MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – ĐỀ TÀI TỔNG HỢP

SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE WITH "A CORNER OF MINE"

CHIA SẺ TRI THỨC VÀ CẢI THIỆN NGÔN NGỮ VỚI "MỘT GÓC CỦA TÔI"

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOLE SEARCH

TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Right Click on the link, choose open link in New tab, type your text and listen to it read in English and several other languages – Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU




Wednesday, April 25, 2012

Narratives Of Humiliation: Chinese And Japanese Strategic Culture – Analysis Chuyện kể về nỗi ô nhục: Văn hóa chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản



Narratives Of Humiliation: Chinese And Japanese Strategic Culture – Analysis

Chuyện kể về nỗi ô nhục: Văn hóa chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản

Tom French
Tom French
April 23, 2012
23-4-2012


Whereas Japan has used a historical narrative of humiliation to become a pacifist state, China sees it as an opportunity to consolidate its global power status. These dynamics, however, might be about to change.

Trong khi Nhật Bản mượn những câu chuyện lịch sử về nỗi nhục để trở thành một nhà nước nhu hòa, thì Trung Quốc coi đó là cơ hội để củng cố địa vị siêu cường quốc tế của họ. Tuy nhiên, những động cơ này có lẽ sắp thay đổi.

In our introductory podcast, we outlined how the concept of strategic culture has come under heavy criticism in recent years. A host of academics, as well as defense and security professionals reject the theory as either anachronistic, or simply inaccurate in describing the behavior of states.
Trong bài giới thiệu, chúng tôi đã bàn sơ qua về chuyện khái niệm văn hóa chiến lược đã bị phê phán mạnh mẽ trong những năm gần đây như thế nào. Một số lớn học giả, cũng như các chuyên gia về an ninh quốc phòng, đã bác bỏ lý thuyết này, coi nó là lỗi thời, hoặc chỉ đơn giản là không chính xác trong việc mô tả hành vi của các nhà nước.

Indeed, Northeast Asia has traditionally been a challenging region within which to apply theories of strategic culture. In a region punctuated by large state bureaucracies or competing factions within a single party structure, it inevitably becomes a challenge to discern a cohesive strategic culture. And when dealing with organizations as opaque as that of the leadership of the People’s Republic of China (PRC) and the Japanese bureaucracy a number of other issues arise. For example, are the strategic cultures of both states passed from generation to generation? And how important are domestic influences on both states’ strategic cultures?

Quả thật, Đông Bắc Á vốn có truyền thống là một khu vực đầy khó khăn cho việc áp dụng các lý thuyết về văn hóa chiến lược. Ở một nơi có những bộ máy nhà nước quan liêu, hoặc những phe phái kình chống lẫn nhau trong một cấu trúc độc đảng, thì đúng là thách thức không tránh khỏi nếu ta muốn nhận thức về một văn hóa chiến lược có tính gắn kết. Và khi bàn đến những tổ chức kém minh bạch như ban lãnh đạo của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) và bộ máy nhà nước Nhật Bản, thì một loạt vấn đề khác nảy sinh. Chẳng hạn, liệu văn hóa chiến lược của cả hai nhà nước này có được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác không? Và ảnh hưởng trong nước lên văn hóa chiến lược của cả hai nhà nước này có tầm quan trọng tới mức nào?

The Rise of the ‘Middle Kingdom’

Sự trỗi dậy của “Vương quốc Trung tâm”

While the classic strategic theories of Sun Tzu continue to influence Beijing’s defense and foreign policies, China also selects events from history to inform its contemporary strategic culture. The official educational curriculum, for example, makes virtually no reference to domestically created calamities such as the ‘Great Leap Forward’ or Cultural Revolution, but instead focuses on the so called ‘century of humiliation’ China suffered in the 19th and early 20th century at the hands of the West and Japan. Accordingly, the ‘century of humiliation’ narrative stirs up a chauvinistic form of nationalism against foreign powers in general, and Japan in particular. The narrative also provides a useful ‘safety valve’ through which the Communist Party of China (CPC) bolsters its support and diffuses domestic tensions by evoking longstanding disputes with Japan. Emotive issues include wartime sexual slavery and ownership of the disputed Senkaku (Diaoyu) Islands in the East China Sea.

Mặc dù các lý thuyết chiến lược kinh điển của Tôn Tử vẫn tiếp tục có ảnh hưởng tới chính sách ngoại giao và quốc phòng của Bắc Kinh, nhưng Trung Quốc cũng lọc ra từ lịch sử một số sự kiện, để cho thấy văn hóa chiến lược đương đại của họ. Chẳng hạn, các giáo trình chính thức gần như không đả động gì tới những tai họa do chính trong nước tạo ra như “Đại nhảy vọt” hay Cách mạng Văn hóa. Thay vì thế, chúng tập trung nói về cái gọi là “thế kỷ ô nhục” mà Trung Quốc phải chịu đựng, trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, dưới tay phương Tây và Nhật Bản. Từ đó, câu chuyện “thế kỷ ô nhục” gợi nên một hình thức dân tộc chủ nghĩa có màu sắc sô vanh (chauvinistic, nghĩa là “tư tưởng nước lớn” – ND) chống lại các thế lực nước ngoài nói chung và Nhật Bản nói riêng. Câu chuyện cũng tạo ra một cái “van an toàn” hữu dụng, để qua đó Đảng Cộng sản Trung Quốc nuôi dưỡng sự ủng hộ dành cho họ và khuếch tán bớt những căng thẳng trong nước bằng cách gợi cho người dân nghĩ đến những tranh chấp kéo dài với Nhật Bản. Các vấn đề đánh vào tình cảm khác còn bao gồm cả nạn nô lệ tình dục thời chiến, và quyền sở hữu quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông.

The narrative of ‘national humiliation’ also provides the CPC with the opportunity to portray itself as the only nationalist group that was able to force the Japanese and Western imperialists from China. Yet issues of ‘national humiliation’ also underscore the major prestige projects that China conducts, such as its space program and naval ambitions. In demonstrating the CPC’s success in restoring Chinese pride and overtaking some of the former colonial powers, the leadership re-enforces its legitimacy and continues to distract the population’s attention from a host of domestic concerns.


Kể chuyện “mối ô nhục quốc gia” còn tạo cho Đảng Cộng sản Trung Quốc cơ hội tự họa mình như là lực lượng yêu nước duy nhất có khả năng đánh đuổi đế quốc Nhật Bản và phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, vấn đề “mối ô nhục quốc gia” cũng cho thấy rõ những dự án lớn nhằm xây dựng hình ảnh của Trung Quốc, như chương trình không gian và tham vọng hải quân của họ. Bằng cách trưng bày thành công của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc phục hồi lại niềm tự hào xưa và đuổi kịp một số cường quốc thực dân cũ, lãnh đạo Trung Quốc sẽ tái củng cố được tính chính đáng của họ và tiếp tục thu hút sự chú ý của công chúng ra khỏi các mối quan tâm trong nước.

