MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Friday, June 29, 2012

China on a collision course in the Asia-Pacific waters Mỹ, Trung Quốc có khả năng va chạm trong vùng biển châu Á-Thái Bình Dương





China on a collision course in the Asia-Pacific waters

By Xiaoxiong Yi 

Mỹ, Trung Quốc có khả năng va chạm trong vùng biển châu Á-Thái Bình Dương
Xiaoxiong Yi 

The Asia-Pacific waters are heating up with naval war games. Led by the nuclear-powered aircraft carrier USS George Washington, the U.S., Japan and South Korea conducted an unprecedented naval exercise June 21-22 in the waters south of the Korean peninsula. Immediately after the U.S.-Japan-South Korea trilateral exercise, the U.S. and South Korean navies conducted a bilateral drill Saturday-Monday in the Yellow Sea.

Các nước châu Á-Thái Bình Dương đang nóng lên với các trò chơi chiến tranh hải quân. Dẫn đầu bởi tàu sân bay hạt nhân George USS Washington, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tiến hành một cuộc tập trận hải quân chưa từng có ngày 21-22 tháng 6 tại vùng biển phía nam bán đảo Triều Tiên. Ngay sau khi tập trận ba bên Mỹ-Nhật-Hàn, các lực lượng hải quân Mỹ và Hàn Quốc tiến hành một cuộc tập trận song phương hôm Thứ bảy, cuộc tập trận thứ hai trong vùng biển Hoàng Hải.

Calling Japan and South Korea "cornerstone allies" of the U.S. in the Asia-Pacific, Admiral Samuel Locklear, Commander of the U.S. Pacific Command, called the trilateral exercise "a good opportunity for both Japan and South Korea to work more closely together with our help." Through these bilateral and trilateral naval exercises, Admiral Locklear expects that security cooperation between Japan and South Korea will be strengthened and the U.S. and its two key East Asian allies will form a stronger relationship "on the military side."

Gọi Nhật Bản và Hàn Quốc là "đồng minh đá tảng" của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Đô đốc Samuel Locklear, Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ, gọi cuộc tập trận ba bên là "một cơ hội tốt cho cả Nhật Bản và Hàn Quốc để làm việc chặt chẽ với nhau hơn với sự giúp đỡ của chúng tôi." Thông qua các cuộc tập trận hải quân song phương và ba bên, Đô đốc Locklear hy vọng rằng hợp tác an ninh giữa Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ được tăng cường và Mỹ và hai đồng minh quan trọng ở Đông Á sẽ tạo thành một mối quan hệ mạnh mẽ hơn "về mặt quân sự."


Beijing immediately voiced its strong opposition to the joint naval exercises. "China holds that the international community, especially Asia-Pacific countries," stated Chinese foreign ministry spokesman Liu Weimin, "must take moves to increase peace and stability on the Korean peninsula and in northern Asia, not to the contrary."

Bắc Kinh ngay lập tức lên tiếng phản đối mạnh mẽ cuộc tập trận hải quân chung này. "Trung Quốc giữ lập trường rằng cộng đồng quốc tế, đặc biệt là châu Á-Thái Bình Dương", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Liu Weimin tuyên bố, "phải có các động thái để tăng cường hòa bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên và bắc châu Á, chứ không phải làm ngược lại."

Analysts see the U.S.-Japan-South Korea June naval exercises as an implicit response to the Russian-Chinese naval exercises of April 22-27. The large-scale Chinese-Russian April war game in the Yellow Sea, including six Russian guided-missile cruisers and Udaloy-class destroyers and 16 Chinese destroyers and submarines, was the two navies' first bilateral exercise. "The exercise represents the unshakable determination to implement the two governments' strategic partnership," said Gen. Chen Bingde, Chief of the General Staff of People's Liberation Army, "and promotes strategic coordination between the two militaries and strengthens the two naval forces' ability to jointly confront new regional threats."

Các nhà phân tích thấy cuộc tập trận hải quân Mỹ-Nhật-Hàn Quốc tháng Sáu như một phản ứng ngầm với tập trận hải quân Nga-Trung Quốc từ ngày 22-27 tháng 4. Quy mô lớn của trò chơi chiến tranh Nga - Trung Quốc trong vùng biển Hoàng Hải, trong đó có 6 tàu tuần dương tên lửa của Nga và tàu khu trục lớp Udaloy, và 16 tàu khu trục và tàu ngầm Trung Quốc, là lần đầu tiên hải quân hai nước song phương tập trận. "Tập trận thể hiện quyết tâm không thể lay chuyển để thực hiện quan hệ đối tác chiến lược của chính phủ hai nước," Tướng Chen Bingde, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng nhân dân cho biết, "và nó thúc đẩy sự phối hợp chiến lược giữa quân đội hai nước và tăng cường khả năng lực lượng hải quân để cùng nhau đương đầu với các mối đe dọa mới trong khu vực."

Naval exercises often play a key role in diplomatic signaling. "These exercises," wrote Stephen Blank of Jamestown Foundation, "appeared in the context of a growing frequency of exercises in Asia by Chinese and U.S.-Asian forces and amid the reorientation of U.S. forces to East Asia, a change that Beijing has publicly labeled as hostile. The Chinese military media in particular emphasizes the implicitly anti-American aspect of the Chinese-Russian exercise. Gen. Chen Bingde's remarks suggest the greater willingness of the Chinese military to take a hard line against the United States."

Các cuộc tập trận hải quân thường đóng một vai trò quan trọng trong tín hiệu ngoại giao. "Những cuộc tập trận này", Stephen Blank của quỹ Jamestown Foundation nói, "xuất hiện trong bối cảnh của một tần số ngày càng tăng các cuộc tập trận ở châu Á giữa lực lượng Trung Quốc và Mỹ, giữa châu Á và giữa những lực lượng Mỹ định hướng lại đến Đông Á, một sự thay đổi mà Bắc Kinh đã công khai dán nhãn như thù địch. Các phương tiện truyền thông quân sự của Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh ngầm chống Mỹ của tập trận Trung Quốc-Nga phát biểu của tướng Chen Bingde cho thấy sự sẵn sàng của quân đội Trung Quốc để có một đường lối cứng rắn chống lại Hoa Kỳ. "

Tensions are rising not only in the Yellow Sea and Northeast Asia, but also in the South China Sea. On June 21, China's cabinet approved the establishment of a prefecture-level San Sha Authority to administrate virtually the entire 3.5-million-square-kilometer waters of South China Sea.

Căng thẳng đang tăng lên không chỉ ở vùng biển Hoàng Hải và Đông Bắc Á, mà còn ở Biển Nam Trung Quốc. Ngày 21 tháng sáu, nội các Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập một đơn vị hành chánh cấp tỉnh Tam sa, quản trị hầu như toàn bộ 3,5 triệu km vuông vùng biển của Biển Đông.

As China continues to modernize its navy at breakneck speed and claims its control over more than 90 percent of the South China Sea, the battle for disputed territorial waters is no longer just hot air. The South China Sea dispute has moved to the top of Asia's security agenda, with the militarization of the dispute continues apace.

Khi Trung Quốc tiếp tục hiện đại hóa hải quân với tốc độ chóng mặt và tuyên bố kiểm soát đối với hơn 90% Biển Đông, cuộc chiến giành vùng biển tranh chấp lãnh thổ không còn chỉ là không khí nóng. Tranh cãi về Biển Đông chuyển thành đỉnh điểm của chương trình nghị sự an ninh châu Á, với việc quân sự hóa các tranh chấp vẫn tiếp tục gia tăng chóng vánh.

From the Yellow Sea to the South China Sea, the Pacific Ocean off the mainland of Asia has been turned into a "Sea of Tensions." And as Ross Babbage, founder of Canberra-based Kokoda Foundation, points out, "China is investing in a whole raft of capabilities to undermine the U.S. presence in the Western and Central Pacific. It is a fundamental challenge to the U.S. in Asia."

Từ vùng biển Hoàng Hải tới biển Đông, phần Thái Bình Dương ngoài khơi lục địa châu Á đã biến thành một "Biển căng thẳng." Và như Ross Babbage, người sáng lập Kokoda Foundation có trụ sở tại Canberra, chỉ ra, "Trung Quốc đang đầu tư vào một chiếc bè toàn bộ các khả năng nhằm làm suy yếu sự hiện diện của Mỹ ở Tây và Trung Thái Bình Dương. Nó là một thách thức cơ bản của Mỹ ở châu Á."

The U.S. is pushing back. "Make no mistake," U.S. Defense Secretary Leon Panetta told the Shangri-La Dialogue, the annual security conference in Singapore attended by civilian and military leaders from Asia-Pacific nations, "the United States military is rebalancing and bringing an enhanced capability development to this vital region." As part of the strategic pivot to Asia, Panetta announced June 2 at the 11th Shangri-La Dialogue that the United States will deploy 60 percent of its warships in the Asia-Pacific, including six aircraft carriers and a majority of the U.S. navy's cruisers, destroyers, littoral combat ships and submarines.

Mỹ mau chóng quay trở lại. "Không còn nghi ngờ gì nữa," Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta nói tại hội nghị Đối thoại Shangri-La, hội nghị an ninh hàng năm ở Singapore với sự tham dự của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự từ các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương", quân đội Mỹ được tái cân bằng và mang lại một sự phát triển khả năng tăng cường khu vực quan trọng này." Là một phần của các trục chiến lược dành cho châu Á, mà Panetta đã công bố ngày 02 tháng sáu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 11, Hoa Kỳ sẽ triển khai 60% tàu chiến của nó trong các khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm 6 tàu sân bay và phần lớn tàu tuần dương của hải quân Mỹ, tàu khu trục, tàu chiến duyên hải và tàu ngầm.

