MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Monday, February 20, 2012

THE SECRET GARDEN 1- KHU VƯỜN BÍ MẬT 1





THE SECRET GARDEN
KHU VƯỜN BÍ MẬT
by Frances Hodgson Burnett
Frances Hodgson Burnett
The Secret Garden, written by Frances Hodgson Burnett, is a charming book about a girl named Mary Lennox. She is a spoiled and sickly child who lives in India. When her parents die because of a cholera epidemic, she moves to Misselthwaite Manor to live with her rich uncle in England. Things are a definite change for her. Slowly she becomes stronger and starts to take an interest in the outdoors. She meets all sorts of people like Martha, Dickon, and Colin. Martha is a maid on the grounds who has taken a fancy to Mary, and Dickon is her brother. Dickon is quite an unusual fellow. He possesses the ability to talk to animals and is able to grow anything with a little bit of soil. Colin, who you will meet later in the story, is a child who has basically given up the will to live, believing he is doomed to be a hunchback like his father. Strong-willed Mary reprimands him and takes matters into her own hands. Mary has all kinds of adventures with strange sounds at night, funny accents, and a locked garden. The Secret Garden is a wonderful book about friendship, determination, and perseverance.
Secret Garden, của Frances Hodgson Burnett, là một cuốn sách dễ thương về một cô gái tên là Mary Lennox. Nó là một đứa trẻ được nuông chiều và hay bệnh tật, sống ở Ấn Độ. Khi cha mẹ cô chết vì bệnh dịch tả, cô chuyển đến Misselthwaite Manor sống với người chú giàu có của mình ở Anh. Mọi thứ hoàn toàn thay đổi với nó. Dần dần cô bé trở nên mạnh mẽ hơn và bắt đầu thích ra ngoài ngoài trời. Cô bé gặp gỡ đủ mọi những người như Martha, Dickon, và Colin. Martha là một cô hầu gái tại điền trang rất thích Mary và Dickon là em trai của cô ấy. Dickon là chàng trai khác thường. Anh có khả năng nói chuyện với động vật và có thể trồng bất cứ thứ gì với một ít đất. Colin, người mà bạn sẽ gặp ở phần sau của câu chuyện này, là một con người về cơ bản đã từ bỏ ý chí muốn sống, tin rằng ông đã bị kết tội làm một gã gù giống như cha mình. Mary với chí mạnh mẽ đã khiểmắng mỏ anh ta và nhúng tay vào giải quyết vấn đề. Mary đi vào mọi cuộci của cuộc phiêu lưu với những âm thanh kỳ lạ vào ban đêm, những giọng nói buồn cười, và một khu vườn bị khóa. Khu vườn bí mật là một cuốn sách tuyệt vời về tình bạn, quyết tâm, và kiên trì.
In the secret garden is where magical things take place! While it is where Mrs. Craven died and the cause of her husband's sadness, it returned the life to their son who believed he will die young and that he is invalid. How did this garden change Mary as well as Collin? It is a story about a secret garden which holds many secrets inside it!
Ghadeer Faris
Trong khu vườn bí mật là nơi những điều kỳ diệu xảy ra! Dù đó là nơi bà Craven qua đời và là nguyên nhân khiến người chồng buồn bã, khu vườn này đã trả lại cuộc sống cho con trai của họ - mà vốn tin rằng nó sẽ chết trẻ và phải làm người tàn phế. Làm thế nào mà khu vườn này thay đổi được Mary cũng như Collin? Đó là một câu chuyện về một khu vườn bí mật nắm giữ nhiều bí mật bên trong nó.
Ghadeer Faris

Translated by nguyenquang





CHAPTER 1

CHAPTER I
THERE IS NO ONE LEFT
Chương 1: Không còn ai trên đời
When Mary Lennox was sent to Misselthwaite Manor to live with her uncle everybody said she was the most disagreeable-looking child ever seen. It was true, too. She had a little thin face and a little thin body, thin light hair and a sour expression. Her hair was yellow, and her face was yellow because she had been born in India and had always been ill in one way or another. Her father had held a position under the English Government and had always been busy and ill himself, and her mother had been a great beauty who cared only to go to parties and amuse herself with gay people.
Khi Mary Lennox được gửi tới Trang viên Misselthwaite để sống với bác của nó, mọi người đều bảo rằng nó là một đứa trẻ khó coi nhất mà họ từng thấy. Quả cũng không ngoa. Con bé có khuôn mặt mỏng dính, thân hình gầy gò, mái tóc sáng màu lơ thơ, lại còn hay gắt gỏng. Tóc nó vàng hoe, mặt cũng vàng bệch bởi nó sinh ra ở Ấn Độ và thường xuyên đốm đau, không bệnh này thì tật nọ. Cha nó từng có một chân trong chính phủ Anh, ông lúc nào cũng bận rộn lại thường đau yếu. Còn mẹ nó đẹp mê hồn, bà chỉ quan tâm đến các buổi tiệc tùng, thích tiêu khiển với những con người vui tươi, hạnh phúc.
She had not wanted a little girl at all, and when Mary was born she handed her over to the care of an Ayah, who was made to understand that if she wished to please the Mem Sahib she must keep the child out of sight as much as possible. So when she was a sickly, fretful, ugly little baby she was kept out of the way, and when she became a sickly, fretful, toddling thing she was kept out of the way also. She never remembered seeing familiarly anything but the dark faces of her Ayah and the other native servants, and as they always obeyed her and gave her her own way in everything, because the Mem Sahib would be angry if she was disturbed by her crying, by the time she was six years old she was as tyrannical and selfish a little pig as ever lived. The young English governess who came to teach her to read and write disliked her so much that she gave up her place in three months, and when other governesses came to try to fill it they always went away in a shorter time than the first one. So if Mary had not chosen to really want to know how to read books she would never have learned her letters at all.
