MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Thursday, May 10, 2012

BREWING A CONFLICT WITH CHINA: Provoking a Long-term Cold War... Sục sôi xung đột với Trung Hoa: kích động một cuộc Chiến tranh lạnh dài hạn...



BREWING A CONFLICT WITH CHINA: Provoking a Long-term Cold War...

Sục sôi xung đột với Trung Hoa:  kích động một cuộc Chiến tranh lạnh dài hạn...
by Dr. Paul Craig Roberts

Dr. Paul Craig Roberts
Washington has pressured the Philippines, whose government it owns, into conducting joint military exercises in the South China Sea. Washington’s excuse is that China has territorial disputes with the Philippines, Indonesia, and other countries concerning island and sea rights in the South China Sea. Washington asserts that China’s territorial disputes with the like of Indonesia and the Philippines are a matter of United States’ national interests.


Washington đã gây sức ép với Philippines, chính phủ của nước này, tiến hành tập trận chung ở Biển Đông. Lý do của Washington là Trung Quốc có tranh chấp lãnh thổ với Philippines, Indonesia, và các nước khác liên quan đến chủ quyền về hải đảo và biển trong vùng biển Đông. Washington khẳng định rằng tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước như Indonesia và Philippines là một vấn đề lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ.
Washington has not made it clear what Washington’s stake is in the disputes. The reason Washington cannot identify why China’s disputes with the Philippines and Indonesia are threats to the United States is that there is no reason. Nevertheless, the undefined “threat” has become the reason Washington needs more naval bases in the Philippines and South Korea.

Oasinhtơn đã không thể nêu rõ lợi ích của họ trong các tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông. Lý do Mỹ không thể xác định tại sao những tranh chấp chủ quyền biển của Trung Quốc với Philippin và Indonesia lại là những nguy cơ đối với Mỹ là bởi vì chẳng có lý do gì. Tuy nhiên, mối đe dọa “không được xác định này” đang trở thành lý do khiến Oasinhtơn cần thêm các căn cứ hải quân tại Philippin và Hàn Quốc.

What this is all about is provoking a long-term Cold War conflict with China that will keep profits and power flowing into Washington’s military-security complex. Large profits flow to armaments companies. A portion of the profits reflow into campaign contributions to “the people’s representatives” in DC and to presidential candidates who openly sell out their country to private interests.

Tất cả những điều trên là việc kích động một cuộc xung đột chiến tranh lạnh lâu dài với Trung Quốc, sẽ khiến cho lợi nhuận tiếp tục chảy vào tổ hợp quân sự-an ninh của Oasinhtơn. Lợi nhuận lớn đang đổ vào túi các công ty sản xuất vũ khí. Một phần của số lợi nhuận này lại chảy vào những đóng góp vận động tranh cử cho “các đại diện của người dân” tại thủ đô Oasinhtơn và các ứng cử viên tổng thống Mỹ, những người đã công khai “bán rẻ” đất nước vì các lợi ích tư nhân.

Washington is going to construct new naval bases in the Philippines and on the environmentally protected Jeju Island belonging to South Korea. Washington will waste tax revenues, or print more money, in order to build the unnecessary fleets to occupy these bases. Washington is acquiring bases in Australia for US Marines to protect Australia from China, despite the lack of Chinese threats against Australia. Bush and Obama are the leading models of the “people’s president” who sell out the people, at home and abroad, to private interests.

Oasinhtơn sẽ xây dựng các căn cứ hải quân mới tại Philippin và trên đảo Jeju của Hàn Quốc. Oasinhtơn sẽ phung phí thu nhập từ thuế, hoặc in thêm tiền để xây dựng hạm đội không cần thiết cho việc triển khai tại các căn cứ mới này. Oasinhtơn cũng đang kiếm được các căn cứ tại Ôxtrâylia cho lính thủy đánh bộ Mỹ để bao vệ Ôxtrâylia khỏi Trung Quốc, bất chấp việc không có những nguy cơ từ Trang Quốc chống lại Ôxtrâylia. G W.Bush và B.Obama là những hình mẫu hàng đầu của “tổng thống của người dân”, đã bán rẻ người dân, ở trong nước và nước ngoài, vì các lợi ích tư nhân.

Why is Washington ramping up a new cold war?

