MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – ĐỀ TÀI TỔNG HỢP

SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE WITH "A CORNER OF MINE"

CHIA SẺ TRI THỨC VÀ CẢI THIỆN NGÔN NGỮ VỚI "MỘT GÓC CỦA TÔI"

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOLE SEARCH

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Right Click on the link, choose open link in New tab, type your text and listen to it read in English and several other languages – Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU




Monday, May 14, 2012

Russia's natural gas dilemma TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN VỀ KHÍ ĐỐT CỦA NGA


 

Russia's natural gas dilemma

TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN VỀ KHÍ ĐỐT CỦA NGA

STRATFOR

12/5/2012
Russian home and industrial consumers have traditionally enjoyed generous subsidies for natural gas. Today, the Kremlin finds itself in a tough spot - satisfying domestic constituents or authorising dramatic rises in gas prices to fund major projects planned the Gazprom monopoly, Stratfor analysts say.

Các gia đình Nga và người tiêu dùng công nghiệp có truyền thống được hưởng trợ cấp hào phóng về khí đốt tự nhiên. Hôm nay, Kremlin thấy mình đang ở thế khó xử - đáp ứng nhu cầu cử tri trong nước hoặc cho phép tăng  giá khí đốt đáng kể để tài trợ cho các dự án lớn đã lên kế hoạch của công ty độc quyền Gazprom, các nhà phân tích Stratfor cho biết.
"Russia produced approximately 510 billion cubic meters (bcm) of natural gas in 2011, and approximately 60% of it was sold on the domestic Russian market. Russia has one of the highest domestic consumption rates per capita of natural gas - understandably so, since Russia is one of the world's coldest countries, and heating and electricity use is high. Russian industry also depends heavily on natural gas.


Trong năm 2011, Nga sản xuất khoảng 510 tỷ m3 khí đốt, khoảng 60% lượng khí này được bán ở trong nước. Nga có tỷ lệ tiêu thụ khí đốt bình quân đầu người cao nhất vì Nga là một trong những nước lạnh nhất thế giới, sưởi ấm và sử dụng điện cao. Lĩnh vực công nghiệp của Nga cũng phụ thuộc nặng nề vào khí đốt để cung cấp điện cho các nhà máy.


Russia uses a four-tier pricing system for natural gas: two tiers for domestic prices, one for the former Soviet states and one for its European customers. Russia has long capped domestic natural gas prices, a practise left over from the Soviet era. Currently, Russia charges between $75 and $97 per thousand cubic metres (tcm) on the domestic market, with households and municipal entities, such as schools and hospitals, paying the lower price and industrial entities paying more. Most of the former Soviet states pay in the mid-$200s and Europe pays $350 to $450 per tcm.

Nga sử dụng hệ thống 4 loại giá đối với khí đốt: giá nội địa có hai loại, một loại giá cho các nước thuộc Liên xô trước đây và một loại giá nữa cho các khách hàng châu Âu. Từ lâu Nga đã hạn chế giá khí đốt trong nước, một hành động từ thời Liên Xô. Hiện tại trên thị trường nội địa Nga, giá khí đốt từ 75 USD đến 97 USD một nghìn m3 với việc các hộ gia đình và tổ chức nhà nước như trương học và bệnh viện trả giá thấp hơn còn các cơ sở công nghiệp trả giá cao hơn. Đa số các nước thuộc Liên xô trước đây phải trả ở mức khoáng 250 USD còn khách hàng châu Âu là từ 350 – 450 USD/nghìn m3.          

Russia's natural gas firms - primarily Gazprom - are suffering financially because of measures that let domestic users pay a fraction of the price Russia's foreign customers pay. In the past decade, the Kremlin has permitted Gazprom to increase its price by 14 to 25% a year. This gradual increase has prevented a massive backlash from natural gas consumers in Russia because it has been accompanied by improving economic standards in the country. However, Gazprom says this increase is insufficient.

Các công ty khí đốt Nga, chủ yếu là Gazprom, đang gặp khó khăn về tài chính do các biện pháp để người tiêu dùng nội địa chi trả một phần nhỏ so với khách hàng nước ngoài phải trả. Trong thập kỷ qua, Cremli đã cho phép Gazprom tăng giá từ 14 – 25% một năm. Việc tăng giá từ từ này để tránh phản ứng mạnh mẽ từ người tiêu dùng khí đốt tại Nga vì nó sẽ đi cùng với việc các tiêu chuẩn kinh tế được cải thiện. Tuy nhiên, Gazprom cho rằng mức tăng đó là chưa đủ.

Gazprom’s protest
Sự phản kháng của Gazprom

Gazprom sees four primary problems with Russia's current natural gas prices. First, Gazprom is losing money on its domestic sales. According to current Gazprom data, it costs Gazprom approximately $132 to produce or acquire and then distribute 1 tcm of natural gas, but its revenue from the domestic market is only $80 per tcm, which means Gazprom loses more than $50 per tcm sold domestically. Considering that the domestic market makes up 60% of sales, the loss is monumental.

