MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Wednesday, May 16, 2012

The Myth of Chinese Meritocracy HUYỀN THOẠI VỀ CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG HIỀN TÀI Ở TRUNG HOA




The Myth of Chinese Meritocracy

HUYỀN THOẠI VỀ CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG HIỀN TÀI Ở TRUNG HOA
Minxin Pei

Bùi Mẫn Hân
CLAREMONT, CALIFORNIA – Political scandals sometimes perform a valuable function in cleansing governments. They destroy the political careers of individuals of dubious character. More importantly, they can debunk political myths central to the legitimacy of some regimes.

CLAREMONT, CALIFORNIA – Những vụ bê bối chính trị đôi khi thực hiện một chức năng có giá trị làm trong sạch chính phủ. Chúng phá hủy sự nghiệp chính trị của những cá nhân có nhân cách không đáng tin cậy. Quan trọng hơn, là những vụ bê bối ấy có thể vạch trần từ những huyền thoại chính trị trung ương  cho đến tính hợp pháp của một số chế độ.

That appears to be the case with the Bo Xilai affair in China. One enduring political myth that went down with Bo, the former Communist Party boss of Chongqing municipality, is the notion that the Party’s rule is based on meritocracy.


Điều đó xảy ra đối với trường hợp Bạc Hy Lai ở Trung Hoa. Một trong những huyền thoại chính trị vĩnh viễn sụp đổ với họ Bạc, một cựu đảng trưởng Đảng Cộng sản của thành phố Trùng Khánh, mà có quan điểm cho rằng sự cai trị của Đảng được dựa trên chế độ sử dụng hiền tài.

In many ways, Bo personified the Chinese concept of “meritocracy” – well-educated, intelligent, sophisticated, and charming (mainly to Western executives). But, after his fall, a very different picture emerged. Aside from his alleged involvement in assorted crimes, Bo was said to be a ruthless apparatchik, endowed with an outsize ego but no real talent. His record as a local administrator was mediocre.


Về nhiều phương diện, Bạc là hiện thân của khái niệm “chế độ sử dụng hiền tài” của Trung Hoa – học thức, thông minh, tinh tế, và có sức lôi cuốn (chủ yếu là đối với những giám đốc điều hành của phương Tây). Tuy nhiên, sau khi ông ta sụp đổ, một hình ảnh rất khác biệt đã xuất hiện. Bên cạnh những gì ông bị cáo buộc liên quan trong các loại tội phạm. Họ Bạc được mô tả là một thành viên trong ban lãnh đạo đảng cộng sản tàn nhẫn, có cái tôi quá lớn nhưng không có tài năng thực sự. Thành tích quản trị địa phương của ông bị coi thường.

Bo’s rise to power owed much to his pedigree (his father was a vice premier), his political patrons, and his manipulation of the rules of the game. For example, visitors to Chongqing marvel at the soaring skyscrapers and modern infrastructure built during Bo’s tenure there. But do they know that Bo’s administration borrowed the equivalent of more than 50% of local GDP to finance the construction binge, and that a large portion of the debt will go unpaid?

Sự vươn lên giành quyền lực của Bạc phần nhiều nhờ vào gốc gác của mình (cha ông là một phó thủ tướng), người bảo trợ chính trị của ông, và mánh khóe kéo đám đông bằng những quy tắc của trò chơi chính trị. Ví dụ, du khách Trùng Khánh ngạc nhiên tại các tòa nhà chọc trời cao vút và cơ sở hạ tầng hiện đại được xây dựng trong nhiệm kỳ của họ Bạc. Nhưng họ không biết rằng chính quyền Bạc đã vay tương đương hơn 50% GDP của địa phương để tài trợ cho xây dựng, và một phần lớn sẽ là nợ không khả năng thanh toán được?

Unfortunately, Bo’s case is not the exception in China, but the rule. Contrary to the prevailing perception in the West (especially among business leaders), the current Chinese government is riddled with clever apparatchiks like Bo who have acquired their positions through cheating, corruption, patronage, and manipulation.

Thật không may, trường hợp của họ Bạc không phải là ngoại lệ ở Trung Hoa, mà là nguyên tắc chung. Trái ngược với nhận thức phổ biến ở phương Tây (đặc biệt là các nhà lãnh đạo kinh doanh), chính phủ Trung Hoa hiện nay là không chạm được đến những thành viên trong ban lãnh đạo đảng cộng sản thông minh như họ Bạc, những người mà đã có được vị trí của họ nhờ vào tham nhũng, gian lận, sự bảo trợ của chế độ lý lịch, và lôi kéo đám đông.

CommentsOne of the most obvious signs of systemic cheating is that many Chinese officials use fake or dubiously acquired academic credentials to burnish their resumes. Because educational attainment is considered a measure of merit, officials scramble to obtain advanced degrees in order to gain an advantage in the competition for power.

Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của hệ thống gian lận mà nhiều quan chức Trung Hoa sử dụng là mua lại các bằng cấp giả hoặc không đáng tin cậy để đánh bóng sơ yếu lý lịch của họ. Bởi vì ở Trung Hoa trình độ học vấn được coi là thước đo công đức, các quan chức tranh giành để có được bằng cấp cao hòng đạt được một lợi thế trong cuộc cạnh tranh quyền lực.

The overwhelming majority of these officials end up receiving doctorates (a master’s degree won’t do anymore in this political arms race) granted through part-time programs or in the Communist Party’s training schools. Of the 250 members of provincial Communist Party standing committees, an elite group including party chiefs and governors, 60 claim to have earned PhDs.

Đại đa số các quan chức này sẽ nhận được học vị tiến sĩ (bằng thạc sỹ không còn là vũ khí trong cuộc chạy đua vào vũ đài chính trị). Những học vị tiến sĩ được cấp thông qua các chương trình tại chức hoặc trong các trường đào tạo của Đảng Cộng sản. Trong số 250 thành viên của ủy ban chấp hành đang có địa vị của đảng cộng sản ở các tỉnh, một nhóm ưu tú bao gồm cả bí thư và chủ tịch tỉnh, đã có đến 60 vị có bằng tiến sĩ.

Tellingly, only ten of them completed their doctoral studies before becoming government officials. The rest received their doctorates (mostly in economics, management, law, and industrial engineering) through part-time programs while performing their duties as busy government officials. One managed to complete his degree in a mere 21 months, an improbable feat, given that course work alone, without the dissertation, normally requires at least two years in most countries’ doctoral programs. If so many senior Chinese officials openly flaunt fraudulent or dubious academic degrees without consequences, one can imagine how widespread other forms of corruption must be.

Đáng chú ý là, chỉ có 10 trong số họ đã hoàn thành nghiên cứu tiến sĩ của họ trước khi trở thành quan chức chính phủ. Phần còn lại đã nhận được học vị tiến sĩ của họ (chủ yếu là kinh tế, quản lý, pháp luật, và kỹ thuật công nghiệp) thông qua các chương trình bán thời gian trong khi đượng nhiệm chức vụ của mình như là một quan chức chính phủ bận rộn. Họ đã xoay sở để hoàn thành bằng cấp của mình chỉ trong 21 tháng, một thành tích không tin nổi, thời gian cho quá trình học thôi mà chưa tính thời gia làm luận án thông thường đã cần ít nhất hai năm trong chương trình lý thuyết cho tiến sĩ của hầu hết các nước. Nếu rất nhiều quan chức cấp cao Trung Hoa công khai khoe bằng cấp gian lận hoặc không đáng tin cậy mà không bị hậu quả gì, thì người ta có thể hiểu được là vì sao mà tham nhũng lan tràn đến thế.