The answer begins with President Eisenhower’s warning to the American people in his last public address about the military/industrial complex in 1962. I won’t quote the warning as it is available online. Eisenhower pointed out to Americans that unlike previous wars after which the US demilitarized, after World War II the cold war with the Soviet Union kept the power and profits flowing into the military/industrial complex, now known as the military/security complex. President Eisenhower said that the flow of power and profit into the military/industrial complex was a threat to the economic wellbeing and liberty of the American people.

Vậy tại sao Oasinhtơn lại muốn kích động một cuộc chiến tranh lạnh mới?

Câu trả lời bắt đầu từ cảnh báo của cựu Tổng thông Eisenhower với người dân Mỹ trong bài phát biểu cuối cùng của ông về tổ hợp quân sự-công nghiệp năm 1962. Ông Eisenhower đã chỉ ra rằng không giống như các cuộc chiến tranh trước đây, sau cuộc Chiến tranh thế giới thử Hai, mà sau đó Mỹ đã phi quân sự hóa, cuộc Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã giữ cho quyền lực và lợi nhuận chảy vào tổ hợp quân sự-công nghiệp, hiện nay là tổ hợp quân sự-an ninh. Theo ông Eisenhower, việc quyền lực và lợi nhuận chảy vào tổ hợp quân sự-công nghiệp là một nguy cơ đối với sự phồn vinh kinh tế và quyền tự do của người dân Mỹ.

No one paid any attention, and the military/security complex was glad to be rid of the five-star general war hero president when his second term expired. Thanks to the hype about the “Soviet threat,” the military/security complex faced an unlimited horizon of mounting profits and power as Americans sacrificed their future to the interests of those who protected Americans from the Soviet threat.

Không ai chú ý tới cảnh báo trên và tổ hợp quân sự-an ninh đã vui mừng thoát khỏi Tổng thống Eisenhower, vị tướng năm sao, người hùng của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai khi nhiệm kỳ thứ hai của ông kết thúc. Nhờ việc thổi phồng về “mối đe dọa Liên Xô”, tổ hợp quân sự-an ninh đã thu được quyền lực và lợi nhuận ngày càng lớn khi người dân Mỹ phải hy sinh tương lai của họ cho lợi ích của những kè đã bảo vệ người Mỹ khỏi nguy cơ Liên Xô.


The good times rolled for the armaments companies and security agencies for almost three decades until Reagan and Gorbachev reached agreement and ended the cold war. When the Soviet Union subsequently collapsed, the future outlook for the power and profit of the US military/security complex was bleak. The one percent was about to lose its fortunes and the secret government was about to lose its power.


Thời kỳ tốt đẹp đối với các công ty sản xuất vũ khí và các cơ quan an ninh Mỹ kéo dài gần 3 thập kỷ cho đến khi cựu Tổng thổng R. Reagan và Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev đạt được thỏa thuận chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Khi Liên Xô tan vỡ, triển vọng tương lai của quyền lực và lợi nhuận của tổ hợp quân sự-an ninh Mỹ trờ nên u ám. 1% số người giàu nhất nước Mỹ có nguy cơ bị mất sự giàu có của họ và “chính quyền bí mật” có nguy cơ bị mất quyền lực.
The military/security complex went to work to revive the need for a massive “defense” and “security” budget. Among their willing tools were the neoconservatives, with their French Jacobin ideology and Israeli loyalties. The neocons defined America as the “indispensable people.” Such extraordinary people as Americans must establish hegemony over the world as the sole remaining superpower. As most neoconservatives are allied with Israel, the Muslim Middle East became the target of opportunity.

Khi đó, tổ hợp quân sự-an ninh đã hành động để làm sống lại nhu cầu cần phải có một ngân sách “quốc phòng và an ninh lớn. Trong số các công cụ tự nguyện của tổ hợp quân sự-an ninh có những người bảo thủ mới, với tư tưởng của phái Jacobin trong cách mạng Pháp của họ, và lòng trung thành của Ixraen. Các nhà bảo thủ mới đã xác định Mỹ là “dân tộc không thể thiếu”. Một dân tộc đặc biệt như Mỹ phải thiết lập sự bá chủ đối với thế giới như siêu cường duy nhất còn lại. Vì hầu hết những người bảo thủ mới liên minh với Ixraen, Trung Đông Hồi giáo đã trở thành mục tiêu cơ hội.

