MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Wednesday, May 23, 2012

China’s Foreign Policy Debate Tranh luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc



China’s Foreign Policy Debate
Tranh luận về chính sách ngoại giao của Trung Quốc

By Bhaskar Roy
Bhaskar Roy


17-05-2012

Foreign policy debates are normal in any big and influential country.  The best minds in the country are tapped by the government to assess different views to elicit opinion what the people want, what the external environment portends and, finally, prepare responses and actions.  China, as a one-party state may not have problems of opposition parties snapping at its heels like in India, but unlike in Maoist era today Chinese leaders have to take into consideration different voices within the system represented in the Party’s politburo and its 9-member standing committee.

Các cuộc tranh luận về chính sách ngoại giao là chuyện bình thường ở bất cứ cường quốc và quốc gia có tầm ảnh hưởng nào. Các nhà thông thái trong nước được chính quyền tham khảo để đánh giá những quan điểm khác nhau hầu tìm ra điều mà dân chúng muốn, những điều môi trường bên ngoài báo trước và cuối cùng là chuẩn bị phương cách đáp ứng và hành động. Trung Quốc, một quốc gia độc đảng, không có vấn đề đảng đối lập theo sát gót như ở Ấn Độ, nhưng không giống như thời Mao-ít, ngày nay lãnh đạo Trung Quốc phải lưu tâm đến những tiếng nói khác biệt bên trong hệ thống qua chín ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị của Đảng.

According to Li Wei, a lecturer at the Renmin University of China’s School of International Studies (Feb 20, 21st Century Business Herald), an intense debate is currently on in the country’s foreign policy establishment examining whether Deng Xiaoping’s dictum “hide your strength, bide your time” is still relevant.

Theo ông Lý Vệ (Li Wei), một giảng viên trường Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc, Đại học Renmin (theo báo Century Business Herald, ngày 20-21 tháng 2 năm 2012), một cuộc tranh luận sôi nổi về chính sách ngoại giao hiện tại đang xảy ra, khảo sát nguyên tắc “che dấu sức mạnh, chờ đợi thời cơ” của Đặng Tiểu Bình có còn hợp thời hay không.

It is not for the first time that Deng’s policy has been questioned.  He crafted this policy, which has more advise, around 1991-92 when China was isolated internationally following the June, 1989 Tiananmen Square incident.  Deng decided to build an economically and militarily powerful China in a stable atmosphere.  His special advice was not to confront the USA. To many Chinese experts, China has achieved that status especially after replacing Japan as the world’s No.2 economic power this year.  Again, a section among China’s foreign policy elite, especially the military establishment, began to show bravado from the very early years of this century.  It may be recalled that around  2004, a theoretical proposal was mooted by a Chinese scholar that the region between the middle east to  western pacific should be controlled by China.

Đây không phải là lần đầu tiên chính sách của Đặng Tiểu Bình bị đặt nghi vấn. Ông đã đặt ra chính sách này với nhiều khuyến khích, vào khoảng năm 1991-1992 khi Trung Quốc đang bị thế giới cô lập theo sau vụ thảm sát Thiên An Môn hồi tháng 6 năm 1989. Ông Đặng quyết xây dựng một nước Trung Quốc hùng mạnh về kinh tế và quân sự, trong môi trường ổn định. Lời khuyên đặc biệt cho ông ta là đừng đối đầu với Hoa Kỳ. Theo các chuyên gia Trung Quốc, Trung Quốc đã đạt được vị thế đó, nhất là sau khi thay thế Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới trong năm nay. Một lần nữa, một phân bộ trong giới chức lo về chính sách ngoại giao Trung Quốc, nhất là về lĩnh vực quân sự, đã bắt đầu phô trương sức mạnh vào những năm đầu của thế kỷ này. Cũng cần nên nhắc lại rằng, vào khoảng năm 2004, một học giả Trung Quốc đưa ra đề nghị là Trung Quốc nên kiểm soát khu vực từ Trung Đông tới Tây Thái Bình Dương.

Currently, however, China is at another major transformation in history following the 1978 policy of reform and opening, again steered by Deng Xiaoping.  The once in ten years leadership transition is to take place in autumn, this year.  It has been hit by serious scandals like the Bo Xilai incident in February-March, and the more recent case of blind activist Chen Guangchen who took asylum in the US embassy in Beijing for six days.  The USA’s Asia-Pacific “pivot” has heightened China’s security concerns and challenges its ambition to dominate the region.

Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đang đứng trước một chuyển biến lớn khác trong lịch sử, theo sau chính sách đổi mới và mở cửa do Đặng Tiểu Bình chủ xướng năm 1978. Sự thay đổi lãnh đạo mỗi 10 năm sẽ xảy ra vào mùa thu năm nay. Trung Quốc đã bị mất uy tín do các vụ bê bối như sự cố Bạc Hy Lai hồi tháng 2 và tháng 3 năm nay, và trường hợp mới đây về nhà hoạt động dân chủ khiếm thị Trần Quang Thành, người đã lánh nạn trong Đại Sứ quán Hoa Kỳ 6 ngày. Sự chuyển hướng sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã gia tăng sự quan ngại về an ninh và thách thức tham vọng bá quyền trong khu vực của Trung Quốc.

Therefore, practicing or discarding Deng’s dictum is engaged in the debate on two fundamental questions, “is the US in decline?” and “what is the basic direction of China’s diplomatic strategy?”

Vì thế, việc thực thi hay bãi bỏ nguyên tắc của Đặng Tiểu Bình được đưa vào cuộc tranh luận về hai câu hỏi căn bản, “Phải chăng Hoa Kỳ đang suy thoái?” và “Đường lối căn bản của chiến lược ngoại giao Trung Quốc là gì?”


Accordingly to Li Wei’s article, Professor Wang Yizhou, author of the book “Creative Involvement: a New Direction in China’s Diplomacy”,  sees three basic issues that confronts China.

Theo bài viết của ông Lý Vệ, Giáo sư Wang Yizhou, tác giả của quyển sách “Sự tham gia khôn khéo: một đường lối mới trong chính sách ngoại giao Trung Quốc”, nhìn thấy 3 vấn đề căn bản mà Trung Quốc đang đối mặt.

First, China’s power growth leaves no room for vigorous development, and China is a source of growing concern and expectation in the international community.  There are growing international responsibilities as per its power.  If China fails to respond, it will fundamentally damage its “soft power”.

Thứ nhất, sức mạnh gia tăng của Trung Quốc đã không có chỗ cho sự phát triển mạnh mẽ tiếp theo, và Trung Quốc là nguyên nhân cho mối lo ngại và mong đợi ngày càng nhiều của cộng đồng thế giới. Cần có sự gia tăng về trách nhiệm quốc tế, khi sức mạnh Trung Quốc gia tăng. Nếu Trung Quốc không có khả năng đáp ứng điều này, về căn bản họ sẽ hủy hoại “sức mạnh mềm” của chính họ.