The United States' renewed commitment to Asia-Pacific regional defense ties has won strong endorsement from regional nations, including those with a history of adversarial or distant relations with Washington.

Cam kết mới của Hoa Kỳ về các quan hệ quốc phòng khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã giành được sự tán thành mạnh mẽ từ các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả những nước có một lịch sử quan hệ thù địch hoặc xa cách với Washington.

However, as Washington is pushing ahead with a muscular realignment of its forces toward the Asia-Pacific region, Beijing is likely to be further antagonized. China's expansive military muscle and its long-term territorial ambitions and the United States' policy of "return to Asia" with a proactive leadership role have set the two great powers on a collision course in the Asia-Pacific waters.

Tuy nhiên, khi Washington đang tiến về phía trước với một việc tái tổ chức sức mạnh của các lực lượng của nó tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Bắc Kinh có thể sẽ tiếp tục đối kháng. Sức mạnh quân sự mở rộng của Trung Quốc và tham vọng lãnh thổ lau dài cùng với chính sách trở lại châu Á của Hoa Kỳ" với một vai trò lãnh đạo chủ động đã tạo nên thế hai cường quốc lớn có khat năng va chạm trong vùng biển châu Á-Thái Bình Dương.

Xiaoxiong Yi is the Director of Marietta College's China Program.
Xiaoxiong Yi là Giám đốc Chương trình Trung Quốc tại Marietta College.U.S.

Translated by nguyenquang


http://www.lancastereaglegazette.com/article/20120628/OPINION02/206280316

An Asian security standoff Thế khó xử về an ninh tại châu Á




An Asian security standoff

Thế khó xử về an ninh tại châu Á
Alan Dupont
April 25, 2012

Alan Dupont
April 25/4/2012
Pivotal moments in history are seldom anticipated. And when change is systemic, this rule is even truer. There are unmistakable signs in East Asia, however, that the old, U.S.-dominated order can no longer be sustained in the face of Chinas emerging challenge and the relative weakness of both the United States and Japan.
Những thời điểm quan trọng trong lịch sử hiếm khi được báo trước. Và khi thay đổi đó mang tính hệ thống, thì quy luật này càng đúng hơn. Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng tại Đông Á cho thấy trật tự cũ do Mỹ chế ngự có thể không còn kéo dài nữa trước thách thức ngày càng lớn của Trung Quốc và sự yếu đi tương đối của cả Mỹ và Nhật Bản.

A failure of American diplomacy to adjust to these new power realities, or of China to accommodate long-standing U.S. and Japanese interests, could jeopardize the promise of the much-heralded Asian century and return East Asia to its bloody and fractious past. What emerges in this critical region will have global consequences.
Một sai lầm trong chính sách ngoại giao của Mỹ khi chỉnh sửa thực tế quyền lực mới này, hoặc một sai lầm của Trung Quốc trong việc thích nghi với các lợi ích lâu nay của Mỹ và Nhật, đều có thể gây nguy hiểm cho tương lai hứa hẹn của kỷ nguyên châu Á đã được tiên liệu, và đưa Đông Á trở lại quá khứ đẫm máu và chia rẽ. Và điều gì sẽ xảy ra trong khu vực quan trọng này cũng sẽ gây hậu quả tới toàn cầu.

As the locus of economic and military power shifts decisively from the Atlantic to the Pacific, it is clear that East Asia has never been so centrally important to the international order. Never before have the world's three preeminent states--the United States, Japan and China--all been Asia-Pacific powers. This raises the stakes for everyone should the Old Order fail precipitously.

Các trọng tâm quyền lực kinh tế và quân sự chắc chắn đang thay đổi từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, rõ ràng Đông Á chưa bao giờ quan trọng đến như vậy trong trật tự quốc tế. Trước đây, thế giới chưa bao giờ chứng kiến ba cường quốc ưu việt nhất - Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc - cùng nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc này khiến mọi người đều cá cược rằng Trật tự thế giới cũ sẽ sụp đổ nhanh chóng.

For nearly seven decades, this order has been underpinned by U.S. economic and military strength, dating back to the defeat of Japan at the end of World War II and reinforced forty-five years later by the collapse of the Soviet Union. During the Cold War, American preeminence in East Asia was vitiated by both the illusion and reality of Soviet military power. Thereafter, for a brief "unipolar moment," the United States seemed able to do as it pleased without worrying about peer competitors or balancing coalitions.
Trong gần bảy thập kỷ, trật tự ấy đã gắn với sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ, kể từ thất bại của Nhật Bản sau chiến tranh Thế giới II và được củng cố 55 năm sau đó bởi sự tan rã của Liên bang Xô Viết. Trong thời Chiến tranh Lạnh, vai trò bá chủ của Mỹ ở Đông Á bị lu mờ bởi nỗi ám ảnh và thực tế về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Nhưng sau đó, trong một thời gian ngắn "đơn cực", Mỹ dường như có thể chẳng cần phải lo ngại đến việc có một đối thủ cạnh tranh nào ngang tầm hoặc liên minh nào đủ sức đối trọng.

In retrospect, President George W. Bush's first term may be seen as the apogee of Pax Americana. Since then, it has been mostly downhill for a United States weakened by ten years of war, a gridlocked political system and the lingering contagion from the 2008 global financial crisis. President Obama's pivot to Asia, and his attempt to quarantine the region from defense-budget cuts, cannot disguise the sober reality that the U.S. capacity to shape East Asia is no longer what it was.

Nhìn lại quá khứ, nhiệm kỳ đầu của Tổng thống George W. Bush có thể được xem là thời cực thịnh của Nền hòa bình kiểu Mỹ (Pax Americana). Sau đó, nó đã hầu như tụt dốc vì nước Mỹ bị yếu đi sau 10 năm tham chiến ở khắp nơi, một hệ thống chính trị tắc nghẽn và hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Việc chính quyền Tổng thống Obama đặt trọng tâm vào châu Á, và ý định của ông "cách ly" khu vực này khỏi những cắt giảm ngân sách quốc phòng, cũng không thể che giấu thực tế rõ ràng rằng khả năng Mỹ định hình Đông Á không còn như trước nữa.

Once seen as the reliable northern anchor of the U.S. alliance system in East Asia and lauded for its dependability and dynamism, Japan's two-decade political and economic malaise is a significant cause of the weakening of the Old Order.

Một thời từng được xem là cái "mỏ neo" phương Bắc đáng tin cậy của hệ thống liên minh của Mỹ tại Đông Á và được tán dương về khả năng tự chủ và năng động của mình, nay Nhật Bản sau hai mươi năm vật vã với "căn bệnh" chính trị và kinh tế lại trở thành nguyên nhân chính dẫn tới sự yếu đi của Trật tự cũ.

The near meltdown of the tsunami-crippled Fukushima nuclear-power plant in 2011 can be seen as a metaphor for the corrosion of Japan's increasingly inward-looking body politic. The country lacks confidence and is beset by a host of domestic problems. Leadership stasis has made it difficult for the United States to reinvigorate the strategic partnership with Japan or to be sure where the country is heading. This is reflected in the failure to reach agreement on the relocation of the important Marine base on Okinawa.

Việc nhà máy điện hạt nhân Fukushima gần sụp đổ sau trận sóng thần kinh hoàng năm 2011 có thể được xem là một bằng chứng cho thấy sự ăn mòn của bộ máy chính trị ngày càng hướng nội của Nhật Bản. Nước này thiếu niềm tin và bị bủa vây bởi một loạt các vấn đề trong nước. Bế tắc lãnh đạo đã khiến Mỹ gặp khó khăn trong việc củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, cũng như muốn đảm bảo rằng đất nước Mặt trời mọc đang tiến về phía trước. Điều này được phản ánh trong việc hai nước không thể đạt thỏa thuận về tái bố chí căn cứ hải quân quan trọng của Mỹ trên đảo Okinawa của Nhật Bản.

While Japan remains a major economy, its gross domestic product has not grown for twenty years, and the country suffered the indignity of being overtaken by China as the world's second-largest economy in 2011. Aging and shrinking demographically, Japan faces the prospect of being consigned to the second rank of East Asia's middle powers unless it can recapture its lost elan and purpose.

Trong khi Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế lớn, GDP của họ lại không tăng trưởng trong 20 năm qua, và nước này phải chịu sự nhục nhã của việc bị Trung Quốc vượt mặt, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2011. Trong khi đó, dân số Nhật Bản tiếp tục già đi và bị thu hẹp, khiến nước này phải đối mặt với tương lai bị tụt xuống vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng các nước trung lưu ở Đông Á.

But China's rise is the main reason for the loss of Washington's once-unrivaled ability to influence the region's affairs. With a population of 1.4 billion, more than the rest of East Asia and the United States combined, China is a megastate that for millennia was the dominant polity in Asia and now makes little secret of its desire to reclaim its former status. These dreams are no longer illusory, for modern China has the strategic clout to realize them.

Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc là lý do chính dẫn tới sự mất khả năng từng một thời vô song của Mỹ đối với các vấn đề trong khu vực. Với dân số 1,4 tỷ người, hơn toàn bộ phần còn lại của Đông Á và Mỹ cộng lại, Trung Quốc là một nước trung tâm có tới nghìn năm chế ngự châu Á và giờ đang âm thầm muốn giành lại quy chế này. Giấc mơ của họ không hề viển vông, bởi nước Trung Quốc hiện đại có các nền tảng chiến lược để thực hiện điều đó.

Its population and economy dwarf those of Fascist Germany, Imperial Japan and the Soviet Union--previous and ultimately vanquished challengers of U.S. power. China's reemergence poses strategic challenges of a complexity and magnitude not previously experienced by the United States, or the rest of East Asia, for that matter.