Muslims are sufficiently different from Westerners that Muslims are easy to demonize. The demonization began in the neoconservative publications. Once Dick Cheney had the George W. Bush regime staffed with neoconservatives, the next step was to create “threats” to Americans out of verbiage about the Taliban’s responsibility for 9/11 and about “Iraqi weapons of mass destruction,” including verbal images from Bush’s National Security Advisor of “mushroom clouds” over US cities.

Những người hồi giáo quá khác so với người phương Tây nên những người Hồi giáo có thể dễ dàng bị biến thành quỷ sứ. Tiến trình quỷ sứ hóa được bắt đầu trong những ấn phẩm của phe bảo thủ mới. Một khi cựu Phó Tổng thống Dick Cheney đã có những nhân viên là những người bảo thủ mới dưới chính quyền của George W. Bush, bước tiếp theo là tạo ra những “nguy cơ” đối với người Mỹ từ việc “nói ra rả” về trách nhiệm của Taliban trong các cuộc tấn công khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 và về “các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt của Irắc” trong đó có các hình ảnh trong tuyên bố của Cố vấn an ninh quốc gia của ông Bush về “những đám mây hình nấm” (bị tấn công hạt nhân) trên các thành phố Mỹ.

No one in the US government or the “free” US media or the media of the US puppet states in England, Europe, Japan, Taiwan, Canada, Australia and South Korea was struck by Washington’s proposition that “the world’s sole superpower” was threatened by the likes of Iraq and Iran, neither of which had any offensive military capability or any modern weapons, according to the unequivocal reports of the weapons inspectors.

Không ai trong Chính phủ Mỹ, hoặc phương tiện truyền thông “tự do” Mỹ hoặc giới truyền thông của các nước là con rối của Mỹ tại Anh châu Âu, Đài Loan, Canađa, Ôxtrâylia và Hàn Quốc bị “giật mình” trước tuyên bố của Mỹ rằng “siêu cường duy nhất của thế giới” đang bị các quốc gia như Irắc và Iran đe dọa. Theo các báo cáo rõ ràng của các thanh sát viên vũ khí, Iran và Irắc không hề có khả năng tấn công quân sự cũng như các vũ khí hiện đại.


What kind of “superpower” is threatened by Iraq and Iran? Certainly, not a real one.

No one seemed to notice that the alleged 9/11 hijackers were Saudi Arabians, not Afghans or Iraqis, yet it was Afghanistan and Iraq that were labeled “terrorist threats.” Saudi Arabia and Bahrain, which do terrorize their subjects, are safe from having America bring them democracy, because they are Washington’s puppets, not independent countries.

Vậy Irắc và Iran đe dọa siêu cường kiểu gì? Chắc chắn là không có đe dọa thực sự nào.

Dường như không có ai để ý rằng những kẻ bị cáo buộc bắt cóc máy bay trong các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ là những người Arập Xêút, chứ không phải là những người Ápganixtan hay Irắc, trong khi Ápganixtan và Irắc đã bị dán nhãn là ”nguy cơ khủng bố”. Arập Xêút và Baranh, đang khủng bố các thần dân của họ, lại an toàn bởi vì các nước này là những con rối của Mỹ, chứ không phải là các quốc gia độc lập.

As fear of nonentities swept over the population of “the world’s sole superpower,” the demands for war against “America’s enemies”--”you are with us or against us”--swept through the country. “Support the troops” plastic ribbons appeared on American cars. Americans went into a frenzy. The “towel heads” were after us, and we had to fight for our lives or be murdered in our beds, shopping centers, and airliner seats.

Khi nỗi lo sợ về những điều tưởng tượng ám ảnh hầu hết người dân của “siêu cường duy nhất trên thế giới”, những yêu cầu về cuộc chiến tranh chống lại những kẻ thù của nước Mỹ đã lan khắp nước Mỹ. Các ruybăng nhựa “hỗ trợ binh lính” xuất hiện trên các xe Ô tô tại Mỹ. Người Mỹ bước vào một cơn điên cuồng: “những người Hồi giáo” đang truy đuổi người Mỹ và người Mỹ phải chiến đấu vì cuộc sống của mình hoặc bị giết hại ở trên giường ngủ, các trung tâm mua sắm hoặc ghế ngồi trên máy bay.

It was all a hoax to replace the Soviet threat with the Muslim threat.

