MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Thursday, March 22, 2012

习近平《求是》发文谈保持党的纯洁性 TẠP CHÍ “CẦU THỊ” ĐĂNG BÀI PHÁT BIỂU CỦA TẬP CẬN BÌNH NÓI VỀ VIỆC GIỮ GÌN TÍNH TRONG SẠCH CỦA ĐẢNG




习近平《求是》发文谈保持党的纯洁性

TẠP CHÍ “CẦU THỊ” ĐĂNG BÀI PHÁT BIỂU CỦA TẬP CẬN BÌNH NÓI VỀ VIỆC GIỮ GÌN TÍNH TRONG SẠCH CỦA ĐẢNG

20120316

16-03-2012

今年我们党将召开第十八次全国代表大会。今年又是实施十二五规划承上启下的重要一年,我们将在复杂多变的国际环境和艰巨繁重的国内改革发展任务双重考验下努力实现稳中求进。光荣的使命和艰巨的任务,对加强和改进党的建设、做好保持党的先进性和纯洁性工作提出了新的要求。胡锦涛同志在十七届中央纪委七次全会上发表重要讲话,突出强调了在新形势下保持党的纯洁性问题,具有重大而深远的意义,大家要深刻学习领会、认真贯彻执行。

Hôm nay Đảng chúng ta họp Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 18. Năm nay lại là năm quan trọng để tiếp tục thực thi Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, chúng ta sẽ nỗ lực thực hiện sự ổn trọng cầu tiến trước thử thách song trùng là bối cảnh quốc tế biến đổi phức tạp và nhiệm vụ phát triển cải cách trong nước gian khổ nặng nề. Sứ mệnh vẻ vang và nhiệm vụ gian khổ đặt ra những yêu cầu mới đối với việc tăng cường và cải tiến sự nghiệp xây dựng Đảng, đối với việc làm tốt công việc giữ gìn tính tiên tiến và tính trong sạch của Đảng. Đồng chí Hồ Cẩm Đào đã có bài phát biểu quan trọng tại phiên họp lần thứ 7 của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương khóa 17, nhấn mạnh vấn đề giữ gìn tính trong sạch của Đảng trong tình hình mới, mang ý nghĩa trọng đại và sâu xa, mọi người cần học tập, lĩnh hội một cách sâu sắc, quán triệt, chấp hành một cách nghiêm túc.

一、保持党的纯洁性是马克思主义政党的本质要求

马克思、恩格斯创立的共产主义者同盟,是世界上第一个工人阶级政党。在同盟创立初期,同盟章程就对保持党的纯洁性作出严格规定,要求每一个支部对它所接受的会员的品质纯洁负责。列宁在创建俄国工人阶级政党的过程中也特别注重党的纯洁性,强调们的任务是要维护我们党的坚定性、彻底性和纯洁性。 们应当努力把党员的称号和作用提高、提高、再提高马克思主义政党之所以高度重视保持党的纯洁性,从根本上说是为了永葆党的政治本色,永葆党的生机活力,从而更好地肩负起自己的历史使命。

I. Giữ gìn tính trong sạch của Đảng là yêu cầu căn bản của chính đảng Macxit

Liên minh những người cộng sản do K. Marx và F. Engels sáng lập là chính đảng giai cấp công nhân đầu tiên. Ở thời kỳ đầu sáng lập, trong điều lệ của Liên minh đã đưa ra những quy định chặt chẽ về việc giữ gìn tính trong sạch của Đảng, yêu cầu mỗi chi bộ phải chịu trách nhiệm về phẩm chất trong sạch của các hội viên mình tiếp nhận. V. Lênin trong quá trình xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân Nga cũng đặc biệt chú trọng đến tính trong sạch của Đảng, nhấn mạnh “nhiệm vụ của chúng ta là phải bảo vệ tính kiên định, tính triệt để và tính trong sạch của Đảng mình. Chúng ta cần nỗ lực nâng cao, nâng cao hơn nữa, nâng cao mãi danh hiệu và vai trò của các Đảng viên”. Sở dĩ các chính đảng Macxit cần coi trọng cao độ việc giữ gìn tính trong sạch của Đảng, về cơ bản là để bảo vệ vĩnh viễn bản sắc chính trị của Đảng, bảo vệ vĩnh viễn sức sống của Đảng, từ đó mà gánh vác sứ mạng lịch sử của mình cho tốt hơn.

中国共产党作为马克思主义政党,在中国革命、建设、改革各个历史时期,始终把保持党的纯洁性作为党的建设的根本问题和重要目标。毛泽东同志早就明确指出,我们要建设的是一个有纪律的、思想上纯洁的、组织上纯洁的党,合乎统一的标准的党

Đảng Cộng sản Trung Quốc là một chính đảng Macxit, luôn giữ gìn tính trong sạch của Đảng là vấn đề căn bản và mục tiêu trọng yếu của việc xây dựng Đảng trong suốt các thời kỳ lịch sử cách mạng, xây dựng, cải cách của Trung Quốc. Đồng chí Mao Trạch Đông đã vạch rõ từ lâu, “Đảng mà chúng ta cần xây dựng là một Đảng có kỷ luật, trong sạch về tư tưởng, trong sạch về tổ chức, là một Đảng phù hợp với các tiêu chuẩn thống nhất”.

党的纯洁性,体现在党的思想、政治、组织和作风各个方面。体现在思想上,就是要求各级党组织和广大党员、党的领导干部必须坚持把马克思主义及其中国化的理论成果作为指导思想,坚持把为社会主义、共产主义奋斗作为理想信念,坚持马克思主义实事求是的思想路线,坚决抵制各种反马克思主义思想的侵蚀,坚决同各种违背马克思主义的错误思想作斗争;体现在政治上,就是要求各级党组织和广大党员、党的领导干部必须坚决执行党纲领、章程和路线方针政策,

Tính trong sạch của Đảng được thể hiện ở các phương diện tư tưởng, chính trị, tổ chức và tác phong. Thể hiện ở mặt tư tưởng, chính là đòi hỏi tổ chức Đảng các cấp và đông đảo Đảng viên, cán bộ lãnh đạo của Đảng phải luôn coi những bài giảng lý luận của chủ nghĩa Mác và phần Trung Quốc hóa trong đó là tư tưởng chỉ đạo, luôn coi việc phấn đấu vì chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là niềm tin lý tưởng, kiên trì đường lối tư tưởng thực sự cầu thị của chủ nghĩa Mac, kiên quyết chống những biểu hiện xói mòn phản lại chủ nghĩa Mac, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng sai lầm phản bội lại chủ nghĩa Mac; thể hiện ở mặt chính trị, chính là đòi hỏi tổ chức Đảng các cấp và đông đảo Đảng viên, cán bộ lãnh đạo của Đảng phải kiên quyết chấp hành cương lĩnh, điều lệ và đường lối phương châm chính sách của Đảng.

在社会主义初级阶段必须坚持以经济建设为中心、坚持四项基本原则、坚持改革开放的基本路线,坚决抵制和反对一切违背党的基本路线的错误政治倾向;体现在组织上,就是要求各级党组织和广大党员、党的领导干部必须坚持贯彻党的民主集中制原则和遵守党的组织纪律的要求,自觉维护党的团结统一,坚决反对一切危害和分裂党的行为,严格坚持党章所规定的共产党员标准和领导干部条件,坚决把背离党纲党章、危害党的事业、已经丧失共产党员资格的蜕化变质分子和腐败分子清除出党;体现在作风上,就是要求各级党组织和广大党员、党领导干部必须坚持发扬党的理论联系实际、密切联系群众、批评和自我批评以及谦虚谨慎、不骄不躁、艰苦奋斗等优良作风,坚持贯彻党的从群众中来到群众中去的工作路线和调查研究的工作方法,坚决反对主观主义、官僚主义、形式主义、以权谋私、弄虚作假和个人专断、追求奢华等不正之风。始终保持党的纯洁性,是由我们党的性质和宗旨决定的。

Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội phải luôn coi xây dựng kinh tế là trung tâm, kiên trì giữ vững 4 nguyên tắc cơ bản, kiên trì giữ vững đường lối cơ bản của cải cách mở cửa, kiên quyết chống lại mọi khuynh hướng chính trị sai lầm phản đối các đường lối cơ bản của Đảng; thể hiện ở mặt tổ chức, chính là đòi hỏi tổ chức Đảng các cấp và đông đảo Đảng viên, cán bộ lãnh đạo Đảng phải kiên trì quán triệt nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ của Đảng và tuân thủ các yêu cầu về tổ chức kỷ luật của Đảng, tự giác bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng, kiên quyết phản đối mọi hành vi gây nguy hại và chia rẽ Đảng, nghiêm chỉnh giữ vững các tiêu chuẩn của người Đảng viên cộng sản và các điều kiện của người cán bộ lãnh đạo đã được quy định trong Điều lệ Đảng, kiên quyết loại trừ khỏi Đảng những phần tử thoái hóa biến chất, những phần tử thối nát đã mất tư cách Đảng viên cộng sản; thể hiện ở mặt tác phong, chính là đòi hỏi tổ chức Đảng các cấp và đông đảo Đảng viên, cán bộ lãnh đạo của Đảng phải luôn nêu cao những tác phong tốt đẹp của Đảng như lý luận gắn liền với thực tế, liên hệ mật thiết với quần chúng, phê bình và tự phê bình, khiêm tốn, không kiêu ngạo, gian khổ phấn đấu…, luôn quán triệt đường lối làm việc từ quần chúng đi tới quần chúng và phương pháp làm việc điều tra nghiên cứu của Đảng, kiên quyết phản đối những tác phong thiếu lành mạnh như thói chủ quan, thói quan liêu, chủ nghĩa hình thức, cậy quyền mưu lợi việc tư, gian lận và chuyên quyền độc đoán cá nhân, theo đuổi cuộc sống xa hoa… Luôn giữ gìn tính trong sạch của Đảng được quyết định bởi tính chất và tôn chỉ của Đảng chúng ta.

我们党是中国工人阶级的先锋队、同时是中国人民和中华民族的先锋队,党除了工人阶级和最广大人民群众的利益没有自己特殊的利益,党在任何时候都把人民群众的利益放在第一位,全心全意为人民服务。党的这种性质和宗旨,既决定了党的先进性,也决定了党的纯洁性。党的纯洁性同党的先进性相辅相成、 密不可分。

Đảng chúng ta là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Trung Quốc, đồng thời là đội quân tiên phong của nhân dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân ra, Đảng không có lợi ích của riêng mình, bất cứ lúc nào Đảng cũng đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.