Next, China faces a series of pressing diplomatic issues.  Can it shelve disputes now with its current power?

Kế đến, Trung Quốc đang đối diện với nhiều vấn đề ngoại giao cấp bách. Liệu Trung Quốc có thể giải quyết các tranh chấp đang xảy ra bằng sức mạnh hiện có của họ?


Third, the traditional diplomacy of hiding strength and biding time is proving incapable of protecting Chinese interests abroad.

Thứ ba, chính sách ngoại giao truyền thống về che dấu sức mạnh và chờ đợi thời cơ đã chứng tỏ không có khả năng bảo vệ lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài.


The above three points are brief statements of Prof. Wang’s thesis especially when China has entered the global stage in full regalia.  Therefore, China can no longer remain in a position where it pleads that it is still a developing country and avoid international responsibility, and claim greater power status at the same time to make the best out of the business  leaving  others to do the dirty job.


Ba vấn đề nêu trên là phát biểu ngắn gọn trong phân tích của Giáo sư Wang, nhất là khi Trung Quốc bước vào sân khấu thế giới trong tư thế có uy quyền. Vì vậy, Trung Quốc không thể ở lại vị thế van nài rằng mình vẫn còn là một nước đang phát triển và tránh né trách nhiệm với thế giới, và đồng thời đòi hỏi tư thế cường quốc để tranh giành lợi thế trong mậu dịch, để cho những nước khác đổ vỏ.


Li Wei described the two sides in the debate as “internationalists” and “realists”. Both agree that Deng’s policy is no longer relevant and support China’s  active involvement in international affairs, the two groups have fundamental differences over specific diplomatic approaches and strategies.  The internationalists disapprove the use of force, urge self-restraint, advocate compliance with international norms, utilize the international system to participate in global governance while putting emphasis on the role of society – not just sovereign power.


Ông Lý Vệ diễn tả hai phía của cuộc tranh luận là “quốc tế gia” và “thực tế gia”. Cả hai phía đồng ý rằng, chính sách của Đặng Tiểu Bình không còn thích hợp và ủng hộ sự tham gia tích cực vào công việc thế giới của Trung Quốc. Hai nhóm này có những khác biệt căn bản về các cách tiếp cận ngoại giao và chiến lược tiêu biểu. Các quốc tế gia không đồng ý với việc sử dụng vũ lực, khuyến cáo tự kiềm chế, chủ trương tuân theo các thông lệ quốc tế, dựa vào hệ thống vận hành quốc tế để tham gia vào việc điều hành thế giới, trong lúc nhấn mạnh vai trò trách nhiệm với xã hội – không chỉ quyền tối cao.   


The realists strongly favour strong military power and demonstrate strength to the international community, if necessary.  This view represents the assertive behaviour of China that has been witnessed recently, especially in the context of territorial disputes in the South China Sea and to a lesser extent in the East China Sea.   This opinion advocates securing the growing Chinese interests overseas that are direly needed to keep the development machine growing.  Today, China is sorely dependent on import of energy and raw material like iron ore.

Các thực tế gia đặc biệt ưa thích quyền lực quân sự lớn mạnh và sẵn sàng phô diễn sức mạnh với cộng đồng quốc tế, nếu cần. Quan điểm này tiêu biểu cho thái đội quyết đoán của Trung Quốc được chứng kiến gần đây, nhất là qua diễn tiến của các tranh chấp lãnh thổ trong vùng Biển Đông và với cường độ nhẹ hơn ở vùng biển Hoa Đông. Quan điểm này cổ võ việc bảo vệ lợi ích ở nước ngoài đang gia tăng của Trung Quốc, thiết yếu để nuôi sống bộ máy phát triển (kinh tế) gia tăng. Ngày nay, Trung Quốc lệ thuộc rất nhiều vào vấn đề nhập khẩu năng lượng và nguyên liệu thô như quặng sắt.

The weakness in China analysis is the fact that very little is known about what is happening in the 9-member Politburo Standing Committee that lays down finally what is to be done.  Certainly, the Party General Secretary, currently Hu Jintao, holds the deciding vote.  But Hu is not Mao, and not even Deng.  Although the final decision of this group is to be carried out, there are certainly differences.  Interest sections are stronger today than they were two decades ago, and influence decisions.  The military holds a much higher position and say in strategic foreign policy like territorial issues than the foreign ministry does.  In Li Wei’s definition the military falls in the group of realists.

Điểm yếu trong các phân tích về Trung Quốc là, rất ít điều được biết về những gì xảy ra bên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm 9 ủy viên, là những người nắm quyền quyết định cuối cùng về những gì được thi hành. Chắc chắn rằng Tổng Bí thư hiện nay là Hồ Cẩm Đào là người nắm giữ lá phiếu quyết định. Nhưng ông Hồ Cẩm Đào không phải là Mao Trạch Đông, và cũng không phải Đặng Tiểu Bình. Mặc dù quyết định cuối cùng của nhóm này sẽ được thi hành, chắc chắn sẽ có những sự khác biệt. Các nhóm lợi ích ngày nay có quyền thế hơn hai thập niên trước, và tác động lên những quyết định. Quân đội nắm giữ vị thế cao hơn và có tiếng nói mạnh mẽ về chính sách ngoại giao chiến lược, như các vấn đề lãnh thổ, hơn là bộ ngoại giao. Theo định nghĩa của Lý Vệ thì quân đội thuộc về nhóm thực nghiệm gia.


The test of the influence of the two groups appears to have been reflected to an extent by China’s postures with the Philippines over the sovereignty of the Scarborough Shoal or Huangyan islands in the South China Sea.

Sự thử nghiệm về tác động của hai nhóm có vẻ như được phản ánh phần nào qua thái độ của Trung Quốc đối với Philippines về chủ quyền ở bãi cạn Scarborough, còn gọi là đảo Hoàng Nham ở Biển Đông.

On May 7, Ms. Fu Ying, China’s Vice Minister for Foreign Affairs summoned the Philippine Charge d’Affairs Alex Chua in Beijing and warned that China had made all necessary preparations to respond if the Philippine side caused the situation over the Huangyan  islands to escalate.  On May 8, the authoritative People 's Daily commentary served an ultimatum to the Philippines that when it was intolerable there was no need for restraint.  The PLA newspaper, the Liberation Army Daily, warned (May 10) in the same context, that China will not give up half an inch of China’s territory.  Senior PLA leaders like Maj. Gen. Luo Yuan also went on the offensive.


