar for more than a decade, with the United States, Europe, Japan, and China as the major players and others gaining in importance. The bottom chessboard is the realm of transnational relations. It includes nonstate actors as diverse as bankers who electronically transfer funds, terrorists who traffic weapons, hackers who threaten cybersecurity, and challenges such as pandemics and climate change. On this bottom board, power is widely diffused, and it makes no sense to speak of unipolarity, multipolarity, or hegemony.


Ngày nay sức mạnh được phân bổ trong một mô hình giống như một ván cờ ba chiều phức tạp. Trên bàn cờ đầu, sức mạnh quân sự phần lớn là đơn cực, và Mỹ có thể giữ vị trí hàng đầu trong khoảng một thời gian. Ở bàn cờ giữa, sức mạnh kinh tế đã là đa cực trong hơn một thập kỷ, với Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc như là những bên tham gia chủ yếu và những nước khác đang có được tầm quan trọng. Bàn cờ bên dưới là lĩnh vực của các mối quan hệ xuyên quốc gia. Nó bao gồm các bên tham gia không phải nhà nước đa dạng như các chủ ngân hàng chuyển tiền bằng điện tử, những phần tử khủng bố buôn bán vũ khí, những hacker đe doạ an ninh mạng, và những thách thức như bệnh dịch và biến đổi khí hậu. Ở bàn cờ bên dưới này, sức mạnh bị khuếch tán một cách rộng rãi, và không có ý nghĩa gì khi đề cập đến đơn cực, đa cực hay bá quyền.


In interstate politics, the most important factor will be the continuing return of Asia to the world stage. In 1750, Asia had more than half the world's population and economic output. By 1900, after the Industrial Revolution in Europe and the United States, Asia's share shrank to one-fifth of global economic output. By 2050, Asia will be well on its way back to its historical share. The rise of China and India may create instability, but this is a problem with precedents, and history suggests how policies can affect the outcome.


Trong hoạt động chính trị liên nhà nước, nhân tố quan trọng nhất sẽ là sự trở lại tiếp tục của châu Á trên vũ đài thế giới. Vào năm 1750, châu Á đã chiếm hơn một nửa dân số và sản lượng kinh tế của thế giới. Cho đến năm 1900, sau cuộc Cách mạng Công nghiệp ở châu Âu và Mỹ, phần đóng góp của châu Á thu hẹp lại còn một phần năm sản lượng kinh tế toàn cầu. Đến năm 2050, châu Á sẽ trên con đường trở lại phần đóng góp lịch sử của mình. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ có thể tạo ra sự bất ổn, nhưng đây là một vấn đề với những tiền lệ, và lịch sử cho thấy các chính sách có thể ảnh hưởng đến kết quả như thế nào.


HEGEMONIC DECLINE?

It is currently fashionable to compare the United States' power to that of the United Kingdom a century ago and to predict a similar hegemonic decline. Some Americans react emotionally to the idea of decline, but it would be counterintuitive and ahistorical to believe that the United States will have a preponderant share of power resources forever. The word "decline" mixes up two different dimensions: absolute decline, in the sense of decay, and relative decline, in which the power resources of other states grow or are used more effectively.

Sự suy giảm bá quyền?

Hiện nay là hợp thời khi so sánh sức mạnh của Mỹ với sức mạnh của Anh cách đây một thế kỷ và dự đoán một sự suy giảm bá quyền tương tự. Một số người Mỹ phản ứng một cách cảm tính đối với ý tưởng về sự suy thoái, nhưng sẽ là khác thường và không mang tính lịch sử khi tin rằng Mỹ sẽ mãi mãi có một phần vượt trội trong các nguồn lực sức mạnh. Từ “suy thoái” pha trộn hai khía cạnh khác nhau: suy thoái tuyệt đối, theo nghĩa suy tàn, và suy thoái tương đối, trong đó các nguồn lực sức mạnh của những nhà nước khác tăng lên và được sử dụng hiệu quả hơn.


The analogy with British decline is misleading. The United Kingdom had naval supremacy and an empire on which the sun never set, but by World War I, the country ranked only fourth among the great powers in its share of military personnel, fourth in GDP, and third in military spending. With the rise of nationalism, protecting the empire became more of a burden than an asset. For all the talk of an American empire, the United States has more freedom of action than the United Kingdom did. And whereas the United Kingdom faced rising neighbors, Germany and Russia, the United States benefits from being surrounded by two oceans and weaker neighbors.


Điểm tương đồng với sự suy thoái của Anh gây hiểu nhầm. Anh đã có vị trí hàng đầu về hải quân và một đế chế mà ở đó mặt trời không bao giờ lặn, nhưng đến Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, đất nước đứng chỉ thứ tư trong số các nước lớn về phần nhân viên quân sự, thứ tư về GDP, và thứ ba về chi phí quân sự. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, việc bảo vệ đế chế đã trở thành một gánh nặng hơn là tài sản. Cho dù nói về một đế chế Mỹ, Mỹ có quyền tự do hành động hơn Anh. Và trong khi Anh phải đối mặt với những nước láng giềng trỗi dậy, Đức và Nga, thì Mỹ được lợi từ việc được bao quanh bởi hai đại dương và những người láng giềng yếu hơn.


Despite such differences, Americans are prone to cycles of belief in their own decline. The Founding Fathers worried about comparisons to the Roman republic. Charles Dickens observed a century and a half ago, "If its individual citizens, to a man, are to be believed, [the United States] always is depressed, and always is stagnated, and always is at an alarming crisis, and never was otherwise." In the last half century, belief in American decline rose after the Soviet Union launched Sputnik in 1957, after President Richard Nixon's economic adjustments and the oil shocks in the 1970s, and after the closing of rust-belt industries and the budget deficits in the Reagan era. Ten years later, Americans believed that the United States was the sole superpower, and now polls show that many believe in decline again.


Bất chấp những khác biệt như vậy, người Mỹ nghiêng về những chu kỳ tin vào sự suy thoái của chính mình. Những thành viên đã viết ra Hiến pháp Mỹ đã lo ngại về những so sánh với nền cộng hoà La Mã. Charles Dickens đã nhận xét cách đây một thế kỷ rưỡi: “Đối với một người, nếu tin vào cá nhân các công dân của nước này thì [nước Mỹ] luôn suy yếu, và luôn đình trệ, và luôn ở trong một cuộc khủng hoảng đáng báo động, và không bao giờ khác được”. Trong nửa cuối thế kỷ, việc tin vào sự suy thoái của Mỹ đã nổi lên sau khi Liên Xô phóng Sputnik vào năm 1957, sau những điều chỉnh kinh tế của Tổng thống Richard Nixon và các cú sốc dầu lửa những năm 1970, và sau khi đóng cửa các ngành công nghiệp vùng vành đai phát triển chậm Rust Belt (Rust Belt là tên một khu vực ở miền Bắc nước Mỹ, bao gồm các bang Illinois, Michigan, Indiân, Ohio và Wisconsin, nơi nhiều ngành hớn, đặc biệt là các ngành sản xuất thép và ôtô, đã từng sử dụng nhiều nhân công nhưng ngày càng ít thành công) và những thâm hụt ngân sách trong kỷ nguyên Reagan. Mười năm sau, người Mỹ tin rằng nước Mỹ là một siêu cường duy nhất và hiện nay các cuộc thăm dò cho thấy rằng nhiều người lại tin vào sự suy thoái.

Pundits lament the inability of Washington to control states such as Afghanistan or Iran, but they allow the golden glow of the past to color their appraisals. The United States' power is not what it used to be, but it also never really was as great as assumed. After World War II, the United States had nuclear weapons and an overwhelming preponderance of economic power but nonetheless was unable to prevent the "loss" of China, to roll back communism in Eastern Europe, to overcome stalemate in the Korean War, to stop the "loss" of North Vietnam, or to dislodge the Castro regime in Cuba. Power measured in resources rarely equals power measured in preferred outcomes, and cycles of belief in decline reveal more about psychology than they do about real shifts in power resources. Unfortunately, mistaken beliefs in decline -- at home and abroad -- can lead to dangerous mistakes in policy.