纯洁性是先进性的前提和基础,先进性是纯洁性的体现和保证,二者在本质上是一致的。我们党成立90多年来的历史证明,党的坚强有力和事业发展取决于多种因素,党的纯洁性对党的创造力、凝聚力、战斗力有着根本性影响。什么时候党的纯洁性保持得好,党就更加坚强有力,党的事业就能健康发展;什么时候党的纯洁性受到影响和削弱,党的战斗力就会下降,党的事业就会遭受损失。

Tính chất và tôn chỉ ấy của Đảng vừa quyết định tính tiên phong của Đảng, lại vừa quyết định cả tính trong sạch của Đảng. Tính trong sạch của Đảng gắn kết cùng tính tiên phong của Đảng, chặt chẽ không thể phân chia. Tính trong sạch là tiền đề và nền tảng của tính tiên phong, tính tiên phong là sự thể hiện và sự bảo đảm của tính trong sạch, cả hai về bản chất là như nhau. Lịch sử thành lập Đảng chúng ta hơn 90 năm qua đã chứng minh rằng, sự mạnh mẽ kiên cường và sự nghiệp phát triển của Đảng được quyết định bởi rất nhiều nhân tố, tính trong sạch của Đảng có ảnh hưởng mang tính căn bản đối với sức sáng tạo, sức gắn kết, sức chiến đấu của Đảng. Khi nào tính trong sạch của Đảng được giữ gìn tốt, thì Đảng càng có thêm được sự mạnh mẽ kiên cường, sự nghiệp của Đảng càng phát triển được mạnh mẽ; khi nào tính trong sạch của Đảng bị ảnh hưởng và suy yếu, thì sức chiến đấu của Đảng sẽ bị giảm, sự nghiệp của Đảng sẽ bị tổn thất.

当前,我国正处在全面建设小康社会的关键时期和深化改革开放、加快转变经济发展方式的攻坚时期,党所面临的执政考验、改革开放考验、市场经济考验、外部环境考验更加突出,所面临的精神懈怠的危险、能力不足的危险、脱离群众的危险、消极腐败的危险更加凸显。保持党的先进性和纯洁性,是我们党在改革开放和社会主义现代化建设进程中应对和经受住各种考验、化解和战胜各种危险的重要法宝。

Hiện nay, nước ta đang ở vào thời kỳ then chốt xây dựng xã hội bậc trung một cách toàn diện và thời kỳ tấn công đi sâu vào cải cách mở cửa, chuyển đổi nhanh phương thức phát triển kinh tế, những thách thức cầm quyền, thách thức cải cách mở cửa, thách thức kinh tế thị trường, thách thức môi trường đối ngoại mà Đảng đang phải đối mặt ngày càng nổi rõ, những nguy cơ rã đám tinh thần, nguy cơ thiếu năng lực, nguy cơ xa rời quần chúng, nguy cơ tiêu cực thối nát mà Đảng đang phải đối mặt ngày càng nổi cộm.

现在,我们党的队伍总体上是纯洁、团结、有战斗力的,这是中国特色社会主义事业不断取得伟大成就的根本保证。但是也要看到,在深刻变化的国内外环境中,管党治党的任务越来越艰巨,如何保持党的纯洁性也面临不少新情况新问题。特别是胡锦涛同志讲话中指出的理想信念不坚定、作风不正、原则性不强、为政不廉等不符合党的纯洁性要求的问题,在一些党员和党的干部中不同程度地存在,这必然影响党在人民群众中的威信和削弱党的战斗力。我们要从保证党永不变色、保证国家长治久安的高度,从应对新形势下党面临的风险和挑战出发,充分认识保持党的纯洁性的极端重要性和紧迫性,不断增强党的意识、政治意识、危机意识、责任意识,为保持党的纯洁性而不懈努力。

Giữ gìn tính tiên phong và tính trong sạch của Đảng là bảo pháp quan trọng để Đảng chúng ta ứng đối và kinh qua được mọi thử thách, để hóa giải và chiến thắng được mọi nguy cơ trong tiến trình cải cách mở cửa và hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đội ngũ Đảng chúng ta xét về tổng thể là trong sạch, đoàn kết, có sức chiến đấu, đây là sự bảo đảm căn bản để sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc không ngừng giành được những thành tựu vĩ đại. Nhưng cũng phải nhìn thấy rằng, trước bối cảnh trong và ngoài nước có những biến đổi sâu sắc, nhiệm vụ quản Đảng, trị Đảng ngày càng khó khăn, việc giữ gìn tính trong sạch của Đảng ra sao cũng đang phải đối diện với không ít những tình huống mới, những vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề không còn phù hợp với những đòi hỏi về tính trong sạch của Đảng mà đồng chí Hồ Cẩm Đào đã nêu trong bài nói của mình, như niềm tin lý tưởng thiếu kiên định, tác phong thiếu lành mạnh, tính nguyên tắc yếu, thiếu liêm khiết… vẫn đang tồn tại ở những mức độ khác nhau trong một số Đảng viên và cán bộ của Đảng, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới uy tín của Đảng trong quần chúng và làm yếu đi sức chiến đấu của Đảng.

Chúng ta cần xuất phát từ sự bảo đảm vĩnh viễn không để cho Đảng bị biến chất, bảo đảm cho đất nước được vững bền cao độ, xuất phát từ những thách thức và nguy cơ mà Đảng đang phải đối mặt trước tình hình mới, mà nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc giữ gìn tính trong sạch của Đảng, không ngừng tăng cường ý thức về Đảng, ý thức về chính trị, ý thức về nguy cơ, ý thức về trách nhiệm, nỗ lực không mệt mỏi để giữ gìn tính trong sạch của Đảng.

二、始终保持党在思想上组织上作风上的纯洁性

在新形势下保持党的纯洁性,要按照胡锦涛同志讲话提出的要求,坚持党要管党、从严治党,坚持强化思想理论武装和严格队伍管理相结合、发扬党的优良作风和加强党性修养与党性锻炼相结合、坚决惩治腐败和有效预防腐败相结合、发挥监督作用和严肃党的纪律相结合,不断增强自我净化、自我完善、自我革新、自我提高能力,始终保持党的思想纯洁、组织纯洁、作风纯洁。

II. Luôn giữ gìn tính trong sạch của Đảng về các mặt tư tưởng, tổ chức và tác phong  

Giữ gìn tính trong sạch của Đảng trong tình hình mới phải căn cứ theo những yêu cầu đã được nêu ra trong bài nói của đồng chí Hồ Cẩm Đào, kiên trì giữ vững Đảng, phải quản Đảng, thắt chặt kỷ luật Đảng, kiên trì giữ vững kết hợp giữa tăng cường vũ trang lý luận tư tưởng với quản lý nghiêm khắc đội ngũ, kết hợp giữa phát huy tác phong tốt đẹp của Đảng với tăng cường bồi dưỡng tính Đảng và rèn luyện tính Đảng, kiên trì giữ vững kết hợp giữa trừng trị thối nát với phòng ngừa thối nát một cách có hiệu quả, kiên trì giữ vững kết hợp giữa vai trò giám sát với kỷ luật Đảng nghiêm túc, không ngừng tăng cường tự trong sạch, tự hoàn thiện, tự cải cách, tự nâng cao năng lực, luôn luôn giữ gìn sự trong sạch về tư tưởng, sự trong sạch về tổ chức, sự trong sạch về tác phong của Đảng.

保持党在思想上的纯洁性,是保证党的正确政治方向和党的团结统一的思想基础。思想是导向,是灵魂。如果我们的党员和党的领导干部思想不纯洁,理想信念不可能坚定,是非认识必然模糊,政治立场很容易动摇。在新的历史条件下,一定要坚持发扬我们党注重思想建党的优良传统,坚持对党员和党的干部加强思想政治教育特别是中国特色社会主义理论体系教育,帮助他们做到真学真懂真信真用,牢固树立正确的世界观、权力观、事业观,带头践行社会主义核心价值体系,在大是大非面前保持清醒认识,在大风大浪面前坚持正确立场,在各种诱惑面前筑牢思想防线。

Giữ gìn sự trong sạch về tư tưởng của Đảng là nền tảng tư tưởng để bảo đảm phương hướng chính trị đúng đắn của Đảng và sự đoàn kết thống nhất của Đảng. Tư tưởng là dẫn hướng, là linh hồn. Nếu tư tưởng của các Đảng viên và các cán bộ của Đảng không trong sạch, niềm tin lý tưởng không giữ được kiên định, thì vì kém nhận thức tất sẽ không tránh khỏi mơ hồ, lập trường chính trị rất dễ bị lung lay. Trong điều kiện lịch sử mới, nhất thiết phải phát huy truyền thống tốt đẹp xây dựng tư tưởng mà Đảng chúng ta luôn chú trọng, kiên trì giữ vững tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, nhất là giáo dục hệ thống lý luận xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc cho Đảng viên và cán bộ của Đảng, giúp cho họ có thể học tập thực sự, hiểu biết thực sự, tin tưởng thực sự, thực hành thực sự, tạo dựng thế giới quan, quan điểm quyền lực, quan điểm sự nghiệp một cách đúng đắn, đi đầu trong việc thực hành hệ thống giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, giữ được sự tỉnh táo trong nhận thức trước thực giả lẫn lộn, giữ được lập trường đúng đắn trước sóng cả gió lớn, xây đắp được phòng tuyến tư tưởng trước mọi cám dỗ.

保持思想纯洁,最重要的是保持对共产主义的坚定信仰、对中国特色社会主义的坚定信念。我们既要脚踏实地地办好今天的事情,又不能忘记远大目标。党员和党的干部有了这样的理想信念,无论从事什么样的工作,都会有一种崇高的使命感和神圣感。

Giữ gìn sự trong sạch về tư tưởng, điều quan trọng nhất là giữ được niềm tin kiên định vào chủ nghĩa cộng sản, giữ được niềm tin kiên định vào chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Chúng ta vừa phải bám sát vào thực địa để làm tốt những việc của ngày hôm nay, lại vừa không được quên những mục tiêu lớn lao. Đảng viên và cán bộ của Đảng có được những niềm tin lý tưởng ấy, thì bất luận làm việc gì, cũng sẽ có được cảm nhận về sứ mệnh và cảm nhận về sự thiêng liêng cao cả.