Vào ngày 7 tháng 5, bà Phó Oánh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã triệu tập ông Alex Chua đại biện Philippines ở Bắc Kinh và cảnh báo rằng, Trung Quốc đã chuẩn bị đầy đủ để đối phó nếu phía Philippines làm tình hình căng thẳng tại đảo Hoàng Nham gia tăng. Ngày 8 tháng 5, trong mục bình luận của Nhân Dân Nhật báo, tờ báo có thẩm quyền, đã đưa ra tối hậu thư cho Philippines rằng, khi Trung Quốc không chịu đựng được nữa thì sẽ không cần kềm chế. Báo của Quân Giải Phóng Nhân Dân TQ (PLA), tờ Nhật báo Quân đội Giải Phóng, hôm 10 tháng 5 cũng đã cảnh báo tương tự như thế, rằng Trung Quốc sẽ không nhượng bộ nửa tấc đất trong lãnh thổ của mình. Các lãnh đạo cao cấp của PLA như Thiếu tướng La Viện cũng lên tiếng công kích.


There was, however, a sudden de-escalation of rhetorics from the Chinese side.  A war with the Philippine was ruled out for now by the Ministry of Defence.     But the impression  left was that Beijing was not willing to go by international rules and laws on territorial disputes it claimed as its own.  This, from all accounts, was a temporary respite.  The Philippine also backed down.

Tuy nhiên, giọng điệu của Trung Quốc đã thuyên giảm bất thình lình. Bộ Quốc phòng đã loại bỏ khả năng về một cuộc chiến với Philippines. Nhưng ấn tượng để lại là, Bắc Kinh không muốn tuân theo các luật lệ quốc tế về các tranh chấp lãnh thổ mà họ tuyên bố như thể đó là của chính họ. Điều này, từ mọi phương diện, là một sự tạm nghỉ. Philippines cũng xuống giọng.




Beijing’s decision to calm down the situation was dictated by the US interest in the region.  The US and the Philippines have a military alliance, though it is ambiguous if the US will intervene militarily if the Philippines was attacked.  The US and the Philippines conducted a joint military exercise in April which included retrieving an island occupied by a foreign force.  The message was unmistakable to China.


Quyết định giảm bớt căng thẳng tình hình của Bắc Kinh bắt nguồn từ lợi ích của Hoa kỳ trong khu vực. Hoa Kỳ và Philippines có một hiệp ước quân sự, mặc dù vẫn còn mù mờ về sự can thiệp của Hoa Kỳ trong trường hợp Philippines bị tấn công. Hoa Kỳ và Philippines đã thực hiện một cuộc diễn tập quân sự chung hồi tháng 4, gồm việc lấy lại một hòn đảo bị quân ngoại quốc chiếm giữ. Thông điệp đó rõ ràng là nhắm tới Trung Quốc.


Further, the new US-Vietnam relationship which has extended to military contacts from 2011 has disturbed China.  Beijing sees an US initiated move to create an alliance with the weak countries in South East Asia to counter China.  Beijing’s thrust in the East China Sea over the sovereignty of the Senkaku islands with Japan has created another tense situation.  But East China Sea situation is different.  The countries concerned, Japan and South Korea are no weak countries.  Both also have strong military alliance with the US, and Washington has military presence in both countries.

Hơn nữa, quan hệ mới giữa Hoa Kỳ và Việt Nam như mở rộng các cuộc tiếp xúc quân sự từ năm 2011 đã gây khó chịu cho Trung Quốc. Bắc Kinh cho đây là một hành động khởi đầu của Hoa Kỳ để xây dựng liên minh với các nước yếu kém ở Đông Nam Á nhằm chống lại Trung Quốc. Áp lực của Bắc Kinh ở khu vực biển Hoa Đông về chủ quyền trên các đảo Senkaku với Nhật bản đã tạo nên một tình hình căng thẳng khác. Nhưng tình thế ở biển Hoa Đông thì khác. Các quốc gia liên hệ, Nhật Bản và Hàn Quốc không phải là các nước yếu kém. Cả hai cũng có liên minh quân sự mạnh mẽ với Hoa Kỳ, và Hoa Thịnh Đốn có quân đội hiện diện ở cả hai nước.

These considerations must have influenced China and its realists to make a temporary withdrawal.  But these are  festering  issues.  The future still seems unstable.  The international focus has truly shifted to Asia and the Asia Pacific region.
Những suy xét này chắc hẳn đã tác động lên Trung Quốc và các nhà thực nghiệm trong quyết định rút lui tạm thời. Nhưng đây là các vấn đề ung nhọt. Tương lai dường như vẫn còn mất cân bằng. Sự quan tâm của quốc tế rõ ràng đã chuyển sang châu Á và khu vực châu Á – Thái Bình Dương.




Translated by Trần Văn Minh


http://www.southasiaanalysis.org/%5Cpapers51%5Cpaper5038.html

Chinese Nuclear Force Modernization: How Much is Enough? HIỆN ĐẠI HÓA LỰC LƯỢNG HẠT NHÂN CỦA TRUNG QUỐC: BAO NHIÊU LÀ ĐỦ?




Chinese Nuclear Force Modernization: How Much is Enough?

HIỆN ĐẠI HÓA LỰC LƯỢNG HẠT NHÂN CỦA TRUNG QUỐC: BAO NHIÊU LÀ ĐỦ?
Michael S. Chase
Jamestown Foundation
Michael S. Chase
Jamestown Foundation

April 12, 2012
April 12/4/2012


How Many More ICBMs Will Follow?

Nên có bao nhiêu tên lửa đạn đạo liên lục địa?
The modernization of China’s nuclear missile force capabilities has led a number of analysts to ponder the question of “how much is enough” for China. Some have speculated that China may take advantage of the declining numbers of nuclear weapons in the U.S. and Russian arsenals to “rush to parity” with the nuclear superpowers. Others have even argued China already could have secretly amassed a much larger number of nuclear weapons than is widely believed, apparently basing this conclusion largely on their interpretation of the motives behind China’s large-scale construction of tunnels to support Second Artillery Force (SAF) operations (Wall Street Journal, October 24, 2011; “China’s ‘Underground Great Wall’ and Nuclear Deterrence,” China Brief, December 16, 2009). No compelling evidence has been provided to support these assertions, however, and several analysts have shown that they are based on questionable sourcing and flawed research (Asia Security Watch, January 9; Federation of American Scientists, December 3, 2011). Nonetheless, Chinese nuclear force modernization is real in both quantitative and qualitative terms. As the latest Annual Report on Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China indicated, China is moving toward a larger and more survivable force consisting of silo-based and road-mobile ballistic missiles and nuclear-powered ballistic missile submarines (SSBNs).


