MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Sunday, March 18, 2012

How long will Ocean remain Indian? Ấn Độ Dương sẽ còn là của Ấn Độ bao lâu nữa?


How long will Ocean remain Indian?

Feb 17, 2012

Ấn Độ Dương sẽ còn là của Ấn Độ bao lâu nữa?
17/2/2012

Arun Kumar Singh


It’s only a matter of time before the Indian Ocean becomes a ‘Chinese lake’, with the Indian Navy losing even the slight technological edge that it has over the Chinese Navy

Việc Ấn Độ Dương trở thành một "ao nhà của Trung Quốc" chỉ còn là vấn đề thời gian, khi Hải quân Ấn Độ đánh mất ưu thế tiên tiến nhỏ bé về công nghệ mà nó đã có so với Hải quân Trung Quốc.

India’s neglect of holistic strategic planning, intelligence, energy security, seapower and national security have again exposed our vulnerabilities, as shown by the following recent events:

Sự thờ ơ của Ấn Độ trong lĩnh vực hoạch định chiến lược, tình báo, an ninh năng lượng, xây dựng cường quốc biển và an ninh quốc gia một lần nữa đã làm bộc lộ những yếu điểm của Niu Đêli qua một loạt những diễn biến gần đây.

(1) On February 7, a coup in the Maldives ousted at gunpoint the country’s first elected President, Mohamed Nasheed, after just three years in power.

(1) Ngày 7/2 tại Manđivơ xảy ra đảo chính, Tổng thống được bầu thông qua cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên ở quốc đảo này Mohamed Nasheet bị dí súng vào đầu buộc phải từ chức sau 3 năm cầm quyền.

(2) A study by the American Georgetown University recently said that China possibly possessed 3,000 nuclear weapons.

(2) Nghiên cứu của trường Đại học Georgetown cho thấy rằng Trung Quốc có khả năng sở hữu tới 3.000 đầu đạn hạt nhân.

(3) Seychelles has offered to provide refuelling facilities to Chinese warships.

(3) Xâyxen đề nghị cung cấp các cơ sở tiếp tế nhiên liệu cho tàu chiến Trung Quốc.

(4) After the Nato-inspired and aided violent regime change in oil-rich Libya, it appears now it’s the turn of oil and gas-rich Iran and its close ally, Syria.

(4) Sau khi phong trào nổi dậy được phương Tây (NATO) hậu thuẫn lật đổ chính quyền tại đất nước giàu dầu mỏ Libi, dường như giờ đây sẽ tới lượt Iran cũng có nguồn dự trữ dầu khí dồi dào và đồng minh của nước này là Xyri.

(5) The apparent thaw in Indo-Pak relations, coming as it does against the backdrop of Pakistan’s problems with the United States and Afghanistan.

(5) Sự tan băng rõ ràng trong quan hệ Ấn Độ – Pakixtan tương phản với quan hệ phức tạp và căng thẳng giữa Pakixtan với Mỹ và Ápganixtan.

All these events have a bearing — direct or indirect — on India’s national security.

Tất cả những diễn biến trên đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới an ninh quốc gia của Ấn Độ.

First Maldives. The coup represents, in part, the failure of Indian intelligence and diplomatic-military response. I visited the archipelago in 2005 as director-general, Indian Coast Guard, and interacted with the police and coast guard of that country who were worried about introduction of democracy in their country and the rise of Pakistani-inspired Islamic fundamentalism in Maldives. This archipelago of 1,191 islands has a population of four lakh (mostly Muslim), and its economy is totally dependent on tourism.

Trước hết là vấn đề Manđivơ. Cuộc đảo chính mới đây bộc lộ thất bại về tình báo và phản ứng ngoại giao – quân sự của Ấn Độ. Tới thăm quần đảo Manđivơ năm 2005 với tư cách Chỉ huy lực lượng bảo vệ bờ biển Ấn Độ và tiếp xúc với cảnh sát và lính bảo vệ bờ biển quốc đảo này. Họ bày tỏ lo ngại về việc đưa các giá trị dân chủ vào nước họ cũng như sự nổi lên của thế lực Hồi giáo được Pakixtan khuyến khích. Quần đảo Manđivơ có 1.191 đảo với dân số 400.000 người, trong đó người Hồi giáo chiếm đa số, và nền kinh tế nước này hoàn toàn phụ thuộc vào ngành du lịch.