Another common measure used to judge a Chinese official’s “merit” is his ability to deliver economic growth. On the surface, this may appear to be an objective yardstick. In reality, GDP growth is as malleable as an official’s academic credentials.

Một thước đo khác phổ biến được sử dụng để đánh giá "công đức" của một quan chức Trung Hoa là khả năng làm ra tốc độ tăng trưởng kinh tế của ông ta. Về bề nổi của vấn đề, điều này có thể như là một thước đo khách quan. Trong thực tế, tăng trưởng GDP cũng dễ dàng nhào nặn như các thông tin về học vấn của một quan chức.

Inflating local growth numbers is so endemic that reported provincial GDP growth data, when added up, are always higher than the national growth data, a mathematical impossibility. And, even when they do not doctor the numbers, local officials can game the system in another way.

Những con số tăng trưởng ở địa phương đang lạm phát là tình hình bệnh dịch cố hữu được báo cáo trong dữ liệu tăng trưởng GDP của các tỉnh, khi được cộng lại, nó luôn cao hơn so với các dữ liệu tăng trưởng quốc gia, một con số phi toán học. Và, ngay cả khi họ không làm biến hóa những con số thì, các quan chức địa phương có trò chơi hệ thống theo cách khác.

Because of their relatively short tenure in one position before promotion (less than three years, on average, for local mayors), Chinese officials are under enormous pressure to demonstrate their ability to produce economic results quickly. One sure way of doing so is to use financial leverage, typically by selling land or using land as collateral to borrow large sums of money from often-obliging state-owned banks, to finance massive infrastructure projects, as Bo did in Chongqing.

Bởi vì nhiệm kỳ tương đối ngắn khi nắm giữ một vị trí để chờ thăng chức (trung bình, ít hơn ba năm, đối với một thị trưởng địa phương), các quan chức Trung Hoa đang chịu áp lực rất lớn để chứng minh khả năng của họ trong việc tạo ra hiệu quả kinh tế một cách nhanh chóng. Một cách chắc chắn để làm được như vậy là phải sử dụng đòn bẩy tài chính, thông thường bằng cách bán đất hoặc sử dụng đất làm tài sản thế chấp để vay một số tiền lớn từ ngân hàng nhà nước theo kiểu cưỡng bức ban ơn, để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng lớn, như họ Bạc đã làm ở Trùng Khánh.


The result is promotion for such officials, because they have delivered quick GDP growth. But the economic and social costs are very high. Local governments are saddled with a mountain of debt and wasted investments, banks accumulate risky loans, and farmers lose their land.

Kết quả là có sự thăng chức đối với những cán bộ đó, bởi vì họ đã nhanh chóng tạo ra tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, những chi phí kinh tế và xã hội lại rất cao. Những chính quyền địa phương đang gánh một núi nợ và các khoản đầu tư lãng phí, các ngân hàng tích lũy các khoản vay rủi ro, và nông dân bị mất đất.

Worse, as competition for promotion within the Chinese bureaucracy has escalated, even fake academic credentials and GDP growth records have become insufficient to advance one’s career. What increasingly determines an official’s prospects for promotion is his guanxi, or connections.

Tệ hơn nữa, vì cạnh tranh cho thăng quan trong bộ máy quan liêu Trung Hoa đã leo thang, thậm chí giả mạo các bằng cấp và hồ sơ tăng trưởng GDP đã trở nên không đủ cho việc thúc đẩy sự nghiệp của một con người. Cái mà ngày càng xác định triển vọng của một quan chức cho việc tiến thân là guanxi*, hoặc bè phái của họ.


(một cách chơi chữ tiếng Hoa sang tiếng Anh của tác giả: guanxi: 关系 có nghĩa là quan hệ hoặc thân thế)

Based on surveys of local officials, patronage, not merit, has become the most critical factor in the appointment process. For those without guanxi, the only recourse is to purchase appointments and promotions through bribes. In the Chinese parlance, the practice is called maiguan, literally “buying office.” The official Chinese press is full of corruption scandals of this type.

Dựa trên các cuộc điều tra sự bảo trợ của các quan chức địa phương, thân thế, không phải công đức, đã trở thành yếu tố quan trọng nhất trong quá trình bổ nhiệm. Đối với những người không có thân thế, cách duy nhất là để mua những sự bổ nhiệm và những sự tiến thân thông qua hối lộ. Trong cách nói của Trung Hoa, việc này được gọi là mại quan*, nghĩa là "mua quan bán chức". Báo chí chính thức của Trung Hoa có đầy đủ các vụ bê bối tham nhũng của các loại này.


*(một cách chơi chữ khác phiên âm tiếng Hoa ra thành chữ La tinh là: maiguan: 卖官: mua quan bán chức)

Given such systemic debasement of merit, few Chinese citizens believe that they are governed by the best and the brightest. But astonishingly, the myth of a Chinese meritocracy remains very much alive among Westerners who have encountered impressively credentialed officials like Bo. The time has come to bury it.

Do sự làm mất phẩm cách công đức của cán bộ một cách có hệ thống như vậy, nên công dân Trung Hoa bị lừa để tin rằng họ được quản lý  bởi những thành phần tốt nhất và sáng giá nhất. Nhưng đáng ngạc nhiên là, huyền thoại của một chế độ sử dụng hiền tài của Trung Hoa vẫn còn sống động trong tâm trí của những người phương Tây đã gặp các quan chức ấn tượng như họ Bạc. Thời điểm chôn vùi nó đã đến.



Minxin Pei là Giáo sư về Chính phủ học tại Đại học Claremont McKenna College.


Translated by BSHH


http://www.project-syndicate.org/commentary/the-myth-of-chinese-meritocracy

NATO and Emerging Security Challenges: Beyond the Deterrence Paradigm NATO VÀ NHỮNG THÁCH THỨC VỀ AN NINH ĐANG NỔI LÊN: VƯỢT RA NGOÀI MÔ HÌNH RĂN ĐE



 
NATO and Emerging Security Challenges: Beyond the Deterrence Paradigm
NATO VÀ NHỮNG THÁCH THỨC VỀ AN NINH ĐANG NỔI LÊN: VƯỢT RA NGOÀI MÔ HÌNH RĂN ĐE

Michael Ruhle
American Foreign Policy Interests

Michael Ruhle
American Foreign Policy Interests
ABSTRACT New security challenges, ranging from cyberattacks to failing states, cannot be deterred by the threat of military retaliation, nor will military operations be the appropriate response in most cases. Instead, the emphasis must be on prevention and enhancing resilience. If the North Atlantic Treaty Organization (NATO) wants to play a meaningful role in
addressing such challenges, it will have to develop a clearer understanding of the nature of these challenges, build closer ties with other nations and institutions, and seek partnerships with the private sector. Above all, allies will have to use NATO as a forum for discussing emerging security challenges and their implications.
TÓM TẮT Những thách thức về an ninh mới, từ các cuộc tấn công mang đến những nhà nước yếu kém không thể bị ngăn chặn bởi mối đe dọa về sự trả đũa bằng quân sự, cũng như các hoạt động quân sự sẽ không phải là sự đáp trả thích hợp trong hầu hết các trường hợp. Thay vào đó, cần phải nhấn mạnh vào sự phòng ngừa tăng cường sức bền. Nếu Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) muốn đóng một vai trò có ý nghĩa trong việc giải quyết những thách thức như vậy tổ chức này sẽ phải phát triển một sự hiểu biết rõ ràng hơn về bản chất của những thách thức này, xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các quốc gia và các thể chế khác, và tìm kiếm những sự cộng tác với khu vực tư nhân. Trên hết, các nước đồng minh sẽ phải sử dụng NATO như một diễn đàn để thảo luận về những thách thức về an ninh đang nổi lên và những ảnh hưởng của chúng.

