MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Sunday, April 29, 2012

Competition in the Indian Ocean CẠNH TRANH TRÊN ẤN ĐỘ DƯƠNG




Competition in the Indian Ocean

CẠNH TRANH TRÊN ẤN ĐỘ DƯƠNG
With the exception of the war between them in 1962, India and China have existed with little geopolitical interaction. The situation along their shared 3,000-kilometer (1,864-mile) border has not changed, but shifts in China's economic structure have led Beijing to increasingly operate in the Indian Ocean Basin, which is New Delhi's sphere of influence. India is facing limitations as it tries to project power in the Indian Ocean to counter this growing Chinese involvement.

Không tính cuộc chiến tranh giữa hai nước năm 1962, Ấn Độ và Trung Quốc đã sống chung với mà không có mấy tương tác địa chính trị. Tình hình dọc theo 3.000 km biên giới (1,864 dặm) đã không thay đổi, nhưng sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế của Trung Quốc đã khiến Bắc Kinh hoạt động ngày càng tăng trong thủy vực Ấn Độ Dương, vốn là phạm vi ảnh hưởng của New Delhi. Ấn Độ đang đối mặt với các giới hạn khi quốc gia này nỗ lực tăng cường sưca mạnh ở Ấn Độ Dương nhằm chống lại sự thâm nhập đang gia tăng của Trung Quốc vào khu vực này.

Separating China and India are the Himalayan Mountains. From India's perspective, Nepal and Bhutan are buffer states situated between the northeastern and northwestern sections of the Indian-Chinese border. The mountainous state of Sikkim was a third buffer, located between the other two, and former Indian Prime Minister Indira Gandhi's government sought to fully absorb this state into India. When anti-monarchy riots broke out in Sikkim in 1973, India, fearful that China would step in and claim the area as part of Tibet, used a mixture of political and military maneuvers to persuade Sikkim's last monarch to accept Sikkim as India's 23rd state. This allowed New Delhi to increase its leverage over China through its support for Tibetan separatists living in Sikkim.

Chia tách giữa Ấn Độ và Trung Quốc là dãy núi Himalaya. Đối với Ấn Độ, Nêpan và Butan là những quốc gia đệm ở khu vực biên giới Đông Bắc và Tây Bắc giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Bang miền núi Sikkim là tấm đệm thứ 3 giữa hai quốc gia và chính phủ của cựu Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi đã tìm cách đưa toàn bộ bang này vào Ấn Độ. Khi các cuộc bạo loạn chống chế độ quân chủ bùng nổ tại Sikkim năm 1973, do lo ngại Trung Quốc có thể nhảy vào và đòi đây là một phần của Tây Tạng nên Ấn Độ đã sử dụng tổng hợp chiến thuật chính trị và quân sự để thuyết phục vị vua cuối cùng của Sikkim chấp nhận Sikkim là bang thứ 23 của Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có thêm đòn bẩy đối với Trung Quốc thông qua việc hỗ trợ các phần tử Tây Tạng ly khai đang sống tại Sikkim.

There are numerous territorial disputes along the mountainous Indian-Chinese border. China possesses extensive territory in northwestern India's Kashmir region in three areas: the Shaksgam Valley, Aksai Chin and Demchok. Beijing also claims a considerable amount of territory that forms the northern rim of the northeast Indian state of Arunachal Pradesh.

Có rất nhiều tranh chấp lãnh thổ dọc đường biên giới Ấn Độ – Trung Quốc. Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn trong khu vực Casơmia, ở phía Tây Bắc của Ấn Độ, tại 3 khu vực là Thung lũng Shaksgam, Aksai Chin và Demchok. Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền một phần đáng kể của khu vực hình thành nên vành đai Đông Bắc của Ấn Độ – bang Arunachal Pradesh.

Tensions, But Little Action, Along the Border


Trung Quốc, căng thẳng nhưng ít hành động dọc Biên giới
The Himalayas effectively prevent India and China from making any significant military advances against each other. However, this has not eliminated tensions altogether. Over the past six decades, there has been frequent clamor in India about potential threats from the Chinese People's Liberation Army (PLA) in various areas along India's northern flank. (The Indian states of Himachal Pradesh and Uttarakhand, located between Nepal and Kashmir along the border with China, are also considered vulnerable to Chinese military incursions.) In recent years, this perceived threat has led New Delhi to enhance its military defenses in relation to Beijing.

Dãy Himalaya đã ngăn chặn hiệu quả, không cho Ấn Độ và Trung Quốc thực hiện được hoạt động quân sự đáng kể nào chống lại nhau. Tuy nhiên, điều này không loại bỏ hoàn toàn được những căng thẳng. Hơn 6 thập kỷ qua, tại Ấn Độ, thường xuyên có những phản đối về các mối đe dọa tiềm tàng từ Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) ở nhiều khu vực dọc theo sườn phía Bắc của Ấn Độ (các bang Himachal Pradesh và Uttarakhand, nằm giữa Nêpan và Casơmia dọc biên giới với Trung Quốc, cũng bị xem là có nguy cơ bị quân đội Trung Quốc xâm nhập). Trong những năm gần đây, mối đe dọa này đã dẫn đến việc Niu Đêli tăng cường phòng thủ quân sự trong mối quan hệ với Bắc Kinh.

Officials in the Indian state of Arunachal Pradesh occasionally will claim that the Chinese are building up their military on their side of the border. These claims typically are followed by statements highlighting India's efforts to increase security on its side, which the Chinese construe as hostility. However, such statements form the Chinese are largely rhetorical. Chinese sources have told Stratfor that what is happening in these instances is periodic construction work with defensive purposes by China's army corps of engineers, which the Indians consider offensive moves. Aggravating these tensions are accusations that each country is assisting the other's rebel forces, with India claiming that China backs various ethnic insurgent groups in India's northeastern states (Assam, Nagaland, Mizoram, Tripura and Meghalaya) while China criticizes India for providing havens for Tibetan separatists.