革命战争年代,无数共产党人为了革命的成功,南征北战,流血牺牲,靠的正是坚定正确的政治信仰。和平建设时期,无数共产党人为了社会主义事业,艰苦奋斗,无私奉献,靠的还是坚定正确的政治信仰。改革开放以来,无数共产党人为了国家富强和民族振兴,顽强拼搏,勇往直前,靠的仍然是坚定正确的政治信仰。

Trong những năm tháng chiến tranh cách mạng, đã có biết bao những người cộng sản từng nam chinh bắc chiến, đổ máu hy sinh vì sự thành công của cách mạng, mà điểm tựa chính là giữ vững được niềm tin chính trị đúng đắn. Từ ngày cải cách mở cửa đến nay, biết bao nhiêu người cộng sản đã bền bỉ ngoan cường, dũng cảm dấn tới vì sự giàu mạnh của quốc gia và sự chấn hưng của dân tộc, mà điểm tựa vẫn là niềm tin chính trị đúng đắn.

信仰的力量是无穷的。信仰纯洁是共产党人最根本的纯洁。现在,有些党员和党的领导干部在市场经济大潮中晕晕乎乎、头脑发热,不能正确认识价值问题,不能正确对待个人利益,导致精神支柱坍塌、人生方向迷失,有的甚至守不住党纪国法的底线,最终走向腐败堕落,教训是极其深刻的。

Sức mạnh của niềm tin là vô địch. Sự trong sáng về niềm tin là sự trong sáng căn bản nhất của người cộng sản. Hiện nay, có những Đảng viên và cán bộ của Đảng lóa mắt, phát sốt trước đại trào của nền kinh tế thị trường, không thể nhận thức được vấn đề giá trị cho đúng đắn, không thể ứng xử được với lợi ích cá nhân cho đúng đắn, nên đã dẫn đến suy sụp tinh thần, mất phương hướng sống, có những người thậm chí còn không giữ nổi cái gốc kỷ cương Đảng và quốc pháp, cuối cùng rơi vào thối nát suy đồi, mà bài học là vô cùng sâu sắc.

在国家、人民和社会、个人的多层次利益格局中,党员和党的干部当然也有个人的正当利益,实现自身价值应该受到尊重。但是,我们共产党人的最高利益和核心价值是全心全意为人民服务、诚心诚意为人民谋利益。作为党员和党的干部,都要经常思考和解决好入党为了什么、当干部干些什么、身后留下什么的问题,决不可为个人或少数人谋私利,而应该始终坚守共产党人全心全意为人民服务的精神家园。

Trong bối cảnh đa tầng lợi ích trong nhà nước, nhân dân và cộng đồng, cá nhân, các Đảng viên và cán bộ của Đảng đương nhiên cũng có những lợi ích cá nhân chính đáng. Việc thực hiện giá trị tự thân cần phải được tôn trọng. Nhưng, lợi ích cuối cùng và giá trị cốt lõi của những người cộng sản chúng ta là toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, thành tâm, thành ý mưu lợi cho nhân dân. Là Đảng viên và cán bộ của Đảng, phải thường xuyên suy nghĩ và giải quyết cho tốt những vấn đề như vào Đảng để làm gì, làm cán bộ là làm những gì, sẽ để lại những gì sau mình, quyết không được vì mưu lợi cá nhân hoặc cho một số ít người, mà cần trước sau kiên trì giữ vững tinh thần toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân của người cộng sản.

保持党在组织上的纯洁性,是保持全党步调一致和增强党的创造力、凝聚力、战斗力组织保证。我们党现在是一个拥有8000多万党员、380多万个基层组织的大党,又处在长期执政和改革开放的环境下,保持党员队伍和党的干部队伍的纯洁,比以往任何时候都更为困难又更为重要。

Giữ gìn tính trong sạch của Đảng về mặt tổ chức, là giữ gìn sự bảo đảm tổ chức cho toàn Đảng cùng chung nhịp bước và tăng cường sức sáng tạo, sức gắn kết, sức chiến đấu của Đảng. Đảng chúng ta là một đảng lớn với hơn 80 triệu Đảng viên, hơn 380 vạn tổ chức cơ sở. Trong bối cảnh chấp chính suốt thời kỳ dài và cải cách mở cửa này, việc giữ gìn tính trong sạch của đội ngũ Đảng viên và cán bộ Đảng lại càng khó khăn và càng quan trọng hơn bao giờ hết.

各级党组织要严格管理党员队伍和党的干部队伍,严把入口、加强教育、强化监督、畅通出口。现在有的人入党、当干部,不是因为信仰马克思主义,不是要矢志为中国特色社会主义、共产主义事业奋斗终身,而是认为入党、当干部能给自己带来好处,把入党、当干部作为个人或家庭、亲属获取利益的政治资本。列宁曾经指出,徒有其名的党员,就是白给,我们也不要发展新党员,必须认真分析入党动机,严格掌握标准和程序,确保质量,切忌带病入党

Tổ chức Đảng các cấp phải quản lý nghiêm khắc đội ngũ Đảng viên và cán bộ của Đảng, nghiêm ngặt đầu vào, tăng cường giáo dục, tăng cường giám sát, thông thoáng đầu ra. Hiện có những người vào Đảng, làm cán bộ không phải vì tôn thờ chủ nghĩa Mác, không phải muốn kiên định ý chí vì chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cộng sản chủ nghĩa, mà cho là vào Đảng, làm cán bộ sẽ đem lại được điều lợi cho mình, coi việc vào Đảng, làm cán bộ là nguồn vốn chính trị để cá nhân hoặc gia đình, người thân được hưởng lợi. Lênin từng nêu rõ, “những Đảng viên thuộc phái Kito hữu, có cho không chúng ta cũng không cần”.

培养、任用和提拔党的干部,也必须严格把关,坚持按照五湖四海、任人唯贤原则和德才兼备、以德为先用人标准选好干部配好班子。要认真落实中组部制定的《关于加强对干部德的考核意见》,以对党忠诚、服务人民、廉洁自律为重点,加强对干部政治品质和道德品行的考核,切忌带病提拔。近年来,有些地方和部门在对党员队伍和党的干部队伍管理上不同程度地存在失之于宽、失之于软的问题,导致不良倾向得不到及时纠正,小毛病演变成大问题,小事情酿成大事件,损害党在人民群众中的形象。

Phát triển Đảng viên mới phải phân tích thật nghiêm túc động cơ vào Đảng, nắm chắc tiêu chuẩn và trình tự, bảo đảm chất lượng, tránh “mang bệnh vào Đảng”. Đào tạo, bổ nhiệm và đề bạt cán bộ cũng cần phải nắm cho chắc, luôn dựa theo nguyên tắc khắp các vùng miền, bổ nhiệm người hiền tài và kiêm cả đức lẫn tài, lấy đức làm tiêu chuẩn dùng người đầu tiên để chọn cán bộ tốt, lập đội ngũ tốt. Phải thực hiện nghiêm túc bản “Những ý kiến đánh giá về việc tăng cường đạo đức cho cán bộ” mà Ban tổ chức Trung ương đã đề ra, lấy trung thành với Đảng, phục vụ nhân dân, liêm khiết, tự giữ kỷ cương làm trọng điểm, tăng cường đánh giá phẩm chất chính trị và phẩm hạnh đạo đức của cán bộ, tránh “mang bệnh vào đề bạt”. Gần đây, có những địa phương và ban ngành đã có sự buông lỏng ở các mức độ khác nhau về mặt quản lý đội ngũ Đảng viên và đội ngũ cán bộ của Đảng, dẫn đến những khuynh hướng lệch lạc không được uốn nắn kịp thời, tật nhỏ diễn tiến thành vấn đề lớn, việc nhỏ ấp ủ thành sự kiện lớn, gây tổn hại đến hình ảnh của Đảng trong quần chúng nhân dân.

常言道,小洞不补,大洞吃苦经常的教育提醒是最好的防微杜渐。对出现的苗头性、倾向性问题早发现、早提醒、早纠正,才能防患于未然。要建立健全党员党性定期分析、民主评议党员等制度。对于党员和党的干部中那些屡经教育仍不悔悟和改正的人,要按照党章和其他党内法规的规定予以严肃处理,对那些无可救药的蜕化变质分子、败分子要坚决从党的队伍中清除出去。

Người ta thường nói “cái sẩy nảy cái ung”. Giáo dục nhắc nhở thường xuyên là biện pháp phòng ngừa tốt nhất. Phát hiện sớm, nhắc nhở sớm, uốn nắn sớm với những vấn đề mang tính manh nha và tính có chiều hướng xuất hiện thì mới có thể trừ họa được từ trong trứng nước. Phải xây dựng các chế độ kiện toàn Đảng viên, phân tích tính Đảng theo định kỳ, bình xét Đảng viên một cách dân chủ… Với những người trong đội ngũ Đảng viên và cán bộ của Đảng đã được giáo dục nhiều lần những vẫn không hối hận và sửa chữa, phải xử lý nghiêm khắc theo Điều lệ Đảng và những quy định khác trong Đảng, với những phần tử thoái hóa biến chất, phần tử thối nát không thể cứu chữa, cần kiên quyết loại bỏ ra khỏi đội ngũ của Đảng.

保持党在作风上的纯洁性,是保持党同人民群众血肉联系和不断从人民群众实践中吸取经验、智慧和力量的固本之道。加强和改进党的作风,坚持发扬党的优良作风,保持党的作风纯洁,核心是密切联系群众,始终与人民群众同呼吸、共命运,始终代表人民群众的意志和利益,始终依靠人民群众来推动历史前进。这是保证党永不变色的根本所在。

Giữ gìn tính trong sạch của Đảng về mặt tác phong, là con đường cố hữu để giữ gìn mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân và không ngừng đúc rút kinh nghiệm, trí tuệ và sức mạnh từ quần chúng nhân dân. Tăng cường và cải tiến tác phong của Đảng, luôn phát huy những tác phong tốt đẹp của Đảng, giữ gìn tính trong sạch về tác phong của Đảng, mà cốt lõi là liên hệ mật thiết với quần chúng, luôn cùng chung nhịp thở, cùng chung vận mệnh với quần chúng nhân dân, luôn đại diện cho ý chí và lợi ích của quần chúng nhân dân, luôn dựa vào quần chúng nhân dân để thúc đẩy cho lịch sử tiến lên. Đây là những điều cơ bản để bảo đảm cho Đảng mãi mãi không bị biến chất.