Bà chẳng hề muốn có một đứa con gái nhỏ, cho nên khi Mary vừa ra đời bà bèn giao nó ngay cho một Ayah chăm sóc, và cô này được nhắc nhở rằng nếu muốn làm vui lòng Memsahib thì cô phải lo sao cho đứa bé càng khuất mắt bà càng tốt. Chính vì thế, từ khi còn là đứa bé sơ sinh ốm nhóc, quấy quả và xấu xí, nó đã bị xa lánh; và rồi đến khi trở thành một sinh vật luôn ốm yếu, quấy quả và xấu xí, nó cũng bị xa lánh nốt. Nó không sao nhớ nổi một cái gì thân thiết ngoài những khuôn mặt đen nhẻm của các Ayah cùng dăm ba người đầy tớ bản địa khác; và vì họ luôn luôn vâng lời nó, và để cho nó làm mọi thứ theo cách của nó, bởi vì Memsahib sẽ nổi giận nếu bà bị tiếng khóc của nó làm phiền. Nên mới 6 tuổi thôi mà nó đã ngạo ngược, ích kỷ. Cô gia sư người Anh đến dạy nó đọc và viết ghét nó đến nỗi được ba tháng là cô ta đã bỏ việc, rồi khi các gia sư khác đến thế chỗ thì họ còn bỏ đi nhanh hơn cả cô giáo đầu. Thế nên, nếu Mary không thực sự muốn đọc sách thì nó cũng chẳng thèm học chữ làm gì.
One frightfully hot morning, when she was about nine years old, she awakened feeling very cross, and she became crosser still when she saw that the servant who stood by her bedside was not her Ayah.
Khi con bé lên 9 tuổi, vào một buổi sáng nóng như thiêu đốt, nó thức dậy với cảm giác vô cùng bực bội, rồi lại càng bực bội hơn nữa khi thấy người đầy tớ đứng ngay cạnh giường mà không phải là Ayah của nó.
"Why did you come?" she said to the strange woman. "I will not let you stay. Send my Ayah to me."
- Cô đến đây làm gì? Nó hỏi người phụ nữ lạ mặt.
- Tôi không khiến cô ở đây. Trả Ayah cho tôi.
The woman looked frightened, but she only stammered that the Ayah could not come and when Mary threw herself into a passion and beat and kicked her, she looked only more frightened and repeated that it was not possible for the Ayah to come to Missie Sahib.
Cô gái nọ tỏ ra hốt hoảng, nhưng cô ta chỉ lắp bắp rằng Ayah không thể tới được. Con bé liền đùng đùng nổi giận, nó đấm đá cô hầu túi bụi. Cô ta chỉ càng thêm kinh hoàng hơn nữa, miệng vẫn lặp đi lặp lại rằng Ayah không thể tới hầu hạ Misse Sahib được nữa.
There was something mysterious in the air that morning. Nothing was done in its regular order and several of the native servants seemed missing, while those whom Mary saw slunk or hurried about with ashy and scared faces. But no one would tell her anything and her Ayah did not come. She was actually left alone as the morning went on, and at last she wandered out into the garden and began to play by herself under a tree near the veranda. She pretended that she was making a flower-bed, and she stuck big scarlet hibiscus blossoms into little heaps of earth, all the time growing more and more angry and muttering to herself the things she would say and the names she would call Saidie when she returned.
Buổi sáng hôm đó có một vẻ gì thật bí ẩn. Chẳng ai động chân động tay theo cái trật tự vốn đã đều đặn hàng ngày, dường như cả những người đầy tớ địa phương cũng lặn mất tăm. Nhưng còn những người mà Mary nhìn thấy thì hoặc lẩn đi hoặc chạy vội vàng với những khuôn mặt tái nhợt và đầy sợ hãi. Không ai nói gì với nó, cả Ayah của nó cũng không tới. Nó đã bị bỏ rơi suốt buổi sáng và cuối cùng đành phải thơ thẩn bước ra vườn, lủi thủi chơi một mình dưới tán cây gần hàng hiên. Nó giả bộ như đang trồng một luống hoa bằng cách cắm mấy bông dâm bụt đỏ to tướng vào các đống đất nhỏ, và mỗi lúc một thêm tức tối, miệng lẩm bẩm những gì nó sẽ nói với Saidie khi cô quay về.
"Pig! Pig! Daughter of Pigs!" she said, because to call a native a pig is the worst insult of all.
She was grinding her teeth and saying this over and over again when she heard her mother come out on the veranda with some one. She was with a fair young man and they stood talking together in low strange voices. Mary knew the fair young man who looked like a boy. She had heard that he was a very young officer who had just come from England. The child stared at him, but she stared most at her mother. She always did this when she had a chance to see her, because the Mem Sahib--Mary used to call her that oftener than anything else--was such a tall, slim, pretty person and wore such lovely clothes. Her hair was like curly silk and she had a delicate little nose which seemed to be disdaining things, and she had large laughing eyes. All her clothes were thin and floating, and Mary said they were "full of lace." They looked fuller of lace than ever this morning, but her eyes were not laughing at all. They were large and scared and lifted imploringly to the fair boy officer's face.
“Đồ con lợn! Con lợn!” Nó văng tục, bởi vì gọi một người bản xứ là con lợn là một sự lăng mạ kinh khủng nhất trong mọi sự lăng mạ. Nó đang nghiến răng đay đi đay lại từ đó thì chợt nghe thấy tiếng chân mẹ nó bước ra hành lang với ai đó. Bà đi cùng một thanh niên có khuôn mặt khả ái, họ đang hạ thấp giọng trò chuyện. Mary biết người thanh niên đẹp trai có dáng vẻ thiếu niên kia. Nghe nói anh ta là một sĩ quan trẻ vừa từ nước Anh sang. Con bé nhìn anh ta chằm chằm, nhưng rồi nó nhìn vào mẹ nó còn chăm chú hơn. Nó luôn làm vậy mỗi khi có dịp thấy bà, bởi vì Memsahib – Mary thường gọi bà như vậy thay cho bất kỳ cách xưng hô nào khác – quả là một phụ nữ xinh đẹp, dáng người mảnh dẻ, dong dỏng và ăn vận hết sức dễ thương. Mái tóc bà mềm mại như tơ với những lọn quăn quăn. Bà có cái mũi nhỏ thanh tú vẻ kiêu kỳ cùng đôi mắt to như đang cười. Tất cả y phục của bà đều mỏng tang, tha thướt mà con bé Mary bảo rằng chúng được làm “toàn bằng ren”. Sáng nay, váy áo của bà còn đính nhiều đăng ten hơn thế, thế nhưng đôi mắt bà lại chẳng cười chút nào. Chúng mở rộng, hốt hoảng và ngước lên đầy vẻ van nài trước khuôn mặt viên sĩ quan điển trai.
"Is it so very bad? Oh, is it?" Mary heard her say.
"Awfully," the young man answered in a trembling voice. "Awfully, Mrs. Lennox. You ought to have gone to the hills two weeks ago."
- Lẽ nào lại tồi tệ đến vậy? Ôi, lẽ nào? Mary nghe thấy mẹ nó rên rỉ.