The problem that developed with the “Muslim threat” is that in order to keep the profits and power flowing into the military/security complex, the promised six-week war in Iraq had to be extended into 8 years. The war in Afghanistan against a few thousand lightly armed Taliban has persisted for more than a decade, longer than the attempted Red Army occupation of Afghanistan.

Đó toàn bộ là một trò lừa bịp để thay thế mối đe dọa Xôviết bằng mối đe dọa Hồi giáo.

Vấn đề phát triển cùng với “nguy cơ Hồi giáo” là để giữ cho lợi nhuận và quyền lực chảy vào tổ hợp quân sự-an ninh, cuộc chiến tranh hứa hẹn chỉ kéo dài trong 6 tuần tại Irắc đã được kéo dài thành 8 năm. Cuộc chiến tại Ápganixtan chống lại vài nghìn tay súng Taliban được trang bị thô sơ đã kéo dài trong hơn một thập kỷ.

In other words, the problem with hot wars is that the need not to win them in order to keep them going (Korea, Vietnam, Iraq, Afghanistan are all long-term wars never won) in order that the profits and power continue to flow to the military/security complex demoralizes the US military and creates the world-wide impression that the “world’s sole superpower” cannot even defeat a few thousand insurgents armed with AK-47s, much less a real army.

Nói cách khác, vấn đề với các cuộc chiến tranh nóng là nhu cầu không phải giành chiến thắng, mà kéo dài các cuộc chiến (Triều Tiên, Việt Nam, Irắc, Ápganixtan đều là những cuộc chiến tranh lâu dài và không bao giờ chiến thắng) để khiến lợi nhuận và quyền lực tiếp tục đổ vào tổ hợp quân sự-an ninh và tạo ra ấn tượng toàn cầu rằng “siêu cường duy nhất” của thế giới không thể đánh bại, dù chỉ vài nghìn quân nổi dậy, được trang bị súng AK-47, chứ đừng nói đến một quân đội thực sự.

In Iraq and Afghanistan more US soldiers have died from demoralization and suicides than from combat. In Iraq, the US was humiliated by having to end the war by putting the Sunni insurgents on the US military payroll and paying them to stop killing US troops. In Korea the US was stopped by an army of a backward third world country that lived on rice. What would happen today if the US “superpower’s” militarily confronted China, a country with an economy on which the US is dependent, about equal in size to the US economy, operating on its home territory? The only chance the evil in Washington would have would be nuclear war, which would mean the destruction of the entire world by Washington’s hubris.

Tại Irắc và Ápganixtan, nhiều binh lính Mỹ đã bị thiệt mạng do chấn thương tinh thần và tự tử hơn là trong chiến đấu. Tại Irắc, Mỹ đang bị bẽ mặt vì phải kết thúc cuộc chiến bằng việc đưa những kẻ nổi dậy Hồi giáo dòng Sunni vào danh sách trả lương của quân đội Mỹ, trả tiền để họ ngừng giết hại binh lính Mỹ. Tại Triều Tiên, Mỹ đã bị ngăn chặn bởi một quân đội của một quốc gia lạc hậu thuộc thế giới thứ ba. Điều gì sẽ xảy ra ngày nay nến siêu cường Mỹ đụng độ với Trung Quốc, một đất nước có nền kinh tế mà Mỹ đang phải phụ thuộc, có quy mô tương đương kinh tế Mỹ, hoạt động trên lãnh thổ của họ? Cơ hội duy nhất đối với giới lãnh đạo tại Oasinhtơn là một cuộc chiến tranh hạt nhân, sẽ có nghĩa là phá hủy toàn bộ thế giới bằng sự ngạo mạn của Mỹ.

Fortunately, profits are more important to Washington than ending life on earth. Therefore, war with China will be avoided, just as it was avoided with the Soviet Union. However, China will be presented by Washington and its prostitute media, especially the New York Times, Washington Post, and Murdoch’s collection of whores, as the rising threat to America. The media story will shift the importance of America’s allies from Europe to countries bordering the South China Sea. American taxpayers’ money, or newly printed money, will flow into the “new alliance against China.”