China’s contemporary strategic culture also recalls elements of the Sinocentric world view held by the leaders of the ‘middle kingdom’ until the early 20th century. In particular, the system of tributary supplication of neighboring states to the Chinese Emperor plays a role in the thinking of the CPC’s leadership. This allows Beijing to make concessions to states that pay proper respects to China and acknowledge its re-emerging aspirations for regional hegemony. Conversely, those governments that are unwilling to accept the emergence of China to great power status attract the particular ire of the CPC.

Văn hóa chiến lược hiện thời của Trung Quốc cũng gợi lại những khía cạnh trong quan điểm thế giới lấy Trung Quốc làm trung tâm – quan điểm của các vua chúa của “trung vương quốc” cho mãi tới đầu thế kỷ 20. Đặc biệt, chế độ triều cống của các nước láng giềng với Hoàng đế Trung Hoa xưa có vai trò quan trọng trong tư duy của lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều ấy cho phép Bắc Kinh nhượng bộ ít nhiều những nước có sự tôn kính thích hợp dành cho họ và công nhận cái nguyện vọng trở thành bá quyền khu vực lần nữa của Trung Hoa. Ngược lại, nước nào không chịu chấp nhận sự trỗi dậy, vươn tới địa vị siêu cường của Trung Quốc, thì sẽ hứng chịu cơn giận đặc biệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

When combined with the narrative of national humiliation, Beijing may become less likely to make further concessions on issues such as territorial disputes unless the opposing claimant is willing to accept the fact that China is a dominant power. As a result, China makes few compromises or concessions over the hotly-disputed Paracel and Spratly Islands and the Indo-Chinese border. Indeed, without initial offers of concessions by the rival claimants, and the all-important symbolic recognition of China’s pre-eminence, it seems that these disputes will remain intractable for the foreseeable future.

Kết hợp chuyện này với những câu chuyện về mối ô nhục quốc gia, sẽ đi đến tình trạng là Bắc Kinh ít có khả năng nhượng bộ xa hơn về những vấn đề như tranh chấp chủ quyền, chỉ trừ phi đối phương chịu công nhận một thực tế là Trung Quốc là siêu cường thống trị. Kết quả là, Trung Quốc hầu như không thỏa hiệp, không nhượng bộ, về Hoàng Sa và Trường Sa – hai quần đảo gây tranh chấp nóng bỏng, và về biên giới Ấn Độ-Trung Quốc. Thật vậy, nếu như các nước đối thủ không chịu nhượng bộ trước, không công nhận sức mạnh thống lĩnh của Trung Quốc trước – một sự công nhận có tính biểu tượng, rất đỗi quan trọng – thì có vẻ như các tranh chấp sẽ vẫn rất khó giải quyết trong tương lai trước mắt. Phản ứng, thích nghi, hay là chủ động thực hiện trước đây?

Reactive, Adaptive or Proactive?

Phản ứng, thích nghi hay chủ động?
In sharp contrast to China, Japan’s historical strategic culture was much more aggressive. As one of the colonial powers that wrought the ‘century of humiliation’ upon China, Japan also brought Korea and large parts of Southeast Asia under its rule before its eventual collapse in 1945. As a result of its defeat by the Allied powers, Japan’s armed forces were disbanded and a concerted effort was made to eliminate the influence of the military in Japanese society and politics. This policy, combined with the lasting memory of the ruin the war brought upon the country, has meant that Japan’s population remains largely pacifist in its appreciation of international relations and security. Indeed, article nine of Japan’s post-war constitution rejects the use of military force to resolve disputes.

Đối lập sâu sắc với Trung Quốc, văn hóa chiến lược của Nhật Bản trong lịch sử hung hăng hơn nhiều. Là một trong những cường quốc thực dân từng áp đặt cái “thế kỷ ô nhục” lên Trung Quốc, Nhật Bản còn cai trị cả Hàn Quốc và phần lớn Đông Nam Á cho tới khi họ sụp đổ vào năm 1945. Hậu quả của thất bại trước quân Đồng Minh là, lực lượng vũ trang Nhật Bản bị giải giáp, và một nỗ lực chung được tiến hành nhằm tiêu diệt ảnh hưởng của quân đội trong xã hội và nền chính trị Nhật Bản. Chính sách này, đi cùng với ký ức dai dẳng về sự tàn phá mà chiến tranh gây ra cho đất nước, đã khiến toàn dân Nhật Bản nhìn chung là những người ôn hòa, tôn trọng quan hệ và an ninh quốc tế. Quả thật, điều 9 trong hiến pháp Nhật thời hậu chiến gạt bỏ việc sử dụng quân đội để giải quyết tranh chấp.

Yet despite the post war reconfiguration of Japan’s military and society, some elements of its previous strategic culture continue to survive. Japan remains an island nation that is still unable to feed its population without importing food and other supplies. Tokyo also needs to continue safeguarding its access to overseas markets and sources of raw materials and energy to maintain its export-focused economy. Accordingly, Japan remains, as it was before 1945, a principally maritime power whose access to markets and raw materials is essential for its survival.

Tuy nhiên bất chấp sự tái cấu trúc quân đội và xã hội Nhật Bản sau chiến tranh, một số yếu tố của thứ văn hóa chiến lược trước kia vẫn tiếp tục tồn tại. Nhật Bản vẫn là một quốc đảo không có khả năng nuôi dân mình nếu không nhập khẩu lương thực thực phẩm. Tokyo cũng vẫn cần bảo vệ đường ra các thị trường nước ngoài, đường tiếp cận các nguồn nguyên liệu thô và nhiên liệu để duy trì nền kinh tế hướng vào xuất khẩu của họ. Do đó, Nhật Bản vẫn tiếp tục là một cường quốc mạnh về hàng hải, giống như thời trước năm 1945, một cường quốc mà thị trường nước ngoài và nguồn nguyên liệu thô là sống còn cho sự tồn tại.

With an Empire and military akin to that it held before 1945 out of the question, the post-war Japanese state needed to adapt its behavior to meet the same security challenges in a new way. This new approach, often characterized as the Yoshida doctrine, after the Prime Minister who first articulated the strategy, relied on economic development and trade to revive the Japanese economy while marginalizing military and diplomatic initiatives. With assistance from the United States, Japan pursued neo-mercantilist trade policies, protecting its domestic market while aggressively expanding the overseas role of Japanese corporations. In Southeast Asia and Africa this often took the form of large amounts of international aid, most of which formed an indirect subsidy for Japanese companies, often in the form of major infrastructure projects contracts, undertaken in return for access to the recipient country’s markets and raw materials.