Các quan chức tại bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ thỉnh thoảng khẳng định rằng Trung Quốc đang xây dựng quân đội ở phía bên giới của họ. Những tuyên bố này thường theo sau bởi những báo cáo nêu bật những nỗ lực của Ấn Độ nhằm tăng cường an ninh bên phía mình và coi Trung Quốc là thù địch. Các nguồn tin của Trung Quốc cho Stratfor biết rằng cái đang diễn ra trong những trường hợp này là việc các quân đoàn công binh Trung Quốc thường kỳ xây dựng các công trình có mục đích phòng thủ, nhưng Ấn Độ lại coi như là những động thái tấn công. Làm trầm trọng thêm những căng thẳng này là những cáo buộc rằng nước này đang hỗ trợ cho những phần tử nổi loạn ở nước kia. Ấn Độ thì khẳng định rằng Trung Quốc đang hỗ trợ nhiều nhóm nổi dậy khác nhau ở các bang Đông Bắc của Ấn Độ như Assam, Nagaland, Mizoram, Tripura và Meghalaya. Trong khi đó thì Trung Quốc chỉ trích Ấn Độ về việc cung cấp chỗ trú ẩn cho các phần tử ly khai Tây Tạng.


Aside from these accusations and military preparedness measures, India's border with China has remained calm for the last 50 years -- except for rare and minor incidents. This is not likely to change in the foreseeable future.

Ngoài những cáo buộc và các biện pháp chuẩn bị quân sự này, biên giới của Ấn Độ với Trung Quốc vẫn bình yên trong 50 năm qua, ngoại trừ các sự cố hiếm hoi và nhỏ lẻ. Điều này khó có khả năng thay đổi trong tương lai gần.


The Pakistani Factor in Indian-Chinese Relations
Yếu tố Pakixtan trong quan hệ Ấn Độ – Trung Quốc

India's fear of a Chinese encirclement drives the thinking of Indian strategists and policymakers. A key part of this thinking has to do with the historical alliance between China and Pakistan, India's archrival and western neighbor. China has used the rivalry between India and Pakistan as a significant lever against New Delhi.

Việc lo ngại bị Trung Quốc bao vây đã tác động đến tư duy của các chiến lược gia và các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ. Phần quan trọng của tư duy này liên quan đến mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakixtan – nước láng giềng đối thủ ở phía Tây của Ấn Độ. Trung Quốc đã sử dụng sự thù địch giữa Ấn Độ và Pakixtan làm đòn bẩy chống lại Niu Đêli.

Beijing's military cooperation with and economic assistance to Islamabad has allowed the Chinese to establish a considerable presence in Pakistan. From New Delhi's perspective, Chinese involvement in developing transportation corridors in Pakistan's northern Gilgit-Baltistan region, which the Pakistanis seized in the 1948 war in the Kashmir region, enhances Pakistan's position in the disputed territory. In recent years, New Delhi has alleged that Pakistan allowed up to 11,000 PLA troops to be stationed in Gilgit-Baltistan.

Hợp tác quân sự và trợ giúp kinh tế cho Ixlamabát đã cho phép Trung Quốc thiết lập sự hiện diện đáng kể tại Pakixtan. Đối với Niu Đêli, sự tham dự của Trung Quốc vào việc phát triển hành lang giao thông ở khu vực Gilgit-Baltistan, Đông Bắc Pakixtan, mà Pakixtan đã giành được trong cuộc chiến tranh 1948 tại khu vực Casơmia, đã giúp nâng cao vị thế của Pakixtan tại vùng lãnh thổ tranh chấp này. Trong những năm gần đây, Niu Đêli đã cáo buộc rằng Pakixtan đã cho phép 11.000 quân PLA vào đồn trú tại Gilgit-Baltistan.

China would like to use the full length of Pakistan's territory as a land bridge for exports and, far more important, imports. This ability would allow China to bypass the shipping lanes between its eastern and southern seaboard that run through the Strait of Malacca and the Indian Ocean -- an important step in making China's energy imports from the Middle East more secure. 

Trung Quốc có thể muốn sử dụng toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan làm cầu nối cho hàng xuất khẩu và quan trọng hơn là nhập khẩu. Khả năng này sẽ giúp Trung Quốc tránh các tuyến đường biển giữa vùng biển phía Đông và phía Nam chạy qua eo biển Malắca và Ấn Độ Dương. Đây là một bước đi quan trọng giúp việc nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc từ Trung Đông trở nên bảo đảm hơn.

Beijing can do just that if it can establish a robust and secure transportation corridor between the Khunjerab Pass border crossing on the Pakistani-Chinese border and the port of Gwadar on the Arabian Sea (which the Chinese have helped develop). However, technological and financial obstacles, as well as security, climate and terrain-related issues, have prevented the Chinese from developing road and rail infrastructure along the full length of Pakistan's territory. Given Pakistan's domestic convulsions and the coming withdrawal of NATO forces from Afghanistan, only meager progress on this front can be expected for a long time to come. However, the port at Gwadar holds immense maritime value for Beijing and can serve as a key Chinese naval outpost in the northwestern end of the Indian Ocean.