- Khủng khiếp! – Chàng trai trả lời bằng giọng run run. – Khủng khiếp quá, bà Lennox ạ. Lẽ ra bà nên về vùng đồi từ hai tuần trước mới phải.
The Mem Sahib wrung her hands.
"Oh, I know I ought!" she cried. "I only stayed to go to that silly dinner party. What a fool I was!"
Memsahib vặn hai bàn tay vào nhau. - Ôi, tôi hiểu lẽ ra tôi phải làm thế! – Bà kêu lên. – Trong khi tôi ở lại đây vì những buổi tiệc tùng ngớ ngẩn kia. Thực ngu xuẩn làm sao!
At that very moment such a loud sound of wailing broke out from the servants' quarters that she clutched the young man's arm, and Mary stood shivering from head to foot. The wailing grew wilder and wilder. "What is it? What is it?" Mrs. Lennox gasped.
Đúng lúc đó, có tiếng kêu gào than khóc vang lên từ khu nhà bọn gia nhân khiến bà vịn chặt vào cánh tay chàng trai, còn Mary thì run lập cập từ đầu tới chân. Tiếng kêu gào mỗi lúc một trở nên man dại.
"Some one has died," answered the boy officer. "You did not say it had broken out among your servants."
"I did not know!" the Mem Sahib cried. "Come with me! Come with me!" and she turned and ran into the house.
- Cái gì thế? Cái gì thế? – Bà Lennox hổn hển thốt lên.
- Chắc có ai chết – Viên sĩ quan trẻ đáp. – Bà chẳng bảo vừa có chuyện xảy ra trong đám gia nhân của bà đó sao.
- Tôi không biết! – Memsahib kêu to. – Đi với tôi! Đi với tôi nào!– Đoạn bà quay lưng chạy vào nhà.
After that, appalling things happened, and the mysteriousness of the morning was explained to Mary.
Ngay sau đó, những điều kinh hoàng xảy đến với Mary, và bí ẩn của buổi sáng đã được làm rõ.
The cholera had broken out in its most fatal form and people were dying like flies. The Ayah had been taken ill in the night, and it was because she had just died that the servants had wailed in the huts. Before the next day three other servants were dead and others had run away in terror. There was panic on every side, and dying people in all the bungalows.
Bệnh tả đang bùng phát dữ dội, người chết đông như ruồi. Ayah đã bị căn bệnh tấn công trong đêm, và bởi vì cô vừa mới chết mà đám gia nhân gào lên trong lều. Cho tới ngày hôm sau, 3 gia nhân nữa cũng lăn quay ra chết, số còn lại bỏ chạy tán loạn trong nỗi kinh hoàng. Sự hoảng loạn bao trùm khắp nơi, thi hài nằm ngổn ngang trong tất cả các ngôi nhà một tầng.
During the confusion and bewilderment of the second day Mary hid herself in the nursery and was forgotten by everyone. Nobody thought of her, nobody wanted her, and strange things happened of which she knew nothing. Mary alternately cried and slept through the hours. She only knew that people were ill and that she heard mysterious and tightening sounds. Once she crept into the dining-room and found it empty, though a partly finished meal was on the table and chairs and plates looked as if they had been hastily pushed back when the diners rose suddenly for some reason. The child ate some fruit and biscuits, and being thirsty she drank a glass of wine which stood nearly filled. It was sweet, and she did not know how strong it was. Very soon it made her intensely drowsy, and she went back to her nursery and shut herself in again, frightened by cries she heard in the huts and by the hurrying sound of feet. The wine made her so sleepy that she could scarcely keep her eyes open and she lay down on her bed and knew nothing more for a long time.
Trong cơn bối rối hoang mang của ngày hôm sau, Mary trốn vào căn phòng dành riêng cho trẻ nhỏ, mọi người cũng quên khuấy mất nó. Không một ai nhớ đến nó, cũng chẳng ai màng tới nó, và những điều kinh sợ nhất vừa xảy ra xung quanh mà nó thì chẳng hiểu gì. Mary hết k​êu khóc rồi lại ngủ thiếp đi từ giườ này sang giờ khác. Nó cứ tưởng mọi người bị ốm, nó còn nghe thấy những âm thanh huyền bí, ghê rợn. Có lần nó bò vào phòng ăn thì thấy căn phòng trống trơn, mặc dầu thức ăn vẫn con dang dở trên bàn, ghế và đĩa ăn ngổn ngang khắp phòng như thể những người đang ngồi ăn đột ngột đứng phắt dậy bởi một lý do nào đó. Con bé ăn mấy trái cây và bánh bích quy, nó thấy khát nên uống cốc rượu vang vẫn còn khá đầy. Có vị ngọt, và nó không thể lường được rượu mạnh như thế nào. Chẳng mấy chốc, rượu khiến nó buồn ngủ rũ, nó bèn lê về phòng riêng, chốt cửa phòng lại. Lúc này, nó vẫn còn thấy sợ những tiếng kêu khóc từ dãy lều vẳng lại cùng tiếng chân người vội vã. Rượu khiến nó buồn ngủ đến nỗi không thể mở nổi mắt ra, cứ thế nằm vật xuống giường, không còn biết trời đất gì nữa trong một khoảng thời gian dài.
Many things happened during the hours in which she slept so heavily, but she was not disturbed by the wails and the sound of things being carried in and out of the bungalow.
Bao nhiêu chuyện đã xảy ra giữa lúc nó ngủ mê mệt như thế. Những tiếng than khóc và âm thanh của mọi thứ diễn ra bên trong và bên ngoài toà nhà một tầng không lay động nổi nó.
When she awakened she lay and stared at the wall. The house was perfectly still. She had never known it to be so silent before. She heard neither voices nor footsteps, and wondered if everybody had got well of the cholera and all the trouble was over. She wondered also who would take care of her now her Ayah was dead. There would be a new Ayah, and perhaps she would know some new stories.
Tỉnh giấc, nó nằm dài và nhìn chòng chọc vào bức tường. Ngôi nhà hoàn toàn yên tĩnh. Nó chưa bao giờ thấy ngôi nhà vắng lặng đến thế. Nó nghe rõ tiếng nói lẫn tiếng bước chân và tự nhủ không biết mọi người đã khỏi bệnh và những rắc rối đã qua đi chưa. Nó cũng tự hỏi bây giờ ai sẽ là người chăm sóc nó vì Ayah của nó đã chết rồi. Chắc hẳn sẽ là một Ayah mới, và có lẽ cô ấy cũng có biết một vài câu chuyện mới để kể nó nghe.