Xây dựng lại được một đế chế và quân đội tương tự như cái họ từng có trước năm 1945 là điều không thể làm được nữa. Nước Nhật Bản sau chiến tranh cần lối hành xử phù hợp, đáp ứng được các thách thức an ninh cũ theo một cách mới. Cách mới đó, thường được gọi là học thuyết Yoshida (theo tên vị Thủ tướng đầu tiên đưa ra chiến lược này), lấy thương mại và phát triển kinh tế làm nền tảng để vực dậy nền kinh tế Nhật, trong khi đó, đặt các sáng kiến ngoại giao và quân sự xuống hàng thứ yếu. Với sự trợ giúp từ Mỹ, Nhật theo đuổi chính sách mậu dịch tân trọng thương, bảo vệ thị trường trong nước đồng thời mở rộng một cách dữ dội chỗ đứng nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản. Ở Đông Nam Á và châu Phi, việc này thường diễn ra dưới hình thức viện trợ quốc tế số lượng lớn, phần lớn viện trợ đó là một cách bao cấp gián tiếp cho các công ty Nhật, thường là trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng lớn. Các dự án này được tiến hành, đổi lại, Nhật được tiếp cận với thị trường và nguồn nguyên liệu thô của nước nhận viện trợ.

With diplomacy and conventional military power taking a backseat to economic considerations, many historians and political scientists characterize Japan’s post-war international relations outside the economic sphere as being ‘reactive’ or ‘ adaptive’. But whether Japan can continue to be an under-represented, passive player on the international political stage when faced with a ‘rising’ China is one of the most significant questions facing Tokyo and the wider region today. For the time being, trade and development are likely to remain the central pillars of Japan’s international relations. But as memories of World War II continue to fade, Japan’s regional and global role may also begin to encompass more noticeable military and diplomatic dimensions. Indeed, the increasing global deployment of Japan’s Self Defense Forces in support of peacekeeping and humanitarian operations suggests that Tokyo is already making the strategic realignment.

Với việc ngoại giao và sức mạnh quân sự quy ước ở vị trí thứ yếu so với kinh tế, nhiều sử gia và nhà nghiên cứu chính trị đánh giá quan hệ quốc tế của Nhật Bản sau chiến tranh, bên ngoài lĩnh vực kinh tế, là mang tính chất “phản ứng” hay “thích nghi”. Nhưng liệu Nhật Bản có thể tiếp tục đóng vai trò một nhân vật thụ động, được mô tả không đúng mức trên sân khấu chính trị quốc tế khi đối diện với một nước Trung Hoa “đang trỗi dậy”, hay không? Đó là một trong những câu hỏi quan trọng nhất đặt ra cho Tokyo và khu vực ngày nay. Hiện tại, thương mại và phát triển chắc chắn là hai cột trụ chính trong quan hệ ngoại giao của Nhật Bản. Nhưng khi mà ký ức về Thế chiến II tiếp tục lu mờ dần, vai trò trong khu vực và toàn cầu của Nhật Bản có lẽ đang bắt đầu có chiều quân sự và ngoại giao một cách rõ nét hơn. Thật vậy, việc triển khai ngày một mạnh mẽ trên toàn thế giới Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, để ủng hộ các chương trình nhân đạo và gìn giữ hòa bình, cho thấy Tokyo đã sẵn sàng tiến hành tổ chức lại chiến lược của họ.

Looking to the Future Through the Lenses of the Past?

Nhìn về tương lai qua đôi mắt quá khứ?

As demonstrated above, elements of the concept of strategic culture have something to offer us in furthering our understanding of the contemporary defense and foreign policies of China and Japan. Both countries evoke narratives of national humiliation to underscore their international relations. Whereas China uses ‘national humiliation’ to justify its emergence as a major global power, Japan utilized this narrative to reconfigure its foreign policies along pacifist lines. In the latter part of the 20th century this resulted in a handing down of strategic cultures to successive ruling elites. But where China’s and Japan’s respective strategic cultures diverge is over the issue of nationalism. As China has continued to attain great power status it has used nationalist sentiment to garner popular support for its new-found confidence within the international system. Japan, on the other hand, has shied away from the nationalist rhetoric of its imperial past and instead focused upon sound economic ties. But with China resorting to increasingly bellicose rhetoric regarding Japan, it may well be that Tokyo’s strategic culture may undergo fundamental changes in the not-too-distant future. This will inevitably have serious implications for the security dynamics of North East Asia.

Như đã nói trên, các yếu tố trong khái niệm văn hóa chiến lược cho chúng ta hiểu nhiều điều hơn về chính sách đối ngoại và quốc phòng hiện nay của Trung Quốc và Nhật Bản. Cả hai nước đều tận dụng những câu chuyện kể về nỗi nhục của quốc gia để làm nền cho quan hệ ngoại giao của mình. Trong khi Trung Quốc sử dụng “mối nhục quốc gia” để bao biện cho sự trỗi dậy làm siêu cường toàn cầu của họ, thì Nhật Bản dùng những câu chuyện đó để tái định hình chính sách ngoại giao theo đường lối ôn hòa. Trong nửa sau của thế kỷ 20, thực tế này đưa đến việc chuyển giao văn hóa chiến lược cho những nhóm tinh hoa cầm quyền nối tiếp nhau. Nhưng văn hóa chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản bắt đầu phân biệt, chia tách với nhau từ điểm nào thì là xoay quanh vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Trong quá trình Trung Quốc tiếp tục giành địa vị siêu cường, họ sử dụng tình cảm dân tộc chủ nghĩa để huy động sự ủng hộ của dân chúng cho niềm tin mới tạo lập được trong hệ thống toàn cầu. Nhật Bản, mặt khác, lảng tránh những luận điệu dân tộc chủ nghĩa về quá khứ đế quốc của họ, thay vì thế họ tập trung vào các mối quan hệ kinh tế vững mạnh. Nhưng với việc Trung Hoa dùng ngôn từ ngày càng thù địch khi nói về Nhật Bản, rất có thể văn hóa chiến lược của Nhật Bản sẽ trải qua những thay đổi căn bản trong tương lai không xa. Điều đó tất yếu sẽ có những tác động nghiêm trọng tới các động lực về an ninh của Đông Bắc Á.

Thomas French is an Associate Professor in the College of International Relations, Ritsumeikan University, Kyoto. His research interests include US-Japan relations, Northeast Asian security and the Japanese Self Defence Forces.

Tác giả: Ông Thomas French là giáo sư trường cao đẳng Quan hệ Quốc tế, Đại học Ritsumeikan, Kyoto. Ông quan tâm nghiên cứu về quan hệ Mỹ-Nhật, an ninh Đông Bắc Á và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản.


Translated by Đan Thanh


http://www.eurasiareview.com/23042012-narratives-of-humiliation-chinese-and-japanese-strategic-culture-analysis/#.T5VNEGMq8vs.email

China's Skewed View of South China Sea History Quan điểm lệch lạc về lịch sử ở biển Đông





China's Skewed View of South China Sea History
Quan điểm lệch lạc về lịch sử ở biển Đông

Zheng He
Zheng He
Asia Sentinel
Monday, 23 April 2012

Asia Sentinel
23-04-2012

Lots of other mariners were there first

The dispute between China and the Philippines over ownership of the rocks and reefs variously known as Scarborough Shoal/Panatag Shoal/Huangyan Island is at one level very petty. But at another it demonstrates what can best be described blatantly racist bravado on the part of Beijing.