Bắc Kinh có thể thực hiện được điều này nếu họ có thể thiết lập một hành lang giao thông tốt và an toàn giữa đèo Khunjerab ở biên giới Pakixtan – Trung Quốc và cảng Gwadar ở Biển Arập (một cơ sở Trung Quốc đã giúp xây dựng). Tuy nhiên, những trở ngại về kỹ thuật và tài chính cũng như các vấn đề về an ninh, khí hậu và địa chất, đã ngăn cản Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng đường sá và đường sắt dọc toàn bộ chiều dài lãnh thổ Pakixtan. Do sự rối loạn trong nước của Pakixtan và việc NATO sẽ rút quân khỏi Ápganixtan, về lâu dài, Bắc Kinh sẽ chỉ đạt được một phần nhỏ trong tham vọng này. Tuy nhiên, cảng Gwadar lại có giá trị hàng hải rất lớn đối với Bắc Kinh và có thể là một cảng hải quân quan trọng của Trung Quốc ở phía Tây Bắc của Ấn Độ Dương.

Despite China's involvement in Pakistan, there are problems with using that involvement as leverage against India. Instability within Pakistan and the transnational Islamist militants headquartered there are turning Pakistan into more of a liability than an asset. Pakistani-Chinese relations are also affected by the United States' role in South Asia, and Beijing has to balance its commitments to Islamabad with its relationship with Washington. China also is neither willing nor able to play a role in Pakistan -- financially or politically -- similar to the United States. More important, China's geopolitical needs extend far beyond Pakistan.

Mặc dù có sự can dự của Trung Quốc vào Pakixtan, nhưng vấn có nhiều khó khăn trong việc sử dụng sự can dự đó để chống lại Ấn Độ. Sự bất ổn tại Pakixtan và các phần tử vũ trang Hồi giáo quốc tế đóng tổng hành dinh tại đó đã biến Pakixtan thành một gánh nợ hơn là một tài sản. Quan hệ Trung Quốc – Pakixtan cũng bị ảnh hưởng bởi vai trò của Mỹ ở Nam Á và Bắc Kinh phải cân bằng những cam kết của mình với Ixlamabát và mối quan hệ với Oasinhtơn. Trung Quốc cũng không sẵn sàng hoặc không thể đảm nhận một vai trò tại Pakixtan, về mặt tài chính hoặc chính trị như Mỹ. Quan trọng hơn, nhu cầu địa chính trị của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở Pakixtan.

The shifts in China's political economy in recent decades have forced Beijing to transform from a land power to a maritime one. Its growing need for energy and other resources to feed its industrial engine and thus its export sector require that the shipping lanes from its coasts to Africa and the Middle East remain open. China has had to establish and enhance its presence in the Indian Ocean Basin accordingly.

Sự thay đổi kinh tế chính trị của Trung Quốc trong những thập kỷ gần đây đă buộc Bắc Kinh phải chuyển đổi từ cường quốc đất liền sang cường quốc biển. Nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và các nguồn tài nguyên khác để nuôi bộ máy công nghiệp và do lĩnh vực xuất khẩu yêu cầu các tuyến đường vận chuyển từ bờ biển của Trung Quốc đến châu Phi và Trung Đông, Trung Quốc phải thiết lập và tăng cường sự hiện diện của mình ở Ấn Độ Dương cho phù hợp.

Though it will be a while before China develops considerable blue-water naval capabilities, the Chinese reportedly have started developing outposts of influence across the Indian Ocean in the form of port development plans. While in many cases China has financed construction operations of those ports, these projects in Myanmar, Bangladesh, Sri Lanka, the Maldives and elsewhere are also potential sources of revenue for Chinese construction companies. However, this intrusion into India's southern flank has exacerbated India's security concerns regarding China.

Mặc đù sẽ mất thời gian để Trung Quốc có thể xây dựng năng lực hải quân, nhưng Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các tiền đồn ảnh hưởng trên khắp Ấn Độ Dương. Mặc dù trong nhiều trường hợp Trung Quốc cung cấp tài chính cho hoạt động xây dựng các cảng này, các dự án này tại Mianma, Bănglađét, Xri Lanca, Manđivơ và những nơi khác cũng là nguồn thu tiềm năng cho các công ty xây dựng của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc bị xâm nhập vào sườn phía Nam này đã làm trầm trọng thêm sự lo ngại của Ấn Độ đối với Trung Quốc trong vấn đề an ninh.

India's Options

Because China is a larger economic power and has much more substantial long-range naval capabilities than India, New Delhi feels pressured to work against Chinese encroachment on what the Indians consider their territorial waters. Although India has not been able to use the Indian Ocean for power projection beyond the basin, it has established significant influence there. Furthermore, as India's own need for resources, especially energy resources, grows, it will need to ensure the security of its shipping lanes from Africa and the Middle East and from Southeast Asia. Along with India's desire to protect its ownership of the Andaman and Nicobar Islands in the Bay of Bengal and the Lakshadweep Islands near the Arabian Sea, this need makes friction between China and India in the Indian Ocean Basin inevitable. Since India is incapable of countering China's advances in the Indian Ocean on its own, New Delhi cooperates with Washington, which has its own interest in containing China's influence in the region.