Dân số và nền kinh tế của họ vượt xa Đức Quốc xã, Phát xít Nhật và cả Liên Xô - trước đây là những đối thủ bị sức mạnh Mỹ đánh bại. Sự tái nổi lên của Trung Quốc đặt ra những thách thức chiến lược của một tình thế phức tạp và quy mô lớn chưa từng thấy đối với Mỹ, cũng như phần còn lại của Đông Á.

The principal unknown is the path Chinas leaders will follow, often posed in overly stark and simplistic terms as a choice between responsible stakeholder or revisionist state. In fact, China is likely to be both, conforming to the norms of the international system except when its core interests conflict with those norms.

Điều quan trọng còn chưa được biết rõ là con đường mà giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi theo, được đặt ra như một sự lựa chọn giữa việc là một quốc gia theo chủ nghĩa xét lại hay một cổ đông có trách nhiệm. Trên thực tế, Trung Quốc có thể là cả hai, phù hợp với các chuẩn mực của hệ thống quốc tế trừ khi các lợi ích cốt lõi của họ xung đột với các chuẩn mực này.

While long anticipated--indeed, U.S. policy planners were warning of these strategic implications as far back as the mid-1990s--the Middle Kingdom's new prominence in East Asia has been boosted by two seminal recent events, one financial and the other geopolitical.
Trong khi được tiên liệu từ lâu - thực tế là các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cảnh báo về các tác động chiến lược này từ giữa những năm 1990 - vai trò chế ngự mới của Trung Quốc tại Đông Á còn được thúc đẩy bởi hai sự kiện mới xảy ra gần đây, một về tài chính và một về địa chính trị.

The 2008 global financial crisis led many in China to believe that the United States was in decline, suffering from imperial overreach and living beyond its means. This belief is perhaps overstated, but owing more than a trillion dollars to China has dearly placed the United States in the distinctly uncomfortable position of being seen as a financial supplicant to its principal competitor.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến nhiều người ở Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, kết quả của việc tiêu sài quá mức kiếm được. Niềm tin này có thể đã bị cường điệu quá, nhưng việc sở hữu hơn 1.000 tỷ USD đối với Trung Quốc rõ ràng đã đặt Mỹ vào vị trí không hề thoải mái khi bị coi là một "người được chu cấp" bởi đối thủ cạnh tranh chính của mình.

Perceptions of U.S. financial weakness have clearly emboldened Chinese leaders to seek geopolitical advantage over the United States in contested spaces, especially in East Asia. Of greatest concern is Beijing's evident determination to aggressively defend its claims to disputed islands, waters and resources in the East China and South China seas.

Quan niệm về sự suy yếu tài chính của Mỹ rõ ràng đã khuyến khích giới lãnh đạo Trung Quốc tìm các lợi thế địa chính trị so với Mỹ trong các không gian cạnh tranh đặc biệt là tại Đông Á. Đáng quan tâm nhất là sự kiên quyết của Bắc Kinh trong việc bảo vệ các yêu sách của mình đối với các vùng biển đảo và tài nguyên đang tranh chấp tại biển Hoa Đông và biển Đông.


Relations with the other major Asian powers, Japan and India, have become increasingly testy, and many Southeast Asian nations are fearful that China will pay only lip service to regional egalitarianism as it becomes more powerful, both economically and militarily. In the past two years, China has declared the eponymous South China Sea to be a "core interest" and made abundantly clear that it will continue to support the bellicose North Korean regime despite that maverick state's repeated provocations and violations of international norms.


Trong quan hệ với các nước lớn khác ở châu Á, như Nhật Bản và Ấn Độ, Trung Quốc tỏ ra ngày càng hay gắt gỏng, và nhiều quốc gia Đông Nam Á lo ngại rằng Trung Quốc sẽ chỉ hứa hão về chủ nghĩa công bằng khu vực khi họ trở nên hùng mạnh hơn về kinh tế và quân sự. Trong hai năm qua, Trung Quốc tuyên bố biển Đông là một "lợi ích cốt lõi" và nhiều lần nêu rõ rằng sẽ tiếp tục bảo vệ chính quyền của Triều Tiên bất chấp các khiêu khích liên tiếp của Bình Nhưỡng.


At the heart of U.S. and regional anxieties about Chinas future military intentions is the ambitious "far-sea defense" strategy, designed to push the U.S. Navy as far from Chinese shores as possible. China is bent on turning its three coastal fleets into a genuine blue-water navy capable of controlling the western Pacific and eventually projecting significant maritime power into the central Pacific and the Indian Ocean.
Trung tâm những nỗi lo của Mỹ và khu vực về các ý định quân sự của Trung Quốc trong tương lai là các tham vọng chiến lược "bảo vệ biển xa", nhằm đẩy Hải quân Mỹ ra xa bờ biển Trung Quốc nhất có thể. Trung Quốc có "khiếu" biến ba hạm đội bảo vệ bờ biển của mình thành một lực lượng hải quân biển xa có khả năng kiểm soát Tây Thái Bình Dương và cả việc phô trương sức mạnh biển đáng kể tự Trung Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Beijing's strategic aim seems to be a Monroe Doctrine with Chinese characteristics, and it is rapidly acquiring the capabilities to realize this ambitious goal. From a Chinese perspective, this makes perfect strategic sense. After all, if a rising America could construct a Monroe Doctrine in the nineteenth century as a blunt but effective instrument for keeping other powers out of the Western Hemisphere, why should an ascendant, twenty-first-century China not seek a comparable outcome in the western Pacific? The problem is that Beijing's determination to push back the U.S. Navy threatens to destabilize the regional balance of power and escalate tensions not only with America but also with Japan.


Mục đích chiến lược của Bắc Kinh dường như là một Học thuyết Monroe kiểu Trung Quốc, và họ đang nhanh chóng tăng cường các năng lực để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này. Từ một viễn cảnh Trung Quốc, việc này có ý nghĩa chiến lược đầy đủ. Rốt cuộc, nếu một nước Mỹ nổi lên có thể tạo ra một Học thuyết Monroe trong thế kỷ 19 thì tại sao một Trung Quốc đang lên trong thế kỷ 21 lại không tìm kiếm một kết cục giống như vậy ở Tây Thái Bình Dương? Vấn đề là quyết tâm của Bắc Kinh đẩy lùi Hải quân Mỹ ra xa lại đang làm xáo trộn cán cân quyền lực tại khu vực và leo thang căng thẳng không chỉ với Mỹ mà cả với Nhật Bản.


Relations between China and Japan are already fraught with tensions. Neither side seems capable of moving beyond the historical enmities infecting its contemporary behavior and precluding any genuine rapprochement, despite Japan's booming trade with China and increasing level of economic interdependence.
Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản vốn đã đầy những căng thẳng. Chẳng bên nào có khả năng vượt qua những thù hằn trong lịch sử đang ảnh hưởng tới cách hành xử hiện tại của họ và ngăn cản mọi khả năng xích lại gần nhau, bất chấp thực tế là thương mại song phương đang "bùng nổ" và họ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.

These underlying tensions periodically erupt, exposing the deep fault lines between the two nations and underlining the potential for miscalculation. The most serious recent example occurred on September 7, 2010, when simmering tensions over ownership of the disputed Diaoyu or Senkaku Islands in the East China Sea boiled over into a serious confrontation after a Chinese fishing trawler appeared to deliberately ram a pursuing Japanese Coast Guard vessel. This brought Sino-Japanese relations to a post-World War II low. Opinion polls showed extremely high levels of mutual disaffection, with 87 percent of Japanese and 79 percent of Chinese surveyed regarding the other country as "untrustworthy." Fully 79 percent of Japanese considered China a military threat.


Những căng thẳng rõ ràng này cứ đến hẹn lại lên, cho thấy những đường hướng sai lầm sâu sắc giữa hai nước và nguy cơ tính toán nhầm. Ví dụ nghiêm trọng nhất gần đây xảy ra ngày 7/9/2010, khi căng thẳng lên cao liên quan đến quyền sở hữu quần đảo đang tranh chấp mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku trên biển Hoa Đông dẫn tới một sự đối đầu nghiêm trọng sau khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản trong một vụ rượt đuổi. Vụ việc đã kéo tụt quan hệ Trung - Nhật xuống mức thấp hơn thời hậu chiến tranh Lạnh. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người dân hai nước rất không hài lòng về nhau: 87% người Nhật và 79% người Trung Quốc coi nước kia là "không đáng tin cậy"; 79% người Nhật coi Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự.


It would be wrong to infer from these actions that China is intent on military confrontation with the United States and Japan or that it is yet in a position to supplant America as the region's most influential power. But China's new assertiveness illustrates the structural tensions that inevitably occur when a rising power challenges the existing order and, by definition, the place of the previously dominant state.

Có thể là sai khi suy diễn từ các hành động này rằng Trung Quốc đang có ý định đối đầu quân sự với Mỹ và Nhật Bản, hay cho rằng họ sắp thay thế Mỹ là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Nhưng thái độ xác quyết mới đây của Trung Quốc cho thấy căng thẳng về thể chế tất yếu xảy ra khi một cường quốc mới nổi thách thức trật tự đang tồn tại, và như vậy, thách thức vị trí của quốc gia đang bá chủ trước đó.

As Harvard's Richard Rosecrance and Peking University's Jia Qingguo have documented, over the past five hundred years, six of the seven hegemonic challenges to the existing order have led to serious conflict. We also know that strong economic and trade links between aspiring and incumbent hegemons do not, by themselves, reduce the risk of conflict, as Britain and Germany demonstrated a century ago when their deepening economic interdependence couldn't prevent their going to war in 1914. Thus, it would be an egregious mistake to conclude that strengthening ties between China and the United States make military conflict between them unthinkable.