Chương trình hiện đại hóa lực lượng tên lửa hạt nhân của Trung Quốc đang đặt ra cho các nhà phân tích một câu hỏi: Trung Quốc sẽ hiện đại hóa lực lượng hạt nhân ở mức nào thì đủ? Một số nhà phân tích dự đoán Trung Quốc có thể chiếm ưu thế khi số lượng vũ khí hạt nhân trong các kho của Mỹ và Nga giảm bằng các cường quốc hạt nhân. Nhưng một số người khác nhận định Trung Quốc có thể bí mật phát triển số lượng vũ khí hạt nhân lớn hơn các cường quốc khác. Nhận định này được dựa trên cơ sở các tài liệu của Trung Quốc cho biết lực lượng hạt nhân của Trung Quốc đang xây dựng các hầm ngầm quy mô lớn nhằm hỗ trợ các hoạt động của Lực lượng Pháo binh II (SAP). Như Báo cáo hàng năm mới nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ về những sự phát triển quân sự và an ninh của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khẳng định Trung Quốc đang hướng tới một lực lượng lớn hơn và khả năng tồn tại lâu hơn, thành phần gồm có các tên lửa đạn đạo cơ động trên đường và được đặt dưới hầm ngầm; các tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN).

These force modernization developments should come as no surprise. China has long sought an assured retaliation capability, though for many years China lived with a relatively modest and potentially vulnerable nuclear force [1]. More recently, however, China has been modernizing its nuclear forces in pursuit of “effective” nuclear deterrence, a requirement that can be traced to Chinese military publications such as the 1987 edition of the authoritative book, The Science of Military Strategy. More recently, China’s national defense white paper in 2006 described China’s nuclear strategy as requiring a “lean and effective nuclear force capable of meeting national security needs” but official Chinese sources provide little in the way of specifics with regard to how many nuclear weapons or what type of force structure is required to meet this objective (State Council Information Office, China’s National Defense in 2006). Non-governmental experts in the United States estimate China currently has a few hundred nuclear warheads [2]. Given China’s lack of transparency, however, analysts must draw their own conclusions about how many nuclear weapons Beijing believes will be enough to allow China to achieve its deterrence objectives in the future.


Không có gì đáng ngạc nhiên về nhũng sự phát triển hiện đại hóa lực lượng hạt nhân của Trung Quốc đang diễn ra. Từ lâu Trung Quốc đã tìm kiếm khả năng trả đũa mạnh mẽ để thay thế lực lượng hạt nhân yếu kém nhiều năm qua. Nhưng gần đây hơn, Trung Quốc đã và đang hiện đại hóa các lực lượng hạt nhân theo hướng răn đe hạt nhân có hiệu quả. Sách Trắng quốc phòng năm 2006 của Trung Quốc mô tả chiến lược hạt nhân đòi hỏi Trung Quốc xây dựng một lực lượng hạt nhân có khả năng đáp ứng các nhu cầu an ninh quốc gia, nhưng các nguồn tin chính thức không nói rõ Trung Quốc cần bao nhiêu vũ khí hạt nhân hoặc cơ cấu tổ chức lực lượng như thế nào để có thể đạt được mục tiêu này. Các chuyên gia phi chính phủ của Mỹ ước tính hiện nay Trung Quốc có vài trăm đầu đạn hạt nhân. Ai cũng biết Trung Quốc không minh bạch, nhưng các nhà phân tích có thể dự đoán Trung Quốc cần bao nhiêu vũ khí-hạt nhân đủ để cho phép nước này đạt được các mục tiêu răn đe trong tương lai.

The writings of Chinese strategists shed some light on this problem in that they suggest quite strongly that China will continue to modernize and expand its nuclear missile force These same strategists, however, see little benefit to be gained by amassing thousands of nuclear weapons in an attempt to achieve parity with the United States and Russia. With respect to its nuclear missile force, China has shown determination to maintain the secure, second-strike capability that is required to ensure that it will have a credible strategic deterrence force—even in the face of advances in adversary ISR, precision strike and missile defense capabilities. Yet the writings of Chinese strategists strongly suggest going much beyond what is required for an unquestionably credible assured retaliation capability would lead to diminishing returns at best and strategic instability at worst. For example, Major General Yao Yunzhu of the PLA’s Academy of Military Science (AMS), a prominent analyst of nuclear issues, argues China adheres to the views of Mao Zedong and Deng Xiaoping, who clearly believed “deterrent effectiveness does not increase in proportion with numbers of nuclear weapons,” but rather that “a survivable and invulnerable small arsenal can be equally effective in terms of deterrence” [3]. Along similar lines, Sun Xiangli argues the experience of the U.S.-Soviet competition during the Cold War shows the pursuit of a “war-fighting” strategy “does not substantially increase the effectiveness of nuclear deterrence.” Moreover, because it requires a very large nuclear arsenal, it consumes “substantial economic and technological resources.” Worse still, Sun argues, large arsenals and “war-fighting” strategies lead to strategic instability and increase the risk of nuclear war [4].


Tài liệu của các nhà chiến lược Trung Quốc cho biết Trung Quốc sẽ tiếp tục hiện đại hóa và phát triển lực lượng tên lửa chiến lược. Nhưng họ khẳng định Trung Quốc sẽ không thể giành ưu thế nếu đạt được số lượng vũ khí hạt nhân ngang bằng Mỹ và Nga. về lực lượng tên lửa hạt nhân, Trung Quốc quyết tâm duy trì khả năng phát động đòn tấn công thứ hai mạnh mẽ và điều đó đòi hỏi Trung Quốc phải có lực lượng răn đe chiến lược tin cậy. Nhưng các nhà chiến lược Trung Quốc kiên quyết đề nghị Chính phủ phải đạt được khả năng trả đũa để ngăn chặn hiệu quả các đòn phản công hoặc trong trường hợp mất ổn định chiến lược. Ví dụ, Thiếu tướng Diêu Vân Trúc, nhà phân tích nổi tiếng về các vấn đề hạt nhân của Học viện khoa học quân sự (AMS) thuộc Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, cho biết Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, theo đó Bắc Kinh sẽ không tăng số lượng vũ khí hạt nhân mà tăng khả năng tồn tại và hiệu quả của các loại vũ khí hạt nhân trong việc răn đe. Hơn nữa, kinh nghiệm từ cuộc cạnh tranh Mỹ-Xô trong thời Chiến tranh Lạnh cho thấy theo đuổi chiến lược chiến tranh mà không đẩy mạnh hiệu quả răn đe hạt nhân là sai lầm bởi vì nó đòi hỏi một kho vũ khí hạt nhân rất lớn và tiêu tốn nhiều nguồn kinh tế và công nghệ. Tệ hơn nữa, các kho vũ khí hạt nhân lớn và các chiến lược chiến tranh sẽ dẫn đến mất ổn định chiến lược và tăng thêm rủi ro của cuộc chiến tranh hạt nhân.