Gazprom thấy có 4 vấn đề cơ bản với hệ thống giá khí đốt hiện nay của Nga. Thứ nhất, Gazprom đang thua lỗ khi bán trong nước. Theo số liệu gần đây của Gazprom, Gazprom tiêu tốn khoảng 132 USD đê sản xuất hoặc thu gom sau đó phân phối 1 nghìn m3 khí đốt, nhưng giá bán trên thị trường nội địa chỉ khoảng 80 USD một nghìn m3. Điều này có nghĩa là Gazprom lô trên 50 USD khi bán nội địa. Trong khi đó thị trường nội địa chiếm đến 60% lượng hàng bán ra, khoản thua lỗ này là rất lớn.

Gazprom has continued to stay afloat and remain strong because of its sales abroad, where its revenue is approximately $279 per tcm (double the cost of production). However, Russia's domestic natural gas consumption has grown more than 15% in the past decade (but declined during the economic crisis of 2008-2009). Gazprom is thus producing more natural gas at a loss than it would if it charged its domestic customers what it charged its foreign customers.


Gazprom vẫn có thể tiếp tục tồn tại và phát triển nhờ doanh số bán ra nước ngoài với mức giá khoảng 279 USD một nghìn m3, gấp hai lần chi phí sản xuất. Tuy nhiên, tiêu dùng khí đốt nội địa của Nga đã tăng trên 15% trong thập kỷ qua (có giảm trong thời kỳ khủng hoảng 2008-2009). Do đó, Gazprom ngày càng phải chịu lỗ nhiều hơn.

Second, Gazprom is concerned that its revenues from sales to Europe will decrease amid negotiations over new natural gas prices with many of its European customers. Coupled with Europe's diversification of natural gas supplies away from Russia, this means Gazprom could soon be unable to continue offsetting its domestic losses with high profit margins from sales on the European market.

Thứ hai, Gazprom lo ngại rằng nguồn thu từ bán hàng cho châu Âu. sẽ giảm trong quá trình đàm phán giá khí đốt mới với nhiều khách hàng châu Âu. Cùng với đó châu Âu cũng đa dạng hóa nguồn cung khí đốt ngoài Nga. Điều này có nghĩa là Gazprom sẽ không thể sớm lấy lãi từ thị trường châu Âu để bù lồ cho thị trường nội địa.

Third, when winters are particularly cold, Russia curbs what it exports (mainly to Europe) to keep more supplies at home. This happened this past winter and shortages of up to 30% were seen in Austria, Romania, Germany, Poland, Hungary, Bulgaria, Greece and Italy, all of which also experienced an extraordinarily cold winter. Although this practice might keep the population at home warm, it meant that Gazprom lost a great deal of money it could have made if more supplies had gone to Europe.

Thứ ba, khi mùa Đông đặc biệt lạnh, Nga hạn chế xuất khẩu khí đốt, chủ yếu là đến châu Âu, để giữ thêm nguồn cung ở trong nước. Điều này xảy ra trong mùa Đông vừa qua và sự thiếu hụt lên đến 30% tại Áo, Rumani, Đức, Ba Lan, Hungary, Bungari, Hy Lạp và Italia – tất cả những nước này cũng trải qua một mùa Đông vô cùng khắc nghiệt. Mặc dù hành động này có thể giúp dân chúng trong nước ấm, nhưng có nghĩa là Gazprom mất một khoản tiền lớn mà tâp đoàn nay co thể có nếu như nguồn cung khí đốt đến châu Âu nhiều hơn.


Finally, Gazprom is trying to offset a recent 61% increase in mineral extraction taxes, which cost Gazprom $2.2 billion more in 2011 and could cost an estimated $5.2 billion more in 2012. The tax issue is highly controversial and interwoven with the ongoing internal political struggle in the Kremlin. The idea of restructuring the country's energy tax system has drawn both robust opposition and staunch support within the Kremlin. The increased tax came from a faction in the Kremlin that believes the government needs more funds to offset its budget deficit and that the government needed to stop coddling Russia's energy firms with low taxes.

Cuối cùng, Gazprom đang phải cố gắng để bù đắp việc thuế khai thác khoáng sản tăng 61%. Việc tăng thuê này đã làm Gazprom tiêu tốn thêm 2,2 tỷ USD trong năm 2011 và ước tính trong năm 2012 sẽ tốn thêm 5,2 tỷ USD. Vấn đề tăng thuế này đã gây nhiều tranh cãi và đan xen với cuộc tranh giành chính trị nội bộ ở Cremli. Ý tưởng tái cấu trúc hệ thống thuế năng lượng của Nga đã thu hút cả lực lượng đối lập và lực lượng ủng hộ trung thành trong Cremli. Việc tăng thuế là do một nhóm trong Cremli. Nhóm này tin rằng chính phủ cần có thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách và chính phủ phải thôi ưu ái các công ty năng lượng bằng mức thuế thấp.