在建设中国特色社会主义整个过程中,要不断加强党的宗旨教育和群众路线教育,引导党员和党的干部牢固树立立党为公、执政为民理念,坚持马克思主义群众观点,把实现好、维护好、发展好最广大人民根本利益作为检验作风纯洁性的试金石,切实做好宣传群众、组织群众、服务群众、团结和带领群众前进的工作,坚决反对一切脱离群众、不关心群众疾苦的不良现象。

Trong toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, phải không ngừng tăng cường giáo dục tôn chỉ của Đảng và giáo dục đường lối quần chúng, dẫn dắt Đảng viên và cán bộ của Đảng tạo dựng chắc chắn triết lý “lập Đảng vi công, chấp chính vi dân”, kiên trì giữ vững quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác, coi việc thực hiện tốt, bảo vệ tốt, phát triển tốt lợi ích căn bản của tối đa nhân dân là đá thử vàng để kiểm nghiệm tính trong sạch, thiết thực làm tốt công tác tuyên truyền quần chúng, tổ chức quần chúng, phục vụ quần chúng, đoàn kết và dẫn dắt quần chúng tiến lên, kiên quyết phản đối mọi hiện tượng sai lầm như xa rời quần chúng, không quan tâm đến nỗi khổ của quần chúng.

如果我们的党员和党的领导干部高高在上,不关心群众的生产和生活,不了解群众的需求和愿望,不虚心向群众学习,不总结群众在实践中创造的经验,关起门来想问题、作决策,习惯于想当然发号施令,就会犯主观主义、官僚主义、形式主义的错误,就会给党和人民事业造成极大的损失。保持党的作风纯洁,必须及时整治党风建设中存在的突出问题,其中要十分注意治理庸懒散和好人主义等不良风气。好人主义盛行,有问题不指出,有过错不批评,这种庸俗作风盛行之处,往往就是党组织和领导上政治软弱、作风涣散的地方,就是党员、干部中出问题多的地方。 评和自我批评是我们党优良传统和作风,一定要结合新的实际长期坚持、不断发扬光大,以不断增强党内生活的政治性和原则性。

Nếu các Đảng viên và cán bộ Đảng chúng ta luôn ở trên cao, không quan tâm đến sản xuất và sinh hoạt của quần chúng, không tìm hiểu nhu cầu và nguyện vọng của quần chúng, không khiêm tốn học hỏi quần chúng, không tổng kết những kinh nghiệm do quần chúng sáng tạo ra qua thực tiễn, đóng chặt cửa nghĩ vấn đề, ra quyết sách, quen kiểu hô hào ra lệnh “cho là đương nhiên”, thì sẽ phạm phải các sai lầm của thói chủ quan, thói quan liêu, chủ nghĩa hình thức, sẽ tạo nên những tổn thất cực lớn cho sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Giữ gìn tính trong sạch về tác phong của Đảng, phải kịp thời chỉnh trị những vấn đề nổi cộm tồn tại trong xây dựng tác phong của Đảng, trong đó cần hết sức chú ý đến việc chỉnh trị thói lười biếng và chỉ biết đến mình… Nếu thói chỉ biết đến mình thịnh hành, thấy có vấn đề không vạch ra, có lỗi lầm không phê bình, thì nơi nào thịnh hành tác phong tầm thường này thường là những nơi non yếu về chính trị, lơi lỏng về tác phong trong tổ chức và lãnh đạo Đảng, là những nơi nảy sinh nhiều vấn đề trong Đảng viên và cán bộ Đảng. Phê bình và tự phê bình là truyền thống và tác phong tốt đẹp của Đảng chúng ta, nhất thiết phải kiên trì kết hợp với thực tế một cách lâu dài, luôn luôn phát huy những gì là quang minh chính đại để không ngừng tăng cường tính chính trị và tính nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng.

三、领导干部要以身作则带头保持纯洁性

保持党的纯洁性,关键在党的各级领导干部。党的领导干部既是保持党的纯洁性的组织者和领导者,又是保持党的纯洁性的执行者和实践者。领导干部处在党和人民事业的领导岗位上,这就决定了在保持党的纯洁性方面负有极为重要的责任,由此也决定了务必时时、处处用党的纯洁性要求对照自己、检点自己、修正自己、提高自己,要求别人做的自己带头做到,要求别人不做的自己带头不做,以自己率先垂范的实际行动充分体现党的纯洁性。

III. Cán bộ lãnh đạo phải lấy mình làm gương để đi đầu trong việc giữ gìn tính trong sạch

Giữ gìn tính trong sạch của Đảng, mấu chốt là ở cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng. Cán bộ lãnh đạo của Đảng vừa là người lãnh đạo và người tổ chức giữ gìn tính trong sạch của Đảng, lại vừa là người chấp hành và người thực hành giữ gìn tính trong sạch của Đảng. Cán bộ lãnh đạo ở cương vị lãnh đạo trong sự nghiệp của Đảng và nhân dân, điều này quyết định trách nhiệm cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn tính trong sạch của Đảng, từ đó cũng quyết định nhất thiết phải dùng yêu cầu về tính trong sạch của Đảng để đối chiếu với mình, kiểm điểm lại mình, điều chỉnh mình, nâng cao mình ở mọi thời điểm, ở mọi nơi, phải yêu cầu người khác làm những điều mình đã đi đầu làm được, phải yêu cầu người khác không làm những điều mình đã đi đầu không làm, thể hiện được đầy đủ tính trong sạch của Đảng bằng hành động thực tế mà mình đi đầu làm gương.

党的纯洁性同一切腐败现象是根本对立的,反腐倡廉就是要同各种腐败现象作斗争,维护党的肌体健康,维护党的纯洁性。作为党的领导干部,一定要以正确的世界观立身、以正确的权力观用权、以正确的事业观做事,带头遵守廉洁自律各项规定,以淡泊之心对待个人名利和权位,以敬畏之心对待肩负的职责和人民的事业,任何情况下都要稳住心神、管住行为、守住清白,做到一尘不染、一身正气,始终保持共产党人的高尚品格和清廉形象。有些领导干部所以走向违纪违法、腐化堕落的深渊,从根本上讲是世界观、人生观这个总开关出了问题,丧失了拒腐防变的能力。

Tính trong sạch của Đảng đối lập về cơ bản với mọi hiện tượng thối nát, chống lại thối nát, đề cao liêm chính phải đấu tranh với tất cả mọi hiện tượng thối nát, bảo vệ sức khỏe cho cơ thể Đảng, bảo vệ tính trong sạch của Đảng. Là cán bộ lãnh đạo của Đảng, nhất thiết phải lập thân bằng thế giới quan đúng đắn, dụng quyền bằng nhận thức về quyền lực đúng đắn, làm việc bằng nhận thức về làm việc đúng đắn, đi đầu trong việc tuân thủ các quy định về giữ liêm khiết kỷ luật, ứng xử với danh lợi và quyền lực địa vị với cái tâm vô tư, ứng xử với chức trách gánh vác và sự nghiệp của nhân dân với cái tâm biết kính sợ, bất cứ trong tình huống nào cũng phải giữ vững tinh thần, làm chủ hành vi, giữ cho thanh bạch, không nhiễm một vết nhơ, sống ngay thẳng, luôn giữ gìn phẩm cách cao thượng và hình ảnh thanh liêm của người cộng sản. Có những cán bộ lãnh đạo sở dĩ bị sa vào vực thẳm phạm pháp, thối nát suy đồi, xét về căn bản là “cái điều khiển” thế giới quan, nhân sinh quan đã có vấn đề, đã bị mất khả năng phòng ngừa thối nát, biến chất. Những bài học ấy mọi cán bộ lãnh đạo đều phải lấy đó mà cảnh giác.

这些前车之鉴,每个领导干部都要引以为戒。不管是哪一级哪一个岗位上的领导干部,都要自觉加强党性修养和党性锻炼,秉公用权、廉洁从政,自觉弘扬中华民族和我们党勤俭节约、艰苦奋斗的优良作风,自觉抵制拜金主义、乐主义、极端个人主义,做到为官一任既要发展一方、又要始终保持清正廉洁。

Cán bộ lãnh đạo bất kể ở cấp nào, ở cương vị nào cũng đều phải tự giác tăng cường bồi dưỡng tính Đảng và rèn luyện tính Đảng, chí công vô tư, liêm khiết, tự giác thúc đẩy những tác phong tốt đẹp cần cù tiết kiệm, gian khổ phấn đấu của dân tộc Trung Hoa và Đảng chúng ta, tự giác chống lại thói tôn thờ đồng tiền, hưởng thụ, cá nhân cực đoan, làm sao để khi làm lãnh đạo phải vừa phát triển được, lại vừa phải luôn giữ gìn được tính trong sạch liêm khiết.

严格的监督是防止党员和党的干部腐化变质、维护党的纯洁性的重要途径。上级对下级、下级对上级、群众对领导干部以及干部之间,都要敢于进行有效的监督。各级领导干部要纠正那种监督就是不信任的观念,增强主动接受监督的意识和依法依规保护监督的意识,自觉把自己置于党和人民事业所要求的各种监督之下。

Giám sát chặt chẽ là con đường quan trọng để ngăn ngừa sự thối nát, biến chất trong Đảng viên và cán bộ của Đảng, để bảo vệ tính trong sạch của Đảng. Giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cấp dưới với cấp trên, giữa quần chúng với cán bộ lãnh đạo và giữa cán bộ với nhau đều phải dám tiến hành sự giám sát một cách hữu hiệu. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải chỉnh sửa lại quan niệm cho giám sát là mất tín nhiệm, phải tăng cường ý thức chủ động tiếp nhận sự giám sát và ý thức dựa vào pháp luật, dựa vào quy định, điều lệ để bảo vệ sự giám sát, tự giác đặt mình dưới mọi sự giám sát mà sự nghiệp của Đảng và quần chúng nhân dân đòi hỏi.