Some Islamic hardliners are opposed to the government’s tourism policy, that’s why liquor and pork are served at only about 180 segregated island resorts to skimpily clad, rich (mostly Western) foreigners who come to enjoy the beautiful sun and sea. These resorts do not employ locals, and all hotel services are rendered by foreigners (a mix of Europeans, Indians, Sri Lankans, Nepalese and Filipinos). The indigenous Maldivian people live in about 300 segregated islands, including the capital Male, a small three-mile island. According to my sources, some Maldivians have joined terrorists in Kashmir, and that itself is a reason why a friendly, moderate government in Male would be in India’s interest. More so since, after 2030, the archipelago is expected to be submerged and Maldivians are expected to migrate to Kerala.

Một số người Hồi giáo theo đường lối cứng rắn phản đối chính sách của Chính phủ Manđivơ về phát triển du lịch, điều giải thích tại sao rượu và thịt lợn chỉ được bán tại khoảng 180 đảo du lịch biệt lập nhằm thu hút những khách du lịch giàu có (chủ yếu người phương Tây) tới quốc đảo này để thưởng thức ánh nắng mặt trời rực rỡ và những bãi biền tuyệt đẹp. Làm việc tại những đảo du lịch nghỉ mát này không phải người địa phương mà là những người nước ngoài được thuê từ châu Âu, Ấn Độ, Philíppin, Xri Lanca, Nêpan. Người gốc Manđivơ sống trên khoảng 300 đảo riêng biệt, trong; đó có thủ đô Malê, một đảo nhỏ dài khoảng 3 dặm. Theo tin tình báo, một số người Manđivơ tham gia các nhóm khủng bố tại vùng Casơmia, và chỉ riêng điều này cũng đã là lý do khiến Ấn Độ phải quan tâm tới việc có một chính phủ thân thiện và ôn hoà như ở Manđivơ. Hơn thế nữa, dự tính sau năm 2030, quốc đảo Manđivơ sẽ bị nhấn chìm do tình trạng nước đại dương dâng cao bởi hiện tượng ấm lên toàn cầu và người nước này được cho là sẽ di cư tới bang Kêrala của Ấn Độ.

Second, China’s nuclear weapons. The recent American estimation of Chinese nuclear weapons, is far higher than the earlier media estimate of 240 nuclear weapons. Georgetown University’s study goes to show that India is clueless about the magnitude of Chinese nuclear arsenal, a pointer to India’s complete lack of intelligence on China. Which also means it’s time we reviewed our nuclear weapons stockpile and nuclear doctrine.

Thứ hai, vấn đề hạt nhân của Trung Quốc. Đánh giá gần đây của Mỹ về kho vũ khí hạt nhân của Bắc Kinh vượt xa con số các phương tiện thông tin đại chúng vẫn đưa ra trước đây: 240 đơn vị đầu đạn hạt nhân. Con số thông báo của Đại học Georgetown cho thấy tình báo Ấn Độ “mù tịt” về kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc cũng như việc Ấn Độ hoàn toàn thiếu tin tức tình báo về Trung Quốc. Điều đó cũng có nghĩa là đã tới lúc Niu Đêli cần phải xem xét lại kho vũ khí hạt nhân cũng như học thuyết hạt nhân của mình.

Thirdly, Seychelles’ offer to Chinese Navy warships to dock at its ports indicates a failure of Indian diplomacy and intelligence in its own backyard. With Chinese warships soon using the Gwadar port (funded and built by China for Pakistan), the Hambantota port (funded and built by China for Sri Lanka) and new sea terminals at the Chittagong port (funded and built again by China for Bangladesh), it’s only a matter of time before the Indian Ocean becomes a “Chinese lake”, with the Indian Navy losing even the slight technological edge (data link and lead in carrier borne naval aviation) that it has over its Chinese counterpart.