Những lựa chọn của Ấn Độ

Vì Trung Quốc là một cường quốc kinh tế lớn hơn và có khả năng hải quân tầm xa tốt hơn so với Ấn Độ, Niu Đêli cảm thấy phải sớm hành động để chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc đối với những cái mà Ấn Độ coi là lãnh hải của mình. Mặc dù Ấn Độ không có khả năng sử dụng Ấn Độ Dương cho việc phát huy sức mạnh ra bên ngoài khu vực, nhưng nước này đã thiết lập được ảnh hưởng đáng kể ở đây. Hơn nữa, do chính nhu cầu của Ấn Độ đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là năng lượng, đang tăng lên, Ấn Độ cần phải bảo đảm an ninh cho các tuyến đường biển của mình từ châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á. Cùng với mong muốn của Ấn Độ trong việc bảo vệ quyền sở hữu các quần đảo Andaman và Nicobar tại vịnh Bengan và quần đảo Lakshadweep gần Biển Arập, nhu cầu này làm cho những va chạm giữa Trung Quốc và Ấn Độ trên khu vực Ấn Độ Dương là điều không thể tránh khỏi. Do Ấn Độ không có khả năng tự mình chống lại sức mạnh Trung Quốc trên Ấn Độ Dương nên Niu Đêli đã hỢp tác với Oasinhtơn. Oasinhtơn cũng có lợi ích riêng khi kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.

From India's standpoint, the southern reaches of the Bay of Bengal are critical because of their proximity to the Strait of Malacca. The strait is important to India's 20-year-old "Look East" policy, driven by energy and trade needs and a strong interest in countering China that has stagnated after several attempts at reinvigoration. The policy involves New Delhi's developing close relations with Myanmar and the other countries in the region formerly known as Indochina.

Từ góc độ của Ấn Độ, phần phía Nam của vịnh Bengan là rất quan trọng vì nó gần với eo biển Malắcca. Eo biển Malắcca quan trọng đối với chính sách “Hướng Đông” 20 năm tuổi của Ấn Độ, một chính sách được thúc đẩy bởi nhu cầu năng lượng và thương mại và sự quan tâm mạnh mẽ đến việc chống lại Trung Quốc. Chính sách này liên quan đến việc Ấn Độ phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Mianma và các nước khác trong khu vực vốn trước đây được gọi là các nước Đông Dương.

In the past two decades, India has re-established close relations with the ruling junta in Myanmar, a longtime Chinese ally. By taking advantage of Myanmar's need for international partners, given the country's pariah status, India has not only developed another source of natural gas but has also begun offering China competition. Additionally, energy cooperation deals with Vietnam have allowed India to establish a presence in the South China Sea region -- an area China considers its exclusive sphere of influence.


Trong 2 thập kỷ qua, Ấn Độ đã tái thiết lập quan hệ gần gũi với Mianma, một đồng minh lâu đời của Trung Quốc. Bằng việc tận dụng nhu cầu của Mianma cần có các đối tác quốc tế, do vị thế cùng khổ của nước này, Ấn Độ đã không chỉ phát triển nguồn tài nguyên khí đốt mà còn bắt đầu cạnh tranh với Trung Quốc, Ngoài ra, các thoả thuận hợp tác năng lượng với Việt Nam cũng cho phép Ấn Độ thiết lập sự hiện diện ở khu vực Biển Đông – một khu vực Trung Quốc coi là độc quyền ảnh hưởng.

India has also developed close economic ties with other key Southeast Asian states including Thailand, Singapore and Malaysia. This has allowed India to establish a free trade agreement with the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN). Southeast Asian countries share India's desire to counter China's growing influence.

Ấn Độ cũng xây dựng các mối quan hệ kinh tế gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á quan trọng khác như Thái Lan, Xinhgapo và Malaixia. Điều này cho phép Ấn Độ thành lập một thoả thuận tự do thương mại với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các nước Đông Nam Á cũng chia sẻ mong muốn của Ấn Độ trong việc chống lại ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc.


Beyond Southeast Asia, India is working with Japan, which also has a strong interest in counterbalancing China. Both countries are working with the United States to create a foothold in the South China Sea -- a trilateral arrangement that could help India. However, India's own ability to counter China on its southern flank is limited by New Delhi's domestic, political and economic situation.

Ngoài Đông Nam Á, Ấn Độ cũng đang làm việc với Nhật Bản, nước cũng rất quan tâm đến việc đối trọng lại Trung Quốc. Cả hai nước đang cùng làm việc với Mỹ để thiết lập chỗ đứng tại Biển Đông – một thoả thuận 3 bên có thể có ích cho Ấn Độ. Tuy nhiên, khả năng của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc ở sườn phía Nam của mình bị hạn chế do tình hình nội bộ, chính trị và kinh tế của Niu Đêli.


The Role of Bilateral Trade

In the past decade or so, India's general outlook toward China has changed so that enhanced trade relations and economic cooperation have complemented the strategic competition between the two. The strengthened Indian-Chinese economic ties have also increased India's importance to the point where China feels it is necessary to balance its historical ties with Pakistan with the need to work with India. Further, China's concern about a strategic encirclement by the United States, of which New Delhi is a single but significant part, has been working in India's favor. This has given New Delhi the ability to deal with Islamabad, India's main security threat.

Vai trò của thương mại song phương

Trong khoảng một thập kỷ qua, quan điểm chung của Ấn Độ đối với Trung Quốc đã thay đổi, tăng cường quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế đã bổ sung cho sự cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia. Các mối quan hệ kinh tế Ấn Độ – Trung Quốc đã nâng tầm quan trọng của Ấn Độ tới mức mà Trung Quốc cảm thấy cần phải cân bằng các mối quan hệ lịch sử của mình với Pakixtan để hợp tác với Ấn Độ. Hơn nữa, mối lo ngại của Trung Quốc về sự bao vây chiến lược của Mỹ, trong đó Niu Đêli là một phần quan trọng, đã tạo thuận lợi cho Ấn Độ. Điều này giúp Niu Đêli có khả năng để đối phó với Ixlamabát – mối đe dọa an ninh chính của Ấn Độ.