Mary had been rather tired of the old ones. She did not cry because her nurse had died. She was not an affectionate child and had never cared much for any one. The noise and hurrying about and wailing over the cholera had frightened her, and she had been angry because no one seemed to remember that she was alive. Everyone was too panic-stricken to think of a little girl no one was fond of. When people had the cholera it seemed that they remembered nothing but themselves. But if everyone had got well again, surely some one would remember and come to look for her.
Mary đã phát chán với các Ayah cũ. Nó không khóc khi nghe tin người vú em của nó chết. Nó không phải là một đứa trẻ quá quyến luyến hay thực sự quan tâm tới ai. Tiếng náo loạn và than khóc bởi dịch tả khiến nó thấy kinh sợ, và nó tức giận vì dường như không một ai biết rằng nó còn sống. Mọi người đều đang kinh hoàng đến nỗi chẳng còn nhớ tới một con bé không ai ưa. Khi tất cả đều nhiễm bệnh thì họ chẳng nhớ tới gì khác ngoài bản thân họ. Khi họ khỏi bệnh rồi, chắc sẽ có ai đó nhớ ra nó và đi tìm.
But no one came, and as she lay waiting the house seemed to grow more and more silent. She heard something rustling on the matting and when she looked down she saw a little snake gliding along and watching her with eyes like jewels. She was not frightened, because he was a harmless little thing who would not hurt her and he seemed in a hurry to get out of the room. He slipped under the door as she watched him.
Nhưng chẳng một ai tới, trong khi nó nằm chờ đợi thì ngôi nhà dường như mỗi lúc một vắng lặng hơn. Nó nghe có tiếng sột soạt trên tấm thảm cói, nhìn xuống thì thấy một con rắn nhỏ vừa trườn đi vừa nhìn nó với đôi mắt tựa hai viên ngọc. Con bé không hề sợ vì nó biết con rắn chỉ là một sinh vật nhỏ bé vô hại. Con rắn kia có vẻ vội vàng muốn rút khỏi phòng. Nó lủi mất dưới khe cửa ra vào trong khi Mary cứ mãi nhìn theo.
"How queer and quiet it is," she said. "It sounds as if there were no one in the bungalow but me and the snake."
- Thật kỳ cục, sao lại yên lặng thế nhỉ? – Nó lẩm bẩm. – Hình như chẳng còn ai trong nhà ngoài mình và con rắn.
Almost the next minute she heard footsteps in the compound, and then on the veranda. They were men's footsteps, and the men entered the bungalow and talked in low voices. No one went to meet or speak to them and they seemed to open doors and look into rooms. "What desolation!" she heard one voice say. "That pretty, pretty woman! I suppose the child, too. I heard there was a child, though no one ever saw her."
Gần như ngay tức thì, nó nghe thấy tiếng bước chân ở ngoài khoảng đất rào kín, rồi ngoài hiên. Đúng là tiếng chân đàn ông, họ đang tiến vào ngôi nhà và thì thầm với nhau. Không có ai ra gặp hoặc nói gì với họ, và dường như họ đang mở cửa rồi nhìn vào từng phòng. – Ôi, hoang tàn! – Nó nghe ai đó nói. – Một phụ nữ thật xinh đẹp. Và một đứa trẻ thì phải, tôi nghe nói có một đứa trẻ ở đây, mặc dầu chưa ai trông thấy nó.
Mary was standing in the middle of the nursery when they opened the door a few minutes later. She looked an ugly, cross little thing and was frowning because she was beginning to be hungry and feel disgracefully neglected. The first man who came in was a large officer she had once seen talking to her father. He looked tired and troubled, but when he saw her he was so startled that he almost jumped back.
Mary đứng sững giữa phòng trẻ khi họ mở cửa phòng chỉ ít phút sau đó. Trông nó thực xấu xí, đáng sợ, mặt rầu rĩ cau có bởi vì nó bắt đầu cảm thấy đói, và có cảm giác là mình bị bỏ mặc một cách thật khốn khổ. Người đàn ông đầu tiên bước vào phòng là viên sĩ quan có thân hình vạm vỡ mà nó đã có lần thấy khi ông đang nói chuyện với cha nó. Nom ông có vẻ mệt mỏi và buồn rầu, nhưng vừa thấy con bé ông giật mình sửng sốt đến nỗi nhảy lùi lại.
"Barney!" he cried out. "There is a child here! A child alone! In a place like this! Mercy on us, who is she!"
"I am Mary Lennox," the little girl said, drawing herself up stiffly. She thought the man was very rude to call her father's bungalow "A place like this!" "I fell asleep when everyone had the cholera and I have only just wakened up. Why does nobody come?"
- Barney! – Ông kêu lên. – Có một đứa trẻ ở đây! Còn mỗi mình nó thôi! Giữa một nơi như thế này! Thật may cho chúng ta. Con cái nhà ai thế nhỉ?
- Cháu là Mary Lennox. – Con bé đáp và ngước lên một cách khó nhọc. Nó cho rằng người đàn ông này thật vô lễ vì dám gọi ngôi nhà một tầng của cha nó là “một nơi như thế này!”
"It is the child no one ever saw!" exclaimed the man, turning to his companions. "She has actually been forgotten!"
"Why was I forgotten?" Mary said, stamping her foot. "Why does nobody come?"
- Lúc mọi người bị mắc dịch tả thì cháu ngủ thiếp đi. Cháu cũng vừa mới dậy thôi. Tại sao không thấy ai tới?
- Chưa bao giờ gặp đứa trẻ nào như vậy! – Người đàn ông nọ thốt lên, quay sang mấy người đi cùng. – Con bé thật sự bị bỏ quên!
- Tại sao cháu lại bị bỏ quên? – Mary hỏi, giậm mạnh hai chân. – Sao không thấy ai đến?
The young man whose name was Barney looked at her very sadly. Mary even thought she saw him wink his eyes as if to wink tears away.
"Poor little kid!" he said. "There is nobody left to come."
Chàng trai có tên là Barney nhìn nó với vẻ mặt vô cùng rầu rĩ. Mary thấy anh ta chớp mắt liên tục tưởng như muốn ứa nước mắt.
- Em bé đáng thương! – Anh thốt lên – Làm gì còn ai mà đến.
It was in that strange and sudden way that Mary found out that she had neither father nor mother left; that they had died and been carried away in the night, and that the few native servants who had not died also had left the house as quickly as they could get out of it, none of them even remembering that there was a Missie Sahib. That was why the place was so quiet. It was true that there was no one in the bungalow but herself and the little rustling snake.