Thứ ba, Xây Xen đề xuất cho tàu chiến Trung Quốc cập các bến cảng nước này chứng tỏ thất bại về ngoại giao và tình báo của Ấn Độ ở ngay sân sau cua mình. Với việc Trung Quốc sẽ sớm sử dụng cảng Gwada (Pakixtan), Hambantota (Xri Lanca) và các bến cảng mới ở Chittagong (Bănglađét), đều là các cơ sở do Trung Quốc cấp vốn và xây dựng, việc Ấn Độ Dương trở thành “ao nhà của Trung Quốc” chỉ còn là vấn đề thời gian và Hải quân Ấn Độ đang đánh mất chút lợi thế còn lại về công nghệ (hoạt động truyền dữ liệu và lực lượng không quân của hải quân) đối với Hải quân Trung Quốc.

A handful of Indians (even fewer in the military and intelligence agencies) know Mandarin. There is an urgent need to teach Mandarin in our schools and to set up a “National China Institute” (NCI). Selected Indian diplomats and intelligence and military personnel should be trained at the proposed NCI. This will provide the national leadership with credible intelligence and inputs on China’s economy, military and diplomatic endeavours so that India can protect its national interests in good time and not be perpetually surprised. It’s good that the Indian Naval Academy at Ezimala, Kerala, has now made it compulsory for its naval cadets to study either Chinese (Mandarin) or Arabic.

Có rất ít người Ẩn Độ (thậm chí còn ít hơn nữa trong các cơ quan tình báo và quân đội) biết tiếng Trung Quốc. Bởi vậy việc dạy tiếng Trung Quốc trong các trường học phổ thông và thành lập Viện nghiên cứu quốc gia về Trung Quốc là yêu cầu bức thiết. Những nhà ngoại giao, các nhân viên tình báo và quân sự Ấn Độ được lựa chọn cần phải được học các lớp huấn luyện tại Viện nghiên cứu này. Điều đó sẽ giúp cung cấp cho lãnh đạo đất nước những thông tin tình báo tin cậy về các nỗ lực kinh tế, quân sự và ngoại giao của Trung Quốc nhằm giúp Ấn Độ có thể bảo vệ lợi ích quốc gia của mình đúng lúc và không bị bất ngờ. Điều đáng khuyến khích là Học viện hải quân Ấn Độ tại Eizimala, bang Kêrala, đã bắt đầu dạy tiếng Trung Quốc và tiếng Arập cho các học viên.

Fourth is the Nato-inspired “regime change”. There are dozens of autocratic regimes in the world, but the West is keen to see through regime change only in oil-rich nations like Libya and Iran. Syria, which has little oil, has also been selected for regime change, for geo-strategic reasons.

Thứ tư, sự thay đổi chế độ được NATO khuyến khích và trợ giúp. Trên thế giới có hàng chục chế độ cực quyền, song phương Tây muốn chỉ nhìn thấy sự thay đổi ở những nước nhiều dầu mỏ như Libi và Iran. Xyri có ít dầu mỏ nhưng được lựa chọn cho sự thay đổi vì những lý do địa chính trị.

It’s a Sunni majority (74 per cent) nation, where the rulers are from the 12 per cent Alawite (Shia) community. The rulers of Syria are very friendly towards Iran (the world’s only Shia majority Muslim nation), and have good relations with Iraq and Lebanon. Regime change in Syria will be difficult because Syria’s only naval base (Tartous) hosts the Russian Navy, so Western navies will not get a friendly port for “regime change operations” like they did in Libya when the British Navy used Benghazi. Hence, President Assad may survive “regime change”.

Tại Xyri người Hồi giáo dòng Sunni chiếm đa số (74%), trong khi quyền lực lại nằm trong tay người Hồi giáo dòng Shiite chiếm có 12% dân số. Giới cầm quyền Xyri rất thân thiện với Iran (nước duy nhất trên thế giới người Shiite- chiếm đa số) và có quan hệ tốt với Irắc và Apganixtan. Việc thay đổi chế độ ở Xyri là rất khó khăn do căn cứ hải quân duy nhất Tartou của Xyri có tàu chiến của Nga, bởi vậy hải quân phương Tây sẽ không thể có được một hải cảng thân thiện dùng cho các hoạt động phục vụ cho việc thay đổi chế độ như từng xảy ra tại Libi như trường hợp hải quân Anh sử dụng cảng Benghazi. Bởi vậy, Tổng thống Assad có thể sống sót trước “làn sóng thay đổi chế độ” hiện nay.