Giáo sư Richard Rosecrance (trường Đại học Harvard, Mỹ) và giáo sư Jia Qingguo (trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) phân tích rằng trong 500 năm qua, sáu trong số bảy thách thức lớn đối với trật tự đang tồn tại đã dẫn tới xung đột nghiêm trọng. Chúng ta đều biết rằng các mối liên hệ kinh tế và thương mại giữa các cường quốc muốn chế ngự và đang chế ngự không thể giảm bớt nguy cơ xung đột, như trường hợp Anh và Đức một thế kỷ trước, khi sự phụ thuộc sâu sắc vào nhau về kinh tế cũng không giúp họ tránh phải lao vào chiến tranh năm 1914. Vì vậy, sẽ là một sai lầm lớn nếu kết luận rằng quan hệ mật thiết giữa Mỹ và Trung Quốc khiến cuộc xung đột quân sự là điều không tưởng.
Some liberals argue that the unique character, cultural identity and historical experience of China make it intrinsically less aggressive than other nations. According to this view, the Middle Kingdom is an exceptional state and marches to a different foreign-policy tune. However, the proposition that China has historically been less aggressive or less expansionist than its Western or Eastern counterparts does not withstand scrutiny.

Một số nhân vật tự do cho rằng đặc điểm duy nhất, bản sắc văn hóa và kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc khiến họ ít hiếu chiến hơn các nước khác. Theo quan điểm này, Trung Quốc là một nước đặc biệt và có chính sách đối ngoại rất khác biệt. Tuy nhiên, phân tích cho rằng Trung Quốc xét về lịch sử ít hiếu chiến hơn hay ít theo chủ nghĩa bành chướng hơn các nước phương Tây hay phương Đông cũng không thuyết phục.

Like many powerful nations, and the United States in particular, China has a long tradition of territorial expansionism and subduing or coercing neighboring peoples and states. Although different in character from European colonialism, the endgame of Chinas tributary-state system has been the imposition of a Chinese suzerain over neighboring peoples and polities, a point not lost today on fellow Asians.
Giống như nhiều quốc gia hùng mạnh khác, và đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc có một truyền thống bành chướng lãnh thổ lâu dài, họ đã đánh bại hoặc ép buộc người dân và các quốc gia láng giềng. Dù khác về bản chất so với chủ nghĩa đô hộ của châu Âu, nhưng mục đích của hệ thống chư hầu của Trung Quốc là sự áp đặt một Trung Quốc bá chủ đối với nhân dân và xã hội láng giềng, một đặc điểm vẫn còn tồn tại tới ngày nay đối với các nước châu Á.

While Beijing regards reunification with Taiwan and pacification of Tibet as a restoration of Chinese authority over ancestral lands lost through the perfidious interference of foreigners, it is possible to draw an altogether different conclusion: Beijing's policies toward Taiwan and Tibet reflect China's likely behavior toward the wider region. Certainly, Chinas revanchism has done little to build confidence that a Pax Sinica would be demonstrably fairer, more stable and peaceful than Pax Americana.


Trong khi Bắc Kinh xem việc tái thống nhất đảo Đài Loan và bình định Tây Tạng là việc lập lại quyền của Trung Quốc đối với các mảnh đất của tổ tiên đã mất vào tay những người nước ngoài phản bội, thì hoàn toàn có thể đưa ra một kết luận khác: các chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan và Tây Tạng cho thấy cách hành xử tương tự của Trung Quốc đối với cả khu vực rộng lớn hơn. Chắc chắn, chính sách phục thù của Trung Quốc không giúp xây dựng niềm tin rằng một Nền hòa bình kiểu Trung Quốc (Pax Sinica) có thể tỏ ra là công bằng hơn, ổn định và hòa bình hơn Pax Americana.

But if Pax Sinica lacks appeal and Pax Americana cannot endure in its current form, what kind of new order might emerge in East Asia that could maintain peace and accommodate the aspirations of all the region's states?

Nhưng nếu Pax Sinica hụt hơi và Pax Americana không thể kéo dài dạng thức hiện nay của nó, thì kiểu trật tự mới nào sẽ nổi lên tại Đông Á có thể giúp duy trì hòa bình và thể hiện được nguyện vọng của tất cả các nước trong khu vực?

One possibility is a "Concert of Asia." Drawing their inspiration from the post-Napoleonic accord of powers that controlled Europe for much of the nineteenth century, supporters of a Concert of Asia maintain that in the absence of a dominant state, a contemporary Asian version of the European concert holds out the best prospect for regional peace and stability. To be credible and enduring, however, only the strongest powers would be entitled to a seat at the table. The five obvious candidates are the United States, China, Japan, India and Indonesia.

Một khả năng là "Bản đồng ca châu Á". Lấy cảm hứng từ thỏa thuận quyền lực hậu Napoleon, điều hành châu Âu trong đa phần thế kỷ 19, những người ủng hộ một Bản hòa đồng ca châu Á cho rằng nếu thiếu một quốc gia có thể đứng đầu, một phiên bản châu Á đương đại của sự phối hợp châu Âu có thể duy trì tốt hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên để trở nên đáng tin cậy và được đảm bảo, chỉ các nước mạnh nhất mới có quyền giành một ghế quanh chiếc bàn tròn. Năm ứng cử viên dễ thấy là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia.

One clear problem with this formulation is the dubious assumption that East Asia's smaller nations would readily agree to have their individual or collective interests adjudicated by the large powers. This runs counter to the whole thrust of East Asian regionalism over the past two decades, with its emphasis on the empowerment of smaller states and the collective management of the region's security problems.

Một vấn đề rõ ràng với mô hình này là liệu các nước nhỏ hơn ở Đông Á có sẵn sàng nhất trí gắn lợi ích cá nhân hoặc tập thể của mình với các nước lớn hay không. Điều này đi ngược lại cuộc công kích chủ nghĩa khu vực Đông Á trong hai thập kỷ qua, khi mà các nước nhỏ hơn nhấn mạnh đến quyền của mình và cách xử lý tập thể đối với các vấn đề an ninh khu vực.

It also ignores the global diffusion of power that has accompanied what Fareed Zakaria calls the "rise of the rest." Robust, medium-sized states are demanding a greater say in regional and international affairs, and they are not going to accept readily any return to a past of great-power dominance.

Việc này cũng chưa tính đến sự phân bố quyền lực toàn cầu đi kèm với cái mà Fareed Zakaria gọi là "sự nổi lên của phần còn lại". Các nước tầm trung đòi một tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và sẽ không chấp nhận sự trở lại của bất kỳ cường quốc bá chủ nào trước đây.

It is also difficult to see the major powers agreeing to accept a stewardship role of the kind envisaged in a Concert of Asia. Japan is too weak; China is unwilling, and its political values are too different; India is preoccupied with its own problems; Indonesia's geopolitical ambitions are confined to Southeast Asia; and the United States has neither the inclination nor the resources to take on an enhanced leadership role in Asia.
Cũng rất khó để thấy các nước lớn đạt nhất trí về một vai trò quản lý của mô hình Bản đồng ca châu Á. Nhật Bản quá yếu; Trung Quốc thì không sẵn sàng, và các giá trị chính trị của họ quá khác; Ấn Độ thì chỉ quan tâm đến các vấn đề của mình; còn các tham vọng địa chính trị của Indonesia lại gắn với Đông Nam Á; Mỹ chẳng có nguồn lực để đóng một vai trò lãnh đạo nổi bật tại châu Á.



What of the argument that America should accept the inevitable and share power with China as an equal? Paralleling the G-2 would be an Asia2, allowing Beijing and Washington to divide the region into spheres of influence in much the same way as the United States and the Soviet Union managed a politically bifurcated Europe during the early part of the Cold War.

Còn về ý kiến cho rằng Mỹ nên chấp nhận sự tất yếu và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc như một nước bình đẳng? Song song với G-2 sẽ là một châu Á -2, cho phép Bắc Kinh và Washington chia sẻ khu vực thành các vòng ảnh hưởng giống như Mỹ và Liên Xô từng quản lý một nửa châu Âu trong thời đầu chiến tranh Lạnh.

While superficially appealing because it holds out the prospect of a peaceful transition to a new international order, power sharing between the United States and China is unlikely to work for two reasons. First, no U.S. administration, regardless of its political complexion, would voluntarily relinquish power to China, just as China wouldn't if the roles were reversed. Second, China's new great-power status is hardly untrammeled. Nor is it guaranteed to last, for the country faces formidable environmental, resource, economic and demographic challenges, not to mention a rival United States that shows no sign of lapsing into terminal decline despite its current economic travails. Sooner than it thinks, Beijing may have to confront the prospect of a resurgent Washington determined to reassert its strategic interests.
Dù trông bề ngoài có vẻ hấp dẫn vì cho thấy triển vọng một sự chuyển tiếp hào bình sang một trật tự quốc tế mới, nhưng cách chia sẻ quyền lực này giữa Mỹ và Trung Quốc ít khả năng xảy ra vì hai lý do. Một là không có chính quyền nào ở Mỹ, vì tính phức tạp chính trị của họ, lại sẵn lòng chia miếng bánh quyền lực với Trung Quốc, và Trung Quốc cũng vậy. Thứ hai, quy chế nước lớn mới của Trung Quốc khó mà bị cản trở. Nó cũng không được đảm bảo là sẽ kéo dài, vì đất nước này đang phải đối mặt với các thách thức lớn về môi trường, tài nguyên, kinh tế và dân số, chưa kể tới một đối thủ là Mỹ đang không có dấu hiệu nào rơi vào suy yếu bất chấp tình hình kinh tế khó khăn hiện nay của họ. Sớm hơn họ nghĩ, Bắc Kinh có thể phải đương đầu với nguy cơ một Washington trỗi dậy quyết tâm giành lại các lợi ích chiến lược của mình.