Các học giả than vãn về sự bất lực của Oasinhton trong việc kiểm soát những nhà nước như Ápganixtan hay Iran, nhưng họ để cho hào quang của quá khứ tô màu cho những đánh giá của mình. Sức mạnh của Mỹ không phải là cái đã từng có, nhưng nó cũng chưa bao giờ thực sự to lớn như được cho là vậy. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ có vũ khí hạt nhân và một ưu thế áp đảo về sức mạnh kinh tế nhưng tuy thế không thể ngăn ngừa “việc mất” Trung Quốc, không thể đẩy lui chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, thoát khỏi sự bế tắc trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, ngăn chặn “việc mất” miền Bắc Việt Nam, hay lật đổ chế độ Castro ở Cuba. Sức mạnh đo được trong các nguồn lực hiếm khi ngang bằng với sức mạnh đo được trong những kết quả được ưa thích hơn, và những chu kỳ tin vào sự suy thoái bộc lộ ra là về tâm lý hơn là về những thay đổi thực sự trong các nguồn lực sức mạnh. Đáng tiếc là, những sự tin tưởng nhầm lẫn về suy thoái – ở trong nước và nước ngoài – có thể dẫn đến những sai lầm nguy hiểm trong chính sách.

CHINA ON THE RISE

For more than a decade, many have viewed China as the most likely contender to balance U.S. power or surpass it. Some draw analogies to the challenge that imperial Germany posed to the United Kingdom at the beginning of the last century. A recent book (by Martin Jacques) is even titled When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order. Goldman Sachs has projected that the total size of China's economy will surpass that of the United States in 2027.

Trung Quốc trỗi dậy

Trong hơn một thập kỷ, nhiều người đã nhìn Trung Quốc như là đối thủ có khả năng nhất để cân bằng sức mạnh Mỹ hay vượt qua nó. Một số người đã vạch ra những sự tương đồng với thách thức mà nước Đức đế quốc đã đặt ra cho Anh vào đầu thế kỷ trước. Một cuốn sách gần đây (của Martin Jacques) còn được đặt tên là Khi Trung Quốc thống trị thế giới: Sự kết thúc của thế giới phương Tây và sự ra đời của một trật tự toàn cầu mới. Goldman Sachs đã dự kiến rằng tổng quy mô của nền kinh tế Trung Quốc sẽ vượt của Mỹ vào năm 2027.

Yet China has a long way to go to equal the power resources of the United States, and it still faces many obstacles to its development. Even if overall Chinese GDP passed that of the United States around 2030, the two economies, although roughly equivalent in size, would not be equivalent in composition. China would still have a vast underdeveloped countryside, and it would have begun to face demographic problems from the delayed effects of its one-child policy. Per capita income provides a measure of the sophistication of an economy. Assuming a six percent Chinese GDP growth rate and only two percent American GDP growth rate after 2030, China would probably not equal the United States in per capita income until sometime around the middle of the century. In other words, China's impressive economic growth rate and increasing population will likely lead the Chinese economy to pass the U.S. economy in total size in a few decades, but that is not the same as equality.

Tuy nhiên, Trung Quốc còn một con đường dài để tiến tới ngang bằng với các nguồn lực sức mạnh của Mỹ và nước này vẫn còn phải đối mặt với nhiều trở ngại đối với sự phát triển của mình. Ngay cả nếu tổng GDP của Trung Quốc vượt qua của Mỹ vào khoảng năm 2030, hai nền kinh tế, dù đại thể tương đương về quy mô, sẽ không tương đương về thành phần. Trung Quốc sẽ vẫn có một khu vực nông thôn kém phát triển rộng lớn, và nước này bắt đầu phải đối mặt với những vấn đề nhân khẩu học từ những tác động chậm của chính sách một con của mình. Thu nhập tính theo đầu người cung cấp một thước đo sự tinh vi của một nền kinh tế. Giả sử một tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc là 6% và tỷ lệ tăng trưởng GDP của Mỹ chỉ có 2% sau năm 2030, Trung Quốc có thể sẽ không ngang bằng với Mỹ trong thu nhập tính theo đầu người cho đến một lúc nào đó vào khoảng giữa thế kỷ. Nói cách khác, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng và dân số ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ có khả năng dẫn đến nền kinh tế Trung Quốc vượt nền kinh tế Mỹ về tổng quy mô trong một vài thập kỷ, nhưng nó không giống như là sự ngang bằng.


Moreover, linear projections can be misleading, and growth rates generally slow as economies reach higher levels of development. China's authoritarian political system has shown an impressive capability to harness the country's power, but whether the government can maintain that capability over the longer term is a mystery both to outsiders and to Chinese leaders. Unlike India, which was born with a democratic constitution, China has not yet found a way to solve the problem of demands for political participation (if not democracy) that tend to accompany rising per capita income. Whether China can develop a formula that manages an expanding urban middle class, regional inequality, rural poverty, and resentment among ethnic minorities remains to be seen.


Hơn nữa, những dự đoán thẳng băng có thể khiến hiểu nhầm, và các tỷ lệ tăng trưởng nói chung chậm lại khi các nền kinh tế đạt tới những mức độ phát triển cao. Hệ thống chính trị độc đoán của Trung Quốc đã thể hiện một khả năng đầy ấn tượng khai thác sức mạnh của đất nước, nhưng liệu chính phủ có thể duy trì khả năng đó trong dài hạn hay không là một điều bí ẩn cả đối với người bên ngoài lẫn đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Không giống như Ấn Độ, vốn được sinh ra với một hiến pháp dân chủ, Trung Quốc vẫn chưa tìm ra con đường để giải quyết vấn đề đòi hỏi tham gia vào chính trị (nếu không phải là dân chủ) có xu hướng đi cùng với việc tăng thu nhập bình quân đầu người. Liệu Trung Quốc có thể phát triển một công thức quản lý một tầng lớp trung lưu thành thị đang mở rộng, sự bất bình đẳng khu vực, đói nghèo ở nông thôn, và sự oán giận giữa các nhóm thiểu số sắc tộc hay không thì vẫn còn phải xem xét.


Some have argued that China aims to challenge the United States' position in East Asia and, eventually, the world. Even if this were an accurate assessment of China's current intentions (and even the Chinese themselves cannot know the views of future generations), it is doubtful that China will have the military capability to make this possible anytime soon. Moreover, Chinese leaders will have to contend with the reactions of other countries and the constraints created by China's need for external markets and resources. Too aggressive a Chinese military posture could produce a countervailing coalition among China's neighbors that would weaken both its hard and its soft power.

Một số người đã lập luận rằng Trung Quốc đặt mục tiêu thách thức vị trí của Mỹ ở Đông Á và cuối là thế giới. Ngay cả nếu đây là một sự đánh giá chính xác về những ý định hiện nay của Trung Quốc (và thậm chí bản thân người Trung Quốc không thể biết quan điểm của những thế hệ tương lai), điều đáng ngờ là Trung Quốc sẽ có khả năng quân sự để khiến điều này có thể sớm thực hiện được bất cứ lúc nào. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải đấu tranh với những phản ứng của những nước khác và những sự kiềm chế được tạo ra bởi nhu cầu của Trung Quốc đối với các thị trường và nguồn lực bên ngoài. Một tư thế quân sự quá hung hăng của Trung Quốc có thể tạo ra một sự liên minh bù lại giữa các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ làm suy yếu cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm của nước này.


The rise of Chinese power in Asia is contested by both India and Japan (as well as other states), and that provides a major power advantage to the United States. The U.S.-Japanese alliance and the improvement in U.S.-Indian relations mean that China cannot easily expel the Americans from Asia. From that position of strength, the United States, Japan, India, Australia, and others can engage China and provide incentives for it to play a responsible role, while hedging against the possibility of aggressive behavior as China's power grows.

Sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Quốc ở châu Á bị cạnh tranh bởi cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản (cũng như những nhà nước khác), và điều đó tạo ra một lợi thế sức mạnh chủ yếu cho Mỹ. Liên minh Mỹ – Nhật và sự cải thiện trong các mối quan hệ Mỹ-Ấn có nghĩa rằng Trung Quốc không thể dễ dàng đánh bật người Mỹ ra khỏi châu Á. Từ quan điểm sức mạnh đó, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ôxtrâylia, và những nước khác có thể can dự với Trung Quốc và tạo ra những sự khích lệ để nước này đóng một vai trò có trách nhiệm, trong khi ngăn cản khả năng cư xử hung hăng khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên.

DOMESTIC DECAY?