Citing these concerns, Gazprom is arguing that it cannot continue funding future projects without more revenue from domestic natural gas consumers. It is not that Gazprom would be unable to continue the de facto subsidisation overall; the company generates a great deal of revenue. Gazprom has some large and expensive projects planned that it does not believe it can fund without making more money. These projects include the Shtokman Arctic project, estimated to cost $15 billion to $20 billion; the South Stream pipeline, with an estimated cost of $24 billion to $31 billion; the Yamal fields project, which will cost tens of billions of dollars; and an expansion of Sakhalin, which will also cost tens of billions of dollars.

Do những quan ngại này, Gazprom đang lập luận rằng nó không thể tiếp tục thực hiện các dự án trong tương lai nếu không có thêm nguồn thu từ người tiêu dùng khí đốt nội địa. Điều này không có nghĩa là Gazprom không thể tiếp tục thực hiện chương trình trợ cấp hiện nay, tập đoàn này vẫn có doanh thu rất lớn. Gazprom có kế hoạch thực hiện một số dự án lớn và tốn kém mà công ty này tin rằng nó không thể thực hiện nêu không kiếm được thêm tiền. Các dự án này bao gồm dự án Shtokman Bắc Cực ước tính chi phí từ 15 – 20 tỷ USD; đường ống Dòng chảy phương Nam với mức chi phi ước tính từ 24 – 31 tỷ USD; dự án mỏ Yamal với chi phí hàng chục tỷ USD; và dự án mở rộng Sakhalin cũng có chi phí ước tính hàng chục tỷ USD.



Gazprom’s projects and Cremli’s reasoning
Kế hoạch của Gazprom và lập luận của Cremli

The Kremlin knows there are issues with continuing the price cap for domestic natural gas - hence its steady price increases over the past 10 years. The Kremlin plans to raise domestic natural gas prices by 15% for industrial consumers starting in July. Gazprom does not believe this will be enough and has offered three alternative plans to raise prices sharply before eliminating the price ceiling altogether over the next two years. The proposals Gazprom has put forth are a 26.3% increase in natural gas prices by the end of 2012, a 45% increase in natural gas prices by the end of 2013, and the end of all price restrictions by 2014.

Cremli biết rằng có những vấn đề với việc tiết tục giới hạn giá khí đốt nội địa, do đó đã tăng giá đều đặn trong 10 năm qua. Cremli có kế hoạch bắt đầu từ tháng 7 sẽ tăng 15% giá khí đốt đối với khách hàng công nghiệp trong nước. Gazprom không cho rằng mức tăng này là đủ và đã đề xuất các kế hoạch thay thế để tăng mạnh giá trước khi hoàn toàn xoá bỏ giá trần trong 2 năm tới. Những đề xuất Gazprom đã đưa ra là từ nay đến cuối năm 2012 tăng giá khí đốt 26,3%, đến cuối năm 2013 tăng 45% và đến cuối năm 2014 chấm dứt hoàn toàn việc khống chế giá.

These proposals are currently mainly for industrial users, though there is no guarantee that Russia will not increase domestic prices for households and municipal institutions at some point as well. Typically, when industrial prices rise, household and municipal consumers see a smaller increase. The problem is that the Kremlin has maintained the natural gas price ceiling for a reason: to keep the population happy and the industrial sector healthy. If prices skyrocket, the population and the industrial sector would destabilise.

Những vấn đề xuất hiện chủ yếu là đối với những khách hàng công nghiệp, dù không có gì bảo đảm rằng Nga sẽ không tăng giá đối với các hộ gia đình và các cơ sở công tại một thời điểm nào đó. Thông thường, khi giá đối với lĩnh vực công nghiệp tăng, các hộ gia đình và các cơ sở công cũng phải chịu một mức tăng thấp hơn. vấn đề là Cremli duy trì trần giá khí đốt vì một lý do: để dân chúng hài lòng và lĩnh vực công nghiệp phát triển. Nếu giá khí đốt tăng vọt, dân chúng và lĩnh vực công nghiệp sẽ bất ổn.

Russian household consumers have not had to adapt to sharply higher natural gas prices since the fall of the Soviet Union. It is in the Russian psyche that, as the world's second-largest natural gas producer, its people have a right to a lower price. Should the Kremlin drastically raise natural gas prices for households, there would be a backlash. The Kremlin is fresh off a wave of anti-government protests sparked by the parliamentary and presidential elections and has no appetite for more social unrest, particularly demonstrations that likely would bring out more people than the political protests did.