On April 27, 2007, Estonia became the victim of a major cyberattack. Over a period of three weeks, the servers of the Parliament, ministries, banks, and media of the small Baltic North Atlantic Treaty Organization (NATO) member were disrupted or paralyzed by an attack that utilized servers in more than 100 countries. Six years after the assault on New York and Washington, when a group of terrorists guided from Afghanistan had managed to launch a strategic strike against the world’s strongest military power by using entirely non-military means, NATO’s cyberexperts experienced their very own ‘‘9=11.’’

Vào ngày 27/4/2007, Êxtônia đã trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công mạng lớn. Trong vòng 3 tuần, các máy chủ của Quốc hội, các bộ, các ngân hàng và phương tiện truyền thông đại chúng của một nước thành viên nhỏ khu vực Bantích của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) này đã bị phá vỡ hay bị làm tê liệt bởi một cuộc tấn công đã sử dụng các máy chủ ở hơn 100 quốc gia. 6 năm sau cuộc tấn công vào Niu Yoóc và Oasinhtơn, khi một nhóm những kẻ khủng bố được chỉ dẫn từ Ápganixtan đã tìm cách tiến hành một cuộc tấn công chiến lược nhằm vào cường quốc quân sự mạnh mẽ nhất của thế giới bằng việc sử dụng các biện pháp hoàn toàn phi quân sự, các chuyên gia mạng của NATO đã trải qua sự kiện “11/9” của chính họ.

However, unlike on September 11, 2001, the attacks on Estonia did not lead to the invocation of the Washington Treaty’s collective defense clause, nor was there a military operation against the presumed perpetrators. The model of Afghanistan was not applicable to an  anonymous cyberattack. Neither deterrence nor retaliation proved to be useful categories. Only one option remained: in future, the electronic infrastructure of allies would have to be hardened to the point where such attacks would not cause too much damage.

Tuy nhiên, không giống như vào ngày 11/9/2001, các cuộc tấn công vào Êxtônia đã không dẫn đến sự viện dẫn điều khoản phòng thủ tập thể của Hiệp ước Oasinhtơn, cũng không có hoạt động quân sự nào chống lại những kẻ bị cho là thủ phạm. Mô hình Ápganixtan không phù hợp với một cuộc tấn công mạng nặc danh. Cả sự răn đe lẫn sự trả đũa không tỏ ra là những loại hình hữu ích. Chỉ còn lại một sự lựa chọn: trong tương lai, cơ sở hạ tầng điện tử của các nước đồng minh sẽ phải được củng cố tới mức những cuộc tấn công như vậy sẽ không gây ra quá nhiều thiệt hại.

The steady increase of cyberattacks worldwide demonstrate that what happened in Estonia in 2007 was no singular event. Nor are cyberattacks the only security challenge that cannot be deterred by the threat of military retaliation. Terrorism, cyberattacks, ‘‘failed states,’’ the proliferation of weapons of mass destruction, the increasing vulnerability of energy and raw material supply, and humanitarian disasters are developments that lie beyond the deterrence paradigm. Nor will military operations constitute an appropriate response in most circumstances. The real answers to these nontraditional challenges lie beyond deterrence and retaliation: they lie in prevention and enhancing resilience. For NATO, which seeks to safeguard the security of almost 900 million citizens, this means a significant change in the way it thinks and acts.

Sự tăng lên đều đặn của những cuộc tấn công mạng trên khắp thế giới chứng tỏ rằng những gì đã xảy ra ở Êxtônia vào năm 2007 không phải là một sự kiện khác thường. Những cuộc tấn công mạng cũng không phải là thách thức an ninh duy nhất không thể được ngăn chặn bởi sự đe dọa trả đũa bằng quân sự. Chủ nghĩa khủng bố, các cuộc tấn công mạng, “những nhà nước thất bại”, Sự phổ biến các vũ khí hủy diệt hàng loạt, và sự dễ bị tổn hại ngày càng tăng của nguồn cung năng lượng và nguyên liệu thô, và các thảm họa nhân đạo là những diễn biến vượt ra bên ngoài mô hình răn đe. Các hoạt động quân sự cũng sẽ không được coi là sự đáp trả thích hợp trong hầu hết các hoàn cảnh. Câu trả lời thực sự đối với những thách thức phi truyền thống này vượt ra ngoài sự răn đe và trả đũa: chúng nằm ở sự phòng ngừa và tăng cường sức bền. Đối với NATO đang theo đuổi việc báo vệ an ninh của gần 900 triệu dân, điều này có nghĩa là một sự thay đổi đáng kể theo cách thức suy nghĩ và hành động của tổ chức này.

FROM GEOGRAPHICAL TO FUNCTIONAL SECURITY
The inadequacy of a passive, retaliation-based approach has been realized since the end of the cold
war. That period’s specific characteristics—a single, visible enemy, symmetrical military capabilities, long warning times and, above all, the assumption that the opponents would be guided by a rational cost-benefit calculus—made nuclear deterrence a congenial (and affordable) means of war prevention. These characteristics have long disappeared. NATO’s unsuccessful initial attempts to exert a moderating influence over the conflicts resulting fromYugoslavia’s disintegration in the early 1990s were a strong reminder about the need for a different approach. A policy that for over 40 years had been centered around the mere display of force did not provide any useful options in a conflict between third parties. The conflicts in theWestern Balkans could only be stopped by a military intervention.

Từ an ninh địa lý đến an ninh chức năng

Sự không thỏa đáng của một đường hướng bị động và dựa trên sự tra đũa đã được nhận ra kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh. Những đặc trưng của giai đoạn đó – một kẻ thù hữu hình đơn lẻ, các khả năng quân sự cân xứng thời gian cảnh báo dài và, trên hết, giả định rằng các đối thủ sẽ được dẫn dắt bởi một tính toán quan hệ lỗ-lãi hợp lý – đã khiến sự răn đe hạt nhân trở thành phương tiện thích hợp (và khả thi) để ngăn chặn chiến tranh. Những đặc điểm này từ lâu đã không còn nữa. Những nỗ lực ban đầu không thành công của NATO sử dụng ảnh hưởng tiết chế đối với các cuộc xung đột do sự tan rã của Nam Tư vào đầu những năm 1990 là một sự nhắc nhở mạnh mẽ về việc cần thiết phải có một đường hướng khác. Một chính sách mà trong 40 năm đã xoay quanh sự phô trương sức mạnh đã không mang lại bất cứ lựa chọn hữu ích nào trong một cuộc xung đột giữa các bên thứ ba. Các cuộc xung đột ở các nước Tây Bancăng có thể chỉ được ngăn chặn bằng sự can thiệp quân sự.

NATO’s military engagement in the Western
Balkans, which helped end the conflicts in this region and provided the secure environment for a fresh start, was the first indication of a shift toward a more active approach. Given the novel character of this mission for NATO and its potential implications for Europe in general and the Alliance’s future role in particular, the decision to become engaged had only come about after long and painful debates among allies. However, the decision to intervene in Afghanistan after the terrorist attacks of ‘‘9=11’’ was taken almost instantaneously, without lengthy debates. The ‘‘out-of-area syndrome’’ that had prevented NATO from contemplating military action outside the NATO Treaty area had finally been shed.