Some argue that the United States suffers from "imperial overstretch," but so far, the facts do not fit that theory. On the contrary, defense and foreign affairs expenditures have declined as a share of GDP over the past several decades. Nonetheless, the United States could decline not because of imperial overstretch but because of domestic underreach. Rome rotted from within, and some observers, noting the sourness of current U.S. politics, project that the United States will lose its ability to influence world events because of domestic battles over culture, the collapse of its political institutions, and economic stagnation. This possibility cannot be ruled out, but the trends are not as clear as the current gloomy mood suggests.

Sự suy tàn ở trong nước?

Một số người lập luận rằng Mỹ gánh chịu tổn thất bởi “sự dàn trải quá mức kiểu đế quốc”, nhưng cho đến nay, thực tế không đúng với thuyết đó. Ngược lại, các khoản chi tiêu cho quốc phòng và các vấn đề quốc tế đã giảm đi như là một phần của GDP trong vài thập kỷ vừa qua. Tuy vậy, Mỹ có thể suy thoái không phải vì sự dàn trải quá mức kiểu đế quốc mà vì khả năng hoạt động kém ở trong nước. La Mã mục nát từ bên trong, và một số nhà quan sát, lưu ý đến tình trạng xấu đi trong hoạt động chính trị của Mỹ hiện nay, dự đoán rằng Mỹ sẽ mất đi khả năng của mình ảnh hưởng đến các sự kiện của thế giới bởi các cuộc chiến trong nước về văn hoá, sự sụp đổ của các thể chế chính trị nước này, và sự đình trệ về kinh tế. Không thể loại bỏ khả năng này, nhưng các xu thế không rõ ràng như tâm trạng u ám hiện nay cho thấy.


Although the United States has many social problems -- and always has -- they do not seem to be getting worse in any linear manner. Some of these problems are even improving, such as rates of crime, divorce, and teenage pregnancy. Although there are culture wars over issues such as same-sex marriage and abortion, polls show an overall increase in tolerance. Civil society is robust, and church attendance is high, at 42 percent. The country's past cultural battles, over immigration, slavery, evolution, temperance, McCarthyism, and civil rights, were arguably more serious than any of today's.


Mặc dù Mỹ có nhiều vấn đề về xã hội – và luôn có – họ dường như không trở nên tồi tệ đi theo bất cứ cách thức thẳng băng nào. Một số trong những vấn đề đó thậm chí còn đang cải thiện, như tỷ lệ tội phạm, ly hôn và mang thai ở tuổi vị thành niên. Mặc dù có các cuộc chiến văn hoá đối với những vấn đề như kết hôn đồng giới và phá thai, các cuộc thăm dò cho thấy một sự gia tăng tổng thể về sự dung nạp. Xã hội dân sự vững mạnh, và tỷ lệ đi đến nhà thờ cao, 42%. Những cuộc chiến văn hoá trước đây của đất nước này, về nhập cư, nô lệ, tiến hoá, sự ôn hoà, chủ nghĩa McCarthy và nhân quyền, được cho là còn nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc chiến nào của ngày nay.


A graver concern would be if the country turned inward and seriously curtailed immigration. With its current levels of immigration, the United States is one of the few developed countries that may avoid demographic decline and keep its share of world population, but this could change if xenophobia or reactions to terrorism closed its borders. The percentage of foreign-born residents in the United States reached its twentieth-century peak, 14.7 percent, in 1910. Today, 11.7 percent of U.S. residents are foreign born, but in 2009, 50 percent of Americans favored decreasing immigration, up from 39 percent in 2008. The economic recession has only aggravated the problem.


Một mối lo ngại nghiêm trọng hơn sẽ là liệu đất nước này có chuyển sang hướng nội và hạn chế một cách trầm trọng sự nhập cư. Với mức nhập cư hiện nay của mình, Mỹ là một trong số ít những nước phát triển có thể tranh được sự suy giảm về nhân khẩu học và giữ phần đóng góp của mình trong dân số thế giới, nhưng điều này có thể thay đổi nếu sự bài ngoại hay những phản ứng đối với khủng bố đã đóng cửa các đường biên giới của nước này. Tỷ lệ phần trăm các cư dân sinh ra ở nước ngoài ở Mỹ đã đạt đỉnh cao của thế kỷ 20, 14,7% vào năm 1910. Hiện nay, 11,7% cư dân Mỹ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng vào năm 2009, 50% người Mỹ ủng hộ giảm nhập cư, tăng từ 39% vào năm 2008. Suy thoái kinh tế chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề.


Although too rapid a rate of immigration can cause social problems, over the long term, immigration strengthens U.S. power. Today, the United States is the world's third most populous country; 50 years from now, it is likely to still be third (after India and China). Not only is this relevant to economic power, but given that nearly all developed countries are aging and face the burden of providing for the older generation, immigration could help reduce the sharpness of the resulting policy problem. In addition, there is a strong correlation between the number of H-1B visas and the number of patents filed in the United States. In 1998, Chinese- and Indian-born engineers were running one-quarter of Silicon Valley's high-tech businesses, and in 2005, immigrants were found to have helped start one of every four American technology start-ups over the previous decade.


Mặc dù một số tốc độ nhập cư quá nhanh có thể tạo ra những vấn đề xã hội, nhưng về dài hạn sự nhập cư củng cố sức mạnh của Mỹ. Ngày nay, Mỹ là nước đông dân thứ ba trên thế giới; 50 năm kể từ bây giờ, nó có thể vẫn là thứ ba (sau Ấn Độ và Trung Quốc). Điều này không chỉ liên quan đến sức mạnh kinh tế, mà do gần như tất cả các nước phát triển đang già đi và phải đối mặt với gánh nặng lo liệu cho thế hệ già hơn, sự nhập cư có thể giúp giảm bớt tính gay gắt của vấn đề chính sách do kết quả của điều đó. Thêm vào đó, có một sự tương quan giữa số visa H-1B và số bằng sáng chế được đệ trình tại Mỹ. Vào năm 1998, các kỹ sư sinh ra tại Trung Quốc và Ấn Độ điều hành một phần tư các doanh nghiệp công nghệ cao của Thung lũng Silicon, và vào năm 2005, người ta thấy cứ bốn công ty công nghệ khởi nghiệp của Mỹ trong thập kỷ qua thì có một công ty là do người nhập cư đã giúp khởi đầu.
           
Equally important are the benefits of immigration for the United States' soft power. Attracted by the upward mobility of American immigrants, people want to come to the United States. The United States is a magnet, and many people can envisage themselves as Americans. Many successful Americans look like people in other countries. Rather than diluting hard and soft power, immigration enhances both. When Singapore's Lee Kuan Yew concludes that China will not surpass the United States as the leading power of the twenty-first century, he cites the ability of the United States to attract the best and brightest from the rest of the world and meld them into a diverse culture of creativity. China has a larger population to recruit from domestically, but in his view, its Sinocentric culture will make it less creative than the United States, which can draw on the whole world.


Quan trọng không kém là những lợi ích của sự nhập cư đối với sức mạnh mềm của Mỹ. Bị thu hút bởi sự phấn đấu của những người nhập cư Mỹ, mọi người muốn tới Mỹ. Nước Mỹ là một cục nam châm, và nhiều người có thể hình dung bản thân mình là người Mỹ. Nhiều người Mỹ thành công trông giống như người ở những nước khácl. Thay vì làm giảm bớt sức mạnh cứng và mềm, sự nhập cư tăng cường cả hai. Khi Lý Quang Diệu của Xinhgapo kết luận rằng Trung Quốc sẽ không vượt qua Mỹ với tư cách cường quốc hàng đầu của thế kỷ 21, ông trích dẫn khả năng của Mỹ thu hút những người giỏi nhất và thông minh nhất từ phần còn lại của thế giới và dung nạp họ vào một nền văn hoá đa dạng của sự sáng tạo. Trung Quốc có một dân số lớn hơn để tuyển chọn từ trong nước, nhưng theo quan điểm của ông, nền văn hoá lấy Trung Quốc làm trung tâm của nước này sẽ khiến nó ít tính sáng tạo hơn Mỹ, vốn có thể lôi kéo toàn thế giới.


On the other hand, a failure in the performance of the U.S. economy would be a showstopper. Keeping in mind that macroeconomic forecasts (like weather forecasts) are notoriously unreliable, it appears that the United States will experience slower growth in the decade after the 2008 financial crisis. The International Monetary Fund expects U.S. economic growth to average about two percent in 2014. This is lower than the average over the past several decades but roughly the same as the average rate over the past ten years.