However, there is a long-term trend in which China has become India's largest trade partner while India's relevance to China has remained static. From 2001-2010, India's trade with China steadily increased from around 3 percent of overall trade to around 10 percent. However, China's trade with India as a percentage of its overall trade stayed almost flat, increasing from about 1 to 2 percent over the same period. In 2010, total trade between the two was approximately $50 billion.

Tuy nhiên, có một xu hướng dài hạn theo đó Trung Quốc sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ trong khi vai trò của Ấn Độ đối với Trung Quốc không thay đổi. Từ năm 2001 đến 2010, thương mại của Ấn Độ với Trung Quốc tăng đều đặn từ 3% lên 10% tổng thương mại. Tuy nhiên, thương mại của Trung Quốc với Ấn Độ tính theo phần trăm trong tổng thương mại của nước này gần như đứng im, tăng từ 1 – 2% trong giai đoạn trên. Năm 2010, tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 50 tỷ USD.

Much of this trend can be attributed to increased Indian consumption of Chinese electronics and machinery (a full 42 percent of imports in 2010). In 2001, Indian imports of Chinese goods totaled $1.8 billion, including about $200 million of electronic goods and $200 million of machinery. By 2010, Indian imports of Chinese goods totaled $33 billion, including $9 billion of electronic goods and $5.6 billion of machinery.

Xu hướng này phần lớn là do việc Ấn Độ tăng cường tiêu thụ thiết bị điện tử và máy móc của Trung Quốc (mặt hàng chiếm 42% nhập khẩu trong năm 2010). Năm 2001, Ấn Độ nhập khẩu 1,8 tỷ USD hàng hoá từ Trung Quốc, trong đó có khoảng 200 triệu USD hàng điện tử và 200 triệu USD máy móc. Đến năm 2010, Ấn Độ nhập tổng cộng 33 tỷ USD hàng hoá của Trung Quốc, trong đó hàng điện tử là 9 tỷ USD và máy móc là 5,6 tỷ USD.

This means China has been able to sell its low-cost manufactured goods to India, in part displacing domestic manufacturers, while India has been unable to sell China its major goods, such as refined petroleum products, diamonds, jewelry, cars and electronics, and its higher value-added services, such as software development, engineering and information technology development. This imbalance has implications for the countries' broader rivalry.

Điều này có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bán các hàng hoá có chi phí sản xuất thấp vào Ấn Độ, chiếm mất thị phần của các nhà sản xuất nội địa, trong khi Ấn Độ không thể bán cho Trung Quốc các loại hàng hoá chính của mình như các sản phẩm hoá dầu, kim cương, đồ trang sức, ôtô, hàng điện tử và các dịch vụ giá trị gia tăng cao như phát triển phần mềm, kỹ thuật và phát triển công nghệ thông tin. Sự mất cân bằng này có những tác động đến sự kình địch chung giữa hai quốc gia.

Ultimately India depends more on China economically and thus is in the weaker position in the countries' larger strategic competition, which will continue playing out in the Indian Ocean rather than along their shared border.

Cuối cùng, Ấn Độ phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và do đó sẽ ở vị trí yếu trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai nước – một cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra trên Ấn Độ Dương chứ không phải là ở biên giới chung giữa hai nước.




http://www.irgamag.com/?page=Competition_04042012

Peace lies beyond the South China Sea horizon Hòa bình trên Biển Đông nằm ở chân trời xa xôi




Peace lies beyond the South China Sea horizon

Hòa bình trên Biển Đông nằm ở chân trời xa xôi

By Jingdong Yuan

Jingdong Yuan

28-4-2012

SYDNEY - The ongoing standoff between China and the Philippines over the Scarborough Shoal (Huangyan Island in Chinese) is again focusing the international spotlight on the long-standing territorial disputes between China and a number of claimant states in the South China Sea.

Sydney – Vụ cãi vã đang tiếp diễn giữa Trung Quốc và Philippines quanh bãi cạn Scarborough (quần đảo Hoàng Nham – Huangyan trong tiếng Trung) lại một lần nữa thu hút cả thế giới nhìn về những cuộc tranh chấp chủ quyền kéo dài giữa Trung Quốc và một loạt quốc gia có yêu sách chủ quyền khác ở Biển Đông.

The latest tension began in early April when a Philippine naval frigate confronted Chinese fishermen and attempted to place them under arrest under the charge of illegal fishing and poaching in what Manila claims as its territory.

Căng thẳng mới nhất này bắt đầu vào đầu tháng 4, khi một tàu chiến của hải quân Philippines chạm trán với ngư dân Trung Quốc, và cố bắt họ vì tội đánh bắt cá bất hợp pháp và đột nhập vào nơi mà Manila tuyên bố là thuộc chủ quyền của mình.

Beijing responded by sending its maritime surveillance vessels to the area to block the Philippine warship. The two countries subsequently entered into discussions with each side standing firm on its territorial claims while pledging a diplomatic way out. At the time of writing the Chinese maritime vessels and fishing boats have reportedly left the Scarborough Shoal. But the maritime disputes are far from over.

Bắc Kinh phản ứng lại bằng cách gửi tàu hải giám tới khu vực để ngăn chiến hạm của Philippines. Sau đó hai nước bắt đầu tranh cãi, bên nào cũng giữ nguyên lập trường về yêu sách chủ quyền của mình, trong khi đó vẫn hứa hẹn tìm một giải pháp ngoại giao. Vào thời điểm tác giả viết bài này, nghe nói tàu hải quân và tàu cá Trung Quốc đã rời bãi cạn Scarborough. Nhưng tranh chấp hàng hải thì còn lâu mới kết thúc.