Sự can dự quân sự của NATO ở Tây Bancăng, mà đã giúp chấm dứt các cuộc xung đột ở khu vực này và đã mang lại một môi trường an toàn cho sự khởi đầu mới, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự thay đổi hướng tới một đường hướng tích cực hơn. Do đặc trưng mới của nhiệm vụ dành cho NATO này và những ảnh hưởng tiềm tàng của nó đối với châu Âu nói chung và vai trò trong tương lai của Liên minh này nói riêng, quyết định trở nên can dự đã chỉ đến sau các cuộc tranh luận kéo đài và đau đớn giữa các nước đồng minh. Tuy nhiên, quyết định can thiệp vào Ápganixtan sau các cuộc tấn công khủng bố “11/9” được thực hiện gần như ngay lập tức, mà không có các cuộc tranh luận kéo dài. “Hội chứng ngoài khu vực” đã ngăn cản NATO dự tính hành động quân sự bên ngoài khu vực Hiệp ước NATO cuối cùng đã mất đi.


Yet even the post-‘‘9=11’’ change from a geographical to a functional understanding of security will not be sufficient for NATO to meet the challenges of the early twenty-first century. On the one hand, the many problems of the Afghanistan mission reveal that the high price of major military engagements will be paid only in the most serious of circumstances.

Tuy nhiên, ngay cả sự thay đổi hậu “11/9” từ sự lý giải về an ninh mang tính địa lý sang mang tính chức năng sẽ không đủ để NATO đương đầu với các thách thức của đầu thế kỷ 21. Một mặt, nhiều vấn đề của sứ mệnh Apganixtan để lộ rằng cái giá cao của những sự can dự lớn về mặt quân sự sẽ phải trả chỉ trong những hoàn cảnh nghiêm trọng nhất.

On the other hand, the relationship between a specific terrorist act and a ‘‘failed state’’ will hardly ever be as clear as it was in the case of the link between ‘‘9=11’’ and Afghanistan. Hence, while the preparedness to intervene militarily without geographical restrictions is indispensable for any meaningful security policy in the globalization age, it is not sufficient for addressing the full spectrum of risks and threats.

Mặt khác, mối quan hệ giữa một hành động khủng bố cụ thể và một “nhà nước thất bại” hơn bao giờ hết khó có thể rõ ràng như so với trong trường hợp mối quan hệ giữa sự kiện “11/9” và Apganixtan. Do đó, trong khi sự sẵn sàng can thiệp về mặt quân sự mà không có những giới hạn về mặt địa lý là không thể thiếu được đối với bất cứ chính sách an ninh có ý nghĩa nào trong thời đại toàn cầu hóa, nó không đủ để giải quyết một loạt các nguy cơ và các mối đe dọa.


THE EMERGING SECURITY ENVIRONMENT

A look at the emerging security environment substantiates this assertion. According to mainstream analysis, the coming decades will see a decline in state sovereignty, a power shift from states to international or non-state networks, and an increase in the destructive power of these non-state actors. Another important development is the continued reliance on civilian nuclear power generation. In addition to its technical safety challenges, the use of nuclear energy could pose significant risks of military nuclear proliferation. At a minimum, it will lead to an increase in the number of ‘‘virtual’’ nuclear weapons states, capable of converting their civilian programs into military ones at short notice. As NATO’s 2010 Strategic Concept notes, ‘‘during the next decade, proliferation will be most acute in some of the world’s most volatile regions.’’

Môi trường an ninh đang nổi lên

Nhìn vào môi trường an ninh đang nổi lên chứng minh sự khẳng định này. Theo một phân tích chủ đạo, những thập kỷ sắp tới sẽ chứng kiến sự suy giảm về chủ quyền nhà nước, sự chuyển giao quyền lực từ các nhà nước sang các mạng lưới quốc tế hay phi nhà nước, và sự tăng sức mạnh tàn phá của các bên tham gia phi nhà nước này. Một tiến triển quan trọng khác là việc tiếp tục dựa vào việc tạo ra năng lượng hạt nhân dân sự. Ngoài những thách thức về vấn đề an toàn về mặt kỹ thuật, việc sử dụng năng lượng hạt nhân có thể gây ra những nguy cơ đáng kể về phổ biến hạt nhân quân sự. Tối thiểu là nó sẽ dẫn đến việc tăng số nhà nước “thực sự” có vũ khí hạt nhân, khả năng chuyển hóa các chương trình hạt nhân dân sự của họ thành các chương trình hạt nhân quân sự trong một thời gian ngắn. Như Khái niệm chiến lược 2010 của NATO lưu ý, “trong thập kỷ tới, sự phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ nghiêm trọng nhất ở một số khu vực bất ổn nhất của thế giới.

Another characteristic of the emerging security environment is the continuing phenomenon of ‘‘failing states.’’ As many of these ungoverned spaces may become a training ground for terrorist groups or a safe haven for pirates and drug and people traffickers, the security implications of these states’ ‘‘failure’’ will reach far beyond their place of origin. Cyberattacks, which have already become a new form of permanent low-level warfare, will further increase in frequency and sophistication, moving from the disruption of services to the outright destruction of hardware. Energy security will also become an increasing concern. As the Strategic Concept puts it, ‘‘[s]ome NATO countries will become more dependent on foreign energy suppliers and in some cases, on foreign energy supply and distribution networks for their energy needs. As a larger share of world consumption is transported across the globe, energy supplies are increasingly exposed to disruption.’’


Một đặc trưng khác của môi trường an ninh đang nổi lên là hiện tượng các “nhà nước đang thất bại” đang tiếp diễn. Khi nhiều trong số những không gian không được cai trị này có thể trở thành nơi luyện tập cho các nhóm khủng bố hay nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ cướp biển, những kẻ buôn ma túy và buôn người, những ảnh hưởng an ninh của “sự thất bại” của các nhà nước này sẽ vượt ra ngoài nơi xuất phát của chúng. Những cuộc tấn công mạng, mà đã trở thành một hình thái mới của cuộc chiến tranh cấp thấp diễn ra thường xuyên, sẽ tăng hơn nữa về tần suất và độ tinh vi, chuyên từ việc làm gián đoạn các dịch vụ đến việc phá hủy hoàn toàn phần cứng. An ninh năng lượng cũng sẽ trở thành một mối lo ngại ngày càng tăng. Như Khái niệm an ninh đề cập đến vấn đề này, “một số nước thuộc NATO sẽ trở nên phụ thuộc hơn vào các nguồn cung năng lượng từ nước ngoài và trong một số trường hợp, vào các mạng lưới cung cấp và phân phối năng lượng từ nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu năng lượng của họ. Khi một phần tiêu thụ lớn hơn của thế giới được vận chuyển trên khắp toàn cầu, các nguồn cung năng lượng đang ngày càng dễ bị phá vỡ”.

These developments may be aggravated by other political and environmental changes. One such change is the emergence of new global players, which may not always want to play by rules that they view as having been largely developed by—and serving the interests of—the West. Another spoiler might be climate change, which may not only lead to an increase in natural disasters but also raise other challenges ranging from food security to pandemics.