May mà đối với Oasinhtơn, lợi nhuận quan trọng hơn việc chấm dứt sự sống trên trái đất. Vì thế, cuộc chiến với Trung Quốc sẽ được tránh, như đã tránh cuộc chiến với Liên Xô. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ được Oasinhtơn và các phương tiện truyền thông của họ, nhất là Thời báo Niu Yoóc và Bưu điện Oasinhtơn miêu tả là nguy cơ ngày càng tăng đối với Mỹ. Giới truyền thông sẽ chuyển tầm quan trọng của các đồng minh của Mỹ từ châu Âu sang các quốc gia giáp giới với Biển Đông. Tiền của những người đóng thuế Mỹ hoặc tiền mới được in sẽ chảy vào “các liên minh mới chống Trung Quốc”.


China’s rise is a great boon to the US military/security complex, which governs america in which there is a pretense of “freedom and democracy.” China is the profitable replacement for the “Soviet threat.” As the days go by, the presstitute media will create in the feeble minds of Americans “The CHINA Threat.”

Sự trỗi dậy của Trung Quốc là một mối lợi lớn đối với tổ hợp quân sự-an ninh Mỹ. Trung Quốc là một sự thay thế có lợi cho nguy cơ Xôviết. Trong thời gian tới, giới truyền thông phương Tây sẽ tạo ra trong tâm trí yếu ớt của người Mỹ về một mối đe dọa Trung Quốc.

Soon whatever little remains of the US living standard will be sacrificed to Washington’s confrontation with China, along with the seizure of our pensions and personal savings in order to deter “the China threat.”


Chẳng mấy chốc khoản tiết kiệm nhỏ bé còn lại của mức sống Hoa Kỳ sẽ được hy sinh để Washington đối đầu với Trung Quốc, cùng với việc cắt giảm lương hưu và các khoản tiết kiệm cá nhân để ngăn chặn "mối đe dọa Trung Quốc."

If only Americans were an intelligent people. Then they might have some prospect of holding on to their incomes, remaining wealth, and liberty. Unfortunately, Americans are so thoroughly plugged into the Matrix that they present as a doomed people, incapable of thought, reason, or ability to comprehend the facts that the rest of the world sees clearly.

Nếu người Mỹ là một ndân tộc thông minh. Thì, họ có thể có một triển vọng củng cố thu nhập, tài sản còn lại, và tự do của họ. Thật không may, người Mỹ hoàn toàn rơi vào ma trận mà họ tự bày ra như là một dân tộc thất bại, không có khả năng tư duy, suy lý, hoặc khả năng hiểu các sự kiện mà phần còn lại của thế giới thấy thật rõ ràng.

Can reality be brought to the American people? Perhaps a miracle will occur. Stay tuned.
Liệu người dân Mỹ có thể nhận ra thực tế đó? Có lẽ một phép  màu sẽ xảy ra. Cứ chờ xem.


http://www.globalresearch.ca/index.php?context=va&aid=30609

Bo, Chen And Doing Business In China Bạc Hy Lai, Trần Quang Thành và làm ăn ở Trung Quốc



Bo, Chen And Doing Business In China

Bạc Hy Lai, Trần Quang Thành và làm ăn ở Trung Quốc

Jack Perkowski
Jack Perkowski


Political events in China have dominated the news over these past few months, overshadowing stories about the country’s economy that usually make the headlines.

Các sự kiện chính trị ở Trung Quốc đã chiếm lĩnh tin tức trong vài tháng qua, làm lu mờ những câu chuyện về nền kinh tế, thường là các tin hàng đầu của đất nước này.

It began on February 6 when Wang Lijun, Chongqing’s chief of police, sought refuge in the United States Consulate in Chengdu. Fearing for his life at the hands of Bo Xilai, Chongqing’s powerful Party Secretary, Wang told U.S. diplomats that Bo’s wife had poisoned a British businessman and one-time confidante to the Bo family. Wang’s action was the event that triggered the fall from grace of the former rising star of the Chinese Communist Party that has been playing out in the press ever since.

Bắt đầu hôm 6 tháng 2 khi Vương Lập Quân, cảnh sát trưởng Trùng Khánh, tìm cách trú ẩn ở Lãnh Sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô. Lo sợ cho mạng sống của mình trong tay của Bạc Hy Lai, Bí thư Thành ủy đầy quyền lực ở Trùng Khánh, ông Vương nói với các nhà ngoại giao Mỹ rằng vợ của ông Bạc đã đầu độc doanh nhân người Anh, người đã từng là thân tín của gia đình ông Bạc. Hành động của ông Vương là sự kiện gây ra sự sụp đổ của một cựu ngôi sao đang lên, nhận được ân sủng từ Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã và đang xuất hiện trên mặt báo nhiều chưa từng có.