Territorial disputes in the South China Sea emerged in the early 1970s when it was discovered that the region could contain significant deposits of oil and natural gas. China and Vietnam were embroiled in military clashes in 1974 and 1988 and in 1992 Beijing promulgated legislation making territorial claims to the South China Sea based on historical discoveries.

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nổi lên từ đầu thập niên 1970, khi người ta phát hiện ra rằng khu vực này có thể chứa những mỏ dầu và khí tự nhiên có trữ lượng đáng kể. Trung Quốc và Việt Nam từng xung đột quân sự vào năm 1974 và 1988, và tới năm 1992, Bắc Kinh chính thức ban hành luật, khẳng định rằng các yêu sách chủ quyền của họ đối với Biển Đông là dựa vào những phát kiến lịch sử.

The 1990s saw an escalation of tensions between China and the other Southeast Asian claimants - Vietnam, Malaysia, Indonesia, Brunei, and the Philippines, with the 1995 Chinese occupation of the Mischief Reef the most controversial development. Since then, Beijing and Manila, and subsequently China and the 10-member Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) entered into a series of dialogues and negotiation, paving the way for the signing of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea in 2002.

Thập niên 1990 chứng kiến căng thẳng leo thang giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền khác – gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei, và Philippines, với việc năm 1995, Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn (Mischief reef) và đó là diễn biến gây tranh cãi nhiều nhất. Kể từ đó, Bắc Kinh và Manila, rồi tiếp theo là Trung Quốc cùng 10 thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bước vào một loạt cuộc đối thoại và đàm phán, mở đường cho việc ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông, năm 2002.

Over the past few years, however, some of the key claimant states to the territorial disputes in the South China Sea, principally China, Vietnam, and the Philippines, have sought to reiterate and strengthen their claims both through stating their positions publicly and and by taking more assertive and at time aggressive actions to stake out their claims based on their own interpretations of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).

Tuy nhiên, trong vài năm qua, một số quốc gia chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, nổi bật là Trung Quốc, Việt Nam và Philippines, đã tìm cách nhắc lại và củng cố yêu sách của mình, thông qua việc vừa tuyên bố lập trường một cách công khai, vừa tiến hành những hoạt động khẳng định chủ quyền mạnh mẽ hơn, đôi khi hung hăng hơn, căn cứ vào cách họ diễn giải Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).

These include more active maritime surveillance and exploration activities, tussles over fishing grounds, arrests and harassment of fishermen by each country's maritime authorities, and threats and endangerment of foreign navigation. These developments have caused serious concerns over the potential escalation of disputes into major maritime and military conflicts.

Những hoạt động đó bao gồm hải giám và thăm dò tài nguyên, tranh giành bãi cá, bắt giữ và quấy nhiễu ngư dân, đe dọa và gây nguy hiểm cho tàu bè nước ngoài. Các diễn biến đã gây lo ngại sâu sắc về khả năng tranh chấp leo thang thành xung đột hải quân và quân sự lớn.

This is in sharp contrast to the relative peace and tranquility since the signing of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea in 2002 by China and ASEAN countries. What happened?

Điều này đối ngược một cách sâu sắc với nền hòa bình và yên tĩnh tương đối đã có được kể từ khi các bên, gồm Trung Quốc và ASEAN, ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (năm 2002). Điều gì đã xảy ra?


The Scarborough Shoal dispute is a reflection of the underlying tension and competition between China and its neighbors over sovereignty, resources, and security in the South China Sea and has deeper strategic drivers beyond the immediate zone of potential conflict.


Tranh chấp quanh bãi cạn Scarborough là tấm gương phản chiếu những căng thẳng và tranh giành ngầm giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của họ: tranh giành chủ quyền, tài nguyên, và an ninh trên Biển Đông; và cuộc tranh chấp này có những động cơ chiến lược sâu sắc vượt ra khỏi ranh giới xung đột tiềm năng, tức thời.

One is the growing need of all the claimant states for energy and resources in order to sustain growth and achieve prosperity against shrinking land-based resources and growing dependence on critical production inputs imported from the Middle East, Africa, and the Persian Gulf. This recognition of the potential limits to future growth highlights the importance of the South China Sea.

Thứ nhất là nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng và tài nguyên của tất cả các nước có yêu sách chủ quyền, để duy trì tăng trưởng và tạo sự thịnh vượng. Đối lập với đó là việc tài nguyên đất liền ngày càng eo hẹp và sự phụ thuộc của họ vào những đầu vào sản xuất mang tính quyết định, nhập khẩu từ Trung Đông, châu Phi và vịnh Ba Tư, ngày càng tăng. Các nước đã nhận ra những giới hạn tiềm tàng, ngăn cản tăng trưởng tương lai. Điều này càng làm nổi bật thêm tầm quan trọng của Biển Đông.

Second, while none of the claimant states is unrealistic enough to believe that it can secure its territorial claims against the others short of using military force and risking significant diplomatic backlash and serious economic consequences, each has strong incentives to stand on and strengthen its claim, hoping to be better positioned in future negotiations on the final resolution of the dispute.


Thứ hai là, không quốc gia nào hão huyền đến mức tin rằng họ có thể bảo vệ yêu sách chủ quyền của mình trước các nước khác mà lại không sử dụng sức mạnh quân sự và không gặp rủi ro là tạo ra những khe hở đáng kể về ngoại giao cùng những hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Nhưng đồng thời, nước nào cũng có động cơ lớn là phải đứng vững và củng cố yêu sách của mình, hy vọng có thể có vị thế khá hơn trong những cuộc đàm phán tương lai về một giải pháp cuối cùng cho tranh chấp.