Since Iran (unlike North Korea and Pakistan) does not have nuclear weapons, it can only threaten to block the Strait of Hormuz. Besides Iran’s February 15 disclosure of a fourth-generation nuclear centrifuge and enrichment of uranium to 20 per cent, and its oil embargo on six EU nations, along with the alleged February 13-14 attacks on Israeli diplomats, has greatly increased the possibility of an Israeli-American strike on Iran.

Do Iran không có vũ khí hạt nhân như Bắc Triều Tiên, nên nước này chỉ có thể đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz. Ngoài việc khai trương máy ly tâm làm giầu urani thế hệ thứ 4 và làm giàu chất phóng xạ này tới 20%, cấm vận dầu lửa đối với 6 nước châu Âu, việc bị cáo buộc gây ra các cuộc tấn công hai ngày 13-14/2 vào các nhà ngoại giao Ixraen đã làm gia tăng khả năng xảy ra một cuộc tấn công phối hợp giữa Ixraen và Mỹ nhằm vào Iran.

Any such action will result in a global economic disruption, with countries like India suffering the most, since our strategic oil reserves are about 30 days as against the accepted international norms of 180 days. Even if the US Navy uses force to keep the Strait of Hormuz open, the conflict would soon result in Western air and cruise missile strikes on Iranian ports, airfields, coastal missile batteries and other military installations, along with “nuclear weapon building facilities”.

Bất kỳ một hành động tương tự nào như vậy cũng sẽ gây hậu quả tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu, trong đó các nước như Ấn Độ sẽ bị tác động nhiều nhất bởi lượng dự trữ dầu mỏ chiến lược của Ấn Độ chỉ đủ dùng trong 30 ngày thay vì 180 ngày theo tiêu chuẩn quốc tế. Thậm chí ngay cả trong trường hợp hải quân Mỹ dùng vũ lực giữ cho eo biển Hormuz lưu thông thì cuộc xung đột tất yếu sẽ dấn tới các cuộc tấn công bằng không quân và tên lửa hành trình của phương Tây nhằm vào các hải cảng, sân bay, các đơn vị tên lửa ven biển và các cơ sở quân sự khác cũng như “các cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân” của Iran.

This conflict will take weeks, the Strait of Hormuz will remain closed. That is why India needs to step up its oil and gas reserves, operationalise the Koodankulam civil nuclear reactors and have contingency plans to evacuate Indian expatriates from West Asia.

Cuộc xung đột sẽ kéo dài nhiều tuần, eo biển Hormuz sẽ bị đóng cửa. Vì vậy, Ấn Độ cần tăng cường nhanh lượng dự trữ dầu lửa và khí đốt tự nhiên, sớm vận hành các lò phản ứng hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Koodankulam cùng các kế hoạch tổng thể về sơ tán các công dân của mình khỏi khu vực Tây Á.

The writer, a vice-admiral, retired as Flag Officer Commanding-in-Chief of the Eastern Naval Command, Visakhapatnam

Tác giả bài viết, một phó đô đốc nghỉ hưu khi đang giữ chức Tư lệnh hạm độ Hải quân miền Đông, Visakhapatnam

http://www.asianage.com/columnists/how-long-will-ocean-remain-indian-196

India’s strategic challenges NHỮNG THÁCH THỨC CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ



India’s strategic challenges

NHỮNG THÁCH THỨC CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI ẤN ĐỘ

K. Subarahmanyam, The Indian Express

Feb 04 2012

K. Subarahmanyam, The Indian Express

Feb 04/2/2012

India and the US, with their shared values, have every reason to form a lasting partnership.

Ấn Độ và Mỹ, với những giá trị chung, có mọi lý do để hình thành một quan hệ đối tác lâu dài.

Among the strategic challenges facing India are those relating to defence policy, nuclear strategy, and governance. India is the world’s fourth-largest military power and has fought five wars against neighbours that are today nuclear-armed revisionist states advancing territorial claims against it. But India has lacked an ability to formulate future-oriented defence policies, managing only because of short-term measures, blunders by its adversaries, and force superiority in its favour. The cardinal mistake of India’s leaders was flouting the principle that chiefs of staff should never be in command of their forces. Separating command and staff functions enables the service chiefs to focus on defence planning and policymaking, including procurement, human resources, and military diplomacy. Theatre commanders handle the administration, daily management, operational planning, and operational training of forces. This is the practice of all large, modern armed forces, but there is no demand to rectify this shortcoming in India.