Các hộ gia đình Nga đã không phải thích ứng với việc giá khí đốt tăng mạnh kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Đó là theo tinh thần, nước Nga là nhà sản xuất khí đốt hàng đầu thế giới nên người dân của nước này có quyền được hưởng giá thấp hơn. Do đó, nếu Cremli tăng mạnh giá khí đốt đối với các hộ gia đình, có thể sẽ có phản ứng dữ dội. Cremli vừa phải chịu một làn sóng các cuộc biểu tình chống chính phủ xuất phát từ các cuộc bầu cử Quốc hội và tổng thống nên không muốn có thêm bất ổn xã hội, đặc biệt là các cuộc biểu tình có thể thu hút nhiều người hơn so với các cuộc biểu tình chính trị.


Russia's energy-intensive industries, such as the metals industry, have long enjoyed a globally competitive advantage because their natural gas prices have been low. Cheap energy is one of the foundations of a successful metals industry. The cost of producing metals has increased steadily over the past decade as energy and labour costs have risen.

Các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng của Nga, như công nghiệp luyện kim, từ lâu đã được hưởng lợi thế cạnh tranh nhờ giá khí đốt của họ thấp. Năng lượng rẻ là một trong những yếu tố nền tảng cho sự thành công của ngành công nghiệp này. Chi phí sản xuẩt kim loại đã tăng đều đặn trong thập kỷ qua do chi phí năng lượng và lao động tăng.

Because of its vast and domestically cheap natural gas supply, Russia has the lowest-cost metal producers in the world. Russia is one of the top five steel producers and exporters and has the world's largest nickel and aluminium companies: Norilsk Nickel and RUSAL. The 2008 financial crisis affected Russia's metals companies, but they have recovered in the last three years.

Nhờ nguồn cung khí đốt nội địa lớn và rẻ, Nga có các nhà sản xuất kim loại có chi phí thấp nhất thế giớiNga là một trong 5 nhà sản xuất và xuất khẩu thép hàng đầu và có những công ty sản xuất niken và nhôm lớn nhất thế giới là Norilsk Nickel và RUSAL. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã ảnh hưởng đến các công ty luyện kim của Nga, nhưng họ đã phục hồi trong 3 năm qua.
Should Russia dramatically increase the cost of natural gas for industrial consumers, it would be a huge economic detriment to the metals industry and could kill the industry altogether. Moreover, it would spark a conflict with Russia's metals oligarchs, some of the most powerful men in the country.


Nếu Nga tăng mạnh giá khí đốt tự nhiên đối với các khách hàng công nghiệp, điều đó có thể tạo ra thiệt hại kinh tế lớn đối với ngành công nghiệp luyện kim và có thể giết chết hoàn toàn ngành công nghiệp này. Hơn nữa, điều này cũng có thể tạo ra xung đột với các ông trùm luyện kim – những nhân vật quyền lực tại Nga.

Unlike most of Russia's large and strategic industries, metals businesses are not state-run or run by Kremlin-picked business chiefs. Russia's metals industry is the country's one main sector still run by oligarchs because the sector is spread around the world, not mainly concentrated in Russia such as other sectors. Also, the metals oligarchs had an extraordinarily vicious series of battles in the 1990s and early 2000s known as the "metals wars." Though the Kremlin has been through some fiery conflicts, taking on the metals oligarchs is a monumental and possibly dangerous task.

Không giống với đa số các ngành công nghiệp lớn và chiến lược của Nga, ngành công nghiệp luyện kim không được điều hành bởi nhà nước hay các lãnh đạo do Cremli lựa chọn. Ngành công nghiệp luyện kim là lĩnh vực chính duy nhất vẫn được điều hành bởi các ông trùm luyện kim vì lĩnh vực này trải rộng khắp thế giới, không tập trung chủ yếu tại Nga như các lĩnh vực khác. Ngoài ra, các ông trùm luyện kim đã có một loạt các cuộc chiến xấu xa trong thập niên 1990 và đầu 2000, thường được biết đến là “các cuộc chiến tranh luyện kim”. Mặc dù Cremli đã trải qua một số cuộc xung đột khắc nghiệt, đấu tranh với các ông trùm kim loại là một nhiệm vụ lớn và nguy hiểm.

Dilemma
Thế tiến thoái lưỡng nan

Because a dramatic rise in domestic natural gas prices would create turmoil, the Kremlin is in a tough position and is divided on what to do. Gazprom will not go broke anytime soon because of domestic price caps, but selling 60% of Russia's natural gas at a loss is untenable in the long term. Moreover, Gazprom is planning numerous ambitious and expensive projects that are not only critical to Gazprom's ability to replace its declining natural gas fields but are a strategic part of Russia's foreign policy because of connections abroad or the involvement of foreign companies.