Một cách kỳ lạ và bất ngờ, Mary nhận ra nó không còn cả cha lẫn mẹ: rằng họ đã chết và được chở đi trong đêm, chỉ còn mấy tên đầy tớ người địa phương là sống sót và cũng nhanh chân chuồn khỏi nhà rồi; không một ai còn nhớ tới Cô chủ nhỏ. Đó là nguyên do tại sao khắp nơi lại vắng tanh vắng ngắt đến thế. Thực sự là chẳng còn ai trong ngôi nhà này ngoài con bé và con rắn nhỏ đang bò sột soạt.

Translated by Nguyễn Tuấn Khanh

CHAPTER 2

Chapter II
MISTRESS MARY QUITE CONTRARY
Chương 2
Quý cô Marry hoàn toàn trái ngược
Mary had liked to look at her mother from a distance and she had thought her very pretty, but as she knew very little of her she could scarcely have been expected to love her or to miss her very much when she was gone. She did not miss her at all, in fact, and as she was a self-absorbed child she gave her entire thought to herself, as she had always done. If she had been older she would no doubt have been very anxious at being left alone in the world, but she was very young, and as she had always been taken care of, she supposed she always would be. What she thought was that she would like to know if she was going to nice people, who would be polite to her and give her her own way as her Ayah and the other native servants had done.
Mary thích ngắm mẹ từ xa và thầm nhủ mẹ rất đẹp. Nhưng nó chẳng biết về bà được bao nhiêu, vậy nên khi bà qua đời, cũng khó lòng mà mong nó sẽ thương yêu hay thấy nhớ bà nhiều lắm. Trên thực tế, nó hoàn toàn không nhớ bà, nó là đứa trẻ chỉ quan tâm đến bản thân và chỉ biết có mình, như nó vẫn thường vậy. Gái như lớn hơn chút nữa thì ắt hẳn nó sẽ vô cùng lo sợ khi chỉ còn lại một mình trên đời; nhưng nó còn ít tuổi, hơn nữa lại luôn được hầu hạ chăm sóc nên nó cho rằng mình vẫn sẽ được như vậy. Điều nó quan tâm lúc này là liệu mọi người có đối xử tử tế và hầu hạ nó như Ayah và các đầy tớ người địa phương vẫn làm.
She knew that she was not going to stay at the English clergyman's house where she was taken at first. She did not want to stay. The English clergyman was poor and he had five children nearly all the same age and they wore shabby clothes and were always quarreling and snatching toys from each other. Mary hated their untidy bungalow and was so disagreeable to them that after the first day or two nobody would play with her. By the second day they had given her a nickname which made her furious.
Con bé biết nó sẽ không ở lại nhà ông mục sư người Anh là nơi nó được gửi đến trước tiên. Nó không thích ở đấy. Ông mục sư người Anh nọ vốn nghèo túng; ông có 5 đứa con sàn sàn tuổi nhau, đứa nào cũng ăn mặc lôi thôi xoàng xĩnh, suốt ngày chí choé vì tranh giành đồ chơi của nhau. Mary thấy căm ghét ngôi nhà một tầng lộn xộn bừa bãi của họ và tỏ ra khó chịu với bọn trẻ đến nỗi, chỉ sau một hai ngày, không đứa nào chịu chơi với nó. Sang ngày thứ 2, bọn trẻ đã tặng cho nó một biệt danh khiến nó vô củng tức tối.
It was Basil who thought of it first. Basil was a little boy with impudent blue eyes and a turned-up nose, and Mary hated him. She was playing by herself under a tree, just as she had been playing the day the cholera broke out. She was making heaps of earth and paths for a garden and Basil came and stood near to watch her. Presently he got rather interested and suddenly made a suggestion.
Thằng Basil là đứa nghĩ ra cái tên ấy trước tiên. Basil là một thằng nhóc có đôi mắt xanh hỗn xược và cái mũi hếch. Mary rất ghét thằng này. Con bé đang chơi một mình dưới tán cây, như nó từng chơi vào hôm bệnh tả bùng phát. Nó đang vun mấy đống đất và vài lối đi cho một khu vườn thì thằng Basil tới đứng ngay cạnh nhìn nó. Chẳng mấy chốc thằng bé tỏ ra quan tâm và đột nhiên gợi ý:
"Why don't you put a heap of stones there and pretend it is a rockery?" he said. "There in the middle," and he leaned over her to point.
"Go away!" cried Mary. "I don't want boys. Go away!"
- Sao mày không vun một đống đá ở đây giả vờ làm một ngọn núi, hả? Ở chỗ giữa này này. – Có cúi xuống phía con bé mà chỉ.
- Cút đi! – Mary kêu lên. – Tao không thích bọn con trai. Cút ngay!
For a moment Basil looked angry, and then he began to tease. He was always teasing his sisters. He danced round and round her and made faces and sang and laughed.
Thế là thằng Basil cáu tiết, rồi nó bắt đầu chòng ghẹo. Nó là chúa hay trêu chọc các chị em nó. Thằng nhóc nhảy vòng quanh con bé, phồng mồm trợn mắt, vừa nhảy vừa cười.
"Mistress Mary, quite contrary, How does your garden grow? With silver bells, and cockle shells, And marigolds all in a row."
Cô chủ Mary này, thật quá ư ngang ngược.
Làm sao vườn cô mọc nổi đây?
Khi chuông bạc rồi vỏ sò tạp nhạp.
Cùng cúc vạn thọ lẫn lộn cả một nơi.
He sang it until the other children heard and laughed, too; and the crosser Mary got, the more they sang "Mistress Mary, quite contrary"; and after that as long as she stayed with them they called her "Mistress Mary Quite Contrary" when they spoke of her to each other, and often when they spoke to her.
Thằng nhóc hát ông ổng cho đến khi bọn trẻ nghe thấy và bật cười. Con Mary càng bỏ xa thì chúng càng hát oang oang câu “Cô chủ Mary quá ư ngang ngược.” Sau đó, những lúc con bé ở với chúng thì chúng chuyển sang gọi nó là “Cô chủ Mary Ngang ngược”, lúc thì nói với nhau, lúc thì nói với nó.
"You are going to be sent home," Basil said to her, "at the end of the week. And we're glad of it."
"I am glad of it, too," answered Mary. "Where is home?"
- Mày sắp được gửi về nhà rồi đấy, - Basil bảo nó, - vào cuối tuần này. Chúng tao mừng cho mày.
- Tao cũng mừng. – Mary đáp. – Nhưng nhà ở đâu?