凡是重大事项的决策,必须严格贯彻党的民主集中制原则,不能搞一言堂,不能由个人或少数人说了算,而应该搞群言堂,依靠集体智慧和严格程序来决定;凡是与群众利益密切相关的重大事项,能公开的都要依照法律和规定向群众公开,充分听取群众意见。特别是在行使选拔任用干部权、行政审批权和在经济方面行使财政资金使用、固定资产运营、金融资本运作、土地使用权出让等重要权力时,更要自觉接受监督,防止权力失控、决策失误和行为失范。

Tất cả mọi quyết sách cho những việc trọng đại phải nghiêm chỉnh quán triệt các nguyên tắc của chế độ tập trung dân chủ, không được làm “diễn đàn độc diễn”, không được chỉ một mình hoặc một số ít người nói là xong, mà phải làm “diễn đàn của quần chúng”, dựa vào trí tuệ tập thể và trình tự chặt chẽ để ra quyết định; tất cả mọi việc trọng đại có liên quan mật thiết đến lợi ích của quần chúng, có thể công khai được, đều phải công khai trước quần chúng theo luật pháp và các quy định điều lệ, lắng nghe đầy đủ ý kiến của quần chúng. Đặc biệt là khi thừa hành các quyền quan trọng như quyền đề bạt bổ nhiệm cán bộ, quyền thẩm duyệt hành chính và quyền sử dụng nguồn vốn tài chính trong kinh tế, luân chuyển tài sản cố định, quay vòng nguồn vốn tài chính, quyền sử dụng đất…, lại càng cần phải tự giác tiếp nhận sự giám sát, ngăn ngừa sự mất kiểm soát quyền lực, sai lầm trong quyết sách và sai trái trong hành vi.

严明的纪律是维护党的纯洁性的有力保证。各级领导干部都要增强纪律意识,切实把党的政治纪律、组织纪律、经济工作纪律、群众工作纪律和廉政纪律的规定转化为自己的行为规范。尤其要严格遵守党的政治纪律,提高政治敏锐性和政治鉴别力,毫不动摇地坚持党的领导,毫不动摇地坚持走中国特色社会主义道路,毫不动摇地坚持把改革开放推向前进,在思想上政治上行动上自觉同党中央保持高度一致。党的各级领导干部还要担负起加强纪律建设的责任,严肃查处违反纪律的行为包括各类腐败案件,切实做到纪律面前人人平等,遵守纪律没有特权,执行纪律没有例外,努力使党的纪律真正成为全党同志在任何时候任何情况下都必须遵守的统一的铁的纪律。

Kỷ luật nghiêm khắc là sự bảo đảm mạnh mẽ để bảo vệ tính trong sạch của Đảng. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải tăng cường ý thức kỷ luật, thiết thực chuyển hóa các quy định về kỷ luật chính trị, kỷ luật tổ chức, kỷ luật công tác kinh tế, kỷ luật công tác quần chúng và kỷ luật liêm chính thành quy phạm hành vi của mình. Nhất là phải tuân thủ chặt chẽ kỷ luật chính trị của Đảng, nâng cao tính nhạy cảm chính trị và sức phân biệt chính trị, kiên trì giữ vững sự lãnh đạo của Đảng không chút lung lay, kiên trì giữ vững đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc không chút lung lay, kiên trì giữ vững đẩy cải cách mở cửa tiến lên không chút lung lay, giữ gìn độ nhất trí cao với Trung ương Đảng một cách tự giác về các mặt tư tưởng, chính trị và hành động. Cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng còn phải gánh vác trách nhiệm tăng cường xây dựng kỷ luật, nghiêm túc điều tra những hành vi vi phạm kỷ luật bao gồm cả các vụ án về sự thối nát, thiết thực làm cho được mọi người đều bình dẳng trước pháp luật, không có đặc quyền trong tuân thủ kỷ luật, không có ngoại lệ trong chấp hành kỷ luật, nỗ lực làm cho kỷ luật của Đảng trở thành kỷ luật sắt thống nhất mà các đồng chí trong toàn Đảng đều phải tuân thủ ở bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ tình huống nào.

们国家正处在改革开放和社会主义现代化建设伟大进程中,机遇与挑战并存,困难与希望同在,任重而道远。许多新的问题需要在探索中解决,许多重要工作需要在创新中发展。这就要求党的各级领导干部必须始终认真地履行自己的领导职责,始终自觉地担当做好改革发展稳定工作的领导责任,不可有任何懈怠和摇摆。是否具有担当精神,是否能够忠诚履责、尽心尽责、勇于担责,这是检验每一个领导干部身上是否真正体现了共产党人先进性纯洁性的重要方面。

Đất nước ta đang ở trong tiến trình vĩ đại cải cách mở cửa và xây dựng hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội, cả cơ hội và thách thức cùng tồn tại, cả khó khăn và hy vọng cùng tồn tại, trách nhiệm nặng nề nhưng cao cả. Rất nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải được giải quyết trong sự xem xét, rất nhiều công việc trọng đại đòi hỏi phải được phát triển trong sự sáng tạo. Điều này đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng phải luôn thừa hành một cách nghiêm túc chức trách lãnh đạo của mình, luôn đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo, làm tốt công tác phát triển ổn định cải cách một cách tự giác, không được có bất cứ biểu hiện lười biếng và dao động nào. Có được tinh thần gánh vác hay không, có thể thừa hành chức trách được một cách trung thành, tận tâm tận lực, dám chịu trách nhiệm hay không, đó là một phương diện quan trọng để thử thách xem ở mỗi cán bộ lãnh đạo có thể hiện được tính tiên tiến và tính trong sạch của người cộng sản hay không.

如果一事当前,不是首先想到自己应该担当起什么样的责任,作出什么样的贡献,而是一味考虑和计较个人得失,遇到矛盾绕道走,碰到问题不敢抓,面对风险不敢闯;如果热衷于做表面文章,热衷于哗众取宠和追逐个人功利;如果不思进取,那么不仅党和人民事业难以向前推进,而且会损害党的形象,会让人民失望进而丧失对我们的信任。

Nếu một việc bày ra trước mắt mà không nghĩ trước tiên đến mình nên chịu trách nhiệm ra sao, cần đóng góp như thế nào, mà chỉ chăm chăm cân nhắc và tính toán được mất cá nhân, gặp mâu thuẫn thì tránh xa, vấp phải vấn đề không dám thâu tóm, đối mặt với hiểm nguy không dám xông vào; nếu chỉ ham với phương cách đánh bóng mình, ham với việc lấy lòng quần chúng và mưu cầu danh lợi cá nhân; nếu không nghĩ đến tiến thủ, thì không chỉ khó lòng thúc đẩy cho sự nghiệp của Đảng và nhân dân tiến tới, mà còn gây tổn hại đến hình ảnh của Đảng, sẽ làm cho nhân dân vì thất vọng mà mất đi niềm tin đối với chúng ta.

敢于担当,既是党和人民事业的要求,也是共产党人应该具备的精神状态。我们要在推进干部队伍建设和人才队伍建设中大力倡导担当精神,努力形成勇于担当、敢于负责的用人导向。要全面贯彻党的干部政策,全面考察干部的德才表现,特别注意选拔那些经过实践锻炼、原则性强、对群众感情深、一身正气、敢抓善管和工作中有思路、有激情、有韧劲、有实绩的干部。

Dám gánh vác vừa là đòi hỏi từ sự nghiệp của Đảng và nhân dân, lại vừa là trạng thái tinh thần cần có của người cộng sản. Chúng ta phải ra sức vận động tinh thần gánh vác trong xây dựng đội ngũ cán bộ và trong xây dựng đội ngũ nhân tài, nỗ lực hình thành hướng đạo sử dụng những người dám gánh vác, dám chịu trách nhiệm. Phải quán triệt toàn diện chính sách cán bộ của Đảng, xem xét toàn diện biểu hiện tài đức của cán bộ, đặc biệt chú trọng việc tuyển dụng đề bạt những cán bộ đã kinh qua rèn luyện thực tiễn, tính nguyên tắc mạnh, chiếm được nhiều cảm tình của quần chúng, sống ngay thẳng, dám nắm lấy quản lý giỏi, những cán bộ có ý tưởng, niềm đam mê, sự kiên trì, có hiệu suất trong công việc.

党的纯洁性同党的先进性一样,都不是静止的,也不可能一劳永逸。其内容和要求,都是随着时代的前进、随着党和人民事业的发展而发展的。加强党的自身建设,保持党的纯洁性,是一篇永无止境、在实践中常做常新的大文章。各级党组织要认真贯彻落实胡锦涛同志重要讲话精神,坚持不懈地把保持党的纯洁性这篇文章做实做深做好,不断交出党和人民满意的答卷。

Tính trong sạch của Đảng cũng giống như tính tiên tiến của Đảng, đều không phải ở trạng thái tĩnh, cũng không thể một lần vất vả mà suốt đời nhàn nhã được. Mọi nội dung và yêu cầu trong đó đều tiến tới cùng với thời đại, đều phải phát triển cùng với sự phát triển của sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Tăng cường sự xây dựng tự thân của Đảng, giữ gìn tính trong sạch của Đảng là một đại áng văn vĩnh cửu và luôn được làm mới trong thực tiễn. Tổ chức Đảng các cấp phải thực sự quán triệt việc thực hiện tinh thần trong bài nói quan trọng của đồng chí Hồ Cẩm Đào, kiên trì không mệt mỏi làm thật, làm sâu, làm tốt áng văn giữ gìn tính trong sạch của Đảng, luôn bàn giao được những đáp án làm vừa lòng Đảng và nhân dân.

这是习近平同志201231日在中央党校春季学期开学典礼上的讲话

Đây là bài nói của đồng chí Tập Cận Bình tại Lễ khai giảng học kỳ mùa xuân Trường Đảng Trung ương ngày 1 tháng 3 năm 2012.


Translated by Quốc Thanh



http://news.ifeng.com/mainland/detail_2012_03/16/13234587_0.shtml

Václav Havel, playwright and president Václav Havel: Kịch tác gia – Tổng Thống




Václav Havel, playwright and president

Václav Havel: Kịch tác gia – Tổng Thống

Dec 18th 2011, 13:02 by E.L.

E.L.18/12/2011

EARLY in 1989, your correspondent, newly arrived in communist Czechoslovakia, passed an empty building in the Podoli district of Prague. Someone had written in the grime inside the window: “Svoboda Havlovi” [Freedom for Havel]. It was an interesting moment. The jailed playwright (as we used to call him) was behind bars for hooliganism following an opposition demonstration. The authorities could jail individuals. But they had lost the will, or the capability, to police the inside of shop windows.