Vì tăng mạnh giá khí đốt nội địa có thể tạo ra rối loạn, Cremli ở tình thế khó khăn và bị chia rẽ trong việc nên làm cái gì. Gazprom sẽ không bị phá sản do vấn đề trần giá nội địa trong tương lai gần, nhưng bán 60% lượng khí đốt của Nga với giá lỗ là điều không thể đứng vững về lâu dài. Hơn nữa, Gazprom đang có kế hoạch thực hiện các dự án đầy tham vọng và tốn kém. Những dự án này không chỉ quan trọng đối với Gazprom nhằm thay thế các mỏ khí đốt đang suy giảm, mà còn là một phần chiến lược trong chính sách đối ngoại của Nga nhờ những kết nối với nước ngoài hoặc sự tham gia của các công ty nước ngoài.

However, the Kremlin simply cannot afford to make such a controversial move right now. Moscow will have to develop another strategy to help its most important company move forward. The Kremlin is already attempting to restructure Gazprom to make it work more efficiently by laying off 100 of the company's top managers. But there is little discussion of what to do after that to assist Russia's natural gas giant."
Tuy nhiên, Cremli không đủ khả năng để thực hiện một động thái gây tranh cãi như thế ngay bây giờ. Matxcơva sẽ xây dựng một chiến lược khác để giúp công ty quan trọng nhất của mình này (Gazprom) tiến lên. Cremli đã cố gắng tái cấu trúc Gazprom để nó hoạt động hiệu quả hơn bằng việc sa thải 100 nhà quản lý hàng đầu của công ty này, nhưng lại chưa có mấy thảo luận về cái sẽ làm tiếp theo sau đó để hỗ trợ tập đoàn khí đốt khổng lồ này.


再说陈光诚 BÀN THÊM VỀ TRẦN QUANG THÀNH


说陈光诚

BÀN THÊM VỀ TRẦN QUANG THÀNH

作者:李晨
| 20120504
Lý Thần Huy
04-05-2012



据说当地的政府官员曾经告诉陈光诚,为了围追堵截陈光诚,光是维稳费,就耗去了30006000万。简直是匪夷所思难以置信。对付这么一个手无寸铁,甚至于连一只眼睛都没有的人,用得着如此地大动干戈嘛?如此毫无道理地限制一个公民的人身自由,到底依据的是哪一条法律?其实,陈不诚不过是维权,而且根据我们掌握的资料,他完全是根据国家的法令、宪法来进行维权。但是一维权呢,往往就涉及到要上访。而且,陈光诚是个有坚持精神,撞了南墙也不回头的人。所以,这一级解决不了,他往往就要再往上级找。层层找来,往往都要找到北京去。我们前面所说的那两个维权成功的案例,也都是找到北京,才可以解决问题的。

Nghe nói quan chức chính quyền địa phương từng bảo Trần Quang Thành rằng để vây hãm anh ta, chỉ riêng chi phí “bảo trì” đã tốn mất từ 30-60 triệu tệ, quả là điều không thể tưởng tượng nổi. Để ứng phó với một người tay không tấc sắt, thậm chí đến cả đôi mắt cũng không có như vậy mà đã phải cần như thế để làm to chuyện ư? Hạn chế tự do cá nhân của một công dân một cách vô đạo lý như thế rút cuộc là dựa trên đạo luật nào? Thực ra, Trần Quang Thành chẳng qua chỉ là bảo vệ quyền lợi, hơn nữa theo những tư liệu chúng tôi nắm được, thì anh ta đã tiến hành bảo vệ quyền lợi hoàn toàn dựa theo các pháp lệnh, Hiến pháp của nhà nước. Nhưng một khi đã bảo vệ quyền lợi thì thường là sẽ đề cập đến chuyện phải lên trên. Vả lại, Trần Quang Thành là con người có tinh thần kiên cường, có va phải tường cũng không lùi bước. Cho nên, cấp này không phải quyết được, anh ta thường sẽ tìm đến cấp cao hơn. Tìm hết cấp này đến cấp khác, thường lại phải tìm đến Bắc Kinh. Hai vụ án bảo vệ quyền lợi thành công mà chúng ta từng nói tới cũng đều phải tìm đến Bắc Kinh thì mới giải quyết được vấn đề.