Mặt khác, một thất bại trong thành tích của nền kinh tế Mỹ sẽ là một điểm dừng. Hãy nhớ rằng những dự báo về kinh tế vĩ mô (giống như dự báo thời tiết) nổi tiếng là không thể tin cậy được, dường như là Mỹ sẽ trải qua sự tăng trưởng chậm hơn trong thập kỷ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hy vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ đạt trung bình khoảng 2% trong năm 201. Con số này thấp hơn mức trung bình trong vài thập kỷ trước đó nhưng xấp xỉ gần với tỷ lệ trung bình trong 10 năm qua.


In the 1980s, many observers believed that the U.S. economy had run out of steam and that Germany and Japan were overtaking the United States. The country seemed to have lost its competitive edge. Today, however, even after the financial crisis and the ensuing recession, the World Economic Forum has ranked the United States fourth (after Switzerland, Sweden, and Singapore) in global economic competitiveness. (China, in comparison, was ranked 27th.) The U.S. economy leads in many new growth sectors, such as information technology, biotechnology, and nanotechnology. And even though optimists tend to cite the United States' dominance in the production and use of information technology, that is not the only source of U.S. productivity. The United States has seen significant agricultural innovation, too, and its openness to globalization, if it continues, will also drive up productivity. Economic experts project that American productivity growth will be between 1.5 and 2.25 percent in the next decade.

Trong những năm 1980, nhiều nhà quan sát tin rằng nền kinh tế Mỹ đã xì hết hơi và Đức và Nhật Bản đang vượt Mỹ. Đất nước này dường như đã đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, hiện nay ngay cả sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kéo dài, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã xếp Mỹ đứng thứ 4 (sau Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển và Xinhgapo) về năng lực canh tranh kinh tế toàn cầu (so với Trung Quốc xếp thứ 27). Nền kinh tế Mỹ đi đầu trong nhiều khu vực tăng trưởng mới, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ nano. Và ngay dù những người lạc quan có xu hướng dẫn ra sự vượt trội của Mỹ trong sản xuất và sử dụng công nghệ thông tin, thì đó không phải là nguồn năng suất duy nhất của Mỹ. Mỹ cũng đã chứng kiến sự đổi mới nông nghiệp đáng kể và sự mở cửa của nước này đối với toàn cầu hoá, nếu điều này tiếp tục, cũng sẽ kéo năng suất lên. Các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng tăng trưởng về năng suất của Mỹ sẽ từ 1,5% đến 2,25% trong thập kỷ tới.


In terms of investment in research and development, the United States was the world leader in 2007, with $369 billion, followed by all of Asia ($338 billon) and the European Union ($263 billion). The United States spent 2.7 percent of its GDP on research and development, nearly double what China spent (but slightly less than the three percent spent by Japan and South Korea). In 2007, American inventors registered about 80,000 patents in the United States, or more than the rest of the world combined. A number of reports have expressed concern about problems such as high corporate tax rates, the flight of human capital, and the growing number of overseas patents, but U.S. venture capital firms invest 70 percent of their money in domestic start-ups. A 2009 survey by the Global Entrepreneurship Monitor ranked the United States ahead of other countries in opportunities for entrepreneurship because it has a favorable business culture, the most mature venture capital industry, close relations between universities and industry, and an open immigration policy.


Về đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Mỹ là nước đứng đầu thế giới vào năm 2007, với 369 tỉ USD, theo sau là toàn bộ châu Á (338 tỉ USD) và Liên minh châu Âu (263 tỉ USD). Mỹ đã chi 2,7 GDP của mình vào nghiên cứu và phát triển, gần gấp đôi những gì Trung Quốc đã chi (nhưng ít hơn một chút so với 3% mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã chi). Trong năm 2007, các nhà sáng chế Mỹ đã đăng ký khoảng 80.000 bằng sáng chế ở Mỹ, hay nhiều hơn phần còn lại của thế giới hợp lại. Một số báo cáo đã bày tỏ mối lo ngại về những vấn đề như tỷ lệ thuế công ty cao, chảy máu nguồn vốn con người, và số bằng sáng chế ở nước ngoài ngày càng tăng, nhưng các công ty vốn mạo hiểm đầu tư 70% tiền của họ vào các công ty khởi nghiệp ở trong nước. Một cuộc điều tra nam 2009 của tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (Giám sát doanh nhân toàn cầu) đã xếp Mỹ ở trên những nước khác về các cơ hội cho doanh nhân bởi nước này có một nền văn hoá kinh doanh thuận lợi, ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm trưởng thành nhất, các mối quan hệ thân thiết giữa các trường đại học và ngành công nghiệp, và một chính sách nhập cư mở.


Other concerns about the future of the U.S. economy focus on the current account deficit (whose current level indicates that Americans are becoming more indebted to foreigners) and the rise in government debt. In the words of the historian Niall Ferguson, "This is how empires decline. It begins with a debt explosion." Not only did the recent bank bailout and Keynesian stimulus package add to U.S. debt, but the rising costs of health care and entitlement programs such as Social Security, along with the rising cost of servicing the debt, will claim large shares of future revenue. Other observers are less alarmist. The United States, they claim, is not like Greece.

Những mối lo ngại khác về tương lai của nền kinh tế Mỹ tập trung vào thâm hụt tài khoản vãng lai (mà mức hiện nay chỉ ra rằng người Mỹ đang ngày càng mắc nợ người nước ngoài hơn) và sự gia tăng nợ chính phủ. Theo lời của sử gia Niall Ferguson, “Đây là cách các đế quốc suy thoái. Nó bắt đầu bằng một sự bùng nổ nợ”. Không chỉ cứu trợ tài chính ngân hàng gần đây và gói kích thích kinh tế kiểu Keynes làm tăng thêm nợ của Mỹ, mà phí tổn ngày càng tăng của các chương trình chăm sóc y tế và đảm bảo phúc lợi cho tất cả những người được thụ hưởng như An sinh xã hội, cùng với phí tổn ngày càng tăng của việc trả lãi cho các khoản nợ, sẽ đòi hỏi những phần đóng góp lớn của thu nhập tương lai. Các nhà quan sát khác ít gây hoang mang hơn. Họ tuyên bố Mỹ không giống như Hy Lạp.


The Congressional Budget Office calculates that total government debt will reach 100 percent of GDP by 2023, and many economists begin to worry when debt levels in rich countries exceed 90 percent. But as The Economist pointed out last June, "America has two huge advantages over other countries that have allowed it to face its debt with relative equanimity: possessing both the world's reserve currency and its most liquid asset market, in Treasury bonds." And contrary to fears of a collapse of confidence in the dollar, during the financial crisis, the dollar rose and bond yields fell. A sudden crisis of confidence is less the problem than that a gradual increase in the cost of servicing the debt could affect the long-term health of the economy.


Văn phòng Ngân sách Quốc hội tính toán rằng tổng nợ chính phủ sẽ lên tới 100% GDP vào năm 2023, và nhiều nhà kinh tế bắt đầu lo ngại khi các mức nợ ở những nước giàu đã vượt quá 90%. Nhưng như tạp chí The Economist đã chỉ ra hồi cuối tháng 6, “Mỹ có hai lợi thế khổng lồ so với những nước khác cho phép nước này đối mặt với những khoản nợ của mình với thái độ tương đối bình thản: có cả đồng tiền dự trữ của thế giới lẫn thị trường tài sản có tính thanh khoản cao nhất của mình, trong trái phiếu kho bạc”. Và trái ngược với những ngại về một sự sụp đổ lòng tin vào đồng đôla, trong cuộc khủng hoảng tài chính, đồng đôla đã tăng lên và lợi tức trái phiếu giảm xuống. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đột ngột ít là vấn đề hơn một sự gia tăng dần dần trong chi phí trả lãi cho các khoản nợ có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ dài hạn của nền kinh tế.

It is in this sense that the debt problem is important, and studies suggest that interest rates rise 0.03 percent for every one percent increase in the debt-to-GDP ratio over the long term. Higher interest rates mean lower private-sector investment and slower growth. These effects can be mitigated by good policies or exacerbated by bad ones. Increasing debt need not lead to the United States' decline, but it certainly raises the long-term risk.