"She doesn't know where home is!" said Basil, with seven-year-old scorn. "It's England, of course. Our grandmama lives there and our sister Mabel was sent to her last year. You are not going to your grandmama. You have none. You are going to your uncle. His name is Mr. Archibald Craven."
- Nó không biết nhà ở đâu kìa! – Thằng Basil kêu lên với vẻ khinh thường ra mặt. – Dĩ nhiên là ở bên Anh. Bà nội của bọn tao sống ở đó, con em gái bọn tao là Mabel cũng được gửi sang cho bà vào năm ngoái. Nhưng mày thì không được gửi sang cho bà nội đâu. Vì mày làm gì có bà. Mày sẽ được gửi cho bác mày. Tên ông ấy là Archibald Craven.
"I don't know anything about him," snapped Mary.
"I know you don't," Basil answered. "You don't know anything. Girls never do. I heard father and mother talking about him. He lives in a great, big, desolate old house in the country and no one goes near him. He's so cross he won't let them, and they wouldn't come if he would let them. He's a hunchback, and he's horrid." "I don't believe you," said Mary; and she turned her back and stuck her fingers in her ears, because she would not listen any more.
- Tao không biết gì về ông ấy cả. – Mary gắt gỏng.
- Tao cũng rõ là mày không biết. – Thằng Basil đáp. - Mày chẳng biết gì hết. Bọn con gái đứa nào cũng vậy. tao có nghe cha mẹ tao nói về ông ta. Ông ta hiện đang sống trong một ngôi nhà cổ to tướng tiêu điều rộng lớn ở vùng quê, không một ai muốn tới gần ông ta. Ông ta hay cáu và không cho ai đến gần, mà mọi người cũng không ai đến nếu ông ta cho phép. Ông ta là một người lưng gù và rất đáng sợ.
- Tao không tin mày! – Mary đáp rồi quay phắt đi, lấy ngón tay bịt chặt hai tai lại bởi vì nó không muốn nghe thêm gì nữa.
But she thought over it a great deal afterward; and when Mrs. Crawford told her that night that she was going to sail away to England in a few days and go to her uncle, Mr. Archibald Craven, who lived at Misselthwaite Manor, she looked so stony and stubbornly uninterested that they did not know what to think about her. They tried to be kind to her, but she only turned her face away when Mrs. Crawford attempted to kiss her, and held herself stiffly when Mr. Crawford patted her shoulder.
Nhưng sau đó, điều ấy khiến nó suy nghĩ rất nhiều. Rồi đến đêm, lúc bà Crawford bảo với nó rằng trong vài ngày tới bà sẽ xuống tàu sang Anh để đến chỗ bác nó, ông Archibald Craven, hiện đang sống ở trang viên Misselthwaite, thì con bé trở nên lạnh lùng và thờ ơ bướng bỉnh đến nỗi mọi người không biết nghĩ sao về nó nữa. Họ cố đối xử tốt với nó, nhưng nó vẫn ngoảnh mặt đi khi bà Crawford muốn hôn nó, và cũng kiên quyết không nhân nhượng khi ông Crawford vỗ vỗ lên vai nó.
"She is such a plain child," Mrs. Crawford said pityingly, afterward. "And her mother was such a pretty creature. She had a very pretty manner, too, and Mary has the most unattractive ways I ever saw in a child. The children call her `Mistress Mary Quite Contrary,' and though it's naughty of them, one can't help understanding it."
- Nó chỉ là đứa trẻ hết sức bình thường. – Bà Crawford nói với vẻ mủi lòng. Còn mẹ nó, một phụ nữ mới xinh đẹp làm sao. Bà ấy có phong thái vô cùng trang nhã. Còn Mary lại có cái lối kém dễ thương nhất tôi từng thấy ở một đứa trẻ. Thảo nào bọn trẻ vẫn gọi nó là “Cô chủ Mary quá ư ngang ngược”. Và mặc dù chúng nói vậy thật hư nhưng người ta có thể hiểu được lý do tại sao.
"Perhaps if her mother had carried her pretty face and her pretty manners oftener into the nursery Mary might have learned some pretty ways too. It is very sad, now the poor beautiful thing is gone, to remember that many people never even knew that she had a child at all."
- Có lẽ nếu mẹ nó thường xuyên vào phòng trẻ với gương mặt dễ thương và kiểu cách thanh lịch của bà ấy thì hẳn là Mary cũng học được cách cư xử tử tế. Thực đáng buồn, con người xinh đẹp tội nghiệp ấy giờ đây đã khuất rồi, đâu có ngờ nhiều người chưa bao giờ biết rằng bà ấy có một đứa con.
"I believe she scarcely ever looked at her," sighed Mrs. Crawford. "When her Ayah was dead there was no one to give a thought to the little thing. Think of the servants running away and leaving her all alone in that deserted bungalow. Colonel McGrew said he nearly jumped out of his skin when he opened the door and found her standing by herself in the middle of the room."
Bà Crawford thở dài:
- Tôi cho rằng bà ta hiếm khi ngó ngàng đến nó. Từ khi Ayah của nó chết thì chẳng một ai để ý đến đứa trẻ bé bỏng ấy nữa. Cứ thử hình dung cảnh bọn đày tớ tháo chạy, bỏ mặc con bé trơ trọi trong ngôi nhà hoang ấy thì rõ. Đại tá MacGrew bảo ông ấy đã giật bắn mình khi vừa mở cửa thì thấy nó đứng sừng sững ngay giữa phòng.
Mary made the long voyage to England under the care of an officer's wife, who was taking her children to leave them in a boarding-school. She was very much absorbed in her own little boy and girl, and was rather glad to hand the child over to the woman Mr. Archibald Craven sent to meet her, in London. The woman was his housekeeper at Misselthwaite Manor, and her name was Mrs. Medlock.
Mary đã trải qua một chuyến hành trình dài sang Anh, nhờ vào sự chăm sóc của vợ một viên sĩ quan, bà này đang mang các con sang để gửi vào trường nội trú. Cậu con trai và cô con gái bé bỏng đã choán hết tâm trí bà, và bà lấy làm vui mừng khi gửi được Mary cho người phụ nữ mà ông Archibald Craven đã cử tới gặp bà ở Luân Đôn. Người này là quản gia của ông tại Misselthwaite, tên là Medlock.
She was a stout woman, with very red cheeks and sharp black eyes. She wore a very purple dress, a black silk mantle with jet fringe on it and a black bonnet with purple velvet flowers which stuck up and trembled when she moved her head. Mary did not like her at all, but as she very seldom liked people there was nothing remarkable in that; besides which it was very evident Mrs. Medlock did not think much of her.