Rising nationalism and the revolution in communications provide accessible and increasingly influential platforms for public opinions that in turn affect foreign policy formulation and implementation, making conciliation difficult. Witness the highly nationalistic rhetoric in China's blogosphere and anti-China demonstrations on the streets of Hanoi and Ho Chi Minh City.

Chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy cùng với cuộc cách mạng về truyền thông đã tạo ra cho công luận những nền tảng ngày càng dễ tiếp cận và có ảnh hưởng hơn. Đến lượt nó, công luận gây tác động đến quá trình hình thành và thực thi chính sách đối ngoại, càng khiến việc điều hòa các bên tranh chấp trở nên khó khăn. Hãy xem những lời lẽ đầy màu sắc dân tộc chủ nghĩa trên các blog của người Trung Quốc và những cuộc biểu tình chống Trung Quốc trên đường phố Hà Nội và TP.HCM.

Third, for rising powers such as China, a growing debate and emerging consensus have informed leaderships that sea power, even for continental countries, is the key to commanding the global commons and an essential ingredient of great powers in the future. And finally, growth and prosperity over the past two decades in East Asia provide the financial wherewithal for military modernization, in particular in the naval patrol and power projection capabilities.

Thứ ba là, đối với những siêu cường đang nổi lên như Trung Quốc, một cuộc tranh biện ngày càng gia tăng và đồng thuận ngày càng lớn đã cho giới lãnh đạo thấy rằng, sức mạnh trên biển, ngay cả với những nước nằm trong lục địa, là chìa khóa để nắm lấy những nguồn lợi chung toàn cầu và là nguyên liệu chủ chốt để làm nên những siêu cường trong tương lai. Và cuối cùng, tăng trưởng và thịnh vượng trong hai thập niên vừa qua ở Đông Á đã đưa đến năng lực tài chính đủ để hiện đại hóa quân sự, đặc biệt là trong các lĩnh vực tuần tra đường biển và thể hiện (phóng chiếu) sức mạnh trên biển.



(Nguồn lợi chung toàn cầu, tiếng Anh là “global commons”, là các nguồn lợi tự nhiên hỗ trợ đời sống thiết yếu, như hệ thống khí hậu của trái đất, tầng ozone, các đại dương và biển. Chúng thuộc về toàn thể nhân loại chứ không chỉ thuộc riêng bất cứ nước hay doanh nghiệp tư nhân nào – ND chú thích theo Quỹ Môi trường Toàn cầu).

The geostrategic ramifications of the ongoing territorial disputes in the South China Sea go beyond their geographic confines and affect US interests and its relations with China. To begin with, the growing Chinese assertiveness, whether misperceived or real, raises serious questions about US interests and staying power in the region, as well as the credibility of its alliance commitments.

Sự phân nhánh địa chiến lược của những cuộc tranh chấp chủ quyền hiện nay trên Biển Đông đi vượt ra ngoài vấn đề địa lý, và nó ảnh hưởng tới lợi ích của Mỹ cũng như quan hệ của nước này với Trung Quốc. Trước hết, thái độ ngày một hung hăng của Trung Quốc, cho dù là bị hiểu nhầm hay là thật thì đều đặt ra những câu hỏi quan trọng về lợi ích của Mỹ, khả năng Mỹ tiếp tục là siêu cường trong khu vực, cũng như độ tin cậy của những cam kết của họ với các đồng minh.

First, the re-emergence and intensification of territorial disputes are taking place during a period of perceived US retraction from the region in the aftermath of the Afghanistan and Iraq wars and the global financial crisis of 2008, which have left Washington increasingly focused on domestic issues and budgetary woes. In contrast, the past decade has witnessed the phenomenal rise of China, in economic power, political influence, and military capabilities.

Đầu tiên, tranh chấp chủ quyền xuất hiện trở lại và trở nên gay gắt hơn đúng vào thời kỳ Mỹ rút khỏi khu vực – hậu quả của hai cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, khiến cho Washington phải tập trung nhiều hơn vào các vấn đề trong nước cùng những khó khăn về ngân sách. Ngược lại, thập kỷ qua lại chứng kiến sự nổi lên như một hiện tượng của Trung Quốc, trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, và sức mạnh quân sự.

Second, China's sovereignty claims and its growing assertiveness directly challenge what Washington has always regarded as its fundamental right - freedom of navigation in the South China Sea. This allows the US to carry out its diplomatic and military missions and fulfill its alliance commitments, including joint military exercises, search and rescue, and humanitarian assistance.

Thứ hai, yêu sách chủ quyền cùng với thái độ hung hăng của Trung Quốc thách thức trực tiếp cái mà Washington luôn coi là quyền căn bản của họ – tự do hàng hải trên Biển Đông. Điều đó cho phép Mỹ tiến hành các hoạt động ngoại giao và quân sự, và thực hiện cam kết với các đồng minh của mình, gồm những việc như tập trận chung, tìm kiếm và cứu hộ, cứu trợ nhân đạo.

However, while Beijing maintains that it does not challenge the principle of freedom of navigation, it does raise serious concerns over and publicly objects to the military intelligence gathering and surveillance close to China's naval installations. The Hainan Island incident in 2001 and the USS Impeccable incident of 2009 are reflection of this growing tension between China and the United States.

Tuy nhiên, mặc dù Bắc Kinh luôn nói rằng họ không chống lại nguyên tắc tự do hàng hải, họ lại gây rất nhiều lo ngại, và họ công khai phản đối việc giám sát và thu thập thông tin tình báo quân sự gần nơi lắp đặt các thiết bị hải quân của Trung Quốc. Sự cố trên đảo Hải Nam năm 2001 và vụ việc của tàu Impeccable của Mỹ năm 2009 phản ánh tình trạng căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Third, being the smaller and weaker parties to the South China Sea disputes, Vietnam and the Philippines, and indeed other ASEAN claimant states, naturally have strong incentives to get US support to counter China. In recent years, Hanoi and Manila have sought out and engaged Washington in ever expanding military, as well as diplomatic and economic ties, with defense exchanges, naval port calls and joint exercises, and purchases of US equipment. Manila in particular has sought to secure firm commitments from Washington with regard to the latter's obligation to the 1951 mutual defense treaty should the country get into military conflicts with China.