Chính trong nghĩa này mà vấn đề nợ là quan trọng, và những nghiên cứu cho thấy rằng lãi suất tăng 0,03% cho mỗi một phần trăm tăng lên trong tỉ suất nợ trên GDP trong dài hạn. Lãi suất cao hơn có nghĩa là đầu tư vào khu vực tư nhân thấp hơn và tăng trưởng chậm hơn. Những tác động này có thể được giảm nhẹ bằng những chính sách tốt hoặc bị làm trầm trọng thêm bởi những chính sách tồi. Nợ tăng lên không nhất thiết dẫn tới sự suy thoái của Mỹ, nhưng nó chắc chắn làm tăng rủi ro dài hạn.


A well-educated labor force is another key to economic success in the information age. At first glance, the United States does well in this regard. It spends twice as much on higher education as a percentage of GDP as do France, Germany, Japan, and the United Kingdom. The London-based Times Higher Education's 2009 list of the top ten universities includes six in the United States, and a 2010 study by Shanghai Jiao Tong University places 17 U.S. universities -- and no Chinese universities -- among its top 20. Americans win more Nobel Prizes and publish more scientific papers in peer-reviewed journals -- three times as many as the Chinese -- than do the citizens of any other country. These accomplishments enhance both the country's economic power and its soft power.


Một lực lượng lao động được đào tạo tốt là một chìa khoá khác cho thành công về kinh tế trong thời đại thông tin. Thoạt nhìn, Mỹ làm tốt về mặt này. Nước này đã chi cho giáo dục đại học gấp đôi tính theo tỉ lệ phần trăm GDP so với Pháp, Đức, Nhật Bản và Anh. Danh sách top 10 trường đại học năm 2009 của Times Higher Education có trụ sở tại Luân Đôn bao gồm 6 trường ở Mỹ, và một nghiên cứu năm 2010 của Đại học Giao thông Thượng Hải xếp 17 trường của Mỹ – và không có trường nào của Trung Quốc – trong top 20 của mình. Người Mỹ giành giải Nôben và công bố các tài liệu khoa học trên những tạp chí được các nhà chuyên môn kiểm duyệt – gâp ba lần người Trung Quốc – nhiều hơn công dân của bất cứ nước nào khác. Những thành tựu này tăng cường cả sức mạnh kinh tế lẫn sức mạnh mềm của đất nước này.


American education at its best -- many universities and the top slice of the secondary education system -- meets or sets the global standard. But American education at its worst -- too many primary and secondary schools, especially in less affluent districts -- lags badly behind. This means that the quality of the labor force will not keep up with the rising standards needed in an information-driven economy. There is no convincing evidence that students are performing worse than in the past, but the United States' educational advantage is eroding because other countries are doing better than ever. Improvement in the country's K-12 education system will be necessary if the country is to meet the standards needed in an information-based economy.


Nền giáo dục Mỹ trong điều kiện tốt nhất của mình – nhiều trường đại học và bộ phận trên trong hệ thống giáo dục trung học – đáp ứng hoặc đưa ra các tiêu chuẩn toàn cầu. Nhưng nền giáo dục Mỹ trong điều kiện tồi tệ nhất của mình – quá nhiều trường tiểu học và trung học, đặc biệt tại những khu vực ít giàu có – tụt hậu nặng nề. Điều này có nghĩa là chất lượng của lực lượng lao động sẽ không theo kịp các tiêu chuẩn đang tăng lên cần thiết trong một nền kinh tế do thông tin thúc đẩy. Không có bằng chứng thuyết phục rằng các sinh viên đang thể hiện tồi hơn trong quá khứ, nhưng lợi thế về giáo dục của Mỹ đang xói mòn bởi vì các nước khác đang làm tốt hơn bao giờ hết. Sự cải thiện trong hệ thống giáo dục K-12 của đất nước sẽ là cần thiết nếu nước này muốn đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết trong một nền kinh tế dựa trên thông tin.


POLITICS AND INSTITUTIONS

Despite these problems and uncertainties, it seems probable that with the right policies, the U.S. economy can continue to produce hard power for the country. But what about U.S. institutions? The journalist James Fallows, who spent years in China, came home worried less about the United States' economic performance than the gridlock in its political system. In his view, "America still has the means to address nearly any of its structural weaknesses. . . . That is the American tragedy of the early 21st century: a vital and self-renewing culture that attracts the world's talent and a governing system that increasingly looks like a joke." Although political gridlock in a period of recession looks bad, it is difficult to ascertain whether the situation today is much worse than in the past.


Hoạt động chính trị và các thể chế

Bất chấp những vấn đề và sự không chắc chắn này, dường như khả năng là với các chính sách đúng đắn, nền kinh tế Mỹ có thể tiếp tục tạo ra sức mạnh cứng cho đất nước. Nhưng còn về các thể chế của Mỹ thì sao? Nhà báo James Fallows, người đã sống nhiều năm ở Trung Quốc, trở về nước lo lắng về thành tích kinh tế của Mỹ thì ít hơn so với những tắc nghẽn trong hệ thống chính trị của nước này. Theo quan điểm của ông, “Mỹ vẫn có các phương tiện để đối phó với gần như bất kỳ sự yếu kém về cơ cấu nào của nó… Đó là bi kịch của Mỹ đầu thế kỷ 21: một nền văn hoá có ý nghĩa sống còn và tự đổi mới thu hút nhân tài của thế giới và một hệ thống quản lý ngày càng giống như một trò đùa”. Mặc dù bế tắc chính trị trong một giai đoạn suy thoái có vẻ tồi tệ, nhưng khó xác định liệu tình trạng hiện nay có tồi tệ hơn nhiều so với quá khứ hay không.

Power conversion -- translating power resources into desired outcomes -- is a long-standing problem for the United States. The U.S. Constitution is based on the eighteenth-century liberal view that power is best controlled by fragmentation and countervailing checks and balances. In foreign policy, the Constitution has always invited the president and Congress to compete for control. Strong economic and ethnic pressure groups struggle for their self-interested definitions of the national interest, and Congress is designed to pay attention to squeaky wheels.


Sự chuyển đổi sức mạnh – chuyển các nguồn lực sức mạnh thành kết quả mong muốn – là một vấn đề lâu dài đối với Mỹ. Hiến pháp Mỹ dựa trên quan điểm tự do của thế kỷ 18 rằng sức mạnh được kiểm soát tốt nhất bởi sự phân mảng và hệ thống “checks and balances” (kiểm tra và cân bằng) bù lại (“checks and balances” là một hệ thống chính trị trong một nước dân chủ, gồm 3 ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó mỗi ngành có nhiệm vụ kiểm soát quyền lực của hai ngành kia để tạo ra sự cân bằng quyền lực). Trong chính sách đối ngoại, Hiến pháp luôn luôn khuyến khích Tổng thống và Quốc hội cạnh tranh để giành quyền kiểm soát. Các nhóm gây sức ép về kinh tế và sắc tộc mạnh mẽ đấu tranh đòi những sự định nghĩa có tính tư lợi của họ về lợi ích quốc gia, và Quốc hội được định ra để tập trung vào những vấn đề trục trặc.

Another cause for concern is the decline of public confidence in government institutions. In 2010, a poll by the Pew Research Center found that 61 percent of respondents thought the United States was in decline, and only 19 percent trusted the government to do what is right most of the time. In 1964, by contrast, three-quarters of the American public said they trusted the federal government to do the right thing most of the time. The numbers have varied somewhat over time, rising after 9/11 before gradually declining again.


Một nguyên nhân khác của mối lo ngại là sự suy giảm lòng tin của công chúng vào cac thể chế chính phủ. Trong năm 2010, một cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew thấy rằng 61% số người được hỏi nghĩ rằng Mỹ đã suy thoái, và chỉ 19% tin rằng chính phủ làm điều gì là đúng đắn trong phần lớn thời gian. Ngược lại, vào năm 1964, ba phần tư công chúng Mỹ nói rằng họ tin chính phủ liên bang làm những việc đúng đắn trong hầu hết thời gian. Các con số đã thay đổi phần nào qua thời gian, tăng sau sự kiện ngày 11/9 trước khi giảm dần trở lại.

The United States was founded in part on a mistrust of government, and its constitution was designed to resist centralized power. Moreover, when asked not about day-to-day government but about the underlying constitutional framework, Americans are very positive. If asked where the best place to live is, the overwhelming majority of them say the United States. If asked whether they like their democratic system of government, nearly everyone says yes. Few people feel the system is rotten and must be overthrown.