而如今的中国,也不知怎么了,上上下下,就是把上访,把杨乃武告状似的告状之路,生生给你堵死。我对此真是百思不得其解。第一是下边许多的官吏胡作匪为横行霸道,许多问题,不到北京就不给你解决(陈光诚前几个案子,不都是到了北京才解决的吗)。另一方面,国家却公然允许对去北京上访的人,采取暴力措施,如硬性抓回(这种事实在是数不胜数)。政策、制度的不合理导致下面问题成堆,而问题成堆,上上下下又扯皮不给解决,这样逼来逼去,难道真的要把中国的老百姓,都逼成一个个杨佳不成吗?
Trung Quốc ngày nay không hiểu sao mà cả cấp trên lẫn cấp dưới đều chặn bạn lên trên, chặn con đường đi kiện như kiểu “vụ kiện Dương Nãi Vũ”. Tôi thực sự cảm thấy khó hiểu. Thứ nhất, rất nhiều quan chức ở bên dưới ngang ngược làm bậy, rất nhiều vấn đề không đến Bắc Kinh thì anh không được giải quyết (mấy vụ trước Trần Quang Thành chẳng phải là đến Bắc Kinh mới được giải quyết đấy thôi). Mặt khác, nhà nước lại công nhiên cho phép áp dụng bạo lực với người tới Bắc Kinh để lên trên, như một mực bắt đưa về (sự thực này không thể đếm nổi). Chính sách, chế độ bất hợp lý dẫn đến chồng chất các vấn đề ở bên dưới, mà vấn đề chồng chất thì cả cấp trên lẫn cấp dưới đều cãi vã đùn đẩy không giải quyết, bức tới bức lui như thế chẳng lẽ thực sự là muốn bức dân chúng Trung Quốc đến nước tơi tả sao? 

陈光诚的问题其实就是这么回事。他提的那些要求问题,能解决,你就应该尽快给人家解决。解决不了,或者说是你们觉得陈光诚的要求不合理,他纯粹就是一个无事生非的刁民(这种可能性也不是没有),那么,你也可以通过公开的渠道,比如媒体,各种证据报告,让天下人知道。你们掌握那么多的媒体、舆论武器,难道还怕老百姓不知道真相吗?然而呢,一方面,你们对陈光诚,动用法律公器,进行简直就是骇人听闻的围堵、软禁,另一方面,却又对准备了解真相的国内外记者,进行阻挠甚至殴打,这究竟又是为了什么呢?

Vấn đề Trần Quang Thành thực ra chính là như vậy. Những vấn đề anh ta yêu cầu nếu giải quyết được thì anh nên giải quyết thật nhanh cho người ta đi. Còn không giải quyết được, hoặc giả cứ cho là các anh cảm thấy những yêu cầu của Trần Quang Thành là bất hợp lý, anh ta chẳng qua chỉ là kẻ chuyên gây rối (khả năng này cũng không phải là không có), vậy thì anh cũng có thể thông qua các kênh công khai, như báo chí truyền thông, các loại báo cáo chứng cứ mà cho người ta được biết đi. Các anh nắm nhiều báo chí, vũ khí dư luận như thế, chẳng lẽ lại còn sợ dân chúng không biết được “sự thật” sao?  Rồi thì sao, một mặt đối với Trần Quang Thành, các anh huy động công cụ pháp luật để tiến hành vây hãm, giam lỏng quả là kinh khủng, mặt khác lại tiến hành ngăn chặn thậm chí còn ẩu đả cả những phóng viên trong và ngoài nước đang định tìm hiểu Trung Quốc của sự thật, đó rốt cuộc là vì cái gì?     

长期生活在这种几乎是令人窒息的围堵里的陈光诚,自然会渐渐地变得抓狂。你想想,要是你,是我的话,天天有人围着你、盯着你,搁你你受得了还是受不了呢?当然,我相信,面对这种状态,陈也肯定会进行申诉,要求解除这种围堵、软禁。听说,陈还有陈的妻子,甚至还曾经给胡、给温发布消息,要求他们帮助解决这些问题。然而上上下下,就是毫无反应。叫天天不应,叫地地不灵;天高地迥,号呼靡及。在这种情况下,如果是你,是我,该怎么办?难道就只能听天由命,逆来顺受?

Còn Trần Quang Thành vì phải sống suốt thời gian dài trong thứ vòng vây hãm gần như nghẹt thở ấy, tất nhiên sẽ dần trở nên phát điên. Bạn cứ thử nghĩ xem, nếu là bạn, là tôi mà ngày ngày bị người khác vây hãm, nhìn chằm chằm vào mình, thì bạn có chịu nổi hay không? Tất nhiên tôi tin là đối mặt với trạng thái ấy, Trần Quang Thành chắc chắn cũng sẽ khiếu nại, yêu cầu loại bỏ sự vây hãm, giam lỏng ấy đi. Nghe nói vợ Trần Quang Thành thậm chí đã từng báo tin cho Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, yêu cầu họ giúp giải quyết những vấn đề này. Song cả các cấp trên và các cấp dưới đều không hề có phản ứng gì. Kêu trời trời không ứng, kêu đất đất không linh; trời cao đất cách, kêu không thấu. Trong tình cảnh ấy, nếu là bạn, là tôi, sẽ làm sao đây? Chẳng lẽ lại chỉ có thể phó mặc cho trời, nhẫn nhục chịu đựng?     