Những tiến triển này có thể bị trầm trọng thêm bởi những sự thay đổi về chính trị và môi trường khác. Một sự thay đổi như vậy là sự nổi lên của các bên tham gia toàn cầu mới, thường không muốn tham gia theo các quy tắc mà họ xem là phần lớn được phát triển bởi – và phục vụ các lợi ích của – phương Tây. Một sự thay đổi khác có thể là sự thay đổi khí hậu, không chỉ dẫn đến việc tăng các thảm họa thiên nhiên mà còn làm nảy sinh các thách thức khác từ an toàn lương thực đến các đại dịch.

TOWARD PREVENTION AND RESILIENCE

While this picture is far from complete, it demonstrates why a deterrence-based approach will not suffice if NATO is to play a meaningful role in this
new security environment. For example, terrorist attacks in a subway or an airplane cannot be prevented by the threat of military retaliation but only by police and intelligence cooperation. By the same token, the frequently discussed scenario of a terrorist
‘‘dirty bomb’’ causing panic by spreading radioactive material is also beyond the classical logic of deterrence.

Hướng tới sự phòng ngừa và thích ứng nhanh

Trong khi bức tranh này còn lâu mới được hoàn thành, nó chứng tỏ tại sao đường hướng dựa trên sự răn đe sẽ là không đủ nếu NATO muốn đóng một vai trò đầy ý nghĩa trong môi trường an ninh mới này. Chẳng hạn, các cuộc tấn công khủng bố ở đường xe điện ngầm hay trên máy bay không thể được ngăn chặn bằng sự đe dọa trả đũa về mặt quân sự mà chỉ bằng sự hợp tác của cảnh sát và cơ quan tình báo. Vì thế kịch bản được thảo luận thường xuyên về “bom bẩn” của bọn khủng bố gây ra sự hoảng sợ bằng việc phát tán vật liệu kích hoạt phóng xạ cũng vượt ra ngoài lôgích cổ điển về sự răn đe.

By contrast, the fact that since ‘‘9=11’’ many terrorist attacks were thwarted by police and intelligence cooperation emphasizes the preventive dimension of current security policy. New technologies that would help to detect explosives or to trace their origin will therefore gain in importance. The same applies for measures to limit the damage after a successful terrorist attack. Again, the classical paradigms of deterrence and retaliation do not apply, nor will military operations constitute the appropriate response.

Ngược lại, thực tế là kể từ sự kiện “11/9” nhiều vụ tấn công khủng bố đã bị dẹp tan bởi sự hợp tác của cảnh sát và cơ quan tình báo nhấn mạnh khía cạnh ngăn ngừa của chính sách an ninh hiện nay. Các công nghệ mới sẽ giúp phát hiện các thiết bị phát nổ hay lần ra nguồn gốc của chúng do đó sẽ co ý nghĩa quan trọng. Điều tương tự cũng áp dụng cho các biện pháp hạn chế thiệt hại sau một cuộc tấn công khủng bố thành công. Một lần nữa, mô hình răn đe và trả đũa cổ điển không áp dụng được, cũng như các hoạt động quân sự sẽ không tạo thành sự đáp trả thích hợp.

The same logic applies to attacks against critical energy infrastructure. Whether it is terrorist attacks against pipelines or cyberattacks on power networks:
deterrence by the threat of military retaliation is as irrelevant as is a military operation against the (mostly anonymous) perpetrators. As with cyberdefense, the key to security lies in the resilience of the infrastructure itself: redundancies make it possible to ensure the uninterrupted flow of oil and gas, the rapid repair of the damaged pipelines can keep the losses within acceptable limits, and the electronic systems in control centers must be designed in such a way as to ‘‘ride out’’ even a sophisticated cyberattack.

Lôgích tương tự áp dụng cho các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng trọng yếu. Dù đó là các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào các đường ống dẫn dầu hay các cuộc tấn công mạng nhằm vào các mạng lưới của các cường quốc: sự răn đe bằng đe dọa trả đũa quân sự cũng không thích hợp như hoạt động quân sự chống lại những kẻ thủ phạm (phần lớn là nặc danh). Như với phòng thủ mạng, chìa khóa đối với an ninh nằm ở sức bền của bản thân cơ sở hạ tầng: những dư thừa khiến cho có thể đảm bảo lưu lượng dầu khí không bị gián đoạn, sự sửa chữa nhanh chóng những đường ống dẫn bị hư hại có thể duy trì thiệt hại trong những giới hạn có thể chấp nhận được, và các hệ thống điện tử ở các trung tâm kiểm soát phải được thiết kế theo một cách như vậy để “vượt qua” ngay cả một đòn tấn công mạng phức tạp.


The principle of damage limitation is also going to gain in importance with respect to the proliferation of weapons of mass destruction. As globalization has opened new possibilities for the transfer of knowledge and technology, the number of states with nuclear, biological or chemical weapons might increase. This could lead to a constellation of deterrence relationships that has little in common with the bipolar nuclear standoff of the cold war. The logic of deterrence by the threat of punishment will remain indispensable for inducing military restraint among states, which is why NATO has declared that it will remain a nuclear Alliance as long as nuclear weapons exist. However, a deterrence system that features multiple stakeholders will be more fragile, as the lack of transparency and predictability will make such a system more prone to technical failure and political miscalculations. Again, the focus must be increasingly on prevention and resilience: prevention
through an active non-proliferation policy, export controls and sanctions; resilience through new defensive measures such as the establishment of a NATO-wide missile defense.

Nguyên tắc hạn chế thiệt hại cũng đang có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Khi sự toàn cầu hóa mở ra các khả năng mới cho sự chuyển giao tri thức và công nghệ, số nhà nước có các vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học có thể tăng lên. Việc này có thể dẫn đến một nhóm các mối quan hệ răn đe, mà hầu như không có điểm tương đồng với tình thế đối đầu hạt nhân lưỡng cực của Chiến tranh Lạnh. Lôgích răn đe bằng sự đe dọa trừng phạt sẽ vẫn là không thể thiếu được đối với kể cả sự kiềm chế về quân sự trong các nước, là lí do tại sao NATO tuyên bố rằng tổ chức này sẽ vẫn là một liên minh hạt nhân chừng nào các vũ khí hạt nhân vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, một hệ thống răn đe có đặc trưng là nhiều cổ đông sẽ yếu hơn, do việc thiếu tính minh bạch và tính có thể dự đoán được sẽ khiến một hệ thống như vậy có xu hướng thất bại về mặt kỹ thuật và tính toán sai lầm về mặt chính trị hơn. Một lần nữa cần phải tăng cường tập trung vào phòng ngừa và sức bền: phòng ngừa thông qua một chính sách không phổ biến hạt nhân tích cực, những sự kiểm soát và những sự trừng phạt xuất khẩu; sức bền thông qua các biện pháp phòng thủ mới chẳng hạn như việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa rộng khắp NATO.