Over the past two weeks, Chen Guangcheng, the “blind lawyer” and dissident from Shandong province, has taken center stage. Under house arrest in Shandong Province for the past two years for railing against forced abortions and sterilizations that occur as part of China’s “one-child policy,” Chen somehow managed to escape the week before last, only to show up at the U.S. embassy on the eve of a high-level visit to Beijing by U.S. Secretary of State Hillary Clinton and Treasury Secretary Timothy Geithner. “Should I Stay or Should I Go,” the 1981 hit song by the English punk rock band The Clash, could have been the theme for last week’s talks between Chen and U.S. diplomats.

Trong hai tuần qua, ông Trần Quang Thành, “luật sư khiếm thị” và là nhà bất đồng chính kiến từ tỉnh Sơn Đông, đã chiếm tâm điểm của sân khấu. Đang bị quản chế tại nhà ở tỉnh Sơn Đông trong 2 năm qua do khiếu kiện việc cưỡng bức phá thai và triệt sản, là một phần trong “chính sách một con” của Trung Quốc, bằng cách nào đó ông Trần đã tìm cách trốn thoát hồi 2 tuần trước, chỉ để có mặt tại Đại sứ quán Mỹ trước ngày bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ và ông Timothy Geithner, Bộ trưởng Tài chính, thực hiện chuyến thăm cấp cao tới Bắc Kinh. “Tôi nên ở hay nên đi“, bài hát nổi tiếng năm 1981 của ban nhạc rock mạnh The Clash của Anh, có thể là chủ đề cho các cuổi đàm phán hồi tuần trước về ông Trần và các nhà ngoại giao Mỹ.

The Bo and Chen sagas have once again raised questions as to China’s stability and the impact that local and international politics may have for companies doing business in the country. As serious as these recent events might be, though, it’s important to keep in mind that we’ve encountered similar bumps in the road over the past 20 years. Somehow or another, China has remained stable and the U.S. and China have managed to patch up any differences through it all.

Loạt chuyện dài về ông Bạc và ông Trần một lần nữa đặt ra câu hỏi về sự ổn định của Trung Quốc và tác động chính trị quốc nội và quốc tế có thể có, lên các công ty làm ăn ở Trung Quốc. Mặc dù những sự kiện gần đây có thể rất nghiêm trọng, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là chúng ta gặp phải những chướng ngại trên đường tương tự như đã xảy ra trong vòng 20 năm qua. Bằng cách này hay cách khác, Trung Quốc vẫn ổn định, Mỹ và Trung Quốc đã xoay sở để vá víu bất kỳ sự khác biệt nào để vượt qua tất cả.

No doubt, the Tiananmen Square protests of 1989, also known as the June Fourth Incident, is the most notable of the destabilizing events that have occurred, interrupting as it did over 10 years of economic progress in China. Afraid that China was reverting to pre-Deng days, scores of Western companies chose to pack up and leave the country as a result. The lure of the Chinese market proved too great, however, so in the end, all of the companies found their way back.

Rõ ràng là các cuộc nổi dậy ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, còn được gọi là Sự kiện Sáu tháng Tư, là sự kiện đáng chú ý nhất trong các sự kiện gây bất ổn đã xảy ra, làm gián đoạn quá trình phát triển kinh tế trong 10 năm ở Trung Quốc. Lo ngại Trung Quốc quay trở lại thời kỳ trước thời Đặng Tiểu Bình, kết quả là rất nhiều công ty phương Tây đã chọn cách đóng gói đồ đạc và rời khỏi đất nước này. Mặc dù sự quyến rủ của thị trường Trung Quốc tỏ ra quá tuyệt vời, nhưng cuối cùng thì tất cả các công ty tìm đường quay trở về nước.

In the years since, there have been at least three smaller, but no less important, incidents that threatened political stability in China and were wrapped up in the Sino-American relationship. I was in Beijing for all three, and all of them seemed quite scary at the time.

Kể từ sự kiện đó cho đến nay, đã có ít nhất ba sự kiện nhỏ hơn, nhưng không kém phần quan trọng, đã đe dọa sự ổn định chính trị ở Trung Quốc, và bao trùm lên mối quan hệ Trung – Mỹ. Khi ba sự kiện đó xảy ra, tôi đều có mặt ở Bắc Kinh, và tất cả các sự kiện này có vẻ khá đáng sợ vào thời điểm đó.