长期的围堵,申诉号呼又全都无效的情况下,陈光诚选择了出逃。林副统帅万般无奈,还选择出逃呢,何况是咱普通老百姓呢?当然了,按说呢,陈光诚是个盲人。面对围堵,若想逃跑的话,连咱们长着一双雪亮眼睛的正常人,还关山重重,更何况是盲人。然而也许正因为是盲人,他在逃跑的时候,反而有着一般人不具备的优势吧。比如,围堵他的人,一旦到了晚上就会觉得不方便。然而对于一个盲人来说,白天和夜晚,其实是一样的。甚至,在晚上逃跑的话,反而比正常人还更容易些。而且听说这陈光诚,还居然有了一个外援,一个叫何培蓉的美女。在此美女的协助下,陈诚成功出逃。不过,说句公道话。不管怎么说,从陈光诚这样一个盲人都能够轻易出逃这一现象来看,无论如何,我估计,对陈光诚的围堵,怕是并不如传说中的那样恐怖,当然,也有可能是因为围堵的那帮人实在是蠢得如猪。不管怎么说,陈光诚的自由受到限制,这一点,我相信,临沂官方怕是无法否认的。今天又在网上看到一篇来自外交部的文稿,说是陈光诚已经是自由之身
Trong tình trạng bị vây hãm lâu ngày, khiếu kiện mãi cũng vô hiệu, Trần Quang Thành đã chọn con đường chạy trốn. Phó thống soái Lâm Bưu trong lúc tuyệt vọng cũng còn chọn cách chạy trốn, nữa là người dân thường bọn mình? Tất nhiên rồi, mà Trần Quang Thành lại còn là một người mù. Trước vòng vây hãm, nếu có nghĩ đến việc chạy trốn, thì ngay cả chúng ta là những người bình thường còn nguyên vẹn cả đôi mắt sáng, cũng còn gặp biết bao là khó khăn, huống chi là người mù. Song rất có thể chính vì là người mù, mà khi anh ta chạy trốn lại có được những ưu thế mà người thường không ngờ tới. Chẳng hạn, những người vây hãm anh ta tối đến sẽ cảm thấy bất tiện. Nhưng đối với người mù thì ban ngày hay ban đêm cũng chẳng khác gì nhau. Thậm chí nếu chạy trốn vào buổi tối thì lại còn dễ hơn cả người thường. Lại nghe nói cái anh họ Trần này còn có một người trợ giúp từ bên ngoài, một cô gái tên là Hà Bồi Dung. Với sự giúp đỡ của cô gái ấy, Trần Quang Thành đã chạy thoát. Song nói cho công bằng thì bất kể là muốn suy xét ra sao, từ vụ một người mù như Trần Quang Thành mà lại có thể chạy trốn được một cách dễ dàng có thể thấy, bất kể là ra sao, tôi lường là e rằng sự vây hãm Trần Quang Thành không phải quá đáng sợ như trong truyền thống, đương nhiên, cũng có khả năng vì những người canh giữ thực ra là ngu như lợn. Nói thế nào thì nói, tự do của Trần Quang Thành đã bị hạn chế, về điểm này tôi tin, e rằng chính quyền Lâm Nghi không có cách gì phủ nhận. Hôm nay lại đọc được một văn bản của Bộ ngoại giao trên mạng, nói là “Trần Quang Thành  đã là người tự do”.

觉得,这个用得非常耐人寻味。因为,已经,就说明他曾经被限制过自由。这是不是就等于说,官方已经承认了从前曾经限制过他的自由呢(起码临沂地方曾经有过类似的举动吧)?而单凭你长期限制陈先生自由这一点来看,那么,陈光诚的出逃,甚至最后跑进美国使馆,难道不是有了一些可以理解的成分嘛?


Tôi cảm thấy cái từ “đã” này được dùng với ý vị quá sâu xa. Bởi vì, đã, có nghĩa anh ta từng bị hạn chế tự do. Điều này phải chăng là nói chính quyền đã thừa nhận đã từng hạn chế sự tự do của anh ta từ trước (ít nhất thì chính quyền Lâm Nghi cũng từng có hành vi tương tự)? Nếu chỉ xét từ điểm anh hạn chế tự do của ngài họ Trần dài ngày, vậy thì sự chạy trốn của Trần Quang Thành, thậm chí là cuối cùng đã chạy vào sứ quán Mỹ, chẳng lẽ lại không có những phần có thể hiểu được?