Các thách thức chiến lược đối với Ấn Độ chủ yếu liên quan tới chính sách quốc phòng, chiến lược hạt nhân, và quản lý. Ấn Độ là nước có lực lượng quân sự lớn thứ tư thế giới và đã có 5 cuộc chiến tranh với các nước láng giềng hiện đã được vũ trang bằng vũ khí hạt nhân và có tranh chấp chủ quyền với Ấn Độ. Tuy nhiên, Ấn Độ lại thiếu khả năng xây dựng các chính sách quốc phòng mang tính định hướng cho tương lai, chỉ xử lý được đối với các biện pháp ngắn hạn, những sai lầm của các đối thủ, và giành được ưu thế cho mình. Việc phân chia chức năng giữa bộ chỉ huy và bộ tham mưu cho phép các viên chỉ huy tập trung vào việc vạch kế hoạch và chinh sách quốc phòng, trong đó có lĩnh vực mua sắm trang thiết bị vũ khí, nguồn nhân lực, và các chính sách ngoại giao quốc phòng. Các viên chỉ huy chiên trường nắm quyền lãnh đạo, xử lý công việc hàng ngày, và huấn luyện binh sĩ. Đó là hoạt động bình thường của tất cả các lực lượng vũ trang lớn và hiện đại, song yêu cầu chỉnh sửa những khiếm khuyết này không tồn tại ở Ấn Độ.

At present, defence policymaking is ad hoc, short-term, and service-specific. The state of readiness of forces and jointness of operations, training, and planning have not been addressed. Although a Chief of Defence Staff has been discussed, the position is not in harmony with India’s size and democratic structure; a Joint Chiefs of Staff Committee under a full-time chairman is more appropriate. The National Security Council, which had been expected to address policy incoherence and inadequate strategic planning, burdened itself with executive responsibilities. The services intelligence directorates are ill-equipped for long-term intelligence assessments, and area specialists are few, suggesting a greater need for think tanks. The armed forces have also not fully though through important aspects of nuclear policy and strategy. In a nuclear era, the role of the military becomes, essentially, preventing wars from breaking out through appropriate weapons acquisitions, force deployment patterns, the development of infrastructure, military exercises, and defence diplomacy. This is a far more demanding task than peacetime operations in a pre-nuclear age.

Hiện nay việc hoạch định chính sách quốc phòng có tính bột phát, ngắn hạn, và mang nặng tính dịch vụ. Tình trạng sẵn sàng của các lực lượng vũ trang, sự phối hợp các hoạt động, huấn luyện và quy hoạch không được quan tâm giải quyết. Mặc dù chức Tổng tham mưu trưởng được thảo luận từ nhiều năm qua, song vị trí này không phù hợp với tầm vóc và cấu trúc dân chủ của Ấn Độ; một Hội đồng tham mưu trưởng được lãnh đạo bởi một Chủ tịch Hội đồng tham mưu thì thích hợp hơn. Hội đồng An ninh quốc gia, mà vốn được xem là không nhất quán về chính sách và vạch chiến lược không đầy đủ, thì lại quá bận rộn với các trách nhiệm hành chính. Các cơ quan tình báo được trang bị nghèo nàn nên không thể đánh giá tình báo dài hạn, và có ít chuyên gia trong lĩnh vực này, do vậy rất cần phải có các think tanks. Trong thời đại hạt nhân, vai trò của lực lượng vũ trang về cơ bản là ngăn ngừa chiến tranh nổ ra thông qua việc đắc thủ các loại vũ khí thích hợp, mô hình triển khai lực lượng, phát triển cơ sở hạ tầng, tập trận và ngoại giao quốc phòng. Đây là nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều so với hoạt động của quân đội thời bình lúc thế giới chưa có vũ khí hạt nhân.

India is a reluctant nuclear power. After the Bangladesh war, India opted for a “recessed deterrence”, but this position could not be sustained after a 1979 intelligence assessment that Pakistan was attempting to acquire nuclear weapons. Indo-Pakistani nuclear deterrence is often viewed in the West through the prism of the Cold War, with doubts about the viability of India’s no-first-use doctrine and concerns about an arms race. But theirs is not an unconstrained competition, and India’s position has always been that deterrence is not proportionate to the number of warheads a country faces. No-first-use is also at the essence of deterrence, as the threat of a first strike is plain aggression. Although China was first in announcing a no-first-use policy, its caveat is that areas considered parts of China are excluded. The more important challenge with China is not nuclear confrontation but its defying international regimes and norms.