The first was the 1995–1996 Taiwan Strait Crisis that came about as a result of a series of missile tests conducted by China in the waters surrounding Taiwan from July 21, 1995 to March 23, 1996. The missiles fired in mid to late 1995 were allegedly intended to send a strong signal to the Taiwan government under President Lee Teng-hui, who was seen as moving Taiwan away from the One-China policy. The second set of missiles fired in early 1996 was allegedly intended to intimidate the Taiwan electorate in the run-up to the 1996 presidential election. The crisis began when Lee accepted an invitation from Cornell University to deliver a speech on “Taiwan’s Democratization Experience” in June 1995. In May, resolutions overwhelmingly passed by both houses of the U.S. Congress asked the State Department to allow Lee to visit the United States. China was furious over the U.S. decision and the state press branded Lee a “traitor” who was attempting to “split China.”

Sự kiện đầu tiên là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan năm 1995-1996, xảy ra là kết quả của một loạt các thử nghiệm tên lửa do Trung Quốc tiến hành trong vùng biển quanh Đài Loan từ ngày 21 tháng 7 năm 1995 đến ngày 23 tháng 3 năm 1996. Các tên lửa được bắn từ giữa năm cho đến cuối năm 1995 được cho là với mục đích gửi một tín hiệu mạnh mẽ tới chính phủ Đài Loan dưới thời Tổng thống Lý Đăng Huy, người được xem đưa Đài Loan tránh khỏi chính sách một con của Trung Quốc. Đợt bắn tên lửa thứ hai vào đầu năm 1996 đã bị cáo buộc nhằm mục đích đe dọa các cử tri Đài Loan trong thời gian chuẩn bị bầu cử tổng thống năm 1996. Cuộc khủng hoảng bắt đầu khi ông Lý chấp nhận một lời mời từ trường Đại học Cornell để phát biểu một bài diễn văn về “Kinh nghiệm dân chủ của Đài Loan” hồi tháng 6 năm 1995. Vào tháng 5, một nghị quyết đã được thông qua với tỉ số áp đảo từ hai viện của Quốc hội Mỹ, yêu cầu Bộ Ngoại giao cho phép ông Lý sang thăm Hoa Kỳ. Trung Quốc rất tức giận về quyết định của Mỹ và báo chí nhà nước đã gọi ông Lý là “kẻ phản bội“, đang cố “chia rẽ Trung Quốc“.

NATO’s bombing of China’s embassy in Belgrade on May 7, 1999, was the second of such events and perhaps the scariest for Americans doing business in the country. The bombing killed three Chinese reporters and outraged the Chinese public. President Bill Clinton apologized for the bombing and said that it was accidental, while China insisted that it was deliberate. The days after the bombing were tense, to say the least, for those of us in country. Even my closest Chinese friends looked at me with disbelief when I tried to argue the U.S. side. With all of the U.S. technology in precision bombing, it was impossible for them to imagine how the bombing could have been accidental.

Chuyện NATO đánh bom [nhầm] vào Đại Sứ quán Trung Quốc ở Belgrade ngày 7 tháng 5 năm 1999, là sự cố thứ hai và có lẽ là sự cố đáng sợ nhất đối với người Mỹ làm ăn ở Trung Quốc. Vụ đánh bom này đã giết chết ba phóng viên Trung Quốc và làm công chúng Trung Quốc bất bình. Tổng thống Bill Clinton đã xin lỗi về vụ đánh bom và nói rằng đó là tai nạn, trong khi Trung Quốc nhất định rằng đó là do cố ý. Những ngày sau vụ đánh bom rất căng thẳng, phải nói là tồi tệ nhất, cho những người đang sống ở Trung Quốc. Ngay cả những người bạn Trung Quốc thân nhất của tôi cũng đã nhìn tôi với vẻ không tin khi tôi cố biện hộ cho phía Hoa Kỳ. Với tất cả công nghệ đánh bom chính xác của Mỹ, họ không thể tưởng tượng làm thế nào vụ đánh bom đó có thể là tai nạn.