看外交部发言人说什么,中国公民跑进美国使馆,美国应该为此反思之类。我怎么听着这么别扭这么荒诞呢?你中国公民,跑进人家使馆,反而要人家反思?你怎么就不反思反思,为什么你自己从高官到平民,要老往人家使馆跑呢?当然了,据说这陈进入美国使馆,是受到美国使馆的协助甚至怂恿的。可高官王立军跑进美国使馆,又是受了谁的怂恿呢?再说了,如果你自己的工作做得好,你在陈光诚的问题上,不是集积聚了那么多的问题,或者,你把那些问题都及时地给解决了,消化了,那陈光诚,就真的愿意放着好好的日子不过,而愿意冒着许多的风险,往美国使馆跑?我怎么就不见有一个美国人,往咱的使馆跑呢?
Hãy xem người phát ngôn của Bộ ngoại giao nói gì, công dân Trung Quốc chạy vào sứ quán Mỹ, Mỹ nên xem xét lại về việc này. Tôi làm sao nghe được cái chuyện chối tai và vô lý như thế chứ? Công dân Trung Quốc các anh chạy trốn vào sứ quán người ta mà lại bắt người ta phải xem xét lại? Sao anh không tự xem xét lại đi, xem vì sao mà bên các anh từ quan chức cao cấp tới bình dân lại cứ chạy vào sứ quán người ta? Lẽ dĩ nhiên, nghe nói anh chàng họ Trần này chạy vào sứ quán Mỹ là được sự giúp đỡ, thậm chí là khuyến khích, của sứ quán Mỹ. Thế quan chức cao cấp Vương Lập Quân chạy vào sứ quán Mỹ là được sự khuyến khích của ai? Hơn nữa, nếu như công việc của các anh đã làm được tốt, về vấn đề Trần Quang Thành chẳng phải là đã tích lũy được nhiều vấn đề rồi còn gì, hoặc giả anh mà cứ giải quyết, tiêu hóa kịp thời tất cả những vấn đề đó đi, thì Trần Quang Thành có thực là không muốn sống một cuộc sống tốt đẹp mà lại cứ muốn liều mạng với bao hiểm nguy để chạy vào sứ quán Mỹ không? Sao tôi không nhìn thấy có một người Mỹ nào chạy vào sứ quán của ta cả?

最后我还想说两句的是,跑外国使馆,其实并不一定就是什么十恶不赦的罪过。我党起家的时候,也曾经有人干过这样的事。比如,李大钊当年为躲避张作霖的追捕,就曾经跑进过俄国,或者说是苏联的使馆。事实上,据说世界上大多数国家,也有着允许外国人进入本国使馆避难的条例。所以大可不必,把陈光诚骂个狗血喷头,什么汉奸叛徒之类,有人甚至说,应该用石头把陈光诚给砸死。最好还是能防患于未然,有了问题、矛盾应该及时解决。别光顾着怪陈光诚,更应该考虑考虑,是谁,是什么,把陈光诚逼进了美国使馆。这些问题,能不能在发端的时候,就把问题给解决了?如果按现在这种思路不改,不考虑陈光诚是因为什么进的美国使馆,而只是一味地给陈光诚扣上刁民、甚至汉奸的屎罐子,把一切责任都推在陈光诚身上,那么,今后恐怕还是会有更多的陈光诚甚至杨佳出现。

Cuối cùng, hai câu tôi muốn nói thêm là, chạy vào sứ quán nước ngoài thực ra chưa hẳn đã là tội lỗi đáng ghê tởm gì. Khi Đảng ta khởi nghiệp, cũng từng có những người làm chuyện như vậy. Chẳng hạn, khi Lý Đại Chiêu trốn tránh sự truy bắt của Trương Tác Lâm thuở ấy đã từng chạy vào Nga, hoặc nói là vào sứ quán của Nga. Thực ra, nghe nói phần lớn các nước trên thế giới cũng có quy định cho phép người nước ngoài vào sứ quán nước mình để tị nạn. Cho nên đâu có cần phải chửi Trần Quang Thành một cách đầy ác độc, những nào là Hán gian phản bội, có những người thậm chí còn bảo cần phải lấy đá đập cho chết Trần Quang Thành đi. Tốt nhất vẫn là phòng họa được từ trong trứng nước, khi có vấn đề, mâu thuẫn cần kịp thời giải quyết. Chớ có chăm chăm quở trách Trần Quang Thành, mà cần hơn là nên xem xem là ai, là cái gì đã bức Trần Quang Thành phải chạy vào sứ quán Mỹ. Những vấn đề này liệu có thể giải quyết được ngay từ khi khởi đầu không? Nếu cứ giữ cái lối nghĩ như hiện giờ mà không thay đổi, không xem xem vì sao mà Trần Quang Thành lại phải chạy vào sứ quán Mỹ, chỉ cứ  chụp cái mũ kẻ gây rối, thậm chí là Hán gian, lên Trần Quang Thành, đổ vấy hết trách nhiệm cho Trần Quang Thành, thì chỉ sợ rồi sẽ còn nhiều hơn những Trần Quang Thành, thậm chí cả Dương Quế, nữa xuất hiện.   




Translated by Băng Tâm