The question, then, is: How can China and the United States ensure that healthy competition does not give way to an entrenched bloody-mindedness that aggravates existing insecurities and results in serious conflict? That may be difficult, if not impossible, should Beijing maintain its current political and military strategy in the western Pacific.
Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào Trung Quốc và Mỹ có thể đảm bảo rằng cuộc cạnh tranh lành mạnh sẽ không dẫn tới một sự dửng dưng làm nghiêm trọng thêm sự bấp bênh vốn có và dẫn tới xung đột nghiêm trọng? Có thể Bắc Kinh sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, duy trì chiến lược chính trị và quân sự hiện nay của mình tại Tây Thái Bình Dương.

Like any other state, China is entitled to modernize its armed forces and protect its legitimate security interests. But Beijing's assertion of its territorial claims in the East and South China seas has been counterproductive--alienating neighbors, raising international concerns about China's strategic ambitions and provoking hedging behavior in the region. China's challenge to U.S. maritime power in East Asia strikes at a deeply held American conviction that continued naval dominance of the Pacific is not only critical to U.S. security but also to the nation's standing as the preeminent global power, something that all but guarantees a countervailing military and political response.

Giống như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc tự cho mình quyền hiện đại hóa lực lượng vũ trang và bảo vệ các lợi ích an ninh chính đáng của mình. Nhưng thái độ xác quyết của Bắc Kinh trong yêu sách lãnh thổ tại biển Đông lại phản tác dụng - làm các nước láng giềng xa lánh, khiến quốc tế lo ngại về các tham vọng chiến lược của Trung Quốc và gây ra các hành động bao vây trong khu vực. Thách thức của Trung Quốc đối với sức mạnh biển của Mỹ tại Đông Á đánh vào niềm tin từ lâu của Mỹ rằng vai trò ưu việt về hải quân tại Thái Bình Dương không chỉ quan trọng đối với an ninh của Mỹ mà cả đối với vị trí cường quốc bá chủ toàn cầu của họ.

At issue here is Beijing's often harsh and uncompromising official rhetoric when dealing with sensitive political and sovereignty issues as well as the government's willingness to accept and even sometimes foster nationalist sentiment at home, which is aggravating and complicating disputes with the United States and Japan. A more pluralistic, globally connected China would mean that foreign policy is no longer the exclusive preserve of the Standing Committee of the Politburo and the small policy elite that supports it in the Foreign Ministry and State Council. Nationalist sentiment expressed through chat rooms, blogging and Internet sites is complicating, and making less predictable, the management of Sino-U.S. and Sino-Japanese relations.

Vấn đề ở đây là các phát biểu chính thức - thường gay gắt và không thỏa hiệp - của Bắc Kinh khi nói về các vấn đề nhạy cảm chính trị hay chủ quyền, cũng như việc chính phủ sẵn sàng chấp nhận, thậm chí đôi khi còn thúc đẩy, tình cảm dân tộc trong nước, càng làm nghiêm trọng và phức tạp thêm các cuộc tranh chấp với Mỹ và Nhật Bản. Một Trung Quốc ngày càng đa nguyên và kết nối toàn cầu đồng nghĩa với việc chính sách đối ngoại không còn là khu vực cấm của riêng Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị và nhóm nhỏ các quan chức về chính sách tại Bộ Ngoại giao và Chính phủ ủng hộ chính sách đó. Chủ nghĩa dân tộc thể hiện trên các chat rooms (diễn đàn trao đổi trên mạng internet), các trang blog và các trang mạng internet đang khiến việc quản lý các quan hệ Trung - Mỹ và Trung - Nhật trở nên phức tạp và khó lường hơn.


Of course, no country is immune from the demonization of competitors, as attested by "Japan bashing" in the United States during the 1980s. But the incubus of extreme nationalism is having a particularly destabilizing effect in China, where sensationalist and emotive reporting, more often associated with Western tabloids, is making it difficult for Chinese leaders to avoid caricaturing rather than making nuanced assessments of U.S. intentions and capabilities. If Beijing is not yet ready for a free press, it must accept the responsibility for the outbursts of a controlled press.

Tất nhiên, không có nước nào là không bị các nước đối thủ chưởi rủa, nói xấu, mà điều này đã được chứng thực bởi việc "nói xấu Nhật Bản" tại Hoa Kỳ trong những năm 1980. Nhưng Ác thần của chủ nghĩa dân tộc cực đoan có một hiệu ứng đặc biệt gây bất ổn ở Trung Quốc, nơi mà các bài báo giật gân và kích thích cảm xúc, mà thường được so sánh với báo lá cải phương Tây, đã làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc khó tránh được cường điệu hóa thay vì đánh giá ý định và khả năng có chủ ý của Mỹ. Nếu Bắc Kinh chưa sẵn sàng cho một nền báo chí tự do, nó phải chịu trách nhiệm về các vụ nổ của một nền báo chí có kiểm soát.

America's challenge, meanwhile, is to develop a more coherent China strategy that explicitly recognizes Beijing's resource anxieties and corollary need to take on greater responsibility for the protection of sea-lanes in the western Pacific. What has been missing from many Western explanations of China's more assertive recent behavior is recognition of the economic importance that Beijing attaches to this vital waterway, which is a major conduit for international trade and a rich repository for minerals and valuable marine life. By 2030, up to 80 percent of China's oil and 50 percent of its gas will be imported by sea, through the Malacca Strait--a classic maritime choke point due to the narrowness and shallowness of its approaches, the number of ships that pass through it daily, and the Strait's vulnerability to interdiction or environmental blockage.

Trong khi đó, thách thức của Mỹ là phát triển một chiến lược gắn kết hơn về Trung Quốc, theo đó công khai thừa nhận các lo ngại về tài nguyên của Tủng Quốc, từ đó có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ các hải trình qua Tây Thái Bình Dương. Điều còn thiếu trong nhiều cách giải thích của phương Tây về cách hành xử xác quyết hơn của Trung Quốc gần đây là sự thừa nhận tầm quan trọng kinh tế mà Bắc Kinh gắn với vùng biển mang tính sống còn này, được coi là một ống dẫn chính tới thương mại thế giới và một kho khoáng sản giàu có và nguồn hải sản phong phú. Đến năm 2030, có tới 80% nhu cầu dầu và 50% nhu cầu khí đốt của Trung Quốc sẽ phải nhập bằng đường biển, thông qua eo biển Malacca - nơi được coi là một nút thắt cổ chai trên biển từ xưa vì nó hẹp và cạn, hạn chế số lượng tàu bè qua lại hàng ngày, và vì nó dễ bị áp đặt lệnh cấm hoặc phong tỏa môi trường.

The rate of growth in China's energy imports has few historical parallels, if any. In less than twenty years, the country has moved from a net exporter to importing more than 55 percent of its oil, with crudeoil imports increasing by a staggering 17.5 percent in 2010 alone.
Tỷ lệ gia tăng nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc hiếm thấy, nếu không muốn nói là chưa từng thấy trong lịch sử. Trong chưa đầy 20 năm, nước này đã chuyển từ một nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu hơn 55% nhu cầu về dầu mỏ trong nước, với việc nhập khẩu dầu thô tăng tới tận 17,5% riêng trong năm 2010.

This resource vulnerability weighs heavily on the minds of Chinese decision makers who, in addition to worrying about terrorism, piracy and environmental disruptions to their energy supplies, are acutely aware that their major competitor exercises effective naval control over the Malacca Strait and most of the western Pacific.
Tính dễ bị tổn thương về tài nguyên này tác động rất mạnh tới suy nghĩ của các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc, những người bên cạnh việc lo ngại chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và tình trạng xâu xé nguồn cung năng lượng của họ, đã ý thức rõ rằng đối thủ cạnh tranh chính của họ đang thể hiện quyền kiểm soát hải quân tại Eo biển Malacca và hầu hết vùng Tây Thái Bình Dương.

Invoking the so-called Malacca dilemma, President Hu Jintao first gave voice to these anxieties in 2005, and his officials have made it clear since that China is no longer prepared to outsource sea-lane security in the western Pacific to the U.S. Navy. Thus, whether the United States and Japan like it or not, Chinese naval pennants will be sighted far more frequently in the western Pacific and as far south as the Malacca Strait. This is a natural consequence of Chinas growing economic and strategic weight, just as the emergence of the U.S. Navy heralded the rise of the United States as a major power at the dawn of the twentieth century.

Nêu ra thế tiến thoái lưỡng nan tại Malacca như trên, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ các lo ngại này vào năm 2005, và các quan chức dưới quyền ông đã nói rõ rằng Trung Quốc không còn muốn giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho các hải trình ở Tây Thái Bình Dương vào tay Hải quân Mỹ nữa. Như vậy, dù Mỹ và Nhật Bản có thích hay không, lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ tiến xa hơn ra Tây Thái Bình Dương, đến tận miền Nam Eo biển Malacca. Đây là một hậu quả của sức nặng kinh tế và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc, giống như sự nổi lên của Hải quân Mỹ đã báo trước sự nổi lên của Mỹ là một cường quốc lớn từ cuối thế kỷ 20.

Another danger point lies in various inconsistencies in U.S. behavior and approaches to China. Over the past two decades, U.S. China policy has been a confusing mix of engagement, partnership, competition, hedging and lectures on China's internal political structure. With resentment and hostility toward Beijing on the rise, American administrations face the challenge of ensuring that China does not become a whipping boy for U.S. domestic-policy failings or replace the Soviet Union as the new strategic bogeyman. Any attempt to demonize China would be counterproductive to U.S. strategic interests in East Asia. It would undercut moderates in the Chinese leadership and encourage a reciprocal response that would aggravate existing tensions.