Mỹ được hình thành một phần dựa vào một mối ngờ vực về chính phủ, và hiến pháp của nước này được thiết kế để chống lại quyền lực tập trung. Hơn nữa, khi được hỏi không phải về chính phủ thường ngày, mà về khuôn khổ hiến pháp cơ bản, người Mỹ rất tích cực. Nếu được hỏi nơi tốt nhất để sống là ở đâu, đại đa số trong số họ nói là Mỹ. Nếu được hỏi liệu họ có thích hệ thống chính phủ dân chủ của mình hay không, gần như tất cả mọi người nói có. Ít người cảm thấy hệ thống này mục nát và phải bị lật đổ.

Some aspects of the current mood probably represent discontent with the bickering and deadlock in the political process. Compared with the recent past, party politics has become more polarized, but nasty politics is nothing new -- as John Adams, Alexander Hamilton, and Thomas Jefferson could attest. Part of the problem with assessing the current atmosphere is that trust in government became abnormally high among the generation that survived the Depression and won World War II. Over the long view of U.S. history, that generation may be the anomaly. Much of the evidence for a loss of trust in government comes from modern polling data, and responses are sensitive to the way questions are asked. The sharpest decline occurred more than four decades ago, during the Johnson and Nixon administrations.


Một số khía cạnh của tâm trạng hiện tại có thể thể hiện sự bất mãn với những cuộc cãi vã và bế tắc trong tiến trình chính trị. So với thời gian gần đây, hoạt động chính trị đảng phái đã trở nên phân cực hơn, nhưng hoạt động chính trị tồi tệ không có gì mới – như John Adams, Alexander Hamilton, và Thomas Jefferson có thể chứng thực. Một phần của vấn đề với việc đánh giá bầu không khí hiện nay là việc niềm tin vào chính phủ đã trở nên cao khác thường trong thế hệ đã sống sót qua cuộc Suy thoái và chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ Hai. Trong tầm nhìn dài về lịch sử nước Mỹ, thế hệ đó có thể là bất thường. Nhiều bằng chứng về một sự mất lòng tin vào chính phủ xuất phát từ dữ liệu thăm dò hiện đại, và những phản ứng rất nhạy cảm với cách các câu hỏi được nêu ra. Sự suy thoái mạnh nhất đã xảy ra hơn bốn thập kỷ trước, dưới thời Chính quyền Johnson và Nixon.


This does not mean that there are no problems with declining confidence in government. If the public became unwilling to pay taxes or comply with laws, or if bright young people refused to go into public service, the government's capacity would be impaired, and people would become more dissatisfied with the government. Moreover, a climate of distrust can trigger extreme actions by deviant members of the population, such as the 1995 bombing of a federal office building in Oklahoma City. Such results could diminish the United States' hard and soft power.


Điều này không có nghĩa là không có vấn đề với niềm tin đang suy giảm vào chính phủ. Nếu công chúng trở nên không sẵn lòng nộp thuế hoặc tuân theo pháp luật, hoặc nếu người trẻ tuổi sáng dạ từ chối tham gia khu vực dịch vụ công, năng lực của chính phủ sẽ bị ảnh hưởng, và người ta sẽ trở nên bất mãn hơn với chính phủ. Hơn nữa, một không khí nghi ngờ có thể gây ra những hành động cực đoan của các thành viên lầm đường lạc lối trong dân số, chẳng hạn như vụ đánh bom năm 1995 một toà nhà văn phòng liên bang ở Oklahoma City. Những kết quả như vậy có thể làm giảm bớt sức mạnh cứng và mềm của Mỹ.


As yet, however, these fears do not seem to have materialized. The Internal Revenue Service has seen no increase in tax cheating. By many accounts, government officials have become less corrupt than in earlier decades, and the World Bank gives the United States a high score (above the 90th percentile) on "control of corruption." The voluntary return of census forms increased to 67 percent in 2000 and was slightly higher in 2010, reversing a 30-year decline. Voting rates fell from 62 percent to 50 percent over the four decades after 1960, but the decline stopped in 2000 and returned to 58 percent in 2008. In other words, the public's behavior has not changed as dramatically as its responses to poll questions indicates.


Tuy nhiên, cho đến nay, những nỗi lo sợ này dường như chưa thành hiện thực. Cơ quan thuế vụ đã không thấy sự gia tăng trong gian lận thuế. Theo nhiều thông tin thu thập đựơc, các quan chức chính phủ đã trở nên ít tham nhũng hơn trong những thập kỷ trước đó, và Ngân hàng Thế giới cho Mỹ một điểm số cao (đạt phân vị 90 trên một trăm) về “kiểm soát tham nhũng”. Việc tự nguyện nộp lại bản khai điều tra tăng lên 67% vào năm 200 và cao hơn một chút vào năm 2010, đảo ngược sự suy giảm 30 năm. Các tỷ lệ bỏ phiếu đã rơi từ 62% xuống 50% trong bốn thập niên sau năm 1960, nhưng sự suy giảm đã dừng lại vào năm 2000 và quay trở lại 58% vào năm 2008. Nói cách khác, hành vi của công chúng không thay đổi đột ngột như phản ứng của họ đối với những câu hỏi thăm dò ý kiến cho thấy.


How serious are changes in social capital when it comes to the effectiveness of American institutions? The political scientist Robert Putnam notes that community bonds have not weakened steadily over the last century. On the contrary, U.S. history, carefully examined, is a story of ups and downs in civic engagement. Three-quarters of Americans, according to the Pew Partnership for Civic Change, feel connected to their communities and say that the quality of life there is excellent or good. Another of the group's polls found that 111 million Americans had volunteered their time to help solve problems in their communities in the past 12 months and that 60 million volunteer on a regular basis. Forty percent said working together with others in their community was the most important thing they could do.


Những thay đổi trong vốn xã hội nghiêm trọng như thế nào khi nói đến hiệu quả của các thể chế của Mỹ? Nhà khoa học chính trị Robert Putnam lưu ý rằng trái phiếu cộng đồng đã không suy yếu dần dần trong thế kỷ qua. Ngược lại, lịch sử Mỹ, được xem xét một cách cẩn thận, là một câu chuyện về những thăng trầm trong sự can sự dân sự. Theo Pew Partnership for Civic Change, ba phần tư người Mỹ cảm thấy có liên kết với cộng đồng của họ và nói rằng chất lượng cuộc sống ở đó tuyệt vời hoặc tốt. Một cuộc thăm dò khác trong các cuộc thăm dò của nhóm này thấy rằng 111 triệu người Mỹ đã tình nguyện dành thời gian của họ để giúp giải quyết những vấn đề trong các cộng đồng của họ trong 12 tháng qua và rằng 60 triệu người tình nguyện trên cơ sở thường xuyên. Bốn mươi phần trăm nói rằng làm việc cùng với những người khác trong cộng đồng của họ là điều quan trọng nhất mà họ có thể làm.


In recent years, U.S. politics and political institutions have become more polarized than the actual distribution of public opinion would suggest. The situation has been exacerbated by the recent economic downturn. As The Economist noted, "America's political system was designed to make legislation at the federal level difficult, not easy. . . . So the basic system works; but that is no excuse for ignoring areas where it could be reformed." Some important reforms -- such as changing the gerrymandered safe seats in the House of Representatives or altering Senate rules about filibusters -- would not require any constitutional amendment. Whether the U.S. political system can reform itself and cope with the problems described above remains to be seen, but it is not as broken as implied by critics who draw analogies to the domestic decay of Rome or other empires.


Trong những năm gần đây, hoạt động chính trị và các thể chế chính trị của Mỹ đã trở nên phân cực hơn so với sự phân loại thực tế của công luận cho thấy. Tình hình trầm trọng thêm bởi sự suy thoái kinh tế gần đây. Như The Economist lưu ý, “hệ thống chính trị của Mỹ được thiết kế để làm cho việc lập pháp ở cấp liên bang khó khăn, chứ không phải dễ dàng… Như vậy hệ thống cơ bản phát huy tác dụng; nhưng điều đó khong có lý do gì để bào chữa cho việc bỏ qua các khu vực mà có thể được cải cách”. Một số cải cách quan trọng, chẳng hạn như thay đổi những ghế an toàn được sắp xếp gian lận trong Hạ viện hoặc sửa đổi các quy định của Thượng viện đối với những người cản trở việc thông qua một dự luật – sẽ không yêu cầu bất kỳ sự sửa đổi về hiến pháp nào. Vẫn còn phải xem liệu hệ thống chính trị Mỹ có thể cải cách chính nó và đối phó với các vấn đề được miêu tả ở trên hay không, nhưng nó không tan vỡ như ngụ ý của các nhà phê bình vẽ ra những tương đồng đối với tình trạng suy tàn trong nước của La Mã hoặc các đế chế khác.