Assessments such as these appear to reflect the longstanding views of senior leaders. As a recent article based on Chinese military publications and the memoirs and selected works of key figures in China’s nuclear weapons programs points out, “Chinese leaders have believed that nuclear weapons were basically unusable on the battlefield and that once mutual deterrence was achieved, a larger arsenal or arms racing would be costly, counterproductive and ultimately self-defeating” [5]. China thus is unlikely to attempt to exceed the United States or Russia in terms of the number of nuclear weapons it deploys. Nonetheless, there is ample reason to believe Beijing will increase the size of its nuclear arsenal as needed to ensure that it maintains an assured retaliation capability in response to perceived security challenges. This could result in substantial increases to the quantity and quality of China’s nuclear arsenal.

Các đánh giá trên dường như phản ánh quan điểm lâu dài của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Nhiều tài liệu gần đây của Trung Quốc cho biết các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận định, về cơ bản các loại vũ khí hạt nhân không thể sử dụng thường xuyên trên chiến trường và một khi đạt được khả năng răn đe lẫn nhau, việc phát triển một kho vũ khí hạt nhân lớn hoặc chạy đua vũ trang sẽ tốn kém, phản tác dụng và cuối cùng tự chuốc lấy thất bại. Vì vậy, Trung Quốc không hề có ý định vượt Mỹ hoặc Nga về số lượng các loại vũ khí hạt nhân. Nhưng có lý do để tin rằng Bắc Kinh sẽ tăng quy mô của kho vũ khí hạt nhân khi cần thiết nhằm đạt được khả năng phản công mạnh mẽ để đối phó với các thách thức an ninh tiềm tàng. Chủ trương này có thể khiến số lượng và chất lượng kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc tăng đáng kể.

Indeed, many observers expect China to field a larger and more sophisticated nuclear force over the next 10 to 15 years. The DIA presentation in the annual worldwide threat assessment provided Congress expresses this foreign consensus. Last year, DIA Director Lt. Gen. Ronald L. Burgess Jr. testified “[China] currently has fewer than 50 ICBMs that can strike the continental United States, but probably will more than double that number by 2025” (DIA Public Affairs, March 10, 2011).

Thực tế, nhiều nhà quan sát dự đoán Trung Quốc sẽ tăng lực lượng hạt nhân hiện đại hơn và lớn hơn trong 10-15 năm tới. Đánh giá về mối đe dọa toàn thế giới hàng năm năm 2012 của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) giúp Quốc hội nhận thức rõ điều này. Năm ngoái, trong buổi điều trần trước Quốc hội, Giám đốc DIA, Trung tướng Ronald L. Burgess Jr, cho biết hiện nay Trung Quốc sở hữu chưa đến 50 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) có khả năng tấn công nước Mỹ, nhưng có thể con số này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025.

At least three key factors are likely to influence Chinese decision-making about what exactly it requires in terms of nuclear force structure. First, at a broad level, China’s perception of its external security environment and its relationships with major powers is an important consideration. At a more operational level, China also must consider potential nuclear and conventional threats to its silo-based, road-mobile and sea-based nuclear forces. Finally, China also will weigh its concerns about future missile defense developments that could undermine its ability to maintain an assured retaliation posture capable of deterring potential adversaries.


Ít nhất có ba nhân tố cơ bản có thể ảnh hưởng đến quyết định của Trung Quốc trong việc thúc đẩy cơ cấu tổ chức lực lượng hạt nhân: thứ nhất, ở mức rộng lớn, nhận thức của Trung Quốc về môi trường an ninh bên ngoài và mối quan hệ của Bắc Kinh với các cường quốc là một lý do quan trọng; thứ hai, ở mức chiến dịch, Trung Quốc cũng phải xem xét các mối đe dọa hạt nhân và thông thường tiềm tàng đối với lực lượng hạt nhân có căn cứ trên biển và cơ động trên đường đặt căn cứ dưới hầm ngầm; thứ ba, Trung Quốc cũng sẽ cân nhắc trước những sự phát triển phòng thủ tên lửa tương lai trên thế giới có thể phá hủy khả năng của Trung Quốc trong việc duy trì sức mạnh trả đũa mạnh mẽ nhằm ngăn chặn các kẻ thù tiềm tàng.

Chinese scholars suggest missile defense is the most important factor in determining China’s future requirements. According to Yao Yunzhu, for example, U.S. missile defense deployments will be “the most significant factor that will influence China’s nuclear calculus” [6]. Furthermore, according to Chu and Rong, “Trying to retain the credibility of its nuclear deterrent in the face of a BMD system, China may increase its nuclear arsenal until it is beyond doubt that it is large enough” [7]. Chinese writers rarely provide specific numbers, but Chu and Rong suggest perhaps 200 nuclear warheads could be needed today, with that number possibly increasing to 300 or 400 in the future.

Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng phòng thủ tên lửa là nhân tố quan trọng nhất trong việc xác định các nhu cầu vũ khí hạt nhân trong tương lai của Trung Quốc. Ví dụ, nhà phân tích Diêu Vân Trúc khẳng định các kế hoạch triển khai phòng thủ tên lửa của Mỹ sẽ là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến các toan tính hạt nhân của Trung Quốc. Do đó, để đạt được khả năng răn đe hạt nhân nhằm đối phó với hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD), Trung Quốc có thể tăng kho vũ khí hạt nhân lớn gấp đôi, lên 200 đầu đạn hạt nhân và tương lai có thể lên tới 300 hoặc 400 đầu đạn.

Yao writes China will need to “reevaluate the sufficiency of its nuclear arsenal to counter U.S. missile defense systems and retain a guaranteed ability to retaliate.”Yao argues, however, such a reassessment will result only in variation in the size of China’s nuclear arsenal, not in changes to the “basic nature” of China’s nuclear policy. In short, as Yao puts it, the purpose of Chinese nuclear missile force modernization “is to keep valid its longstanding nuclear policy” [8].