Ấn Độ là một cường quốc hạt nhân thờ ơ. Sau chiến tranh Bănglađét, Niu Đêli lựa chọn chiến lược “giảm răn đe”, song lập trường này không thể duy trì được sau năm 1979 khi cơ quan tình báo đánh giá rằng Pakixtan đã tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân. Sự răn đe hạt nhân giữa Ấn Độ và Pakixtan thường được phương Tây nhìn nhận qua lăng kính Chiến tranh Lạnh, với sự hoài nghi về khả năng của học thuyết không đánh đòn hạt nhân phủ đầu của Ấn Độ và lo ngại về một cuộc chạy đua vũ trang. Mặc dù lo ngại của họ là lẽ tự nhiên, và Ấn Độ luôn có lập trường cho rằng sự răn đe không tỷ lệ thuận với số lượng các đầu,đạn hạt nhân mà một nước phải đương đầu. Không đánh đòn phủ đầu về bản chất là một sự răn đe trong khi đe dọa đánh đòn phủ đầu rõ ràng là hiếu chiến. Mặc dù Trung Quốc là nước đầu tiên tuyên bố chính sách không đánh đòn hạt nhân phủ đầu, song thách thức lớn nhất từ phía Trung Quốc không phải là đối đầu hạt nhân mà là việc họ bất chấp các quy tắc và luật lệ quốc tế.

As a revisionist state espousing terror as state policy, Pakistan’s conception of deterrence is radically different from that generally accepted by the international community. Pakistan’s lesson from various crises over the last twenty-five years was that India had been successfully deterred. Other than perhaps during Operation Parakram, India, not being a revisionist state, has never been deterred because it never contemplated aggression against Pakistan. Successive Indian governments have proclaimed that a stable and prosperous Pakistan is in India’s interests, but these sentiments have never been reciprocated. Given Pakistan’s nuclear deterrent, India must resort to engagement as the only viable strategy against terrorism. India is handicapped because Pakistan defines itself as anti-Indian, and its army is against developing commercial or social contacts with India. As Pakistan requires American aid, the US has a better chance of increasing Pakistani dependency in order to persuade it to give up terrorism as a state policy.

Hành động như một nhà nước xét lại coi xuất khẩu khủng bố là một chính sách nhà nước, quan niệm về răn đe của Pakixtan hoàn toàn khác với quan niệm chung được chấp nhận trong cộng đồng quốc tế. Các bài học của Pakixtan từ các cuộc khủng hoảng khác nhau trong 25 năm gần đây là Ấn Độ đã bị răn đe có hiệu quả. Ngoài giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng Parakram, Ấn Độ, không bao giờ bị răn đe bởi không bao giờ dự định tấn công Pakixtan. Các chính phủ kế tiếp của Ấn Độ đều tuyên bố rằng một nước Pakixtan ổn định và phồn vinh là có lợi cho Ấn Độ, song quan điểm này không bao giờ được đáp lại. Do Pakixtan có khả năng răn đe hạt nhân nên Ấn Độ buộc phải sử dụng tới các biện pháp can dự như một chiến lược duy nhất có thể chống khủng bố. Ấn Độ bị rơi vào thế bất lợi bởi Pakixtan tự xác định họ là đối thủ của Ấn Độ, và quân đội Pakixtan chống lại việc phát triển các quan hệ thương mại và xã hội với Ấn Độ. Do Pakixtan cần tới sự viện trợ của Mỹ nên Oasinhtơn có cơ hội tốt hơn trong việc tăng cường sự phụ thuộc của Ixlamabát nhằm thuyết phục họ từ bỏ sử dụng khủng bố như một công cụ chính sách nhà nước.