Bà là một phụ nữ đẫy đà, hai má đỏ hây hây, đôi mắt đen láy sắc sảo. Bà vận y phục màu tía, bên ngoài khoác chiếc áo choàng rông không tay bằng lụa đen có đính diềm hạt huyền, chiếc mũ đen có dây buộc dưới cằm đính mấy bông hoa bằng nhung tía cứ rung tinh suốt mỗi khi bà quay đầu. Mary không ưa bà chút nào, cũng như nó hiếm khi ưa thích một ai, điều này chẳng có gì đáng lạ, hơn nữa rõ ràng bà Madlock không mấy để ý đến nó.
"My word! she's a plain little piece of goods!" she said. "And we'd heard that her mother was a beauty. She hasn't handed much of it down, has she, ma'am?" "Perhaps she will improve as she grows older," the officer's wife said good-naturedly. "If she were not so sallow and had a nicer expression, her features are rather good. Children alter so much."
- Nói thực tình, con bé trông chẳng có gì đặc biệt. Chúng tôi nghe đồn mẹ nó là một người nhan sắc. Con bé chẳng thừa hưởng ở mẹ được bao nhiêu, phải không bà?
- Biết đâu khi lớn lên chút nữa nó sẽ khác. – Bà vợ viên sĩ quan đáp với vẻ hiền hậu. – Nếu con bé không vàng bủng vàng beo, lại biết biểu lộ tình cảm một cách dễ thương thì nó cũng có những nét khá đấy chứ. Trẻ con chóng thay đổi lắm.
"She'll have to alter a good deal," answered Mrs. Medlock. "And, there's nothing likely to improve children at Misselthwaite--if you ask me!"
Bà Madlock đáp:
- Vâng, con bé còn thay đổi nhiều. Và không nơi đâu cải thiện lũ trẻ tốt bằng ở Misselthwaite, nếu như bà muốn biết ý kiến của tôi!
They thought Mary was not listening because she was standing a little apart from them at the window of the private hotel they had gone to. She was watching the passing buses and cabs and people, but she heard quite well and was made very curious about her uncle and the place he lived in. What sort of a place was it, and what would he be like? What was a hunchback? She had never seen one. Perhaps there were none in India.
Họ cứ tưởng Mary không nghe thấy bởi vì nó đứng bên cửa sổ cái khách sạn họ vừa mới tới, cách hai người khá xa. Con bé dù đang ngắm xe cộ và dòng người qua lại nhưng vẫn nghe rõ mồn một, nó hết sức tò mò về ông bác của mình và nơi ông đang sống. Chẳng hiểu chỗ ấy ra sao và ông ta là người như thế nào? Người lưng gù là người thế nào nhỉ? Nó chưa bao giờ nhìn thấy một người gù. Có lẽ ở Ấn Độ không có người gù.
Since she had been living in other people's houses and had had no Ayah, she had begun to feel lonely and to think queer thoughts which were new to her. She had begun to wonder why she had never seemed to belong to anyone even when her father and mother had been alive.
Kể từ ngày ăn nhờ ở đậu nhà người và không có Ayah bên cạnh, nó bắt đầu cảm thấy cô đơn và nảy ra trong đầu những ý nghĩ kỳ quặc chưa từng có. Nó cứ tự hỏi tại sao nó chẳng phải là con của ai cả, thậm chí ngay cả lúc cha mẹ nó còn sống.
Other children seemed to belong to their fathers and mothers, but she had never seemed to really be anyone's little girl. She had had servants, and food and clothes, but no one had taken any notice of her. She did not know that this was because she was a disagreeable child; but then, of course, she did not know she was disagreeable. She often thought that other people were, but she did not know that she was so herself. She thought Mrs. Medlock the most disagreeable person she had ever seen, with her common, highly colored face and her common fine bonnet.
Dường như đứa trẻ nào cũng thuộc về cha mẹ chúng, chỉ có mình nó chưa bao giờ thực sự là đứa con gái bé bỏng của ai đó. Nó đã từng có người hầu kẻ hạ, có cơm ăn áo mặc nhưng mấy ai để tâm tới nó. Nó không biết rằng đó là do nó là một đứa trẻ khó chịu; nhưng dĩ nhiên rồi, nó thì làm sao biết được nó lại là đứa trẻ khó chịu và đáng ghét kia chứ. Nó vẫn tưởng người khác mới như thế, chứ bản thân mình thì không. Con bé cho rằng bà Madlock là người đáng ghét nhất mà nó từng gặp, với khuôn mặt hồng hào nhưng tầm thường, cùng chiếc mũ xinh xinh tầm thường của bà ta.
When the next day they set out on their journey to Yorkshire, she walked through the station to the railway carriage with her head up and trying to keep as far away from her as she could, because she did not want to seem to belong to her. It would have made her angry to think people imagined she was her little girl.
Hôm sau, họ lên đường khởi hành tới Yorkshire, con bé rảo bước qua nhà ga để tới chỗ đoàn tàu hoả, nó ngẩn cao đầu và cố tránh càng xa bà ta càng tốt, bởi vì nó không muốn thiên hạ tưởng lầm rằng nó liên quan tới bà. Trong lòng vô cùng tức tối khi nghĩ tới việc mọi người cứ tưởng nó là đứa con gái nhỏ của bà ta.
But Mrs. Medlock was not in the least disturbed by her and her thoughts. She was the kind of woman who would "stand no nonsense from young ones." At least, that is what she would have said if she had been asked.
Nhưng bà Medlock không hề bị làm phiền bởi sự có mặt và những duy nghĩ nung nấu cùa con bé. Bà thuộc tuýp phụ nữ luôn “tỉnh bơ trước sự nhố nhăng của bọn nhóc”. Chí ít thì đó là điều bà sẽ đáp lại nếu như có ai hỏi bà.
She had not wanted to go to London just when her sister Maria's daughter was going to be married, but she had a comfortable, well paid place as housekeeper at Misselthwaite Manor and the only way in which she could keep it was to do at once what Mr. Archibald Craven told her to do. She never dared even to ask a question.