Nhiều thủy thủ đã có mặt ở đó đầu tiên

Tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines về quyền sở hữu các bãi đá và rạn san hô được biết qua các tên gọi khác nhau như bãi cạn Scarborough, Panatag Shoal, Hoàng Nham Đảo, chỉ ở mức lặt vặt. Nhưng mặt khác, nó thể hiện điều có thể được mô tả đúng nhất là sự khoa trương ồn ào, thiếu công minh, rõ ràng ở phía Bắc Kinh.

Manila would do well to learn up some of its own pre-Spanish history so as to better expose the arrogance of a nation which regards other, non-Han people and their histories as non-existent or irrelevant. Han chauvinism is writ large in this tale, which should be a reminder to the Malay peoples whose lands border more than half the South China Sea – itself a name created by westerners and does no more than describe a sea south of China – that they may yet go the way of the Tibetans, Uighurs and Mongols and find themselves oppressed minorities in a Han empire.

Manila sẽ làm tốt (trong việc đấu lý với Trung Quốc) khi biết thêm một phần lịch sử của họ bị Tây Ban Nha chiếm đóng trước đây, cũng như cho mọi người thấy rõ hơn sự kiêu ngạo của một nước đối với một nước khác, không phải người Hán và lịch sử của họ không tồn tại hoặc không liên quan. Chủ nghĩa Sô vanh đại Hán đã lộ rõ trong câu chuyện này, điều cần nhắc nhở các dân tộc Malay, những người có biên giới đất đai hơn một nửa trên biển Nam Trung Hoa, chính tên này do người phương Tây đặt và không có gì khác hơn là mô tả vùng biển phía nam Trung Quốc, rằng họ có thể đi theo con đường của những người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, người Mông Cổ, và nhận ra chính họ bị áp bức như các dân tộc thiểu số trong một đế chế đại Hán.

Beijing’s aggressive stance is doubly unfortunate given the positive role that individual Chinese migrants and their descendants have played in the Philippines for several centuries. When China was closed, its entrepreneurial coastal people found opportunity in the Malay world. Is that era of fruitful interaction to be ended as an open China becomes a threatening China?

Lập trường hiếu chiến của Bắc Kinh là rất tệ, đưa ra màn quả quyết là những người di cư Trung Quốc và con cháu của họ đã ăn ở trên vùng đất Philippines nhiều thế kỷ. Khi Trung Quốc khép kín, những người làm ăn ven biển tìm thấy cơ hội trong thế giới Malay. Phải chăng thời kỳ của sự ảnh hưởng qua lại mà các bên cùng có lợi đã kết thúc khi Trung Quốc mở cửa, trở thành một nước Trung Quốc đe dọa?

The Chinese claim to Scarborough Shoal (to use a relatively neutral word derived from a ship which sank there) is ridiculous on a whole number of grounds yet it persists in trying to enforce it in the correct belief that the Philippines is poor and weak and that ASEAN solidarity is non-existent – for which Malaysia is particularly to blame.


Trung Quốc đòi chủ quyền ở bãi cạn Scarborough (sử dụng một từ tương đối trung lập, có nguồn gốc từ một chiếc tàu bị chìm ở đó) là hoàn toàn vô lý với nhiều lý do, mặc dù họ vẫn kiên trì trong việc cố gắng thực thi điều đó với niềm tin đúng đắn rằng Philippines là nước nghèo và yếu, và ASEAN không đoàn kết – đặc biệt Malaysia là nước để đổ lỗi cho.

China claims to have “discovered” the island, included it in its territory and exercised control over it. The basis for this claim is simply a map dating from the time when China was under the thumb of a foreign dynasty – that of the Mongol Kublai Khan whose capital was in modern Mongolia. The fact that it is on a map is anyway meaningless in terms of ownership rights – though China often claims that the mere presence of Chinese traders in a place or the payment of taxes to be allowed to trade with China amounted to “tribute” and acceptance of Beijing’s hegemony.

Trung Quốc tuyên bố đã “phát hiện” hòn đảo nằm trong lãnh thổ của họ và thực hiện quyền kiểm soát nó. Cơ sở cho sự tuyên bố này chỉ đơn giản là một bản đồ có niên đại từ thời Trung Quốc nằm trong tay của một triều đại nước ngoài – thời Hốt Tất Liệt người Mông Cổ, có thủ đô ở trong nước Mông Cổ hiện đại. Thực tế là, hòn đảo nằm trên bản đồ không có ý nghĩa nào cả về quyền sở hữu, mặc dù Trung Quốc thường tuyên bố rằng chỉ có sự hiện diện của các thương gia Trung Quốc tại một nơi hoặc thanh toán các khoản thuế để được phép làm ăn với Trung Quốc, có nghĩa là “cống nạp” và được nhận sự che chở của Bắc Kinh.

The fact that China stated a claim to Scarborough Shoal in 1932 and again in 1947 is neither here nor there. It is even more outrageous than the actions of British seafarers in the 19th century going around the world planting the British flag and claiming it as theirs. In the case of Scarborough there was not even a planting of a flag and setting up of a permanent settlement. The fact is that Scarborough is uninhabitable and thus fails qualify as an island which would support a claim to surrounding sea.


Thực tế là việc Trung Quốc tuyên bố đòi chủ quyền bãi cạn Scarborough năm 1932 và một lần nữa vào năm 1947 đều không quan trọng. Thậm chí Trung Quốc còn kỳ quặc hơn so với hành động của những người đi biển người Anh trong thế kỷ 19, đi khắp thế giới cắm cờ Anh và tuyên bố đó là vùng đất của họ. Trường hợp Scarborough, không có cắm cờ và thiết lập một khu định cư vĩnh viễn. Thật ra Scarborough là nơi không thể sinh sống được và do đó không đủ điều kiện để trở thành một hòn đảo, điều kiện để đòi chủ quyền ở vùng biển xung quanh nó.

China also makes the extraordinary statement that its stated claims predate the UN Convention on the Law of the Sea it is not bound by it. This must surely be one of the most self-serving pieces of nonsense that even Communist-ruled China has produced. It is in the old tradition of Imperial China that all other nations are inferior and thus it cannot submit to any outside or independent questioning of its claims.


Trung Quốc cũng đưa ra một tuyên bố bất thường là họ đưa ra yêu sách đòi chủ quyền trước khi có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cho nên yêu sách của họ không bị công ước này ràng buộc. Đây chắc chắn là một trong những điều phục vụ lợi ích riêng của họ vô lý nhất mà đất nước Trung Quốc dưới sự cai trị của cộng sản đã từng tạo ra. Đó là thời Đế quốc Trung Hoa xa xưa, cho rằng tất cả các nước khác thấp kém hơn và do đó họ (Trung Quốc) không thể gửi bất kỳ yêu sách đòi chủ quyền nào ra bên ngoài hoặc không thể có sự chất vấn độc lập nào về tuyên bố của họ.