Đầu năm 1989, người viết những dòng này – vừa chân ướt chân ráo tới Tiệp Khắc – đi ngang qua một ngôi nhà hoang trong quận Podoli ở Praha. Bên trong cửa sổ mờ tối có hàng chữ “Svoboda Havlovi” Tự do cho Havel]. Đấy là thời khắc thú vị. Kịch tác gia bị bỏ tù (chúng tôi thường gọi ông như thế) đang nằm sau song sắt vì gây rối trật tự công cộng diễn ra sau cuộc biểu tình của phe đối lập. Chính quyền lúc đó còn có thể bỏ tù người dân. Nhưng họ đã không còn ý chí hay không còn khả năng giữ trật tự đằng sau cửa sổ nữa.

The slogan (which was still there a year later when Mr Havel was president) was particularly striking because shop windows were the theme of one of Václav Havel's best-known essays. In "The Power of the Powerless", he ponders the presence of a banal communist propaganda poster, reading "Workers of the world, unite!" in a greengrocer's window.

Khẩu hiệu này (một năm sau, tức là khi ông Havel đã trở thành tổng thống, nó vẫn còn nguyên ở đấy) đặc biệt ấn tượng vì cửa sổ cửa hàng là đề tài của một trong những tiểu luận nổi tiếng nhất của Václav Havel. Trong tiểu luận Sức mạnh của thảo dân, đưa ra lí giải về khẩu hiệu tuyên truyền sáo rỗng của cộng sản: Vô sản thế giới liên hiệp lại!, đặt bên trong cửa sổ một cửa hàng rau:

Why does he do it? What is he trying to communicate to the world? Is he genuinely enthusiastic about the idea of unity among the workers of the world? Is his enthusiasm so great that he feels an irrepressible impulse to acquaint the public with his ideals? Has he really given more than a moment's thought to how such a unification might occur and what it would mean?

“Tại sao anh ta lại làm như thế? Anh ta định nói gì với thế giới? Có đúng là anh ta thực lòng hào hứng với ý tưởng đoàn kết giữa những người vô sản trên thế giới? Lòng nhiệt thành của anh ta lớn đến mức anh ta cảm thấy phải giới thiệu ngay với công chúng lý tưởng này? Liệu anh ta đã thực sự dành một giây phút nào để nghĩ về cách thức thực hiện sự đoàn kết ấy hay ý nghĩa của nó là gì hay không?

I think it can safely be assumed that the overwhelming majority of shopkeepers never think about the slogans they put in their windows, nor do they use them to express their real opinions. That poster was delivered to our greengrocer from the enterprise headquarters along with the onions and carrots. He put them all into the window simply because it has been done that way for years, because everyone does it, and because that is the way it has to be. If he were to refuse, there could be trouble. He could be reproached for not having the proper decoration in his window; someone might even accuse him of disloyalty. He does it because these things must be done if one is to get along in life. It is one of the thousands of details that guarantee him a relatively tranquil life "in harmony with society," as they say.

Tôi nghĩ, ta có thể yên tâm mà giả định rằng tuyệt đại bộ phận những người quản lí cửa hàng không bao giờ nghĩ về khẩu hiệu họ đặt trong cửa sổ, cũng như họ chẳng bao giờ dùng nó để thể hiện quan điểm thực sự của mình. Cái khẩu hiệu đó, cũng như hành và cà-rốt, đều được cấp từ trụ sở doanh nghiệp. Anh ta xếp tất cả lên cửa sổ vì đã làm như vậy trong nhiều năm, vì mọi người đều làm như thế, và vì đó là việc phải làm. Nếu từ chối, anh ta có thể gặp rắc rối. Anh ta có thể bị phê bình vì không có vật trang trí thích hợp trong cửa sổ, thậm chí có người còn tố cáo anh là không trung thành nữa. Anh ta làm vậy bởi vì cần phải làm thế, nếu muốn yên thân. Đó là một trong hàng ngàn tiểu tiết đảm bảo cho anh ta một cuộc sống tương đối yên ổn trong sự "hòa hợp với xã hội", như họ vẫn thường nói.”

That encapsulated the way many Czechs and Slovaks dealt with their fate after the Soviet-led invasion of 1968. To many outsiders the country seemed numb, the subject of a kind of moral castration. Resistance was useless: even if you changed the system, the Soviet tanks would crush what you attempted. So the only solution was to withdraw into internal (or, for a few, external) exile.

Đấy là cách sống của phần đông người Czechs và Slovaks sau cuộc xâm lược của Liên Xô vào năm 1968. Nhiều người nước ngoài cảm thấy dường như đất nước đã bị tê liệt, như thể đã bị hoạn mất phần đức hạnh rồi vậy. Phản kháng là việc làm vô ích: thậm chí nếu bạn có thay đổi được hệ thống thì xe tăng Liên Xô cũng sẽ đập tan những gì bạn đã làm được. Chỉ còn một giải pháp, đấy là rút vào bên trong (đối với một số người thì giải pháp là lưu vong).

The cocktail that fuelled totalitarianism was a mixture of fear and pretence: the greengrocer pretended to be loyal for fear of the consequences. Havel noted later in his essay:

Sợ hãi và giả vờ là món hổ lốn cung cấp dưỡng chất cho chế độ toàn trị: anh hàng rau giả vờ trung thành vì sợ hậu quả. Havel viết tiếp như sau:

If the greengrocer had been instructed to display the slogan "I am afraid and therefore unquestioningly obedient;' he would not be nearly as indifferent to its semantics, even though the statement would reflect the truth. The greengrocer would be embarrassed and ashamed to put such an unequivocal statement of his own degradation in the shop window, and quite naturally so, for he is a human being and thus has a sense of his own dignity. To overcome this complication, his expression of loyalty must take the form of a sign which, at least on its textual surface, indicates a level of disinterested conviction. It must allow the greengrocer to say, "What's wrong with the workers of the world uniting?" Thus the sign helps the greengrocer to conceal from himself the low foundations of his obedience, at the same time concealing the low foundations of power.

“Xin hãy để ý: nếu người bán rau được hướng dẫn bày khẩu hiệu: "Tôi sợ và vì thế tôi phục tùng vô điều kiện", anh ta sẽ phải để ý tới nội dung của nó, mặc dù tuyên bố ấy là đúng sự thật. Người bán rau sẽ cảm thấy bối rối và xấu hổ vì lời tuyên bố thẳng thừng về sự mất phẩm cách của anh ta trong cửa sổ cửa hàng, và cũng tự nhiên thôi, bởi anh là con người và vì thế mà có cảm nhận về phẩm giá của mình. Để vượt qua sự rắc rối này, lòng trung thành của anh phải được thể hiện dưới dạng một dấu hiệu - ít nhất là trên bề mặt từ ngữ - thể hiện một niềm tin bất vụ lợi. Nó phải cho phép người bán rau biện bạch: "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại thì có gì sai?" Vì thế mà dấu hiệu này giúp cho người bán rau che giấu cái nguyên nhân “hèn kém” của sự phục tùng của mình, và cùng lúc, che giấu nền tảng “hèn kém” của quyền lực.”

But those shallow foundations were vulnerable to individual acts of disobedience. Havel concludes his essay thus:

Nhưng những động cơ thấp kém đó rất dễ bị tổn thương trước những hành động bất tuân đơn lẻ. Havel kết thúc tiểu luận của mình bằng những từ ngữ sau đây:

Let us now imagine that one day something in our greengrocer snaps and he stops putting up the slogans merely to ingratiate himself. He stops voting in elections he knows are a farce. He begins to say what he really thinks at political meetings. And he even finds the strength in himself to express solidarity with those whom his conscience commands him to support. In this revolt the greengrocer steps out of living within the lie. He rejects the ritual and breaks the rules of the game. He discovers once more his suppressed identity and dignity. He gives his freedom a concrete significance. His revolt is an attempt to live within the truth. . . .

That would come at a cost:

“Bây giờ, hãy tưởng tượng rằng một ngày kia, trong lòng anh hàng rau nọ bỗng xảy ra một chuyện gì đó và anh thôi không đặt khẩu hiệu lên cửa sổ nữa, dù chỉ để cho lòng mình thấy thanh thản mà thôi. Anh không tham gia bầu cử nữa vì biết rằng đấy là trò nhảm nhí. Trong những cuộc hội nghị chính trị, anh bắt đầu nói những điều mình thực sự nghĩ. Thậm chí anh còn tìm được sức mạnh nội tâm, đủ sức bày tỏ tình đoàn kết với những người mà lương tâm buộc anh phải ủng hộ. Trong cuộc nổi dậy này, anh hàng rau đã bước ra khỏi “sống trong dối trá”. Anh vất bỏ nghi thức và phá vỡ các luật chơi. Anh tìm lại được bản sắc và nhân phẩm đã bị áp chế của mình. Anh cho rằng tự do là điều có ý nghĩa thực sự. Cuộc nổi dậy của anh là nỗ lực để sống trong sự thật…”

Anh ta sẽ phải trả giá:

He will be relieved of his post as manager of the shop and transferred to the warehouse. His pay will be reduced. His hopes for a holiday in Bulgaria will evaporate. His children's access to higher education will be threatened. His superiors will harass him and his fellow workers will wonder about him. Most of those who apply these sanctions, however, will not do so from any authentic inner conviction but simply under pressure from conditions, the same conditions that once pressured the greengrocer to display the official slogans. They will persecute the greengrocer either because it is expected of them, or to demonstrate their loyalty, or simply as part of the general panorama, to which belongs an awareness that this is how situations of this sort are dealt with, that this, in fact, is how things are always done, particularly if one is not to become suspect oneself. The executors, therefore, behave essentially like everyone else, to a greater or lesser degree: as components of the post-totalitarian system, as agents of its automatism, as petty instruments of the social auto-totality.