The last example of the paradigm shift is humanitarian relief operations. It has by now become a general consensus that climate change is a reality, that it is irreversible, and that it will have serious security implications. While climate change is a global phenomenon, its most dire consequences will reveal themselves particularly in those regions that are already at a disadvantage and thus do not have the means to protect themselves. The predictable result of these developments will be an increase in natural disasters, civil emergencies, and, consequently, in humanitarian relief operations. Since the military is best equipped for these missions it will often be used a ‘‘first responder’’ in such emergencies. The use of the military in such operations has nothing in common with traditional warfare, however, as the aim is not to impose one’s political will on an opponent but rather to ensure that the aid reaches the victims. Put another way, the issue at stake is not how to deter a threat but how to mitigate the negative consequences of events that lie beyond human control.
Ví dụ mới nhất về sự chuyển đổi mô hình là các hoạt động cứu trợ nhân đạo. Cho đến nay điều đã trở thành một sự nhất trí chung là sự thay đổi khí hậu là một thực trạng, rằng nó là không thể thay đổi được, và rằng nó sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng về an ninh. Trong khi sự thay đổi khí hậu là một hiện tượng toàn cầu, thì những hậu quả khốc liệt nhất của nó sẽ đặc biệt được nhận thấy ở các khu vực đang ở thế bất lợi và do đó không có các biện pháp để tự bảo vệ mình. Kết quả có thể dự đoán được về những sự tiến triển này sẽ là một sự gia tăng các thảm họa tự nhiên, những tình trạng khẩn cấp dân sự, và do đó tăng các hoạt động cứu trợ nhân đạo. Do quân đội được trang bị tốt nhất cho những nhiệm vụ này, nó sẽ thường được sử dụng như “sự đáp trả đầu tiên” trong những trường hợp khẩn cấp như vậy. Tuy nhiên, việc sử dụng quân đội trong các hoạt động như vậy không có điểm tương đồng nào với chiến tranh truyền thống, khi mục đích không phải là nhằm buộc đối thủ phải nghe theo ý muốn chính trị của mình mà nhằm đảm bảo rằng sự cứu trợ đến được với các nạn nhân. Nói một cách khác, vấn đề khẩn cấp hiện nay không phải là làm thế nào để ngăn chặn một mối đe dọa mà là làm thế nào để giảm thiểu những hậu quả tiêu cực của các sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của con người.


A SENSIBLE NATO AGENDA

As an Alliance that seeks to safeguard the security and well being of almost 900 million citizens from 28 nations, it is indispensable that NATO adapt its policies in line with the ongoing paradigm shift. This should not be misunderstood as a move away from operations such as in Kosovo, Afghanistan, or Libya: collective military operations are likely to remain the core business of NATO, as this is the area where the Alliance offers its most significant added value. However, the dimensions of prevention and resilience will have to occupy a much more prominent place on NATO’s political and military agenda. Such an agenda must be built around several key elements.

Chương trình nghị sự hợp lý của NATO

Với tư cách là một liên minh tìm kiếm việc bảo vệ an ninh và phúc lợi của gần 900 triệu dân từ 28 quốc gia, điều không thể thiếu được là NATO chỉnh sửa lại các chính sách của mình cho phù hợp với sự thay đổi mô hình đang diễn ra. Việc này cần phải không bị hiểu sai là một sự rời xa khỏi các hoạt động như ở Côxôvô, Ápganixtan hay Libi: các hoạt động quân sự chung có thể vẫn là công việc cốt lõi của NATO, khi đây là một lĩnh vực mà liên minh này đem lại các giá trị gia tăng đáng kể nhất của mình. Tuy nhiên, quy mô của sự phòng ngừa và sức bền sẽ phải có vị trí nổi trội hơn nhiều trong chương trình nghị sự chính trị và quân sự của NATO. Một chương trình nghị sự như vậy phải được xây dựng quanh một vài yếu tố then chốt.


First, NATO needs to develop coherent policies to define its role in addressing the emerging security challenges mentioned above. NATO has been addressing a range of emerging threats for quite some time, yet it has done so in a compartmentalized way, without clear-cut political guidance or a thorough conceptual underpinning. The 2010 Strategic Concept, which gives considerable prominence to emerging challenges, signals a change, however, as it provides NATO with a wide-ranging mandate to address these challenges in a more systematic way. Moreover, the creation of the Emerging Security Challenges Division in NATO’s International Staff will facilitate a more coherent policy development and implementation in these areas. A first result of these developments was the agreement on a NATO Cyber Defense Policy, which aims at introducing NATO-wide standards to protect against cyberattacks, and at integrating cyberdefense into the NATO defense planning process. Another indication of a more coherent NATO policy with respect to emerging security challenges is the decision to build an Alliance-wide missile defense system, preferably in coordination with Russia.

Thứ nhất, NATO cần phải phát triển các chính sách chặt chẽ để xác định vai trò của mình trong việc giải quyết những thách thức an ninh đang nổi lên đã được đề cập ở trên. NATO đã và đang giải quyết một loạt mối đe dọa đang nổi lên trong một thời gian, tuy nhiên tổ chức này đã thực hiện việc đó theo cách được phân chia từng phần, mà không có một sự hướng dẫn rõ ràng về mặt chính trị hay một nền tảng khái niệm triệt để. Tuy nhiên, Khái niệm chiến lược 2010, làm nổi bật đáng kể các thách thức đang nổi lên, đánh dấu một sự thay đổi, khi nó đem lại cho NATO một sự ủy quyền sâu rộng để giải quyết các thách thức này theo một cách có hệ thống hơn. Hơn nữa, việc lập ra Đơn vị ứng phó thách thức an ninh đang nổi lên trong Ban tham mưu quốc tế của NATO sẽ tạo thuận lợi cho việc phát triển và thực hiện chính sách chặt chẽ hơn ở những lĩnh vực này. Kết quả đầu tiên của những tiến triển này là một thỏa thuận về Chính sách phòng thủ mạng của NATO, mà nhằm mục đích đưa ra các tiêu chuẩn trên toàn NATO bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mạng, và hòa nhập vấn đề phòng thủ mạng vào quá trình lên kế hoạch phòng thủ của NATO. Một dấu hiệu khác cho thấy một chính sách NATO chặt chẽ hơn về các thách thức an ninh đang nổi lên là quyết định xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa rộng khắp liên minh này, tốt nhất là phối hợp với Nga.


These steps now need to be mirrored in other areas. For example, ongoing counterterrorism measures, such as naval patrols in the Mediterranean or the development of sensors to detect suicide bombers in subways, should ideally be embedded in a comprehensive NATO counterterrorism policy. NATO’s approach to energy security, which currently
focuses predominantly on critical infrastructure protection, could gradually be expanded, for example
by making greater use of NATO’s training and education facilities and by a particular focus on enhancing fuel efficiency in military operations. Regarding environmental security, there is a need for a more systematic networking with the scientific community to identify technical and scientific trends.



Những bước này hiện nay cần phải được phản chiếu trong các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, các biện pháp chống khủng bố đang diễn ra, như các cuộc tuần tra hải quân ở Địa Trung Hải hay việc phát triển các thiết bị cảm biến để phát hiện những kẻ đánh bom tự sát ở các đường xe điện ngầm, lý tưởng là cần phải được gắn vào chính sách chống khủng bố toàn diện của NATO. Đường hướng của NATO đối với an ninh năng lượng, mà hiện nay chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ các cơ sở hạ tầng quan trọng, có thể dần được mở rộng, chẳng hạn bằng việc sử dụng nhiều hơn các cơ sở huấn luyện và đào tạo của NATO và bằng việc đặc biệt tập trung vào việc tăng cường hiệu quả nhiên liệu trong các hoạt động quân sự. về an ninh môi trường, cần phải có một mạng lưới hoạt động có hệ thống hơn với cộng đồng khoa học để xác định các xu hướng công nghệ và khoa học.