Scarborough lies some 135 nautical miles from the coast of Luzon and thus well within the Philippines 200-mile Exclusive Economic Zone within which only it has the right to fishing and to seabed resources. It is approximately 350 miles from the mainland of China and 300 miles from the tip of Taiwan.

Scarborough nằm cách bờ biển Luzon khoảng 135 hải lý và do đó cũng trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines, điều mà chỉ Philippines có quyền đánh cá và có quyền đối với các nguồn tài nguyên dưới đáy biển. Nó cách lục địa Trung Quốc khoảng 350 hải lý và cách Đài Loan 300 hải lý.


China’s reference to a 13th century map merely shows up the ignorance that accompanies the Han version of history, which does not bother with the deeds of “lesser” peoples. China was actually a very late comer to overseas navigation. For more than a thousand years before its own ships were venturing beyond coastal waters, China’s trade with and travelers to the Malay lands, India, Arabia and the west were being carried on foreign ships – Malay, Indian, Arab. When the Chinese Buddhist pilgrim Fa Hsien visited Sri Lanka in the 4th Century he travelled in Malay vessels from China to Sumatra and then on to Sri Lanka. The ancestors of today’s Filipinos were trading with the kingdom of Funan, based on the Mekong delta, around or before the year 300 of the present era. About the same time seafarers from Indonesia were crossing the Indian ocean to settle Madagascar – where the language and 50 percent of the gene pool is of Malay origin – and probably have settlements on the African coast.

Việc tham chiếu một bản đồ có từ thế kỷ 13 của Trung Quốc chỉ đơn giản cho thấy sự thiếu hiểu biết, kèm theo phiên bản của lịch sử Đại Hán, chẳng cần quan tâm tới các văn bản của những nước “thấp kém hơn”. Thật ra Trung Quốc là nước gia nhập giao thông hàng hải nước ngoài rất muộn. Hơn một ngàn năm trước, khi những con tàu của họ đã mạo hiểm ra khơi, Trung Quốc làm ăn với và đi tới những vùng đất Malay, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây đã đi trên những con tàu nước ngoài – Mã Lai, Ấn Độ, Ả Rập. Khi Pháp Hiển, người khách hành hương Phật giáo Trung Quốc, đã đến thăm Sri Lanka thế kỷ thứ 4, ông ấy đã đi trên các con tàu Malay, từ Trung Quốc sang Sumatra và sau đó đến Sri Lanka. Tổ tiên của người Philippines hiện nay làm ăn với vương quốc Phù Nam, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, trong vòng hoặc hơn 300 năm trước. Về những người đi biển cùng thời, từ Indonesia đã vượt qua Ấn Độ Dương để định cư ở Madagascar – nơi ngôn ngữ và 50% số người có nguồn gốc Malay – và có thể có các khu định cư ở bờ biển châu Phi.

China loves to regale its own people and gullible westerners of the achievements of Zheng He and his huge “treasure ships” which sailed around Asia and across to Africa in the 15th century. But the main distinguishing feature of Zheng He’s voyages was the size of the vessels and numbers of soldiers they carried, enabling China to impose its will on some lesser territories. It accomplished nothing in navigational terms that other Asians had not done centuries before.

Trung Quốc thích làm vừa lòng những người dân của họ và những người phương Tây cả tin về những thành tựu của Trịnh Hòa và “những chiếc tàu quý báu” khổng lồ của ông ta đi vòng quanh châu Á, băng qua châu Phi trong thế kỷ 15. Nhưng đặc tính phân biệt chính về những chuyến hành trình của Trịnh Hoà là kích thước các con tàu và số lượng binh lính đi theo, cho phép Trung Quốc áp đặt ý chí của họ lên một số quốc gia thấp kém hơn. Về mặt hàng hải, họ chẳng đạt được thành tựu nào mà những người châu Á khác đã làm mấy thế kỷ trước.

Given the history of pre-Chinese trading and fishing it is simply absurd to claim that China discovered Scarborough Shoal, which lies so close to Luzon and close to sailing routes to southern Vietnam and beyond. The claim that only Chinese have traditionally fished in these waters is even more spurious. Until very recent times of rampant overfishing of the South China Sea there was no reason for Chinese to venture so far to find a good catch.


Với lịch sử đánh bắt cá và làm ăn của Trung Quốc trước đây, thật là vô lý để cho rằng Trung Quốc phát hiện ra bãi cạn Scarborough, nằm gần Luzon và gần các tuyến đường biển ở phía Nam Việt Nam. Tuyên bố rằng chỉ Trung Quốc có truyền thống đánh bắt cá ở vùng biển này là không đúng sự thật. Do thời gian gần đây có sự lạm dụng đánh bắt tràn lan trên biển Đông, trước đó không có lý do gì để Trung Quốc mạo hiểm mà đi quá xa để đánh bắt được nhiều cá.


In another effort to back its claim Beijing has resorted to a treaty between two western colonial powers who at the time were dividing up Asia without regard to any interests but their own. China’s Foreign Ministry cites the Treaty of Paris in 1898 which brought an end to the Spanish-American war and ceded to the US the Philippines – and Cuba and Guam.


Trong một nỗ lực khác để chứng minh các yêu sách của mình, Bắc Kinh đã phải viện đến một hiệp ước giữa hai cường quốc phương Tây có thuộc địa, hai cường quốc vào thời điểm đó đã phân chia châu Á mà không quan tâm đến bất kỳ lợi ích nào, ngoại trừ lợi ích riêng của họ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc trích dẫn Hiệp ước Paris năm 1898, hiệp ước đã kết thúc cuộc chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ và nhượng lại Philippines cho Hoa Kỳ – và Cuba và Guam.

The treaty referred to the “Philippine archipelago” but did not mention specific islands with that vast collection. It described a series of straight lines on maps which were clearly done to keep it simple and without regard to the actual geography.


Hiệp ước được gọi là “quần đảo Phi Luật Tân” nhưng không đề cập đến hòn đảo cụ thể nào với một sự tập hợp rộng lớn. Nó mô tả một loạt các đường thẳng trên bản đồ, rõ ràng là đã được làm cho đơn giản và không nói tới vị trí địa lý thực tế.

One of those lines ran northwards from 116E to 118E leaving the Scarborough Shoal, at 117.5E a few miles outside Philippine territory as defined by the treaty. But clearly the shoal is part of any normal definition of archipelago, not to mention its vast distance from any Chinese-inhabited island. That China has to cite a treaty in which Filipinos played no part is evidence of the bankruptcy of its claims which would be dismissed out of hand by any independent tribunal acting on the basis of the UN Law of the Sea Convention.