A final note on governance:

It is a myth that India’s political classes submit themselves to public accountability at every election. India’s first-past-the-post elections, in which as little as 25 per cent support can produce victory, results in patronage politics that favour some sections of the population at the expense of the majority. Democracy therefore does not always result in the fair delivery of goods and services to the entire population. Non-inclusive growth is consequently not a result of globalisation but of patronage politics. Politicians also often have a vested interest in keeping voters poor, as it costs less to buy their votes. As long as the first-past-the-post system prevails, corruption, caste politics, and the poor delivery of goods and services by the state will continue, and the elimination of poverty and illiteracy will be hampered. The simplest solution is run-off elections if candidates are unable to attain a majority, but second-preference voting is another possibility.

Thách thức về quản lý

Ý nghĩ cho rằng các tầng lớp chính trị Ấn Độ chịu giải trình trước công chúng trong các cuộc bầu cử là điều hoang đường. Trong các cuộc bầu cử ở nước này, chỉ cần nhận được sự ủng hộ của 25% cử tri là có thể thắng cử. Điếu đó dẫn tới nền chính trị có lợi cho một số bộ phận dân chúng và gây thiệt hại cho đa số. Như vậy, nền dân chủ không phải bao giờ cũng mang lại một cách công bằng hàng hoá và dịch vụ cho toàn thể dân chúng. Sự tăng trưởng không dung nạp không phải là kết quả của tiến trình toàn cầu hoá, mà là sự bảo trợ của chính trị. Các chính trị gia cũng thường có lợi ích trong việc duy trì tình trạng nghèo khó của cử tri bởi họ sẽ tốn ít tiền hơn để mua phiếu bầu. Chừng nào hệ thống bầu cử quy định ứng cử viên giành số phiếu cao nhất (không cần đa số quá bán) là người thắng cử còn tồn tại thì nạn tham nhũng, nền chính trị dựa trên cơ sở đẳng cấp, và tình trạng nhà nước mang lại hàng hoá và dịch vụ nghèo nàn cho người dân tiếp tục tồn tại, và tiến trình xoá bỏ nghèo đói và mù chữ sẽ bị tổn hại. Giải pháp đơn giản nhất là bầu cử lại nếu ứng cử viên không giành được đa số phiếu bầu, tuy nhiên việc bầu vòng hai lại là một khả năng khác.

India’s foreign relations:

The transformation of the Indo-US relationship from estranged democracies to strategic partners is bound to take time, and relations should not be measured by the number of successful transactions. The shared values of both countries — democracy, pluralism, tolerance, openness, and respect for freedoms and human rights — acquire a greater prominence in building a more peaceful, prosperous, inclusive, secure, and sustainable world. The relationship must therefore be assessed on its progress in setting up structures that make it more effective in countering the challenges of the 21st century. In addition to terrorism, failing states, organised crime, pandemics, and nuclear proliferation, there are threats to various global commons — such as international waters, cyber space, and outer space — which cannot be addressed unilaterally or through NATO-like military alliances. In any other age, China’s rapid and inevitable rise would also probably have led to war, but that is unthinkable in a nuclearised and globalised era. US advantages in its competition with China include China’s ageing and unfavourable demographics, US immigration policies, and its culture of innovation. But to sustain its preeminence, the US still has every incentive to enter into a partnership with India, a democratic, pluralistic, and secular country with a young population that will soon exceed China’s.

Các quan hệ đối ngoại của Ấn Độ

Sự thay đổi của mối quan hệ Ấn -Mỹ từ các nền dân chủ lạnh nhạt với nhau thành các đối tác chiến lược đòi hỏi phải có thời gian, không được đánh giá mối quan hệ này dựa trên số lượng các vụ giao dịch thành công. Các giá trị cùng chia sẻ của hai nước: nền dân chủ, đa nguyên, sự khoan dung, công khai minh bạch, và tôn trọng quyền tự do và quyền con người – đóng vai trò quan trọng lớn hơn trong việc xây dựng một thế giới hoà bình, phồn vinh, dung nạp, an toàn và bền vững. Do vậy, cần phải đánh giá mối quan hệ này trên cơ sở tiến trình xây dựng các cơ cấu khả dĩ giúp đối phó có hiệu quả với các thách thức phải đương đầu trong thế kỷ 21. Ngoài chủ nghĩa khủng bố, các nhà nước thất bại, tội phạm có tố chức, dịch bệnh, và tình trạng phổ biến hạt nhân, hiện tồn tại các thách thức chung khác đối với toàn cầu tại các vùng biển quốc tế, không gian mạng, và không gian vũ trụ - các vấn đề vốn không thể được giải quyết bằng cách đơn phương hay bởi các liên minh tương tự như NATO. Trong bất kỳ kỷ nguyên nào khác, sự nổi lên nhanh chóng và không thể tránh khỏi của Trung Quốc chắc chắn sẽ dẫn tới chiến tranh, song đó là điều không thể tưởng tượng được trong kỷ nguyên hạt nhân và toàn cầu hoá. Các ưu thế của Mỹ trong cạnh tranh với Trung Quốc như tình trạng dân số đang già đi và không có lợi ở Trung Quốc, chính sách nhập cư của Mỹ và văn hoá sáng tạo của nước này. Tuy nhiên, để duy trì các lợi thế của mình, Mỹ cần tăng cường phát triển quan hệ đối tác với Ấn Độ, một nước dân chủ, đa nguyên và thế tục có lực lượng dân số trẻ và sẽ sớm vượt Trung Quốc về dân số.