Một điểm nguy hiểm khác nằm ở các mâu thuẫn trong cách hành xử và cách tiếp cận của Mỹ với Trung Quốc. Trong hai thập kỷ qua, chính sách Trung Quốc của Mỹ đã là một hỗn hợp giữa cam kết, đối tác, cạnh tranh, bao vây và lên lớp về cấu trúc chính trị bên trong Trung Quốc. Khi sự oán giận và thù địch đối với một Bắc Kinh đang nổi lên, chính quyền Mỹ đối mặt với thách thức đảm bảo rằng Trung Quốc không trở thành một kẻ bung xung cho sự lơ là chính sách đối nội của Mỹ hoặc thay thế Liên Xô làm "mẹ mìn" chiến lược mới. Mọi âm mưu biến Trung Quốc thành quỷ sẽ phản tác dụng đối với lợi ích chiến lược của Mỹ tại Đông Á. Nó có thể làm giảm bớt sự ôn hòa của giới lãnh đạo Trung Quốc và khuyến khích một cách trả đũa có thể làm nghiêm trọng thêm các căng thẳng sẵn có.

How the United States and China manage their relationship will have strategic implications extending well beyond East Asia. As competition increases, preventing conflicts from escalating will not be easy. This isn't necessarily because Beijing seeks territorial expansion, has become a revisionist power or has serious differences with Washington over values. Presumably, these can be managed. The real danger is that China's resource vulnerabilities, sense of entitlement and determination to restore its historically dominant position in East Asia will deepen regional anxieties about Chinese behavior and trigger a countervailing response from the United States and Japan.

Mỹ và Trung Quốc quản lý quan hệ của mình như thế nào sẽ có ảnh hưởng chiến lược đối với toàn khu vực Đông Á. Khi cạnh tranh gia tăng, việc ngăn chặn các cuộc xung đột leo thang sẽ không hề dễ. Điều này không phải là tất yếu vì Bắc Kinh tìm cách bành chướng lãnh thổ, trở thành một cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hay có bất đồng sâu sắc với Washington về các giá trị. Có lẽ, nó có thể được quản lý. Mối nguy hiểm thực sự là tính dễ tổn thương về năng lượng của Trung Quốc, cảm giác mình được quyền làm và quyết tâm lập lại vị thế bá chủ từng có trong lịch sử tại Đông Á sẽ làm sâu sắc thêm những lo ngại trong khu vực về cách hành xử của Trung Quốc và gây ra phản ứng đáp trả của Mỹ và Nhật.

This could pose a contemporary expression of the classic security dilemma articulated a half century ago by the eminent American international-relations theorist Kenneth Waltz: in seeking to enhance their own security by building a strong military, large states often increase everyone else's insecurity because this military force is frequently regarded as a potential threat rather than as a reasonable, defensive measure.

Điều này có thể đặt ra một cách hiểu đương đại về thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh cổ điển từ nửa thế kỷ trước của nhà lý luận nổi tiếng của Mỹ về quan hệ quốc tế Kenneth Waltz: trong khi tìm cách tăng cường an ninh của mình bằng cách xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh, các nước lớn thường làm gia tăng sự bất ổn của nước khác vì sức mạnh quân sự này thường bị xem là một nguy cơ tiềm ẩn hơn là một biện pháp hợp lý và mang tính phòng vệ.


Already, China's attempt to test Washington's resolve in the western Pacific by "periphery probing" has resulted in a predictably vigorous U.S. response. The U.S. Navy and Air Force are working on plans to suppress and blind Chinas potent missile capabilities by means of an emerging "air-sea battle" strategy, which is rapidly gaining political traction in Washington. It would not take much for this to turn into a full-blown arms race, drawing in other nations concerned by Chinas rising military might. Avoiding worst-case outcomes will require a sustained, long-term commitment to building trust and preventive diplomacy as well as the establishment of an effective system of risk management that can prevent localized disputes and incidents from escalating into major region-wide conflicts.

Cũng vậy, ý định của Trung Quốc nhằm thử phản ứng của Washington tại Tây Thái Bình Dương đã dẫn tới phản ứng gay gắt có thể dự đoán của Mỹ. Hải quân và Không quân Mỹ đang nghiên cứu các kế hoạch nhằm ngăn chặn và phá hủy các năng lực tên lửa lớn của Trung Quốc bằng một chiến lược "chiến tranh không-biển" mới, chiến lược thu hút nhiều sự chú ý trong giới chính trị ở Washington. Điều này không hẳn sẽ biến thành một cuộc chạy đua vũ trang tổng lực, thể hiện bởi sự lo ngại của các nước khác trước sức mạnh quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc. Tránh kết cục tồi tệ nhất sẽ đòi hỏi một cam kết lâu dài, bền vững nhằm xây dựng lòng tin và ngoại giao đề phòng, cũng như xây dựng một hệ thống quản lý nguy cơ hiệu quả có thể tránh các tranh chấp và sự cố cục bộ leo thang thành các cuộc xung đột lớn trên toàn khu vực.

In short, the dissolution of the Old Order in East Asia has created a delicate power balance there, rendered intrinsically unstable by China's regional ambitions, understandable though they may be, and America's equally understandable resolve to preserve as much of its old regional dominance as possible. Whether the two nations can successfully manage this fragile transition and thus stabilize the regional power balance remains a central question facing Asia--and the world beyond--in these times of global flux.


Tóm lại, sự tan rã của Trật tự cũ tại Đông Á đã tạo ra một thế cân bằng quyền lực mỏng manh, gây ra bất ổn bởi những tham vọng khu vực (có thể hiểu được) của Trung Quốc, và sự quyết tâm có thể hiểu được của Mỹ trong việc bảo vệ vị thế bá chủ khu vực vốn có của mình nhiều nhất có thể. Liệu hai cường quốc này có thể quản lý thành công sự chuyển giao mong manh này và từ đó ổn định thế cân bằng quyền lực trong khu vực hay không vẫn là một câu hỏi trọng tâm mà châu Á - và cả thế giới - đang phải đối mặt trong thời đại của những biến động toàn cầu này.
Alan Dupont is professor of international security and director of the Institute for International Security and Development at the University of New South Wales in Sydney, Australia.
Alan Dupont, giáo sư về an ninh quốc tế, Giám đốc Viện An ninh Quốc tế và Phát triển tại Đại học New South Wales ở Sydney, Australia.



Translated by Châu Giang


http://findarticles.com/p/articles/mi_m2751/is_119/ai_n58608824/pg_5/?tag=content;col1

Storm Clouds on the Horizon: A Possible New Cold War with China Cơn bão cuối chân trời: Một cuộc chiến tranh lạnh có thể có với Trung Hoa






Storm Clouds on the Horizon: A Possible New Cold War with China

Cơn bão cuối chân trời: Một cuộc chiến tranh lạnh có thể có với Trung Hoa
 
by Paul Nash 14 June 2012

Paul Nash 14/6/2012

Diplomatic Courier
Diplomatic Courier


“Red China’s sub fleet can prove a major threat to American ships,” wrote Albert Ravenholt for the Chicago Daily News Service in 1964, referring to Mao’s underwater menace to American naval forces assembling in the South China Sea off the coast of Vietnam. The communist submarines, supplied by the Russians, were stationed on Hainan Island, at the southernmost tip of the Chinese mainland, across the Gulf of Tonkin. At the time, China was estimated to have between 30 and 40 in operation, the fourth largest fleet after the U.S.S.R, the United States and Great Britain.


Năm 1964, Albert Ravenholt viết cho tờ Tin tức hàng ngày Chicago rằng “Tàu ngầm của Trung Quốc cộng sản có thể là một mối đe dọa lớn đối với tàu của Mỹ”, khi ông đề cập đến mối đe dọa dưới biển của Mao đối với các lực lượng hải quân Mỹ trên Biển Đông, ngoài khơi bờ biển của Việt Nam. Các tàu ngầm do Nga cung cấp đóng trên đảo Hải Nam và trên Vịnh Bắc Bộ. Vào thời điểm đó, Trung Quốc ước tính có khoảng từ 30 đến 40 tàu đang hoạt động, là hạm đội lớn thứ tư sau Liên Xô, Mỹ và Anh.
Nearly 48 years on, much has changed and yet much continues on the same trajectory. When Ravenholt, who set about becoming a reporter in Shanghai in the 1940s during the Second Sino-Japanese war, died at the age of 90 in 2010, China remained Red, even though its ideological hue had turned arguably more nationalistic after three decades of rising prosperity.

Gần 48 năm trôi qua, đã có nhiều thay đổi và sẽ tiếp tục có nhiều thay đổi trên cùng một quỹ đạo. Khi Ravenholt, phóng viên tại Thượng Hải vào những năm 1940 trong chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, qua đời ở tuổi 90 hồi năm 2010, Trung Quốc vẫn là cộng sản, mặc dù sắc thái ý thức hệ được cho là đã biến thành dân tộc chủ nghĩa sau ba thập kỷ gia tăng thịnh vượng.


China has modernized its military in tandem with its economic growth. It has committed itself to significant military spending, endeavouring to catch up to the West’s technological prowess by building advanced precision-guided munitions, anti-satellite and cyber-warfare capabilities. Last year, it unveiled the Chengdu J-20 stealth fighter jet, which is expected to go into service in 2017-19. It has also set up a land-based anti-ship missile system to limit the ability of other nations to navigate freely in regional waters, including those around the disputed Paracel and Spratly Islands, which it estimates may contain the world’s fourth largest reserve of oil and natural gas.


Trung Quốc đã hiện đại hóa quân sự của mình song song với tăng trưởng kinh tê. Trung Quốc cam kết chi tiêu quân sự lớn, nỗ lực để bắt kịp với sức mạnh công nghệ của phương Tây bằng cách chế tạo vũ khí tiên tiến được dẫn đường chính xác, vũ khí chống vệ tinh và khả năng chiến tranh mạng. Năm ngoái, Trung Quốc trình làng máy bay chiến đấu J-20, dự kiên sẽ đi vào hoạt động trong giai đoạn 2017-2019. Trung Quốc cũng thiết lập một hệ thống tên lửa chống hạm trên đất liền để hạn chế khả năng đi lại tự do của các quốc gia khác trong vùng biển khu vực, bao gồm cả các vùng biển xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp, mà Trung Quốc ước tính có thể có trữ lượng lớn thứ tư thế giới về dầu và khí tự nhiên.