“Anh phải trả giá ngay lập tức. Anh ta không được làm quản lí nữa và bị chuyển đến nhà kho. Lương sẽ hạ. Hi vọng về một kì nghỉ ở Bulgaria sẽ không còn. Việc vào đại học của con cái bị đe dọa. Cấp trên sẽ quấy rầy và đồng nghiệp sẽ nghi ngờ anh. Nhưng phần lớn những người sử dụng những biện pháp trừng phạt đó không phải vì thâm tâm họ kết tội anh, mà vì sức ép của hoàn cảnh, cũng chính là hoàn cảnh đã từng buộc anh hàng rau phải trưng ra cái khẩu hiệu chính thức kia. Họ ngược đãi anh là vì những người khác nghĩ là họ phải làm thế, hoặc để chứng tỏ lòng trung thành của mình, hoặc chỉ đơn giản là một phần của khung cảnh chung, cùng với nó là nhận thức về cách xử lí những trường hợp như thế này, mà trên thực tế là cách mà người ta vẫn làm với những trường hợp như thế, đấy là nói nếu người đó không muốn trở thành kẻ bị nghi ngờ. Vì vậy mà những kẻ ngược đãi cũng hành xử như tất cả những người khác, dù mức độ nghiêm trọng khác có khác nhau: họ hành xử như một thành phần của hệ thống hậu toàn trị, như một tác nhân của cỗ máy tự động, như là một công cụ đáng thương của nó vậy, họ cũng ứng xử như mọi người khác, cao thấp tùy người: với tư cách là các thành tố của hệ thống hậu toàn trị, với tư cách là nhân viên của cỗ máy tự động, như là các công cụ đáng thương của hệ toàn trị-tự động của xã hội.”

Havel concluded with his most famous exhortation: to live in truth was to deny the communist system its legitimacy, and ultimately its power:

Havel kết thúc tiểu luận của mình bằng lời kêu gọi nổi tiếng: sống trong sự thật là phủ nhận tính chính danh của chế độ cộng sản và cuối cùng là phủ nhận quyền lực của nó:

Thus the power structure, through the agency of those who carry out the sanctions, those anonymous components of the system, will spew the greengrocer from its mouth....The greengrocer has not committed a simple, individual offence, isolated in its own uniqueness, but something incomparably more serious. By breaking the rules of the game, he has disrupted the game as such. He has exposed it as a mere game. He has shattered the world of appearances, the fundamental pillar of the system. He has upset the power structure by tearing apart what holds it together. He has demonstrated that living a lie is living a lie. He has broken through the exalted facade of the system and exposed the real, base foundations of power. He has said that the emperor is naked. And because the emperor is in fact naked, something extremely dangerous has happened: by his action, the greengrocer has addressed the world. He has enabled everyone to peer behind the curtain. He has shown everyone that it is possible to live within the truth. Living within the lie can constitute the system only if it is universal. The principle must embrace and permeate everything. There are no terms whatsoever on which it can co-exist with living within the truth, and therefore everyone who steps out of line denies it in principle and threatens it in its entirety...

“Như vậy là, cơ cấu quyền lực - thông qua hành động của những người thi hành những biện pháp trừng phạt, thông qua những thành tố vô danh của hệ thống - sẽ đẩy anh bán rau ra khỏi miệng của nó. Hệ thống - thông qua những thành phần đã bị tha hóa trong dân chúng - sẽ trừng phạt anh vì anh dám nổi loạn. Nó phải làm thế vì logic của cỗ máy tự động và tự vệ buộc nó phải làm thế. Vì tính độc đáo của nó mà cuộc tấn công của anh hàng rau không phải là cuộc tấn công mang tính cá nhân, đơn lẻ và biệt lập, mà là cái gì đó nghiêm trọng hơn rất nhiều. Bằng việc phá vỡ luật chơi, anh đã làm gián đoạn cuộc chơi. Anh đã chỉ ra rằng nó chỉ là một trò chơi. Anh ta đã đập tan thế giới của ảo tưởng, tức là đập tan cái cột cái của hệ thống. Anh đã lật đổ cơ cấu quyền lực bằng cách xé toạc những thứ đã giúp cố kết nó lại với nhau. Anh ta đã chứng minh rằng sống trong dối trá chính là sống dối trá. Anh ta đã phá vỡ cái mặt tiền được thần thánh hóa của hệ thống và vạch trần nền tảng thực sự của quyền lực. Anh đã nói rằng hoàng đế cởi truồng. Và bởi vì trên thực tế hoàng đế đang cởi truồng, cho nên đã xảy ra một chuyện cực kì nguy hiểm: bằng hành động của mình, anh hàng rau đã phát đi lời kêu tới toàn thế giới. Anh giúp mọi người nhìn vào hậu trường. Anh đã cho tất cả mọi người thấy rằng có thể sống trong sự thật. Sống trong dối trá chỉ có thể tạo thành hệ thống nếu mọi người đều làm như vậy. Nguyên tắc của nó phải bao trùm và ngấm vào tất cả. Không có gì có thể cho phép nó cùng tồn tại với sống trong sự thật, và vì vậy mà tất cả những người bước qua vạch đều phủ định nó về mặt nguyên tắc và đe dọa tính toàn vẹn của nó.”

Havel practised what he preached. He himself was denied higher education, as the scion of a famous bourgeois family. Others might have curried favour by writing plays praising the regime. But he worked as a stage-hand, and studied drama in his spare time. As Czechoslovak communist rule eased in the 1960s, his plays were performed, and gained public acclaim. By 1968, he was a well-known and successful playwright.

Havel đã làm đúng như những gì ông rao giảng. Do xuất thân từ gia đình tư sản nổi tiếng, ông không được vào đại học. Những người khác có thể được ưu ái vì viết những vở kịch ca ngợi chế độ. Nhưng ông lại làm nhân viên sân khấu và nghiên cứu kịch nghệ trong lúc rỗi rãi. Trong những năm 1960, khi chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc tỏ ra bớt nghiêm khắc hơn trước, kịch của ông bắt đầu được dựng và được công chúng hoan nghênh. Đến năm 1968, ông đã là một kịch tác gia khá thành công và nổi tiếng.

For him and the rest of the country's cultural elite, the Soviet-led invasion posed a sharp problem: emigrate, collaborate, or face the consequences. Philosophers became stokers, and poets street-sweepers. Havel took a job in a brewery (which he wrote about in his play "Audience"). In the mid 1970s he moved into active opposition to the regime, defending the underground rock group Plastic People of the Universe and, in 1977, signing the dissident declaration "Charter 77".

Cuộc xâm lăng của Liên Xô đã đặt ra cho Vaslav Havel và toàn thể giới tinh hoa văn hóa của đất nước vấn đề cấp bách sau đây: di cư, cộng tác hay đối mặt với hậu quả. Các nhà triết học trở thành người đốt lò, còn nhà thơ thì đi quét rác. Havel vào làm trong nhà máy bia (công việc này được ông mô tả trong vở kịch “Audience”). Giữa những năm 1970 ông chuyển hẳn sang phe đối lập với chế độ và đứng lên bảo vệ nhóm nhạc rock có tên là “Những người bằng chất dẻo của vũ trụ”, năm1977 ông kí tuyên bố Hiến chương 77.

The late 1970s were tough years for the captive nations of the Soviet empire. Havel was jailed from 1979 to 1984, during which he wrote the letters to his wife, Olga, that later became part of perhaps his best-known book. He also spent many days under arrest and interrogation. Out of jail, his every move, visitor, letter, phone call and utterance were subject to scrutiny by the StB, the secret-police servants of Czechoslovakia's communist masters.

Cuối những năm 1970 là giai đoạn khắc nghiệt đối với những nước bị bắt làm tù binh của đế chế Xô Viết. Havel bị bỏ tù từ năm 1979 đến năm 1984, đấy là giai đoạn hình thành những bức thư gửi cho bà Olga, vợ ông. Những bức thư này sau đó đã trở thành một phần cuốn sách nổi tiếng nhất của ông. Ông còn bị giam cầm và thẩm vấn nhiều ngày nữa. Tuy sau đó đã được thả, nhưng mỗi bước đi, mỗi người khách, mỗi bức thư và mỗi cuộc điện thoại, mỗi lời nói của ông đều bị cơ quan StB (Státní bezpečnost – cơ quan an ninh Tiệp Khắc) của các ông trùm cộng sản Tiệp Khắc theo dõi sát sao.

His last bout of imprisonment came in happier circumstances. Communism was crumbling across the whole of the Warsaw Pact. in Poland his close friends and allies from Solidarity were on the verge of meeting their exhausted persecutors across (or to be more precise around) the negotiating table. At his parole hearing in April, the journalists, diplomats and friends (not exclusive categories) in the courtroom listened as prison officials solemnly gave evidence of the prisoner’s good behaviour. They could say nothing about his rehabilitation, but he had certainly not broken any prison rules. The small, tubby figure beamed and winked. That evening brought a mighty celebration in the palatial rooms of his riverside apartment. Many of those present had spent the last 20 years as the victims of the regime's bullying: for some, the fate was menial labour. For others, it was broken marriages, or children whose life chances were blighted (the StB would often use threats to children's welfare to browbeat the stubborn). The sense of bravery and resistance, matched with impending triumph, was palpable. The regime itself might not know it, but its victims did: the days of the old grey men with cold grey faces were numbered.

Lần đi tù cuối cùng của ông chấm dứt trong những hoàn cảnh hạnh phúc hơn. Trong tất cả các nước thuộc khối Warsaw, chế độ cộng sản lần lượt sụp đổ. Bạn bè và đồng minh của ông trong phong trào Đoàn kết ở Ba Lan sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán với những kẻ từng ngược đãi mình. Trong lần nghị án để có thể tạm tha ông vào tháng tư, các nhà báo, các nhà ngoại giao và bạn bè ông (họ thường đóng hai, thậm chí ba vai cùng một lúc) trong phòng xử thấy các quan chức nhà tù long trọng chưng ra bằng chứng về tư cách tốt của tù nhân. Họ không nói đến chuyện phục hồi, nhưng ông đã không vi phạm bất cứ qui định nào của trại giam. Ông chỉ ngồi im, mỉm cười và nháy mắt. Buổi chiều hôm đó – trong căn hộ sang trọng sát bờ sông của ông – đã biến thành ngày lễ thực sự. Nhiều người có mặt hôm đó đã phải chịu đựng sự ngược đãi của chế độ trong suốt 20 năm qua: có người phải đi làm đầy tớ. Một số khác thì gia đình tan vỡ hay con cái bị mất tương lai (StB thường đe dọa tương lai con cái nhằm khuất phục những kẻ cứng đầu). Lòng dũng cảm và kháng cự, sự háo hức chờ đợi chiến thắng đang cận kề, hiện diện khắp nơi. Có thể chế độ không biết điều đó, nhưng nạn nhân của nó thì biết: thời của những lão già với những bộ mặt nhăn nhó đang được tính từng ngày.