In early 2001, the collision of a U.S spy plane and a Chinese fighter jet in the South China Sea exacerbated political and military tensions between the two countries. The incident came on the eve of a decision by the Bush administration on whether to sell advanced U.S. anti-missile and air defense systems to Taiwan. Although the Chinese pilot was killed, with no casualties on the U.S. side, the initial U.S. reaction was strident and aggressive. The Chinese were miffed that the U.S. offered no apologies or regrets regarding the death of a Chinese pilot. Again, it was tough to be an American in China, trying to explain how the U.S. could be so callous.


Đầu năm 2001, sự va chạm của một máy bay do thám Mỹ với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc ở biển Đông làm trầm trọng thêm căng thẳng về chính trị và quân sự giữa hai nước. Vụ việc xảy ra vào hôm trước khi chính phủ Bush quyết định có nên bán hệ thống phòng không và hệ thống chống tên lửa tiên tiến của Mỹ cho Đài Loan hay không. Mặc dù viên phi công Trung Quốc đã chết, không có thương vong nào về phía Hoa Kỳ, phản ứng của Mỹ lúc đầu gay gắt và quyết liệt. Người Trung Quốc bị phật ý trước việc Mỹ không đưa ra lời xin lỗi hoặc hối tiếc về cái chết của viên phi công Trung Quốc. Một lần nữa, rất khó cho một người Mỹ đang sống ở Trung Quốc, cố giải thích Mỹ có thể lạnh lùng như vậy bằng cách nào.

Each of the three events brought to the fore any divisions that may have existed between the doves and the hawks in China and in the U.S. and threatened to rupture the Sino-American relationship. In each case, however, cooler heads prevailed after a few tense days and weeks. Whatever their differences, the various factions within the Communist Party came together in each case in a way that prevented events from getting out of hand. As a country, China just had too much to lose if they didn’t. Government leaders in both China and the U.S. realized that it was in neither country’s interest for the two most powerful countries in the world to be at serious odds with one another.

Mỗi sự kiện trong ba sự kiện này mang lại bất kỳ sự chia rẽ sẵn có nào, và sự chia rẽ này có thể đã tồn tại giữa giới bồ câu và diều hâu ở Trung Quốc và ở Hoa Kỳ, cũng như đe dọa cắt đứt mối quan hệ Trung-Mỹ. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp, những cái đầu nguội hơn đã chiếm ưu thế sau căng thẳng trong vài ngày hoặc vài tuần. Cho dù có bất kỳ điều khác biệt gì đi nữa, các phe phái khác nhau trong nội bộ Đảng Cộng sản [Trung Quốc] cũng ngồi lại với nhau trong mỗi trường hợp, nhằm ngăn ngừa các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát. Là một quốc gia, Trung Quốc có quá nhiều thứ để mất nếu họ không thể kiểm soát. Các nhà lãnh đạo chính phủ từ Trung Quốc và Mỹ nhận ra rằng không có lợi đất nước, khi cả hai nước mạnh nhất thế giới xung đột nhau nghiêm trọng.

By week’s end, the Chen crisis seemed to have been resolved with China allowing Chen to accept a fellowship offer from NYU. With respect to Bo, there is serious concern that his plight is indicative of a serious rupture within the Communist Party. Everyone doing business in China should be concerned, of course, and watch events closely, but if the past is any guide, this too will pass. If China had too much to lose in 1995-1996, 1999 and 2001, the stakes are even higher today.
Đến cuối tuần, cuộc khủng hoảng về chuyện ông Trần dường như đã được giải quyết, với Trung Quốc cho phép ông Trần chấp nhận một đề nghị học bổng từ Đại học New York. Liên quan đến ông Bạc, có mối quan ngại rất lớn là cảnh ngộ của ông cho thấy một sự đổ vỡ nghiêm trọng trong Đảng Cộng sản. Dĩ nhiên, tất cả mọi người đang làm ăn ở Trung Quốc cần phải quan tâm và quan sát các sự kiện thật kỹ, nhưng nếu quá khứ là chỉ dẫn cho hiện tại, điều này cũng sẽ vượt qua. Nếu Trung Quốc có quá nhiều thứ để mất [trong các sự cố xảy ra] năm 1995-1996, 1999 và 2001, rủi ro hiện nay thậm chí còn cao hơn trước đây.



Translated by Dương Lệ Chi


http://www.forbes.com/sites/jackperkowski/2012/05/07/bo-chen-and-doing-business-in-china/