Second, NATO needs to be much better connected to the broader international community. This is true for its relations with other security stakeholders such
as the European Union, the United Nations or numerous nongovernmental organizations (NGOs), but also for its relations with other countries, notably partners from across the globe, from Australia to Japan to South Korea. NATO’s partnership with other countries is likely to remain a success story, as
demonstrated by the huge International Security Assistance Force coalition as well as the inclusion of Gulf countries in the Libya operation. Indeed, the nature of today’s security challenges makes NATO’s success increasingly dependent on how well it cooperates with others, whether the issue is peacekeeping, cyberdefense, non-proliferation, counterterrorism, or energy security. Hence, enhancing NATO’s ‘‘connectivity’’ (NATO Secretary General Rasmussen) is a precondition for its future as viable security provider. For this reason, the expansion of NATO’s partnerships, to eventually even include relations with China and India, is both logical and feasible. Moreover, as other institutions are gradually accepting NATO as a partner in certain contingencies, there is room for further progress.

Thứ hai, NATO cần phải có mối liên hệ tốt đẹp hơn với cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn. Việc này đúng với không chỉ các mối quan hệ của tổ chức này với các cổ đông an ninh khác như Liên minh châu Âu, Liên hợp quốc hay nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO), mà còn đối với các mối quan hệ với các nước khác, đáng chú ý là các đối tác từ trên khắp toàn cầu, từ Ôxtrâylia đến Nhật Bản cho đến Hàn Quốc. Quan hệ đối tác của NATO với các nước khác có thể vẫn là một câu chuyện thành công, như đã được chứng minh bằng liên minh Lực lượng hỗ trợ an ninh quốc tế cũng như việc đưa cả các nước vùng Vịnh vào hoạt động ở Libi. Quả thực, bản chất của những thách thức an ninh ngày nay khiến sự thành công của NATO ngày càng phụ thuộc vào việc tổ chức này phối hợp tốt với các tổ chức khác như thế nào, dù là về gìn giữ hòa bình, phòng thủ mạng, không phổ biến hạt nhân, chống khủng bố hay an ninh năng lượng, Do đó, tăng cường “tính kết nối” của NATO (lời Tổng thư ký NATO Rasmussen) là điều kiện tiên quyết cho tương lai của tổ chức này với tư cách là một người mang lại an ninh đáng tin cậy. Vì lý do này, việc mở rộng những quan hệ đối tác của NATO sang cuối cùng thậm chí bao gồm cả các mối quan hệ với Trung Quốc và Ấn Độ vừa hợp lôgích vừa khả thi. Hơn nữa, khi các thể chế khác dần chấp nhận NATO là một đối tác trong những tình huống bất ngờ nhất định, thì có thêm không gian cho sự tiến bộ hơn nữa.


This progress should eventually also extend to the NATO–EU relationship, which is perhaps the most important of all, yet thus far has remained nervous and incomplete. While certain national sensitivities of NATO Allies and EU members must be respected, the urgency for closer coordination and cooperation between both organizations is greater than ever. Many of the new challenges are both internal and external in nature. For example, terrorism can be home grown or imported, while protecting cyber and energy infrastructures are essentially national responsibilities. This poses entirely new coordination
challenges for all actors involved. A stronger NATO–
EU relationship would be a major step toward overcoming such challenges.

Tiến bộ này cuối cùng cũng cần mở rộng sang mối quan hệ NATO-EU, mà có thể là quan trọng nhất, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn không ổn định và dở dang. Trong khi những sự nhạy cảm quốc gia nhất định của các nước đồng minh trong NATO và các thành viên EU phải được tôn trọng, tính khẩn thiết phải có sự phối hợp và hợp tác chặt chẽ hơn giữa hai tổ chức này là lớn hơn bao giờ hết. Nhiều trong số những thách thức mới về bản chất là cả về nội tại lẫn bên ngoài. Chẳng hạn, chủ nghĩa khủng bố có thể phát triển từ trong nước hoặc được du nhập vào, trong khi việc bảo vệ các cơ sở hạ tầng mạng và năng lượng về cơ bản là trách nhiệm quốc gia. Việc này đặt ra những thách thức phối hợp hoàn toàn mới cho tất cả các bên tham gia có liên quan. Mối quan hệ hợp tác NATO-EU mạnh mẽ hơn sẽ là một bước lớn hướng tới việc vượt qua những thách thức như vậy.


Another part of a better connected NATO is a sustained relationship with the private sector. Just as
the urgency to enhance NATO’s cyberdefense capabilities will lead to closer ties with the software companies, the need to develop a coherent approach to energy security will require NATO to reach out to private energy companies. Creating such new relationships will be challenging, since national business interests and collective security interests may sometimes prove to be irreconcilable. Still, the nature of many emerging security challenges makes the established compartmentalization of responsibilities between the public and private sectors appear increasingly anachronistic.

Một phần khác của một NATO có liên kết tốt hơn là mối quan hệ lâu bền với khu vực tư nhân. Đúng như sự khẩn thiết phải tăng cường các khả năng phòng thủ mạng của NATO sẽ dẫn đến các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các công ty phần mềm, sự cần thiết phải phát triển một đường hướng chặt chẽ về an ninh năng lượng sẽ đòi hỏi NATO phải chìa tay ra với các công ty năng lượng tư nhân. Việc tạo ra các mối quan hệ mới như vậy sẽ gây thách thức, do những lợi ích kinh doanh của quốc gia và các lợi ích an ninh chung đôi khi có thể tỏ ra là không thể hòa hợp với nhau. Tuy nhiên, bản chất của nhiều thách thức an ninh đang nổi lên khiến cho việc phân chia trách nhiệm đã được thiết lập giữa các khu vực công cộng và tư nhân ngày càng tỏ ra lỗi thời.


Third and finally, Allies must use NATO as a forum for a sustained political dialogue about broader security developments. While NATO is engaged on several continents, its ‘‘collective mindset’’ is still largely euro-centric and reactive. As a result many NATO members approach discussions on potential future security issues only hesitantly, worrying that NATO’s image as an operations-driven alliance will create the impression that any such debate was only the precursor to military engagement. While such misperceptions can never be ruled out, the allies should nevertheless resist making themselves hostages to the risk of a few false press reports about NATO’s allegedly sinister military intentions. Indeed, the true risk for NATO lies in the opposite direction: by refusing to look ahead and debate political and military options in meeting emerging challenges, the Allies would condemn themselves to an entirely reactive approach, thus foregoing opportunities for a pro-active policy.

Thứ ba và là cuối cùng, các nước đồng minh phải sử dụng NATO như một diễn đàn đối thoại chính trị lâu dài về những tiến triển an ninh rộng lớn hơn. Trong khi NATO đang can dự trên một vài lục địa, “khuynh hướng chung” của tổ chức này phần lớn vẫn là lấy châu Âu làm trọng tâm và mang tính phản ứng lại. Do đó, nhiều nước thành viên NATO chỉ tiếp cận các cuộc thảo luận về các vấn đề an ninh tiềm tàng trong tương lai một cách do dự, quan ngại rằng hình ảnh NATO với tư cách là một liên minh do các hoạt động thúc đẩy sẽ tạo ra ấn tượng rằng bất cứ cuộc tranh luận nào như vậy chỉ là điềm báo trước cho sự can dự quân sự. Trong khi những nhận thức sai lầm như vậy có thể không bao giờ bị loại bỏ, thì các nước đồng minh cần phải chống lại việc làm cho bản thân họ thành những con tin của nguy cơ về một vài tin tức báo chí thất thiệt về cái gọi là những ý định quân sự xấu của NATO. Quả thực, nguy cơ thực sự đối với NATO nằm ở hướng ngược lại: bằng việc từ chối nhìn về phía trước và tranh luận về những sự lựa chọn chính trị và quân sự trong việc đối phó với các thách thức đang nổi lên, các nước đồng minh tự bắt mình phải chịu một đường hướng hoàn toàn mang tính phản ứng lại, do đó bỏ mất những cơ hội cho một chính sách ủng hộ hành động.