Trước mắt, Trung Quốc phải đánh giá lại hiệu quả của kho vũ khí hạt nhân hiện có để đối phó với các hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và nâng cao khả năng trả đũa. Nhưng đánh giá như vậy sẽ chỉ dẫn đến sự khác biệt về quy mô của kho vũ khí hạt nhân chứ không thay đổi bản chất cơ bản của chính sách hạt nhân của Trung Quốc. Nói cách khác, mục tiêu hiện đại hóa lực lượng tên lửa hạt nhân của Bắc Kinh là tiếp tục duy trì giá trị chính sách hạt nhân lâu dài của Trung Quốc.
Implications of Chinese Nuclear Missile Force Developments

Ảnh hưởng của những sự phát triển lực lượng tên lửa hạt nhân của Trung Quốc

In recent years, the SAF has made impressive strides in the development of its nuclear deterrence capabilities. The deployment of road mobile ICBMs is giving China the assured retaliation capability it has long sought for its growing, but still relatively small nuclear missile force. Over the next ten years, China can be expected to continue to strengthen the SAF’s nuclear missile force, which will remain the most important element of China’s nuclear deterrent posture. Perhaps the most vital development in this regard could be the deployment of MIRVed road-mobile ICBMs.

Những năm gần đây, SAF đạt nhiều tiến bộ về phát triển các khả năng răn đe hạt nhân. Việc triển khai các ICBM cơ động trên đường sẽ mang lại cho Trung Quốc khả năng trả đũa mạnh mẽ mà Trung Quốc tìm kiếm lâu nay cho lực lượng tên lửa hạt nhân ngày càng phát triển, nhưng vẫn tương đối nhỏ. Trong 10 năm tới, Trung Quốc có thể tiếp tục tăng lực lượng tên lửa hạt nhân của SAF, bởi vì lực lượng này hiện vẫn là thành phần quan trọng nhất của sức mạnh răn đe hạt nhân. Có lẽ sự phát triển quan trọng nhất của Trung Quốc trên lĩnh vực này là việc triển khai các ICBM cơ động trên đường mang đầu đạn hướng vào nhiều mục tiêu độc lập.

China almost certainly does not plan to build thousands of nuclear weapons, but the development of Chinese nuclear capabilities still will have major implications. First, the SAF’s growing nuclear arsenal will make China a more important consideration in discussions about future nuclear arms control agreements. Chinese nuclear force modernization will become a more important consideration for Russia and the United States as they reduce the size of their own nuclear arsenals. Moreover, China’s integration into the global nuclear reduction process that President Obama outlined in his 2009 Prague speech, as well as that of the other nuclear powers, will eventually be required to make further progress toward his long-term vision of a world free of nuclear weapons—a goal recently echoed by Hu Jintao (Xinhua, March 27). The 2010 Nuclear Posture Review reflects this challenge, stating, “over time” the United States “will also engage with other nuclear weapon states, including China, on ways to expand the nuclear reduction process in the future.”

Trung Quốc gần như chắc chắn không có kế hoạch sản xuất hàng nghìn vũ khí hạt nhân, nhưng việc phát triển các khả năng hạt nhân của Trung Quốc vẫn gây nên những ảnh hưởng to lớn. Thứ nhất, kho vũ khí hạt nhân ngày càng tăng của SAP sẽ biến Trung Quốc thành chủ đề quan trọng hơn trong các cuộc đàm phán về các thỏa thuận kiểm soát vũ khí hạt nhân trong tương lai. Hiện đại hóa lực lượng hạt nhân của Trung Quốc sẽ trở thành vấn đề quan trọng hơn đối với Nga và Mỹ khi hai nước cắt giảm quy mô các kho vũ khí hạt nhân của họ. Hơn nữa, việc Trung Quốc tham gia tiến trình cắt giảm hạt nhân toàn cầu mà Tổng thống Obama đề ra trong bài diễn văn năm 2009 tại Praha, Cộng hòa Séc, cũng như của các cường quốc hạt nhân khác, cuối cùng sẽ bị đòi hỏi phải đạt tiến bộ hơn nữa tiến tới mục tiêu lâu dài nhằm xây dựng một thế giới không có vũ khí hạt nhân một mục tiêu đã được Chủ tịch Hồ cẩm Đào nhắc lại gần đây. Đánh giá tư thế hạt nhân năm 2010 của Mỹ thể hiện rõ thách thức này, trong đó nhấn mạnh Mỹ cũng sẽ can dự với các nước có vũ khí hạt nhân khác, kể cả Trung Quốc, bằng nhiều cách để mở rộng tiến trình cắt giảm hạt nhân trong tương lai.


Chinese scholars expect that China will face greater pressure as a result. Teng Jianqun of the Ministry of Foreign Affairs-run think tank China Institute for International Studies, for example, sees Washington’s approach as still focused mainly on Russia, but notes “as bilateral disarmament progresses, the US will certainly pay increasing attention to China’s arms control policies” [9]. Beijing, however, is clearly reluctant to be drawn into the process, especially given China’s small nuclear arsenal relative to the U.S. and Russian arsenals. As Teng explains, “American and Russian stockpiles make up more than 90 percent of the world’s total nuclear weapons.

Các học giả Trung Quốc dự đoán sắp tới Trung Quốc sẽ đối mặt với sức ép lớn hơn. Ví dụ, nhà phân tích Đằng Kiến Quần của Viện Nghiên cứu Quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhận thấy các biện pháp của Mỹ chủ yếu vẫn tập trung vào Nga, nhưng ông khẳng định sớm muộn Mỹ sẽ ngày càng chú trọng vào các chính sách kiểm soát vũ khí của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc không muốn rút khỏi tiến trình này, bởi vì kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc tương đối nhỏ so với các kho vũ khí hạt nhân của Nga và Mỹ. Như ông Đằng giải thích, "kho dự trữ của Mỹ và Nga chiếm hơn 90% của tổng số vũ khí hạt nhân của thế giới.
Though both nearly have halved their nuclear arsenals since the end of the Cold War, their total number of nuclear weapons is still many times greater than that of states with small nuclear forces. Only when the two great nuclear powers have reduced their arsenals to an appropriate level will China follow suit.” It should be noted, however, that government-affiliated Chinese analysts have not specified what number would constitute an “appropriate level,” suggesting Beijing will remain reluctant to enter into such negotiations.


Mặc dù cả hai gần như đã giảm một nửa kho vũ khí hạt nhân của họ kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tổng số vũ khí hạt nhân của họ là vẫn còn lớn hơn gấp nhiều lần so với của các quốc gia với các lực lượng hạt nhân nhỏ. Chỉ khi hai cường quốc hạt nhân đã giảm kho vũ khí của họ đến một mức độ thích hợp Trung Quốc sẽ theo " Tuy nhiên, cần lưu ý, các nhà phân tích có liên hệ với Chính phủ Trung Quốc đã không nêu ra số lượng sẽ được coi là" mức độ thích hợp." Điều này cho thấy rằng Bắc Kinh sẽ vẫn còn miễn cưỡng khi tham gia vào các cuộc đàm phán như vậy.