DEBATING DECLINE

Any net assessment of American power in the coming decades will remain uncertain, but analysis is not helped by misleading metaphors of decline. Declinists should be chastened by remembering how wildly exaggerated U.S. estimates of Soviet power in the 1970s and of Japanese power in the 1980s were. Equally misguided were those prophets of unipolarity who argued a decade ago that the United States was so powerful that it could do as it wished and others had no choice but to follow. Today, some confidently predict that the twenty-first century will see China replace the United States as the world's leading state, whereas others argue with equal confidence that the twenty-first century will be the American century. But unforeseen events often confound such projections. There is always a range of possible futures, not one.


Sự suy thoái gây tranh luận

Bất kỳ đánh giá thực nào về quyền lực Mỹ trong những thập kỷ tới sẽ vẫn không chắc chắn, nhưng sự phân tích không được giúp đỡ bởi những phép ẩn dụ sai lệch về sự suy thoái. Những nhà phát triển lý thuyết suy thoái nên được cảnh tỉnh bằng việc ghi nhớ cách đánh giá cực kỳ phóng đại của Mỹ về sức mạnh của Liên Xô những năm 1970 và về sức mạnh của Nhật Bản những năm 1980 như thế nào. Sai lầm không kém là những người tiên đoán về sự đơn cực đó vốn lập luận một thập kỷ trước rằng Mỹ đã mạnh mẽ đến mức nước này có thể làm như mình muốn và những nước khác không có lựa chọn nào khác ngoài làm theo. Ngày nay, một số người tự tin dự đoán rằng thế kỷ 21 sẽ chứng kiến Trung Quốc thay thế Mỹ với tư cách nhà nước lãnh đạo thế giới, trong khi những người khác lập luận với sự tự tin không kém rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Mỹ. Nhưng những sự kiện không lường trước được thường làm hỏng những dự đoán như vậy. Luôn có một loạt những tương lai có thể xảy ra, không phải một.

As for the United States' power relative to China's, much will depend on the uncertainties of future political change in China. Barring any political upheaval, China's size and high rate of economic growth will almost certainly increase its relative strength vis-à-vis the United States. This will bring China closer to the United States in power resources, but it does not necessarily mean that China will surpass the United States as the most powerful country -- even if China suffers no major domestic political setbacks. Projections based on GDP growth alone are one-dimensional. They ignore U.S. advantages in military and soft power, as well as China's geopolitical disadvantages in the Asian balance of power.


Về sức mạnh của Mỹ có liên quan đến sức mạnh của Trung Quốc, nhiều điều sẽ phụ thuộc vào những bấp bênh của sự thay đổi chính trị trong tương lai tại Trung Quốc. Trừ phi có bất kỳ cuộc chính biến nào, quy mô và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ làm tăng sức mạnh tương đối của nước này so với Mỹ. Điều này sẽ đưa Trung Quốc lại gần Mỹ hơn về các nguồn lực sức mạnh, nhưng không nhất thiết có nghĩa rằng Trung Quốc không phải chịu những bước thụt lùi về chính trị lớn ở trong nước. Những dự đoán dựa trên chỉ riêng tăng trưởng GDP là một chiều. Chúng bỏ qua những lợi thế của Mỹ trong sức mạnh quân sự và sức mạnh mềm, cũng như những bất lợi địa chính trị của Trung Quốc trong cán cân quyền lực của châu Á.


Among the range of possible futures, the more likely are those in which China gives the United States a run for its money but does not surpass it in overall power in the first half of this century. Looking back at history, the British strategist Lawrence Freedman has noted that the United States has "two features which distinguish it from the dominant great powers of the past: American power is based on alliances rather than colonies and is associated with an ideology that is flexible. . . . Together they provide a core of relationships and values to which America can return even after it has overextended itself." And looking to the future, the scholar Anne-Marie Slaughter has argued that the United States' culture of openness and innovation will keep it central in a world where networks supplement, if not fully replace, hierarchical power.


Trong loạt những tương lai có thể xảy ra, nhiều khả năng hơn là những tương lai trong đó Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt với Mỹ nhưng không vượt qua nước này về sức mạnh tổng thể trong nửa đầu thế kỷ này. Nhìn lại lịch sử, chiến lược gia người Anh Lawrence Freedman đã lưu ý rằng Mỹ có “hai đặc điểm phân biệt nước này với các cường quốc thống trị trong quá khứ: sức mạnh của Mỹ dựa trên các liên minh chứ không phải các thuộc địa và được kết hợp với một ý thức hệ linh hoạt… Cùng nhau chúng tạo ra một nòng cốt của những mối quan hệ và những giá trị mà Mỹ có thể quay trở lại ngay cả sau khi nước này đã tự mình mở rộng quá mức”. Và nhìn về tương lai, học giả Anne – Marie Slaughter đã lập luận rằng văn hoá cởi mở và đổi mới của Mỹ sẽ giữ cho nó ở trung tâm trong một thế giới nơi các mạng lưới bổ sung, nếu không nói là hoàn toàn thay thế, sức mạnh theo thứ bậc.


The United States is well placed to benefit from such networks and alliances, if it follows smart strategies. Given Japanese concerns about the rise of Chinese power, Japan is more likely to seek U.S. support to preserve its independence than ally with China. This enhances the United States' position. Unless Americans act foolishly with regard to Japan, an allied East Asia is not a plausible candidate to displace the United States. It matters that the two entities in the world with per capita incomes and sophisticated economies similar to those of the United States -- the European Union and Japan -- both are U.S. allies. In traditional realist terms of balances of power resources, that makes a large difference for the net position of U.S. power. And in a more positive-sum view of power -- that of holding power with, rather than over, other countries -- Europe and Japan provide the largest pools of resources for dealing with common transnational problems. Although their interests are not identical to those of the United States, they share overlapping social and governmental networks with it that provide opportunities for cooperation.


Mỹ cũng được ở vào vị trí thuận lợi để hưởng lợi từ những mạng lưới và liên minh như vậy, nếu nước này theo các chiến lược khôn ngoan. Do những lo ngại của Nhật Bản về sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc, Nhật Bản có khả năng hơn tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ để bảo vệ sự độc lập của mình thay vì liên minh với Trung Quốc. Điều này làm tăng vị thế của Mỹ. Trừ phi người Mỹ hành động một cách thiếu khôn ngoan đối với Nhật Bản, một Đông Á đồng minh không phải là một ứng cử viên đáng tin cậy để thay thế theo đầu người và các nền kinh tế tân tiến tương tự như của Mỹ – đó là Liên minh châu Âu và Nhật Bản – thì đều là đồng minh của Mỹ. Trong biểu hiện mang tính hiện thực truyền thống dưới dạng những cán cân nguồn lực sức mạnh, điều đó tạo ra một sự khác biệt lớn đối với vị trí thực của sức mạnh Mỹ. Và trong một quan điểm về sức mạnh kiểu mọi thành phần tham gia đều có cơ hội thắng hơn – rằng nắm quyền lực cùng với, thay vì đối với, các nước khác – châu Âu và Nhật Bản cung cấp các nhóm nguồn lực lớn nhất để đối phó với các vấn đề xuyên quốc gia chung. Mặc dù lợi ích của họ không đồng nhất với những lợi ích của Mỹ, họ chia sẻ các mạng lưới xã hội và chính phủ gối lên nhau với Mỹ, điều đem lại các cơ hội hợp tác.


On the question of absolute, rather than relative, American decline, the United States faces serious problems in areas such as debt, secondary education, and political gridlock. But they are only part of the picture. Of the multiple possible futures, stronger cases can be made for the positive ones than the negative ones. But among the negative futures, the most plausible is one in which the United States overreacts to terrorist attacks by turning inward and thus cuts itself off from the strength it obtains from openness. Barring such mistaken strategies, however, there are solutions to the major American problems of today. (Long-term debt, for example, could be solved by putting in place, after the economy recovers, spending cuts and consumption taxes that could pay for entitlements.) Of course, such solutions may forever remain out of reach. But it is important to distinguish hopeless situations for which there are no solutions from those that could in principle be solved. After all, the bipartisan reforms of the Progressive era a century ago rejuvenated a badly troubled country.