Thứ ba, là những nước nhược tiểu trong tranh chấp Biển Đông, Việt Nam và Philippines, mà thật ra là cả các nước ASEAN khác, đương nhiên có động cơ rất mạnh về việc phải được Mỹ ủng hộ để chống lại Trung Quốc. Trong những năm qua, Hà Nội và Manila đã tìm kiếm sự giúp đỡ bên ngoài và vận động Washington tham gia vào việc mở rộng hơn bao giờ hết quan hệ quân sự cũng như ngoại giao và kinh tế, với những trao đổi về quốc phòng, thăm cảng hải quân của nhau, tập trận chung, và mua sắm trang thiết bị của Mỹ. Đặc biệt, Manila đã tìm cách có được những cam kết vững chắc từ phía Washington, liên quan đến nghĩa vụ của Washington trong hiệp ước phòng thủ chung ký năm 1951, đề phòng trường hợp Philippines có xung đột quân sự với Trung Quốc.

This presents serious challenges for the Barack Obama administration - not least how to manage China's rise and not be entrapped in the territorial disputes in the South China Sea. The administration's "pivoting" or "rebalancing" to East Asia is clearly driven by its geo-strategic calculations against the changing power relations in the region. But this hedging does not preclude engaging China and certainly does not preordain direct confrontation between the world's two largest powers.

Điều này đem đến những thách thức nghiêm trọng cho chính quyền Barack Obama – việc quan trọng là phải làm sao kiểm soát được sự trỗi dậy của Trung Quốc và không bị sa vào tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Chính sách “chuyển hướng ưu tiên” hay “tái lập thế cân bằng” về Đông Á rõ ràng có động cơ xuất phát từ những tính toán địa chiến lược nhằm đương đầu với những thay đổi trong quan hệ giữa các siêu cường ở khu vực. Nhưng biện pháp tự bảo hiểm này không loại trừ việc kéo Trung Quốc vào và chắc chắn không định trước là sẽ có đối đầu trực tiếp giữa hai siêu cường lớn nhất thế giới.

Clearly, the right approach for Washington is to remain impartial while encouraging dialogue among the claimant parties. To strengthen its own case in maritime navigation, the US has to seriously consider its legal status within the framework of UNCLOS. But most importantly, Washington and Beijing need to discuss and/or implement existing and new bilateral mechanisms to manage and prevent future incidents at sea that could drag the two navies into open conflict. The next round of Strategic and Economic Dialogue may be the right platform to begin serious discussion.

Rõ ràng, cách tiếp cận đúng đắn cho Washington là duy trì thái độ không thiên vị (không đứng về bên nào), trong khi vẫn khuyến khích đối thoại giữa các nước có yêu sách chủ quyền. Để phát triển hoạt động hàng hải của chính mình, Mỹ phải xem xét một cách nghiêm túc địa vị pháp lý của họ trong khuôn khổ UNCLOS (hiện giờ Mỹ chưa tham gia UNCLOS – ND). Nhưng quan trọng nhất là, Washington và Bắc Kinh cần thảo luận và/hoặc thực thi những cơ chế song phương mới, hoặc cơ chế đang hiện hành, để kiểm soát và ngăn chặn các vụ việc xảy ra trên biển trong tương lai, vốn dĩ có thể kéo hải quân hai nước vào xung đột công khai. Vòng tiếp theo của Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế có thể sẽ là nền tảng tốt để đôi bên bắt đầu thảo luận nghiêm túc.

Proper management and eventual resolution of the territorial disputes in the South China Sea requires both bilateral (China vis-a-vis its key claimant states and US-China) and multilateral efforts (ASEAN Regional Forum, ASEAN plus one, plus three, East Asia Summit) for crisis management, conflict control, and confidence building. None is easy and requires strategic vision and diplomacy, which are in critical demands at a time of rising nationalism, leadership transition, and the growing importance of maritime resources for national economic development.

Quản lý một cách phù hợp và đưa ra giải pháp chung cuộc cho tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông đòi hỏi các nỗ lực cả song phương (Trung Quốc với các nước có yêu sách chủ quyền khác, Trung Quốc với Mỹ) và đa phương (Diễn đàn Khu vực ASEAN, ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á), để kiểm soát khủng hoảng, xung đột, và xây dựng niềm tin. Chẳng có việc gì dễ dàng, việc nào cũng đòi hỏi tầm ngoại giao và tầm nhìn chiến lược – là những yếu tố đang rất cần thiết trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc gia tăng, chuyển giao lãnh đạo (ở Trung Quốc), và các nguồn tài nguyên biển thì có tầm quan trọng ngày càng lớn đối với  công cuộc phát triển kinh tế quốc dân.

Dr Jingdong Yuan is Acting Director of the Center for International Security Studies and an Associate Professor at the Department of Government and International Relations, University of Sydney.

Tiến sỹ Jingdong Yuan là quyền giám đốc Trung tâm Nghiên cứu An ninh Quốc tế, Giáo sư tại khoa Chính quyền và Quan hệ Quốc tế, Đại học Sydney.



Translated by Thủy Trúc


http://www.atimes.com/atimes/China/ND28Ad01.html