Such a culture of debate is all the more important as many new security challenges do not affect all Allies in quite the same way. A terrorist assault or a cyberattack against just one Ally will not necessarily generate the collective sense of moral outrage and political solidarity that one could witness after ‘‘9=11.’’ Consequently, political solidarity and collective responses may be far more difficult to generate than in the past. Admitting this is not fatalism. It is simply a reminder that the new threats can be divisive rather than unifying if allies do not make a determined effort to address them collectively. On a positive note, there are some indications that this cultural change in NATO has finally begun, as Allies have become more willing to discuss potentially controversial issues in a brainstorming mode. This welcome development must now be sustained by beefing up NATO’s analytical capabilities, including improved intelligence sharing and longer-range forecasting. Over time, these developments should lead to a shift in NATO’s ‘‘culture’’ toward becoming a more forward-looking organization.

Một văn hóa tranh luận như vậy là cái hoàn toàn quan trọng hơn khi nhiều thách thức an ninh mới không ảnh hưởng đến tất cả các nước đồng minh theo cách hoàn toàn như nhau. Một cuộc tấn công khủng bố hay một cuộc tấn công mạng nhằm vào chỉ một nước đồng minh sẽ không nhất thiết tạo ra nhận thức chung về sự vi phạm đạo đức và sự đoàn kết chính trị mà người ta có thế chứng kiến sau sự kiện “11/9”, Do đó, khó có thể tạo ra sự đoàn kết chính trị và những sự đáp trả chung hơn rất nhiều so với trong quá khứ. Phải thừa nhận rằng việc này không phải là định mệnh. Nó đơn giản là sự nhắc nhở rằng các mối đe dọa mới có thể gây chia rẽ thay vì thống nhất nếu các nước đồng minh không có một nỗ lực mang tính quyết định cùng giải quyết chúng. Trong một lưu ý tích cực, có một số dấu hiệu cho thấy rằng sự thay đổi văn hóa này trong NATO cuối cùng đã bắt đầu, khi các nước đồng minh trở nên sẵn sàng hơn để thảo luận về các vấn đề gây tranh cãi tiềm tàng một cách có suy nghĩ. Sự phát triển đáng hoan nghênh này hiện nay phải được duy trì bằng việc tăng cường các khả năng phân tích của NATO, bao gồm việc cải thiện chia sẻ các tin tức tình báo và dự báo tầm xa hơn. Qua thời gian, những sự phát triển này cần phải dẫn đến một sự thay đổi trong “văn hóa” của NATO hướng tới việc trở thành một tố chức hướng về phía trước hơn.

CONCLUSION: APPLYING THE ‘‘NOAH RULE’’

The paradigm shift away from deterrence and toward prevention and resilience constitutes an enormous challenge both for individual states as well as for alliances. A security policy that accepts that certain threats cannot be prevented through deterrence, and that, thus, some damage will inevitably occur, will be difficult to explain to populations that have become used to near-perfect security. Thus, such a policy will be charged as being fatalistic or scaremongering, while others will interpret it as an alibi by governments to spy on its citizens, or simply as an excuse for increasing defense budgets. And yet the governments of modern industrial societies have no choice but to admit to their citizens that in an era marked by climate change, proliferation, terrorism, and resource scarcity neither the individual state nor an alliance can still offer near-perfect protection. At the same time, governments have to lobby for new forms of protection and consequence management, yet without creating a climate of fear and uncertainty.

Kết luận: áp dụng “quy tắc Noah”

Sự thay đối mô hình rời khỏi sự răn đe hướng và hướng tới sự phòng ngừa và sức bật tạo ra một thách thức lớn cả đối với cá nhân các nước cũng như đối với các liên minh. Sẽ khó có thể giải thích cho những người dân đã trở nên quen với tình trạng an ninh gần như hoàn hảo về một chính sách an ninh chấp nhận rằng không thể ngăn chặn những mối đe dọa nhất định bằng sự răn đe và do vậy một số thiệt hại tất yếu sẽ xảy ra. Do đó, một chính sách như vậy sẽ bị công kích là mang tính định mệnh hay phao tin đồn nhảm, trong khi những người khác sẽ hiểu nó như là một cái cớ của các chính phủ để bí mật theo dõi người dân của mình, hay đơn giản là sự bào chữa cho việc gia tăng ngân sách quốc phòng. Tuy nhiên, các chính phủ của các xã hội công nghiệp hiện đại không có lựa chọn nào ngoài việc thừa nhận với người dân của mình rằng trong một thời đại được ghi dấu bởi sự thay đổi khí hậu, sự phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa khủng bố và sự khan hiếm các nguồn tài nguyên không một nước cá nhân nào lẫn một liên minh nào đó có thể vẫn mang lại sự bảo vệ gần như hoàn hảo. Đồng thời, các chính phủ phải vận động cho những hình thái bảo vệ và giải quyết hậu quả mới, tuy nhiên không tạo ra một không khí lo sợ và bất ổn.

All this amounts to a tough sell. However, inaction would ultimately be more expensive. No one has expressed this better than one of the world’s richest individuals, Warren Buffett. The famed U.S. investor had long been thinking about the question of how major disasters would affect the insurance business. But he had not turned his reflections into concrete action. In a letter to his shareholders, written a few weeks after the tragedy of ‘‘9=11,’’ Buffett admitted that he had violated the ‘‘Noah rule’’: ‘‘predicting rain doesn’t count, building arks does.’’

Tất cả những việc này rốt cuộc là một sự thất vọng lớn. Tuy nhiên, không hành động cuối cùng sẽ còn tốn kém hơn. Không một ai bày tỏ vấn đề này tốt hơn một trong những người giàu nhất thế giới, Warren Buffett. Nhà đầu tư người Mỹ nổi tiếng này từ lâu đã suy nghĩ về câu hỏi những thảm họa lớn tác động như thế nào đến ngành kinh doanh bảo hiểm, Nhưng ông đã không biến những suy nghĩ của ông thành hành động cụ thể. Trong một bức thư của ông gửi đến các cổ đông, được viết một vài tuần sau thảm kịch “11/9”, Buffett thừa nhận rằng ông đã vi phạm “Quy tắc Noah”: “việc dự báo mưa lũ không quan trọng bằng việc đóng tàu để vượt qua cơn lũ đó”.

Michael Ruhle is Head of the Energy Security Section in NATO’s Emerging Security Challenges Division. Previously, he was Deputy Head of the Secretary General’s Policy Planning Unit. He has published frequently on transatlantic security issues. The views expressed in this article are the author’s own.
Michael Ruhle phụ trách phòng an ninh năng lượng trong Bộ phận nghiên cứu về thách thức an ninh mới nổi lên của NATO. Trước đó, ông là Phó Trưởng Ban hoạch định chính sách của Tổng thư ký. Ông viết thường xuyên về các vấn đề an ninh xuyên Đại Tây dương.. Các quan điểm được thể hiện trong bài viết này của riêng tác giả.



http://www.aicgs.org/issue/nato-and-emerging-security-challenges-beyond-the-deterrence-paradigm/