In addition to augmenting its fleet of diesel subs to more than 50, China has introduced four or five nuclear-powered Jin-class (Type 094) ballistic-missile subs or “boomers”. And, in 2007, it completed construction of a modern underground base on Hainan, affording its vessels easier access to the Strait of Malacca, the South China Sea and the Indian Ocean, vital shipping lanes that carry a large portion of the world’s trade and supply China with oil from the Persian Gulf. Beijing’s long-term goal is to establish a fully fledged blue-water navy, over the course of several more decades, enabling it to project power beyond regional waters, both westward and eastward.


Ngoài việc tăng cường số lượng tàu ngầm diesel lên hơn 50 chiếc, Trung Quốc đã có bốn hoặc năm tàu ngầm hạt nhân lớp Tân, có trang bị tên lửa đạn đạo. Và, trong năm 2007, Trung Quốc đã hoàn thành xây dựng 1 căn cứ ngầm hiện đại trên đảo Hải Nam, cho phép các tàu của họ dễ dàng ra vào eo biển Malắcca, Biển Đông và Ấn Độ Dương, tuyến đường vận chuyển quan trọng cho phần lớn thương mại của thế giới và cung cấp dầu cho Trung Quốc từ Vịnh Pécxích. Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh là nhằm thiết lập một lực lượng hải quân biển khơi đầy đủ, trong vài thập kỷ nữa, cho phép họ có sức mạnh vượt ra ngoài vùng biển khu vực, cả về phía Tây và về phía Đông.


To round out its power-projection capabilities, China has undertaken to build a small fleet of “at least three” aircraft carriers. In 1998, after the Soviet Union dissolved, it purchased a decommissioned carrier from Ukraine specially designed for anti-submarine warfare. The Varyag was originally destined to become a floating hotel and casino off Macau, but last year the People’s Liberation Army Navy (PLAN) announced that the ship has been refitted for “scientific research, experimentation and training”. In other words, it is most likely being used to reverse-engineer a future Chinese-built carrier. It is expected to be commissioned into service sometime later this year, carrying 30 J-15 fighters, helicopters and a crew compliment of 2,000.


Để gia tăng khả năng triển khai sức mạnh của mình, Trung Quốc đã thành lập một hạm đội nhỏ “ít nhất ba” tàu sân bay. Năm 1998 sau khi Liên Xô tan rã, Trung Quốc mua một tàu sân bay ngừng hoạt động từ Ucraina được chế tạo đặc biệt cho chiến tranh chống tàu ngầm. Tàu Varyag ban đầu được dùng làm khách sạn và casino nổi ngoài khơi Macao, nhưng năm ngoái Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã công bố rằng con tàu đã được tân trang lại để “nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện”. Nói cách khác, rất có thể nó được sử dụng nghiên cứu chế tạo một tàu sân bay trong tương lai. Tàu dự kiến sẽ vận hành vào trong năm nay mang theo 30 máy bay chiến đấu J-15, máy bay trực thăng và một thủy thủ đoàn 2.000 người.


Having grown at an average annual rate of more than 10 percent since the 1990s, China’s military spending is now poised to outstrip Europe’s for the first time in centuries.


Sau khi phát triển với tốc độ trung bình hàng năm hơn 10% kể từ những năm 1990, chi tiêu quân sự của Trung Quốc hiện đã sẵn sàng để vượt xa châu Âu lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ.


According to the International Institute for Strategic Studies (IISS), a London-based think tank which recently released its 2012 assessment of the global military balance, China’s defense budget has kept up a robust, if not alarming, pace since the 2008 financial crisis, while American and European budgets have declined. The institute expects Chinese spending to overtake that of NATO’s largest European members combined by 2015, prompting renewed calls for the alliance to move forward with its “smart defense” initiative. Proposed by Secretary General Anders Fogh Rasmussen, “smart defense” would see NATO pooling and sharing its members’ capabilities to achieve synergies in times of fiscal restraint.

Theo đánh giá về cân bằng sức mạnh quân sự toàn cầu của Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược (IISS), có trụ sở tại Luân Đôn được công bố gần đây, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng lên một cách mạnh mẽ nếu không muốn nói là đáng báo động, kể từ khi diễn ra các cuộc khủng hoảng tài chính 2008, trong khi ngân sách của Mỹ và châu Âu đi xuống. Viện này cho rằng chi tiêu của Trung Quốc vượt qua mức tổng cộng của các nước châu Âu lớn nhất trong NATO vào năm 2015, khiến nhiều người kêu gọi liên minh này phải hành động với sáng kiến “phòng thủ thông minh” của mình. Sáng kiến phòng thủ thông minh” do Tổng thư ký Anders Fogh Rasmussen đề xuất, có nghĩa là các thành viên trong NATO sẽ tổng họp và chia sẻ khả năng cho nhau để hiệp lực trong bối cảnh hạn chế về mặt tài chính.

Beijing’s military expenditure is, by far, the largest in the region if you exclude Australia and New Zealand. The National People’s Congress, which approves budgetary proposals, recently announced that the nation’s official defense spending—now second only to that of the United States in absolute terms, though still well behind it on a per capita basis—will increase this year by 11.2 percent to 670 billion yuan (about $106 billion). While smaller than the 12.7 percent allocated in 2011, the figure may not represent actual spending. Some analysts reckon it could be as much as double because the official number excludes outlays on nuclear and space weapons programs.


Chi phí quân sự của Bắc Kinh đến nay là lớn nhất trong khu vực nếu không tính Ôxtrâylia và Niu Dilân. Đại hội đại biểu Nhân dân Toàn quốc cơ quan phê duyệt đề xuất ngân sách, gần đây công bố rằng chi tiêu quốc phòng chính thức của quốc gia – hiện chỉ đứng thứ hai sau Mỹ về con số tuyệt đối mặc dù vẫn còn cách xa về bình quân đầu người – sẽ tăng 11,2% trong năm nay, lên 670 tỷ nhân dân tệ (khoảng 106 tỷ USD). Cho dù nhỏ hơn so với mức 12,7% được phân bổ trong năm 2011, song nó có thể không hẳn là chi tiêu thực tế. Một số nhà phân tích cho rằng nó có thể nhiều gấp đôi bởi số liệu chính thức không bao gồm chi tiêu cho vũ khí hạt nhân và chương trình không gian.




China is understandably anxious to safeguard its sovereignty, national security and territorial integrity. The memory of nineteenth-century European and twentieth-century Japanese invasions has heightened its sense of vulnerability to the modern military alliances formed by its neighbours, such as Japan, Taiwan and South Korea, with the United States. In recent years it has conducted large-scale drills intended to improve littoral defense, rapid mobilisation and command-and-control flexibility. These have been unambiguously calibrated to the presence of U.S. underwater, surface and air assets.


Trung Quốc, một cách có thể hiểu được, rất lo lắng về việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Ký ức về cuộc xâm lược của châu Âu thế kỷ XIX và Nhật Bản ở thế kỷ XX đã nâng cao ý thức về sự dễ bị tổn thương trước các liên minh quân sự hiện đại, hình thành bởi các nước và vùng lãnh thổ láng giềng, chẳng hạn như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Mỹ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn nhằm cải thiện khả năng phòng thủ ven biển, huy động nhanh và khả năng linh hoạt trong chỉ huy và kiểm soát. Các cuộc tập trận này rõ ràng nhằm vào sự hiện diện của Mỹ dưới nước, trên mặt biển và trên không.


But China’s experimentation with long-range force projection represents something of a sea-change in its implications. It goes beyond attempting to achieve the capabilities required to establish a defensive ring around its territorial waters.


Nhưng thử nghiệm của Trung Quốc với khả năng triển khai lực lượng tầm xa cho thấy những ý nghĩa về sự thay đổi trên biển. Nó vượt khỏi phạm vi nỗ lực để đạt được các khả năng cần thiết nhằm thiết lập một vành đai phòng thủ quanh các lãnh hải của mình.


To allay international concerns, the PLA has stepped up its campaign of military diplomacy to improve bilateral and multilateral relationships in the Asia-Pacific and to de-escalate territorial disputes. It has also participated in global security initiatives, such as U.N.-mandated peace-keeping activities and co-operative missions with NATO to combat piracy off the Horn of Africa. Exploring ways to work together more closely and transparently was a major topic of discussion between leaders of the PLA and delegates from the International Military Staff (IMS) when they met in Beijing in February. NATO, which seeks a strengthened dialogue with the PLA, is attempting to build upon the regular, high-level meetings it quietly holds with China twice a year, as well as to broaden the communications channels it has established through Beijing’s ambassadors to Belgium.


Nhằm xoa dịu các mối quan ngại quốc tế, quân đội Trung Quốc đã đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao quân sự để cải thiện mối quan hệ song phương và đa phương trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xuống thang trong các tranh chấp lãnh thổ. Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc cũng đã tham gia Sáng kiến an ninh toàn cầu, chẳng hạn như các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và họp tác với NATO chống cướp biển ngoài khơi vùng Sừng châu Phi. Tìm hiểu cách để làm việc với nhau chặt chẽ và minh bạch hơn là một chủ đề chính của cuộc thảo luận giữa các nhà lãnh đạo của quân đội Trung Quốc và các đại biểu thuộc tổ chức Các nhân viên quân sự quốc tế (IMS) khi họ gặp nhau tại Bắc Kinh vào tháng Hai. NATO, trong nỗ lực tăng cường đối thoại với quân đội Trung Quốc, đang nỗ lực để phát huy kết quả từ các cuộc gặp cấp cao thường xuyên mà họ thực hiện một cách lặng lẽ với Trung Quốc hai lần mỗi năm, cũng như mở rộng các kênh liên lạc đã thành lập thông qua đại sứ của Bắc Kinh tại Bỉ.