Havel was the de-facto leader of the Czechoslovak dissident movement, but it was not a role he enjoyed. He hated the intrusive phone calls from newspapers and radio stations, often retreating to his country cottage for some peace and quiet. He kept his appointments list on a small scrap of folded paper, sometimes entrusted to his beloved friend Zdeněk Urbánek, whose stately good manners and quavering English could deter even the pushiest television crews (many would turn up unannounced, determined to interview the "opposition leader" on the spot, regardless of convenience or even agreement). His habitual and even plaintive refrain was that he was a playwright, not a politician. His only desire was for a political system in which he could do the only job that he felt truly qualified to do.

Trên thực tế, Havel đã trở thành lãnh tụ của phong trào bất đồng ý kiến Tiệp Khắc, nhưng đấy không phải là vai trò làm ông thích thú. Ông không chịu được những cuộc điện thoại từ các tòa soạn báo và đài phát thanh và thường lui về nhà nghỉ của ông ở vùng quê cho yên tĩnh và thanh thản. Ông ghi danh sách những cuộc hẹn gặp vào một mảnh giấy nhỏ, đôi khi ông còn cử người bạn gần gũi nhất của mình là ông Zdeněk Urbánek, một người khéo léo và có vốn tiếng Anh đủ sức làm nản chí ngay cả những nhóm phóng viên truyền hình cao ngạo nhất (nhiều người tự tiện đến mà không hề báo trước, họ muốn phỏng vấn “lãnh tụ đối lập ngay tại trận” mà không thèm biết ông có đồng ý và có thấy thoải mái hay không). Havel thường nói rằng ông là nhà soạn kịch chứ không phải chính khách. Ước muốn duy nhất của ông là có một hệ thống chính trị, trong đó ông có thể làm công việc mà ông thích thú.

But events brushed such diffidence aside. After the riot police brutally broke up a student demonstration on November 17th 1989 Havel and his colleagues set up the Civic Forum—a determinedly non-partisan group that initially had no leaders.

Nhưng những sự kiện sau đó đã buộc ông phải từ bỏ thái độ khiêm nhường đó. Sau khi cảnh sát đàn áp dã man cuộc biểu tình của sinh viên vào ngày 17 tháng 11 năm 1989, Havel và bạn bè ông thành lập Diễn đàn nhân dân – đây là tổ chức không có lãnh tụ và dứt khoát không ngả về đảng phái nào.

But it was leadership that the demonstrators wanted as they swelled Wenceslas Square each day, always in greater numbers. As the regime opened negotiations with Civic Forum, and as heads rolled in both the party and the government, posters saying “Havel na Hrad” (Havel to the Castle) began appearing. In December he reluctantly agreed to run for president (forestalling an attempt to put forward the architect of the Prague Spring, Alexander Dubček). A bunch of cheeky Poles tried to get in on the act too, with posters saying “Havel na Wawel”. If the Czechoslovaks didn’t want him, they would make him king of Poland, to be crowned at the Wawel castle in Cracow.

Nhưng số người biểu tình chiếm giữ quảng trường Wenceslas càng ngày càng gia tăng, họ lại đang cần lãnh tụ. Khi chế độ bắt đầu đàm phán với Diễn đàn công dân và khi một số người, cả trong đảng lẫn chính phủ, bắt đầu mất chức thì cũng là lúc khẩu hiệu “Havel na Hrad” (Đưa Havel vào Lâu đài) bắt đầu xuất hiện trên đường phố. Tháng 12 ông miễn cưỡng ứng cử tổng thống (với mục đích ngăn chặn những cố gắng đưa kiến trúc sư của Mùa xuân Praha, ông Alexander Dubček, ra ứng cử). Một số người Ba Lan còn định tham gia vào chiến dịch này với khẩu hiệu “Havel na Wawel”. Nếu dân Tiệp Khắc không muốn ông làm tổng thống thì họ sẽ phong ông làm vua của Ba Lan, tức là ông sẽ lên ngôi trong lâu đài Wawel ở Cracow.

Havel confounded those who thought he was too dilettantish to be a proper president. He rollerskated through the corridors of Prague castle, exorcising the ghosts of the communist usurpers with his humanity and humour. His addresses to his fellow citizens on New Year's Eve 1989 and 1990 make illuminating and moving reading. In what would be a hallmark of his political approach, he made a point of lending support to beleaguered but like-minded figures abroad. He invited the Lithuanian leader Vytautas Landsbergis to Prague, as that country struggled to turn its declaration of independence from Soviet occupation into reality. He brought the Pope to Prague, overcoming the neurotic anti-Catholicism and secularism of some Czechs, who remember the counter-Reformation and priestly privilege as if they were yesterday. He was a close friend of the the Dalai Lama—almost the first foreign dignitary he received as president, and a visitor in the last days of his life. Others might counsel friendship with the mighty Chinese; for Havel matters of principle were just that. Having themselves been forgotten captives, the Czechs could not possibly forget the plight of the Tibetans, the Uighurs, the Belarusians and the Cubans.

Havel đã làm cho những người nghĩ rằng ông là dân nghiệp dư, không phù hợp với chức vụ tổng thống, phải bối rối. Ông bước nhanh qua hành lang Lâu đài Praha và dùng lòng nhân đạo và khả năng hài hước của mình để tống khứ bóng ma của những kẻ tiếm quyền cộng sản. Lời kêu gọi gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp năm mới 1989 và 1990 là những luận văn rất hay và cảm động. Trong những lời kêu gọi – sau này trở thành biểu tượng của cách tiếp cận chính trị của ông – Havel khẳng định rằng ông sẵn sàng giúp đỡ những người đồng chí hướng và đang chịu đau khổ ở nước ngoài. Khi nước Lithuania đang đấu tranh để biến tuyên ngôn độc lập khỏi sự chiếm đóng của Liên Xô thành sự thật, ông đã mời lãnh tụ nước này là ông Vytautas Landsbergis tới Praha. Ông đã vượt qua được thái độ bài Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã và chủ nghĩa thế tục của một số người Czechs – những người vẫn coi phong trào phản-Cải cách và đặc quyền của giới tăng lữ như thể chuyện vừa mới xảy ra hôm qua – và mời Giáo hoàng tới Praha. Ông là bạn thân của Dalai Lama – Dalai Lama gần như là người đầu tiên đến thăm sau khi Havel trở thành tổng thống và cũng là khách trong những ngày cuối đời của ông. Một số người từng khuyên ông tỏ tình hữu nghị với nước Trung Quốc đầy quyền lực, nhưng đối với Havel nguyên tắc là nguyên tắc. Từng là những người bị chiếm đóng, người Czechs không thể quên được hoàn cảnh khốn khổ của người Tây Tạng, người Uighurs, người Bạch Nga và người Cuba.

He laid other ghosts of the past too: opening warm diplomatic ties with Israel and giving full co-operation to outside efforts to track down the many Arab terrorists who had trained in Czechoslavakia under communism. He also made a point of friendly ties with Germany—in those days a bogey figure for many Czechs and Slovaks, who feared that the expulsion of Sudeten and other Germans after 1945 was neither forgiven nor forgotten. He hosted the great Richard von Weizsäcker in Prague castle, issuing a carefully worded joint presidential declaration that, thanks to some fancy footwork with Czech grammar, squared the circles of Czech and German resentments about history.

Những bóng ma khác của quá khứ cũng bị Havel tống khứ: ông thiết lập quan hệ ngoại giao nồng ấm với Israel và hợp tác toàn diện với chính phủ nước ngoài nhằm tìm ra những tên khủng bố Arab đã từng được huấn luyện ở Tiệp Khắc thời cộng sản. Ông khẳng định phải có quan hệ hữu hảo với Đức – lúc đó nhiều người Czechs và Slovaks còn coi Đức là hiểm họa và sợ rằng Đức vẫn chưa quên và không tha thứ cho sự kiện là sau năm 1945 Tiệp Khắc đã xua đuổi người của họ ra khỏi vùng Sudete và những nơi khác. Ông đã tiếp Richard von Weizsäcker (Tổng thống Đức từ năm 1984 đến năm 1994 – ND) tại lâu đài Praha. Họ đã kí một bản tuyên bố chung với những lời lẽ rất thận trọng (nhờ sự mềm dẻo của ngữ pháp Tiệp), nhằm làm giảm những mối bất hòa của người Đức và người Tiệp về nhiều vấn đề lịch sử.

He did not succeed in saving Czechoslovakia from the depredations of ambitious politicians in Prague and Bratislava, who saw great possibilities for their own advancement in smaller and separate countries. But he returned as president of the Czech Republic in 1993 and again in 1998, piloting his country into the European Union and NATO. His great aim, he used to say, was that his countrymen could enjoy life untroubled by politics. But that was only one of his achievements. As a playwright and as an essayist, and as a philosopher of the human condition, his fame stretched far beyond the "small boring European country" whose return to freedom he had so lovingly overseen.

E. L.

Ông không thể giữ được Tiệp Khắc vì các chính trị gia đầy tham vọng ở Praha và Bratislava tin rằng họ có nhiều cơ hội thăng tiến khi quốc gia này bị phân chia thành những nước nhỏ bé hơn. Nhưng ông trở lại làm tổng thống Cộng hòa Tiệp trong cuộc bầu cử vào năm 1993 và năm 1998. Ông đã dẫn dắt đất nước vào Liên minh châu Âu và khối NATO. Ông thường nói rằng mục tiêu lớn nhất của ông là làm cho đồng bào mình có thể hưởng thụ cuộc sống không bị chính trị quấy rầy. Nhưng đấy chỉ là một trong những thành tựu của ông mà thôi. Ông còn là một kịch tác gia, một người viết tiểu luận và một triết gia nổi tiếng nữa, tiếng tăm của ông vượt ra ngoài biên giới của một “nước châu Âu nhỏ bé và chán ngắt”. Sự trở về với tự do của đất nước mình đã được ông dự báo từ trước bằng cả trái tim yêu thương của mình.

Translated by Phạm Nguyên Trường

http://www.economist.com/blogs/easternapproaches/2011/12/v%C3%A1clav-havel-memoriam