Second, beyond the implications for arms control, challenges for escalation management that arise from the SAF’s growing capabilities and evolving doctrine also merit consideration. In particular, some of China’s thinking with respect to using the missile force to send signals aimed at influencing an adversary raises the possibility of miscalculation or inadvertent escalation in a crisis.

Thứ hai, ngoài các tác động của việc kiểm soát vũ khí, thách thức đối với quản lý sự leo thang phát sinh từ năng lực ngày càng tăng của SAF học thuyết phát triển cũng phải xem xét. Đặc biệt, một số người của Trung Quốc suy nghĩ với việc sử dụng các lực lượng tên lửa để gửi tín hiệu nhằm gây ảnh hưởng đến đối thủ sẽ làm tăng khả năng tính toán sai lầm hay sự leo thang khủng hoảng do sơ xuất.
The risk of miscalculation could be heightened by uncertainty over the message that one side is trying to convey to the other or by overconfidence in the ability to control escalation. Some of the signaling activities described in Chinese publications easily could be interpreted not as a demonstration of resolve or as a warning, but as preparation to conduct actual nuclear missile strikes, possibly decreasing the ability of policymakers to successfully manage an unfolding crisis or even escalating a conflict rather than limiting its destructiveness.

Nguy cơ tính toán sai lầm thể gia tăng do sự không chắc chắn về thông điệp mà một bên đang cố gắng truyền đạt cho bên kia hoặc do quá tự tin trong khả năng kiểm soát sự leo thang. Một số các hoạt động truyền tín hiệu được mô tả trongcác ấn phẩm Trung Quốc có thể dễ dàng được giải thích không phải là thể hiện một quyết tâm hay một cảnh báo, mà là một sự chuẩn bị để tiến hành các cuộc tấn công tên lửa hạt nhân thực tế, điều này thể làm giảm khả năng hoạch định chính sách để quản lý thành công một cuộc khủng hoảng đang diễn ra hoặc thậm chí leo thang cuộc xung đột hơn là hạn chế sự phá hoại của nó.

Indeed, some Chinese sources raise troubling questions about potential miscalculations that could result from attempts to increase the intensity of deterrence during a crisis or a conventional conflict. For instance, one SAF publication suggests Chinese missile force units can attempt to deter an adversary by conducting simulated missile launches. For China’s solid-fueled mobile systems, this involves deploying the mobile missile forces to training areas and fake launch sites just before the enemy’s reconnaissance satellites are about to pass overhead. The mobile missile units can then prepare their equipment, erect the missiles and conduct pre-launch inspections. China’s liquid-fueled missiles also can carry out simulated launch preparations. The purpose is to persuade the enemy to believe China’s missile forces are prepared to strike enemy targets, thus convincing the enemy to abandon activities that China considers particularly threatening. According to the same SAF publication, such simulated missile launches “make the enemy believe that our missile forces are already in a situation of waiting for an opportunity or conducting pre-combat exercises; because of this, the enemy will consider the consequences and abandon some of its activities” [10].

Thật vậy, một số nguồn tin Trung Quốc đặt câu hỏi lo ngại về khả năng tính toán sai lầm có thể xuất phát từ  những nỗ lực nhằm tăng cường độ răn đe trong một cuộc khủng hoảng hoặc xung đột thông thường Ví dụ, một tài liệu do SAF công bố cho thấy các đơn vị thuộc lực lượng tên lửa Trung Quốc có thể nỗ lực ngăn chặn đối phương bằng cách thực hiện phóng tên lửa mô phỏng. Với các hệ thống tên lửa nhiên liệu rắn di động của Trung Quốc, điều này liên quan đến việc triển khai lực lượng tên lửa di động tới các khu vực huấn luyện và các điểm phóng giả ngay trước khi vệ tinh do thám của đối phương bay qua đầu. Các đơn vị tên lửa di động lúc đó có thể chuẩn bị thiết, dựng các tên lửa lênthực hiện kiểm tra trước phóng. Các tên lửa nhiên liệu lỏng của Trung Quốc cũng thể thực hiện chuẩn bị phóng mô phỏng. Mục đíchđể thuyết phục kẻ thù để tin rằng lực lượng tên lửa của Trung Quốc đang chuẩn bị để tấn công các để từ bỏ những hoạt động Trung Quốc xem là mang tính chất đe dọa đặc biệt. Cũng theo cùng tài kiệu này của SAF công bố, phóng tên lửa mô phỏng "làm cho đối phương tin rằng các lực lượng tên lửa của chúng ta đã ở trong tình trạng chờ đợi một cơ hội hoặc thực hiện các bài tập trước khi chiến đấu, vì điều này, kẻ thù sẽ xem xét các hậu quả từ bỏ một số hoạt động của ."

Although Chinese authors appear to demonstrate at least some awareness of the danger that actions intended to deter an adversary could instead trigger escalation, discussions of these risks in the relevant publications are quite limited. For instance, Zhao Xijun notes deterrence must be calibrated to maximize the chances of achieving the desired results. If the level of threat is too low, it will not influence the enemy; but, if it is too high, the enemy may lash out in desperation. Zhao also offers a cautionary note that deterrence operations accidentally could trigger escalation if they are poorly timed: "Whether the timing for conducting the military deterrence of the missile forces is correctly chosen will directly affect the progress of deterrence and its outcome. If the appropriate timing is chosen, then deterrence will deter the enemy, contain the eruption of war and obtain the objective of peace with the small price of deterrence. If inappropriate timing is chosen, then deterrence may cause the situation to deteriorate, even leading to the eruption and escalation of war" [11]. Nonetheless, how Chinese decision makers would determine the “right” timing is not clearly specified, and the available sources suggest that Chinese thinking about the risks of specific actions may be rather underdeveloped. Importantly, they do not appear to reflect a detailed assessment of how potential adversaries might react to some of these actions, which could make attempts at escalation management in a crisis or conflict extremely challenging and potentially very dangerous.