In response to China’s strengthening naval capabilities, the Pentagon, which faces cuts of $485 billion over the next decade, has begun a major “pivot” of its strategic priorities. Adm. Sam Locklear, who took charge of U.S. Pacific Command (PACOM) in March after leading American naval forces in Europe and coordinating NATO’s operations in Libya, has been tasked with transforming PACOM into the vanguard of America’s new defense strategy. In large measure, this means solidifying the U.S. presence in the Pacific to contain China. Diplomatically, the State Department has been reaffirming its security commitments to various countries in the region and bolstering ties with longstanding allies like Japan, the Philippines and Australia. It is also deepening its relations with ASEAN nations. PACOM itself has been negotiating bilateral security agreements with Vietnam, Singapore, Thailand, Cambodia, and the Philippines. While some policy analysts see a future NATO-ASEAN partnership as critical to stability in the region, others feel that PACOM is sufficiently large and free from the encumbrance of a multinational bureaucracy to succeed in securing American strategic interests in the Pacific where NATO is felt to have failed it in the Middle East.


Phản ứng trước việc Trung Quốc tăng cường khả năng hải quân, Lầu Năm Góc, hiện đang đối mặt với việc cắt giảm 485 tỷ USD trong 10 năm tới, đã bắt đầu một cuộc “xoay trục” ưu tiên chiến lược của mình. Đô đốc Sam Locklear, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (PACOM), sau khi dẫn đầu lực lượng hải quân Mỹ ở châu Âu và điều phối hoạt động của NATO ở Libi, đã được giao nhiệm vụ chuyển đổi PACOM thành lực lượng tiên phong của chiến lược quốc phòng mới của Mỹ. Nhìn ở phạm vi rộng, điều này có nghĩa là củng cố sự hiện diện của Mỹ ở Thái Bình Dương để kiềm chế Trung Quốc. Về mặt ngoại giao, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tái khẳng định cam kết an ninh của mình đối với các quốc gia khác nhau trong khu vực và củng cố quan hệ với các đồng minh lâu đời như Nhật Bản, Philíppin và Ôxtrâylia. Mỹ cũng làm sâu sắc thêm quan hệ với các quốc gia ASEAN. Chính PACOM đã đàm phán các thỏa thuận an ninh song phương với Việt Nam, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Philíppin. Trong khi một số nhà phân tích chính sách cho rằng một mối quan hệ đối tác NATO-ASEAN trong tương lai là quan trọng đối với sự ổn định trong khu vực, nhiều người khác cảm thấy rằng PACOM đã đủ lớn và không gặp các trở ngại của một bộ máy quan liêu đa quốc gia để thành công trong việc đảm bảo lợi ích chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương.


From the Chinese perspective, NATO’s continued existence since the end of the Cold War, its raison d’être, and its broadening scope and theatre of operations beyond the North Atlantic reveal its true colours. The general perception in China is that NATO is largely a medium for American global hegemony and military dominance. Beijing is particularly concerned about the roles it has played in toppling undesirable regimes in Afghanistan and Libya. It views these as setting a dangerous precedent for potentially supporting Taiwan should the “renegade” island declare political independence from the mainland; or, perhaps, one day to force political transformation in China should the present regime decidedly challenge the American liberal imperium.


Theo quan điểm của Trung Quốc, sự tiếp tục tồn tại của NATO kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, lý do chính để nó tồn tại và mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài Bắc Đại Tây Dương đã cho thấy màu sắc thật sự của nó. Nhận thức chung ở Trung Quốc là NATO chủ yếu là một phương tiện cho sự bá chủ toàn cầu và thống trị quân sự của Mỹ. Bắc Kinh đặc biệt lo ngại về vai trò của NATO trong việc lật đổ chế độ không mong muốn ở Ápganixtan và Libi. Họ xem đây là một tiền lệ nguy hiểm cho khả năng hỗ trợ Đài Loan, nếu hòn đảo “nổi loạn” này tuyên bố độc lập chính trị với Trung Quốc đại lục; hoặc, một ngày nào đó ép buộc chuyển đổi chính trị ở Trung Quốc nếu chế độ hiện nay quyết thách thức quyền tự do tuyệt đối của Mỹ.


China also recognizes, however, the desirability of normalizing and deepening relations with NATO if it is to meet its stated goal of achieving “a peaceful rise” and harmonious integration into the global system. It remains open to a multilateral and “respectful” approach to matters of mutual interest, especially those from which the CCP can garner international political capital, such as non-traditional security threats like global piracy, terrorism and arms proliferation.


Tuy nhiên, Trung Quốc cũng thừa nhận mong muốn bình thường hóa và làm sâu sắc thêm quan hệ với NATO nếu nó đáp ứng mục tiêu “trỗi dậy hòa bình” và hội nhập hài hòa hệ thống toàn cầu như tuyên bố. Trung Quốc vẫn sẵn sàng chấp nhận một cách tiếp cận đa phương và “tôn trọng” với các vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là những vấn đề mà từ đó Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể giành được vốn liếng chính trị quốc tế, chẳng hạn như các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như chống cướp biển, khủng bố và phổ biến vũ khí.

As PLAN’s assertiveness escalates in the Asia-Pacific, drawing American attention away from the Atlantic, so too does Beijing’s program of indirect economic and political influence over Europe by way of increased trade and investment.


Khi sự quyết đoán của PLAN gia tăng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thu hút sự chú ý của Mỹ khỏi vùng Đại Tây Dương, thì chương trình của Bắc Kinh về ảnh hưởng kinh tế và chính trị gián tiếp đối với châu Âu cũng được đẩy mạnh bằng việc gia tăng thương mại và đầu tư.


China’s lack of clarity respecting its strategic intentions was discussed in detail during Chinese Vice President Xi Jinping’s visit to the United States in February. Xi, who has closer ties to the Chinese military than Hu Jintao and is expected to succeed him to the presidency later this year, pledged to move forward in restoring and expanding Sino-American military-to-military dialogue. The Defense Consultative Talks, held annually between senior Chinese and American civilian and military officials, have chilled in recent years with the United States’ continued large arms sales to Taiwan. Xi emphasized that China’s military modernization and expansion is entirely defensive in nature, its rapid pace simply reflecting the necessity to bring its forces up to a level commensurate with the nation’s economic growth, large population and heightened international stature.


Sự thiếu rõ ràng về ý định chiến lược của Trung Quốc đã được thảo luận chi tiết trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Mỹ hồi tháng Hai. Ông Tập, người có quan hệ gần gũi với quân đội Trung Quốc hơn so với Hồ cẩm Đào và dự kiến sẽ thay thế ông Hồ làm chủ tịch nước vào cuối năm nay, cam kết sẽ thúc đẩy việc khôi phục và mở rộng đối thoại quân sự Trung-Mỹ. Các cuộc Tham vấn Quốc phòng hàng năm giữa các quan chức cấp cao dân sự, quân sự Trung Quốc và Mỹ, đã bị gián đoạn trong những năm gần đây do việc Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan. Tập Cận Bình nhấn mạnh rằng hiện đại hóa và mở rộng quân sự của Trung Quốc là hoàn toàn có tính chất phòng thủ, tốc độ nhanh chóng của nó chỉ đơn giản là phản ánh sự cần thiết phải có lực lượng ở mức độ tương xứng với sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, dân số lớn và vị thế quốc tế tăng cao.


It is hoped that an improving dialogue will bring greater clarity. China may, indeed, be seeking chiefly to secure its territory and safeguard sea-lanes for the transport of energy and other natural resources from the Middle East and Africa. Or it may be hardening its economic and territorial claims over the entire South China Sea. It may be developing its capacity to support multinational missions to promote world and regional peace and stability. Or it may, as some observers contend, be intent upon weakening NATO and bringing about a new trilateral balance of power, a strategic equilibrium more conducive to managing global risks to its broadening economic portfolio in Africa and elsewhere.


Người ta hy vọng rằng một cuộc đối thoại thiện chí sẽ mang lại sự rõ ràng hơn. Trung Quốc có thể chủ yếu nỗ lực để bảo vệ lãnh thổ của mình và bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển năng lượng và tài nguyên khác từ Trung Đông và châu Phi. Hoặc Trung Quốc có thái độ cứng rắn hơn với các tuyên bố về kinh tế và lãnh thổ đối với toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc có thể phát triển khả năng của mình để hỗ trợ các nhiệm vụ đa quốc gia nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định trên thế giới và khu vực. Hoặc, như một số nhà quan sát nhận định, có thế muốn làm suy yếu NATO và mang lại một sự cân bằng quyền lực ba bên mới, một trạng thái cân bằng chiến lược có lợi cho việc kiểm soát rủi ro toàn cầu đối với việc mở rộng danh mục đầu tư kinh tế ở châu Phi và các nơi khác.


In any event, one thing is already becoming clearer—that China’s mounting assertiveness and PACOM’s mandate to reassert itself in the Asia Pacific are setting the stage for a possible new Cold War.

Trong mọi trường hợp, có một điều đã trở nên rõ ràng hơn – là sự quyết đoán đang gia tăng của Trung Quốc và nhiệm vụ khẳng định mình của PACOM trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang tạo ra sân choi cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới có thể diễn ra.


http://www.diplomaticourier.com/news/asia/1012-storm-clouds-on-the-horizon-a-possible-new-cold-war-with-china