What about Indian interests? If not sabotaged by poor governance and corruption, India’s growth will make it the world’s third-largest economy. It could then try to develop further on its own, but will be unable to bridge the vast gaps between it and the US and China. It could cooperate with China, but the Chinese model is inadequate for a diverse country such as India. Finally, it could partner with the US, a country that is home to a large Indian diaspora and shares India’s values. Other countries — including Japan, France, and Germany — face similar concerns as India. Together, the leaders of the democratic world must face the combined challenges of authoritarianism and jehadism, which cannot be countered by military means alone. Comprehensive and cooperative action by democracies, who constitute more than half the world’s population for the first time in history, is therefore necessary. Global governance must rely upon networks of bilateral strategic partnerships among democratic powers that manage rather than impose outcomes, and provide a powerful response to the challenges they face.

Đâu là lợi ích của Ấn Độ? Nếu không bị huỷ hoại bởi tình trạng quản lý kém và nạn tham nhũng hoành hành, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao sẽ đưa Ấn Độ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Khi đó, Ấn Độ có thể thiết lập sẽ tiếp tục phát triển dựa trên cơ sở nội lực của mình, song không thể vượt qua được khoảng cách quá lớn giữa Ấn Độ với Mỹ và Trung Quốc. Ấn Độ có thể hợp tác với Trung Quốc, nhưng mô hình Trung Quốc không thích hợp với một đất nước đa dạng như Ấn Độ. Suy cho cùng, Ấn Độ có thể thiết lập quan hệ đối tác với Mỹ, đất nước có số lượng lớn người gốc Ấn Độ và cùng chia sẻ những giá trị chung với Ấn Độ. Các nước khác như Nhật Bản, Đức và Pháp cũng phải đương đầu với các quan ngại như Ấn Độ. Các nhà lãnh đạo của thế giới dân chủ phải cùng nhau đương đầu với chủ nghĩa cực quyền và lực lượng Hồi giáo cực đoan, những thứ không thể chỉ đối phó bằng các biện pháp quân sự. Lần đâu tiên trong lịch sử, sự hợp tác toàn diện trong hành động của các nền dân chủ chiếm hơn một nửa dân số toàn cầu do vậy là rất cần thiết. Sự quản lý toàn cầu cần phải dựa trên các hệ thống quan hệ chiến lược song phương giữa các cường quốc dân chủ có thể giúp quản lý hơn là áp đặt các kết quả, và tạo điều kiện cho phản ứng mạnh mẽ đối với các thách thức phải đương đầu.

Indian strategic thinker K. Subrahmanyam passed away on February 2, 2011. This article is the second of two adapted by Dhruva Jaishankar from four of Subrahmanyam’s unpublished essays on grand strategy, Indian foreign relations, defence policy, and nuclear deterrence

Nhà tư tưởng chiến lược Ấn Độ K. Subrahmanyam qua đời vào ngày 02 tháng 2 2011. Bài viết này là bài thứ hai trong hai bài đã được Dhruva Jaishankar biên tập lại từ bốn tiểu luận của Subrahmanyam về chiến lược lớn, quan hệ đối ngoại của Ấn Độ, chính sách quốc phòng, và răn đe hạt nhân chưa được công bố.

http://www.indianexpress.com/news/indias-strategic-challenges/907592/