Mặc dù nhận thấy nguy hiểm, từ những hành động có ý đồ răn đe đối phương, có thể đẩy tình hình leo thang, nhưng giới phân tích Trung Quốc ít thảo luận các rủi ro. Ví dụ, nhà phân tích Triệu Hi Tuấn cho rằng SAF phải xác định mức độ răn đe để phát huy tối đa các cơ hội nhằm đạt được các kết quả mong đợi. Nếu mức độ đe dọa quá thấp, nó sẽ không ảnh hưởng đến đối phương. Nhưng nếu mức độ răn đe quá lớn, kẻ thù có thể có phản ứng tuyệt vọng. Ông Triệu cũng, lưu ý, các hoạt động răn đe bất ngờ có thể đẩy căng thẳng leo thang nếu những hành động răn đe đó không đúng thời điểm. Ông khẳng định lựa chọn chính xác thời điểm răn đe của lực lượng tên lửa sẽ tác động trực tiếp đến tiến bộ và kết quả của răn đe. Nếu lựa chọn thời điểm thích hợp, lúc đó răn đe sẽ ngăn chặn đối phương, ngăn chặn bùng nổ chiến tranh và đạt được mục tiêu hòa bình. Ngược lại nếu lựa chọn thời điểm răn đe không phù hợp, lúc đó răn đe có thể làm tình hình xấu đi, thậm chí dẫn đến bùng nổ xung đột và mở rộng chiến tranh. Nhưng chưa rõ các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc sẽ xác định thế nào là thời điểm rõ ràng. Quan trọng hơn, họ dường như không đánh giá tỉ mỉ các đôi phương tiềm tàng sẽ phản ứng ra sao trước những hành động có khả năng gây nên một cuộc khủng hoảng hoặc xung đột và đây là vấn đề cực kỳ thách thức và rất nguy hiểm cho Trung Quốc.
Notes:

    Taylor Fravel and Evan Medeiros, “China’s Search for Assured Retaliation: The Evolution of Chinese Nuclear Strategy and Force Structure,” International Security, Vol. 35, No. 2, Fall 2010, pp. 48–87.
    Hans M. Kristensen and Robert S. Norris, “Chinese Nuclear Forces, 2011,” Bulletin of the Atomic Scientists, Vol. 6, No. 6, November 2011, pp. 81–87.
    Yao Yunzhu, “Chinese Nuclear Policy and the Future of Minimum Deterrence,” Strategic Insights, Vol. 4, No. 9, September 2005.
    Sun Xiangli, “Analysis of China’s Nuclear Strategy,” China Security, No. 1, Autumn 2005, p. 27.
    Fravel and Medeiros, “China’s Search for Assured Retaliation,” p. 87.
    Yao Yunzhu, “Chinese Nuclear Policy and the Future of Minimum Deterrence,” Strategic Insights, Vol. 4, No. 9, September 2005
    Chu Shulong and Rong Yu, “China: Dynamic Minimum Deterrence,” in Muthiah Alagappa, ed., The Long Shadow: Nuclear Weapons and Security in 21st Century Asia, Stanford: StanfordUniversity, 2008, p. 171.
    Yao, “Chinese Nuclear Policy and the Future of Minimum Deterrence.”
    Teng Jianqun, “China’s Perspectives on Nuclear Deterrence and Disarmament,” in Malcolm Chalmers, Andrew Somerville and Andrea Berger, ed., Small Nuclear Forces: Five Perspectives, Royal United Services Institute, Whitehall Report 3-11, December 2011, p. 50.
    People’s Liberation Army Second Artillery Force, The Science of Second Artillery Campaigns, Beijing: PLA Press, 2004, p. 289.
    Zhao Xijun, Intimidation Warfare: A Comprehensive Discussion of Missile Deterrence, Beijing: NationalDefense University Press, May 2005, pp. 35, 172.













"The Underground Great Wall" tunnel network, which plays an important role in China's nuclear deterrence capability by enabling China to have a survivable second strike ability, while simultaneously masking the true number of China's nuclear arsenal. By 2011, the "Underground Great Wall" is reported to amass 3500 miles in total, hiding an estimated number of 2500 to 3000 nuclear warheads. The "Underground Great Wall" also hides underground production/enrichment facilities and nuclear reactors for additional warhead production.

"Vạn Lý Trường Thành Dưới Lòng Đất", hay mạng đường hầm, đóng một vai trò quan trọng trong khả năng răn đe hạt nhân của Trung Quốc bằng cách cho phép Trung Quốc có khả năng tấn công tên lửa thứ hai để sống còn, đồng thời che dấu số lượng thực sự kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc. Đến năm 2011, "Trường Thành Ngầm" đã đạt được tổng số 3.500 km, che giấu một số ước tính từ 2500 đến 3000 đầu đạn hạt nhân. "Trường Thành Ngầm" cũng sản xuất với các cơ sở làm giàu uranium và lò phản ứng hạt nhân để sản xuất đầu đạn bổ sung.

The DongFeng 21D is the latest version of the high tech missiles that are possessed by the Government of China. The missile has been developed recently. It has been designed and formed in the Peoples Republic of China. It has the ability to destroy any aircraft carrier whether it is in motion or halt. The new missile has created a lot of tension in the minds of the Americans as this latest weapon has become a severe threat to their aircraft carriers. The pentagon is discussing the whole issue and chalking out its future strategies.

Đông Phong 21D là phiên bản mới nhất của tên lửa công nghệ cao do Chính phủ Trung Quốc sở hữu. Tên lửa được phát triển gần đây. Nó đã được thiết kế và chế tạo tại nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc. Nó có khả năng phá hủy bất kỳ tàu sân bay nào cho dù đang di chuyển hoặc đứng yên. Các tên lửa mới này đã tạo ra rất nhiều căng thẳng trong tâm trí của người Mỹ khi vũ khí mới nhất này đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng cho các tàu sân bay của họ. Ngũ giác đài đã thảo luận toàn bộ vấn đề và vạch ra các chiến lược tương lai của nó.

The missile has the ability to destroy a target which is present within one thousand four hundred and forty four kilometres. There is still a possibility that it can hit far more than that and it has not been revealed as a war strategy. The huge distance which this missile can easily cover is quite a worry for the Americans. The US aircraft carriers are believed to be very strong and cannot be destroyed with the help of small bombs and missiles. But it is believed that this missile has the ability to penetrate through the American ships and destroy them.
The Chinese people are very happy to produce DongFeng 21D. The DongFeng 21D shall surely help the Chinese forces in the coming time.
Tên lửa này có khả năng tiêu diệt một mục tiêu  trong vòng một ngàn bốn trăm bốn mươi bốn cây số. Hiện vẫn còn một khả năng mà nó có thể tăng tầm xa nhiều hơn nhưng điều đó đã không được tiết lộ do chiến lược chiến tranh. Khoảng cách rất lớn mà tên lửa này dễ dàng vươn tới gây lo lắng cho người Mỹ. Các tàu sân bay Mỹ được cho là rất mạnh mẽ và không thể bị phá hủy với các loại bom và tên lửa nhỏ. Nhưng người ta tin rằng tên lửa này có khả năng xuyên thủng các tàu của Mỹ và tiêu diệt chúng.
Người dân Trung Quốc rất vui mừng với việc sản xuất DongFeng 21D. Nó chắc chắn sẽ trợ giúp các lực lượng của Trung Quốc trong thời gian tới.