Một trong những đường này chạy về hướng bắc ở 116E tới 118E, trong đó có bãi cạn Scarborough ở vị trí 117.5E, bên ngoài lãnh thổ Philippines vài dặm theo quy định của hiệp ước. Nhưng rõ ràng bãi cạn này là một phần của bất kỳ định nghĩa bình thường nào về quần đảo, không đề cập tới khoảng cách quá xa từ bất kỳ hòn đảo có người ở nào của Trung Quốc. Rằng Trung Quốc đã trích dẫn một hiệp ước nào mà chẳng liên quan gì tới Philippines, đó là bằng chứng về sự phá sản các yêu sách của Trung Quốc, điều này sẽ bị gạt bỏ bởi bất kỳ tòa án độc lập nào, hoạt động trên cơ sở của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển.


But while other countries in the region – Indonesia, Malaysia, Singapore – have been willing to submit to third party judgments of conflicting claims, China believes it is bound by no international rules and will deal only with individual countries. Most obviously it has picked on the Philippines as the weakest of the four Southeast Asian countries facing China’s imperial designs.


Trong khi các nước khác trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Singapore sẵn sàng đệ trình sự việc cho bên thứ ba xét xử về các yêu sách mâu thuẫn, nhưng Trung Quốc tin rằng họ không bị các luật lệ quốc tế ràng buộc và sẽ chỉ đối phó với từng quốc gia một. Rõ ràng nhất là họ đã chọn Philippines, là nước yếu nhất trong bốn nước Đông Nam Á để đối mặt với những ý đồ đế quốc của Trung Quốc.


The Malay countries, meanwhile, seem hobbled in replying with details of their history to trump China. The Philippines has largely forgotten its pre-Spanish history, partly because the Spanish missionaries imposed use of Latin and Spanish in place of the old local scripts – scripts of whose existence most Filipinos are unaware.


Trong khi đó, các nước Malay dường như bị lúng túng trong việc đáp lại với các chi tiết lịch sử của họ để làm cho Trung Quốc hết đường cãi. Philippines phần lớn đã quên lịch sử của mình thời kỳ trước khi bị Tây Ban Nha chiếm, một phần là vì các nhà truyền giáo Tây Ban Nha đã áp đặt việc sử dụng tiếng Latin và tiếng Tây Ban Nha thay vì những văn bản ghi chép cũ, những bản văn mà sự tồn tại của nó hầu hết người Philippines không biết.


Indonesia and Malaysian both have problems addressing their pre-Islamic past, which to most historians were rather more glorious than their post-Hindu/Buddhist records of art, kingship and navigation. Malaysia worries that a strong stand against China’s South China Sea push will be bad for business, and local Chinese votes.


Cả hai nước Indonesia và Malaysia đều có vấn đề khi nói về quá khứ Hồi giáo trước đây của họ, điều mà đối với hầu hết các nhà sử học thì có nhiều vinh quang hơn so với các thành tích nghệ thuật Phật giáo/ hậu Hindu, vương quyền và ngành hàng hải của họ. Malaysia lo ngại rằng một lập trường cứng rắn chống lại Trung Quốc trên biển Đông sẽ có hại cho việc làm ăn và mất những lá phiếu bầu của người Trung Quốc địa phương.


But the Scarborough Shoal issue shows just how blatant China’s expansionism has become. It is time in particular for Malaysia and Indonesia to show some mettle and stand with the Philippines and Vietnam, the front line states in the Malay battle against Han hegemony.
Nhưng vấn đề bãi cạn Scarborough cho thấy chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc rõ ràng như thế nào. Đã đến lúc Malaysia và Indonesia thể hiện một số dũng khí và lập trường với Philippines và Việt Nam, những nước đứng đầu chiến tuyến trong cuộc chiến Malay chống lại bá quyền Đại Hán.


Translated by Dương Lệ Chi


http://www.asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=4444&Itemid=206

怀疑成大陆人生活方式 HOÀI NGHI ĐÃ THÀNH LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐẠI LỤC



强拆引发的社会矛盾直接导致中共政府公信力下降。(网络图片)
Cưỡng chế phá nhà gây ra các mâu thuẫn xã hội trực tiếp dẫn đến suy giảm độ tin cậy vào Chính phủ Trung Quốc. (Pictures Web)
怀疑成大陆人生活方式
HOÀI NGHI ĐÃ THÀNH LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐẠI LỤC

政府说什么都不信

CHÍNH PHỦ NÓI GÌ CŨNG KHÔNG TIN

正体版】 【打印机版】
【字号】大   
【大纪元20110120讯】
(大纪元记者方晓报导)
Phương Hiểu
(PV Epochtimes)
20-01-2011

目前,中国大陆政府和媒体的公信力受到了前所未有的挑战。民众一边倒的怀疑政府的说法、不再相信政府,怀疑一切成为整个人群的集体意识。

Mâu thuẫn xã hội do cưỡng chế phá dỡ gây ra đã trực tiếp dẫn đến sụt giảm độ tín nhiệm của chính phủ cộng sản Trung Quốc
Hiện nay, độ tín nhiệm của chính phủ và giới truyền thông Trung Quốc đại lục đã phải chịu sự thách thức chưa từng thấy. Những lời lẽ hoài nghi chính phủ, không còn tin vào chính phủ, hoài nghi tất cả nghiêng về phía dân chúng đã trở thành ý thức tập thể của toàn bộ mọi nhóm người. 

近日,中共喉舌媒体也在一篇报导中承认,怀疑一切已成为大陆人的生活方式。钱云会案等种种网络热点,正在成为政府和新闻媒体公信力的一面镜子,政府说什么都加以怀疑,这已经成为多数人的习惯

Mới đây, báo chí phát ngôn của Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã thừa nhận trong một bài viết rằng, hoài nghi tất cả đã thành lối sống của người dân đại lục. Điểm nóng trên các trang mạng như vụ Tiền Vân Hội… đang trở thành một chiếc gương phản chiếu độ tín nhiệm vào chính phủ và báo chí truyền thông, “chính phủ nói gì cũng tỏ ra hoài nghi, điều này đã trở thành thói quen của số đông người”.      
广州律师唐荆陵在接受大纪元记者采访时表示:大陆民众对中共的不信任不是现在才开始的,实际上几年前就存在着对它深刻的不信任。只是到今天人们的表达空间更大,特别是网民信息来源相对比较多,也敢把对它的不信任表达出来了。

Vị luật sư Quảng Châu Đường Kinh Lăng khi được phóng viên Epochtimes phỏng vấn đã bày tỏ:  Sự mất tín nhiệm của dân chúng đại lục đối với Đảng cộng sản Trung Quốc không phải bây giờ mới bắt đầu, mà thực tế là đã tồn tại sự mất tín nhiệm sâu sắc đối với Đảng từ mấy năm trước. Chỉ có điều không gian bày tỏ của mọi người ngày hôm nay lớn hơn, nhất là nguồn tin từ cư dân mạng khá nhiều, họ đã dám bày tỏ cả sự mất tín nhiệm đối với Đảng. 