Về vấn đề sự suy thoái tuyệt đối, thay vì tương đối, của Mỹ, nước Mỹ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng trong các lĩnh vực như nợ, giáo dục trung học, và bế tắc chính trị. Nhưng chúng chỉ là một phần của bức tranh. Nằm trong nhiều tương lai có thể xảy ra, những trường hợp rõ ràng hơn có thể được tao ra cho những tương lai tích cực hơn là những tương lai tiêu cực. Nhưng trong những tương lai tiêu cực, tương lai hợp lý nhất là một tương lai trong đó Mỹ phản ứng quá mức với các cuộc tấn công khủng bố bằng cách chuyển sang hướng nội và do đó tự cắt đứt mình khỏi sức mạnh mà nước này có được từ sự mở cửa. Tuy nhiên, trừ phi có những chiến lược sai lầm như vậy, có những giải pháp cho các vấn đề chính của Mỹ ngày nay. (Chẳng hạn, nợ dài hạn có thể được giải quyết bằng cách sau khi nền kinh tế hồi phục đưa ra những sự cắt giảm chi tiêu và thuế tiêu thụ có thể trả tiền phúc lợi.) Tất nhiên, những giải pháp như vậy có thể mãi mãi vẫn còn nằm ngoài tầm với. Nhưng điều quan trọng là phân biệt những tình huống tuyệt vọng mà trong đó không có giải pháp nào với những tình huống mà trên nguyên tắc có thể được giải quyết. Rốt cuộc, những cải cách lưỡng đảng của thời đại Tiến bộ cách đây một thế kỷ đã phục hồi  một đất nước bị rối loạn nặng nề.

A NEW NARRATIVE

It is time for a new narrative about the future of U.S. power. Describing power transition in the twenty-first century as a traditional case of hegemonic decline is inaccurate, and it can lead to dangerous policy implications if it encourages China to engage in adventurous policies or the United States to overreact out of fear. The United States is not in absolute decline, and in relative terms, there is a reasonable probability that it will remain more powerful than any single state in the coming decades.

Một câu chuyện mới

Đã đến lúc có một câu chuyện mới về tương lai của sức mạnh Mỹ. Mô tả sự chuyển giao quyền lực trong thế kỷ 21 như một trường hợp suy giảm bá quyền truyền thống là không chính xác, và nó có thể dẫn đến những tác động về chính sách nguy hiểm nếu nó khuyến khích Trung Quốc can dự vào các chính sách mạo hiểm hay Mỹ phản ứng thái quá vì sợ hãi. Mỹ không phải trong tình trạng suy thoái tuyệt đối, và về mặt tương đối, có một khả năng hợp lý rằng nước này sẽ vẫn hùng mạnh hơn bất kỳ nhà nước đơn lẻ nào trong những thập kỷ tới.

At the same time, the country will certainly face a rise in the power resources of many others -- both states and nonstate actors. Because globalization will spread technological capabilities and information technology will allow more people to communicate, U.S. culture and the U.S. economy will become less globally dominant than they were at the start of this century. Yet it is unlikely that the United States will decay like ancient Rome, or even that it will be surpassed by another state, including China.


Đồng thời, đất nước này chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự trỗi dậy trong các nguồn lực sức mạnh của nhiều nước khác – cả các bên tham gia nhà nước lẫn không phải nhà nước. Bởi sự toàn cầu hoá sẽ làm lan truyền những khả năng công nghệ và công nghệ thông tin sẽ cho phép thêm nhiều người giao thiệp hơn, văn hoá Mỹ và nền kinh tế Mỹ sẽ trở nên ít mang tính chi phối trên toàn cầu hơn so với lúc bắt đầu của thế kỷ này. Tuy nhiên, không có khả năng là Mỹ sẽ suy tàn giống như La Mã cổ đại, hoặc thậm chí là nước này sẽ bị một nhà nước khác vượt qua, trong đó có Trung Quốc.


The problem of American power in the twenty-first century, then, is not one of decline but what to do in light of the realization that even the largest country cannot achieve the outcomes it wants without the help of others. An increasing number of challenges will require the United States to exercise power with others as much as power over others. This, in turn, will require a deeper understanding of power, how it is changing, and how to construct "smart power" strategies that combine hard- and soft-power resources in an information age. The country's capacity to maintain alliances and create networks will be an important dimension of its hard and soft power.


Như vậy, vấn đề về sức mạnh của Mỹ trong thế kỷ 21 không phải là vấn đề suy giảm mà là phải làm gì dưới ánh sáng của nhận thức rằng ngay cả đất nước lớn nhất cũng không thể đạt được những kết quả mình mong muốn nếu không có sự giúp đỡ của những nước khác. Một số lượng ngày càng tăng những thách thức sẽ đòi hỏi Mỹ thể hiện sức mạnh cùng với những nước khác cũng nhiều như sức mạnh đối với những nước khác. Điều này đến lượt nó sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc hơn về sức mạnh, nó đang thay đổi như thế nào, và làm thế nào để xây dựng những chiến lược “sức mạnh thông minh” kết hợp những nguồn lực sức mạnh cứng và mềm trong một thời đại thông tin. Khả năng của đất nước này duy trì các liên minh và tạo ra những mạng lưới sẽ là một khía cạnh quan trọng trong sức mạnh cứng và mềm của nó.


Power is not good or bad per se. It is like calories in a diet: more is not always better. If a country has too few power resources, it is less likely to obtain its preferred outcomes. But too much power (in terms of resources) has often proved to be a curse when it leads to overconfidence and inappropriate strategies. David slew Goliath because Goliath's superior power resources led him to pursue an inferior strategy, which in turn led to his defeat and death. A smart-power narrative for the twenty-first century is not about maximizing power or preserving hegemony. It is about finding ways to combine resources in successful strategies in the new context of power diffusion and "the rise of the rest."


Sức mạnh bản chất là không tốt hay xấu. Nó giống như calo trong chế độ ăn uống: nhiều hơn không phải luôn tốt hơn. Nếu một đất nước có quá ít nguồn lực sức mạnh, nước này ít có khả năng đạt được những kết quả ưa thích của mình. Nhưng quá nhiều sức mạnh (về nguồn lực) thường tỏ ra là một tai ương khi nó dẫn đến sự tự tin quá mức và những chiến lược không thích hợp. David giết được Goliath vì nguồn lực sức mạnh ưu việt của Goliath khiến hắn theo đuổi một chiến lược yếu kém hơn, chiến lược mà đến lượt nó dẫn đến thất bại và cái chết của hắn. Một câu chuyện về sức mạnh thông minh cho thế kỷ 21 không phải về việc tối đa hoá sức mạnh hoặc duy trì bá quyền. Đó là về việc tìm ra cách để kết hợp các nguồn lực trong những chiến lược thành công trong bối cảnh mới của sự khuếch tán quyền lực và “sự trỗi dậy của phần còn lại”.


As the largest power, the United States will remain important in global affairs, but the twentieth-century narrative about an American century and American primacy -- as well as narratives of American decline -- is misleading when it is used as a guide to the type of strategy that will be necessary in the twenty-first century. The coming decades are not likely to see a post-American world, but the United States will need a smart strategy that combines hard- and soft-power resources -- and that emphasizes alliances and networks that are responsive to the new context of a global information age.
Là quốc gia lớn nhất, Mỹ sẽ vẫn quan trọng trong các vấn đề toàn cầu, nhưng câu chuyện của thế kỷ 20 về một thế kỷ Mỹ và sự ưu việt Mỹ – cũng như những câu chuyện về sự suy thoái của Mỹ – gây hiểu lầm khi nó được sử dụng như một sự chỉ dẫn cho kiểu chiến lược sẽ cần thiết trong thể kỷ 21. Những thập kỷ tới không có khả năng chứng kiến một thế giới hậu Mỹ, nhưng Mỹ sẽ cần một chiến lược thông minh kết hợp các nguồn lực sức mạnh cứng và mềm – và chú trọng đến những liên minh và những mạng lưới đáp ứng được với bối cảnh mới của một thời đại thông tin toàn cầu.




http://www.foreignaffairs.com/articles/63394/fareed-zakaria/the-future-of-american-power