政府说什么都加以怀疑

华网的报导称,今天,不相信的情绪,已然渗透进多数大陆人的生活:吃饭不相信食品的安全性,出行不相信铁路行业解决买票难的能力和诚意,上医院不相信医生没有给自己多开药,打官司不相信司法会保持公正……怀疑一切成为整个人群的集体意识。

Chính phủ nói gì cũng tỏ ra hoài nghi

Tin từ xinhuanet.com cho biết, ngày nay, tâm trạng “không tin” đã thẩm thấu vào đời sống của đại đa số dân đại lục: Ăn uống không tin vào độ an toàn về thực phẩm, đi lại không tin vào năng lực và thành ý của ngành đường sắt khi giải quyết nạn khó mua vé, vào bệnh viện không tin là bác sĩ sẽ không kê đơn cho mình nhiều thuốc, kiện tụng không tin là tư pháp sẽ bảo đảm sự công bằng… Hoài nghi tất cả đã trở thành ý thức tập thể của toàn bộ mọi nhóm người. 

们曾经对一切都充满信任,但现在什么都不信,不相信媒体的报导,不相信身边人,尤其是政府说什么都加以怀疑,这已经成为多数人的习惯

Người ta từng tràn đầy lòng tin vào tất cả, nhưng hiện giờ thì cái gì cũng không tin, không tin sự đưa tin của truyền thông, không tin người xung quanh, nhất là “chính phủ nói gì cũng tỏ ra hoài nghi, điều này đã trở thành thói quen của số đông người”.      

如浙江乐清村民钱云会被重型卡车压死一案,乐清警方第一时间发布微博澄清案情,但数万条跟帖绝大部份都抨击警方撒谎,人们不相信钱云会之死的背后没有打击报复。美国麻省理工学院教授黄亚生表示,不管钱云会之死的真相如何,考虑到舆论的偏向,这难道不正揭示了一种危机?

Như vụ anh nông dân Tiền Vân Hội người Nhạc Thanh, Chiết Giang bị xe trọng tải lớn đâm chết, công an Nhạc Thanh cho đăng  tin để làm rõ vụ việc ngay từ giờ đầu lên các trang tiểu blog, nhưng phần lớn trong số hàng vạn bài chuyển tiếp đều công kích là cảnh sát nói dối, người ta không tin đằng sau cái chết của Tiền Vân Hội lại không có đòn trả đũa. Giáo sư Hoàng Nghiệp Sinh ở Viện Công nghệ Massachusetts Mỹ nói, bất kể là sự thực về cái chết của Tiền Vân Hội ra sao, khi suy ngẫm về thiên hướng của dư luận, chẳng phải là đã phơi bày một mối nguy cơ đó sao?

师:民众深刻不信政府由来已久 今天更敢表达

Luật sư: Dân chúng mất lòng tin sâu sắc với chính phủ có nguyên do từ lâu, ngày nay lại càng dám bộc lộ hơn

近日,广州律师唐荆陵就大陆老百姓对中共政府的不信任问题,对大纪元记者表达了自己的观点,他表示:当今老百姓不信政府是一个普遍的现象,新华网的报导只是指出一个问题,但没有提出解决方案。民间对中共政府的不信任不是从现在才有的,官民冲突早就存在了,大约从2004年爆发的群体事件时就开始不信政府了,民间把老百姓叫成老不信了。那时开始,大街上如果发生了一件事,本来与这件事无关的群众,也会一起发泄,那时这种情绪已经表露出来了。

Mới đây, vị luật sư Quảng Châu Đường Kinh Lăng đã bày tỏ quan điểm của mình với phóng viên Epochtimes về vấn đề người dân đại lục mất tín nhiệm đối với chính phủ cộng sản Trung Quốc, ông nói: Ngày nay, chuyện người dân không tin chính phủ đã là một hiện tượng phổ biến, tin của xinhuanet.com chỉ mới nêu ra một vấn đề, nhưng lại chưa đề xuất phương án giải quyết. Sự mất tín nhiệm của dân chúng đối với chính phủ cộng sản Trung Quốc không phải đến nay mới có, mà mối xung đột quan-dân đã tồn tại từ lâu, khoảng từ khi sự cố đám đông nổ ra năm 2004 đã bắt đầu không tin chính phủ rồi, trong dân gian người ta gọi “lão bách tính”[i] là “lão bất tín”[ii] . Kể từ khi ấy, nếu trên đường có xảy ra chuyện gì, những người vốn không có liên quan tới vụ việc cũng sẽ thổ lộ cùng nhau, kiểu tâm trạng này đã được bộc lộ từ đó.

老百姓一直存在很深刻的对政府不信任,到了今天,这种不信任有了表达的空间,民众也敢于和愿意把这种不信任说出来,真正的区别在这里。以前也不是信任,是害怕,不信任不行,比如毛泽东时代,老百姓敢说不信任它的话,就把我干掉了,所以大家是装的,现在没必要装了,现在信息开放了,能够进行比较了。

“Người dân luôn tỏ sự mất tín nhiệm vào chính phủ rất sâu sắc, tới hôm nay, sự mất tín nhiệm ấy đã có được không gian bày tỏ, dân chúng đã dám và đã muốn nói ra sự mất tín nhiệm ấy, nét khác biệt thực sự chính là ở chỗ này. Trước đây cũng không phải là tin, mà là sợ, không “tin” không được, chẳng hạn như ở thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng mà dám nói là không tin chính phủ thì sẽ bị giết chết rồi, vì thế mà người ta đã giả vờ, còn bây giờ thì không cần phải giả vờ nữa, bây giờ tin tức thông thoáng, đã có thể so sánh được rồi”.

唐律师说,网民信息来源相对比较多。而且在大陆具体到每个人的处境,没有一个人说(政府)好的,不论是政府官员还是哪个阶层的人士。比如说到官员内部的倾轧,官员不会说它好;企业老板想起政府对他的压榨,他们同样会认为政府很不好;普通民众谈起对物价的感受、教育制度不公平、工人被老板盘剥,那么他们都会说政府不好。

Luật sư Đường nói, nguồn tin từ cư dân mạng tương đối nhiều. Hơn nữa, với hoàn cảnh cụ thể của từng người ở đại lục, không ai nói (chính phủ) tốt cả, bất kể đó là quan chức chính phủ hay nhân viên thuộc tầng cấp nào. Ví dụ khi nói đến sự loại trừ nhau trong nội bộ quan chức, không thể nói quan chức là tốt; chủ doanh nghiệp khi nghĩ đến chuyện chính phủ chèn ép mình cũng sẽ cho là chính phủ rất không tốt; cảm nhận của dân chúng khi bàn về giá cả, về chế độ giáo dục không công bằng, về công nhân bị chủ bóc lột, họ cũng đều sẽ nói chính phủ không tốt.   

中共把民众带向绝望

唐律师还指出,大陆老百姓因为受媒体洗脑,很多民众还缺乏辨别力,所以他会按媒体宣传的去说。但与自己相关的处境,都不会说政府好。他还披露,中共当局封杀他的博客和QQ间、网络等,都是为了避免他们这些观点被民众看到。因为中共就是将民众带向绝望,跟它一条黑道走到底。

“Đảng cộng sản Trung Quốc dẫn dân chúng đến chỗ tuyệt vọng”
Luật sư Đường còn nêu rằng, dân chúng đại lục do bị truyền thông tẩy não, rất nhiều người còn thiếu khả năng nhận biết, nên đã nói theo những gì truyền thông tuyên truyền. Nhưng với những tình cảnh có liên quan tới mình, thì họ đều không nói là chính phủ tốt. Ông còn bộc lộ, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc đã chặn blog và không gian QQ, mạng… của ông, tất cả đều vì không để cho dân chúng xem được những quan điểm này. Bởi chính Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa dân chúng đến chỗ tuyệt vọng, cùng Đảng đi theo con đường đen tối tới cùng.  

为政治的无序,导致政府和民众之间失去信任之后,应该在民众之间建立信任过合作、互相、友爱建立信任,那么他们可以建立一个真正自由的社会。如对重大的维权案件、法轮功被迫害,应该保持应有的关注,而不是陷入绝望。站出来反对它的镇压,那么我们就可以建立一个友爱的政治制度,而不在这种不信任的制度中互相伤害,甚至导致彼此毁灭。

“Khi do sự lộn xộn về chính trị mà đã dẫn tới sự mất tín nhiệm giữa chính phủ với dân chúng, cần phải thiết lập sự tín nhiệm trong dân chúng – bằng việc thiết lập sự tín nhiệm với tinh thần hợp tác, tương hỗ và thân thiện, như thế họ có thể thiết lập nên một xã hội thực sự tự do. Như cần giữ sự quan tâm đáng có đối với các vụ án về nhân quyền, Pháp luân công bị bức hại, chứ đừng để mình rơi vào tuyệt vọng. Đứng lên chống lại sự trấn áp của chính phủ, vậy là chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ chính trị thân thiện, chứ đừng có thương hại lẫn nhau, thậm chí còn dẫn đến hủy diệt lẫn nhau trong cái chế độ mất tín nhiệm này”.  

还积极推进不合作运在逐步脱离邪恶的过程中建立公民之间的爱、信任和合作,就奠定了国家自由的根基。

Ông còn tích cực thúc đẩy “phong trào bất hợp tác”, “nếu tạo lập lòng yêu thương, sự tín nhiệm và sự hợp tác giữa dân chúng trong quá trình dần dần thoát ra khỏi sự tà ác thì sẽ đặt được nền móng cho sự tự do của đất nước”.

接受大纪元记者采访的几位民众都对政府说什么都不信表示认同,广东林先生和贵州熊先生的话颇具代表性:大陆社会就是这样了,没救了。自己拚命挣钱,考虑要移民到民主国家去,远离十恶俱全的中国大陆。

Cả mấy người dân được phóng viên Epochtimes phỏng vấn đều có chung một sự bày tỏ “chính phủ nói gì cũng không tin”, lời ông Lâm và ông Quý Châu Hùng người Quảng Đông là mang tính đại diện nhất:  Xã hội đại lục là thế đấy, không cứu được nữa rồi. Mình cố sức kiếm tiền để làm dân nhập cư tới các nước dân chủ, để rời xa xứ sở đại lục Trung Quốc đầy tội ác này.

4.2亿网民大军围观

中共喉舌媒体的文章还称,如今,怀疑和警惕已经成为大陆人的生活方式,因为令人匪夷所思的事情不断发生。住,有楼倒倒楼脆脆楼歪歪楼薄薄;吃,得小心假烟、假酒、假鸡蛋、假牛奶、地沟油、人造脂肪、美容而成的大米、药水泡大的豆芽、避孕药喂肥的王八、洗衣粉炸出的油条;出门,要提防推销的碰瓷的钓鱼(执法)的;上医院,担心假药、无照行医、被过度治疗(香港《太阳报》近日称,中国人去年一年输液104亿瓶,相当于人均8瓶)。此外,还要面对假票、假证、假中奖、银行诈骗、假老虎、假新闻等等。

420 triệu cư dân mạng là đạo quân lớn xúm nhau xem

Bài viết trên báo chí phát ngôn của Đảng cộng sản Trung Quốc còn nói, ngày nay, hoài nghi và cảnh giác đã trở thành lối sống của người đại lục, bởi những chuyện không tin nổi luôn luôn xảy ra. Ở, có những tòa nhà chực đổ tòa nhà chực nứt vỡ toà nhà chực nghiêng tòa nhà siêu mỏng; ăn uống, phải cẩn thận trước thuốc lá giả, rượu giả, trứng gà giả, sữa giả, dầu ăn dưới cống, mỡ nhân tạo, gạo làm đẹp mã, giá đỗ có thuốc làm cho mập, quẩy được rán bằng bột giặt; ra đường, phải đề phòng bẫy lừa mua bán đểu; vào bệnh viện, lo thuốc giả, bị chữa trị quá mức (tờ “Thái dương báo” của Hongkong gần đây cho biết, người Trung Quốc chỉ trong riêng năm ngoái đã truyền 10,4 tỷ chai dịch, tương đương với bình quân 8 chai/người). Ngoài ra, còn phải đối mặt với vé giả, chứng chỉ giả, thuốc Đông y giả, gian lận ngân hàng, cao hổ giả, tin giả…      

《国际先驱导报》记者邓亚君的中国互联网进入全民围观时代,据称是《2010年中国互联网舆情分析报告》中最受关注的一句总结。这意味着,信息分享的背后挺立着4.2亿中国网民大军,他们在虚拟平台上观点交锋、意见发布。
“Trang baidu.com đã bước vào thời toàn dân xúm nhau xem” mà phóng viên báo “Quốc tế tiên khu đạo báo”[iii]Đặng Á Quân nêu ra nghe nói là câu nói tổng kết được chú ý tới nhất trong “Báo cáo phân tích dư luận công chúng của trang baidu.com năm 2010”. Điều này có nghĩa là đằng sau sự chia sẻ tin tức, đứng sừng sững một đạo đại quân với 420 triệu cư dân mạng Trung Quốc, họ đã giao tranh quan điểm, công bố mọi ý kiến trên sân ảo.   


[i]   Nguyên văn:  老百姓, nghĩa là bà con dân chúng -ND.
[ii]   Nguyên văn: “老不信”, nghĩa là “luôn luôn không tin”-ND.
[iii]  Nguyên văn:  《国际先驱导报》 (International Herald Leader) –ND.



Translated by Quốc Thanh


http://www.epochtimes.com/gb/11/1/20/n3147978.htm