Quả tình bà không muốn tới Luân Đôn vào lúc cô con gái bà chị Maria của ba sắp cưới, nhưng vì bà đã kiếm được chân quản gia lương cao bổng hậu, công việc lại nhẹ nhàng tại trang viên Misselthwaite, âu cũng chỉ còn mỗi cách để bà có thể giữ được chỗ làm đó là phải răm rắp nghe theo những gì ông Archibald Craven bảo. Bà chưa bao giờ dám hỏi dù chỉ một câu. Ông Craven nói với một vẻ lạnh lùng cụt lủn:
"Captain Lennox and his wife died of the cholera," Mr. Craven had said in his short, cold way. "Captain Lennox was my wife's brother and I am their daughter's guardian. The child is to be brought here. You must go to London and bring her yourself."
- Đại úy Lennox và vợ ông đã qua đời vì bệnh tả. Đại úy là em vợ tôi và tôi là người giám hộ cho con gái của họ. Đứa trẻ đã được gửi đến đây. Bà phải đích thân đi Luân Đôn và mang nó về cho tôi.
So she packed her small trunk and made the journey. Mary sat in her corner of the railway carriage and looked plain and fretful. She had nothing to read or to look at, and she had folded her thin little black-gloved hands in her lap. Her black dress made her look yellower than ever, and her limp light hair straggled from under her black crepe hat.
Bà chỉ kịp sắp hành lý vào một cái rương nhỏ rồi đi ngay. Mary ngồi nép vào một góc trong toa xe hoả, nom nó có vẻ buồn rầu và khổ sở. Chẳng có gì để đọc hoặc để ngắm, nó chỉ còn biết đặt hai bàn tay mang găng màu đen mỏng dính trên vạt váy. Bộ váy màu đen khiến trông nó còn vàng vọt hơn trước đây, mấy lọn tóc mỏng tang ẻo lả loà xoà dưới chiếc mũ làm bằng loại vải mỏng nhẹ màu đen.
"A more marred-looking young one I never saw in my life," Mrs. Medlock thought. (Marred is a Yorkshire word and means spoiled and pettish.) She had never seen a child who sat so still without doing anything; and at last she got tired of watching her and began to talk in a brisk, hard voice.
“Một con nhóc hư nhất mình từng gặp trong đời.” - Bà Medlock nghĩ bụng. Quả thực bà chưa bao giờ thấy đứa trẻ nào cứ ngồi lì một chỗ chẳng động tay động chân; cuối cùng, đâm ra chán ngấy với việc phải nhìn nó, bà bèn cất giọng uy quyền với vẻ thản nhiên.
"I suppose I may as well tell you something about where you are going to," she said. "Do you know anything about your uncle?"
"No," said Mary.
"Never heard your father and mother talk about him?"
- Tôi cho rằng tôi có thể nói cho cô hay vài điều về nơi cô sắp đến. Cô có biết gì về người bác của cô không?
- Không. – Mary đáp.
- Cô chưa nghe cha mẹ cô nói gì về ông ấy sao?
"No," said Mary frowning. She frowned because she remembered that her father and mother had never talked to her about anything in particular. Certainly they had never told her things.
- Chưa. – Mary nhíu mày trả lời. Nó nhíu mày vì nó còn nhớ cha mẹ nó chẳng bao giờ nói với nó điều gì đặc biệt. Chắc chắn họ chưa bao giờ nói với nó điều gì như vậy cả.
"Humph," muttered Mrs. Medlock, staring at her queer, unresponsive little face. She did not say any more for a few moments and then she began again.
"I suppose you might as well be told something--to prepare you. You are going to a queer place."
Mary said nothing at all, and Mrs. Medlock looked rather discomfited by her apparent indifference, but, after taking a breath, she went on.
- Hừm… - Bà Medlock lầu bầu và nhìn chòng chọc vào khuôn mặt lạnh nhạt khó chịu của nó. Bà không nói gì trong giây lát, rồi lại lên tiếng. - Thiết nghĩ cô cũng phải được nghe đôi điều để còn chuẩn bị trước. Cô sắp sửa tới một nơi hết sức kỳ cục đấy. Mary chẳng nói chẳng rằng càng làm bà Medlock chưng hửng trước vẻ thờ ơ lộ liễu của con bé. Sau khi hít một hơi, bà lại tiếp tục:
"Not but that it's a grand big place in a gloomy way, and Mr. Craven's proud of it in his way--and that's gloomy enough, too. The house is six hundred years old and it's on the edge of the moor, and there's near a hundred rooms in it, though most of them's shut up and locked. And there's pictures and fine old furniture and things that's been there for ages, and there's a big park round it and gardens and trees with branches trailing to the ground--some of them." She paused and took another breath. "But there's nothing else," she ended suddenly.
- Đó không chỉ là một toà nhà đồ sộ, u ám, ảm đạm mà ông Craven vẫn tự hào theo cái cách riêng của ông ấy – dù kể ra thì nó cũng u ám thực. Toà nhà ấy những 600 tuổi rồi , nằm bên rìa một cánh đồng hoang và dễ có tới gần một trăm phòng trong đó, mặc dù hầu hết đều đóng kín và khoá chặt. Có cơ man nào là tranh, đồ nội thất cổ tinh xảo và những thứ đã nằm ở đó tự thưở nào. Cả một công viên lớn bao quanh nó, rồi các khu vườn, cây cối với tán lá loà xoà rủ cả xuống mặt đất – Bà ngừng lại một lát lấy hơi. – Ngoài ra chẳng còn gì. – Rồi đột nhiên, bà kết thúc.
Mary had begun to listen in spite of herself. It all sounded so unlike India, and anything new rather attracted her. But she did not intend to look as if she were interested. That was one of her unhappy, disagreeable ways. So she sat still.
Mary bắt đầu chú ý lắng nghe, mặc dù nó vẫn giả bộ thờ ơ. Tất cả những điều đó nghe có vẻ không giống Ấn Độ chút nào, và mọi thứ mới mẻ đều đang cuốn hút nó. Nhưng nó làm bộ không thèm quan tâm. Đó là một trong những cách nó gây khó chịu cho người khác. Và nó vẫn ngồi im.
"Well," said Mrs. Medlock. "What do you think of it?"
"Nothing," she answered. "I know nothing about such places."
That made Mrs. Medlock laugh a short sort of laugh.
"Eh!" she said, "but you are like an old woman. Don't you care?"
"It doesn't matter" said Mary, "whether I care or not."
"You are right enough there," said Mrs. Medlock. "It doesn't. What you're to be kept at Misselthwaite Manor for I don't know, unless because it's the easiest way. He's not going to trouble himself about you, that's sure and certain. He never troubles himself about no one."
- Vậy thì, - bà Medlock lên tiếng. – Cô nghĩ thế nào về chuyện đó?
- Chẳng nghĩ gì hết, - con bé đáp. – Tôi chẳng hiểu gì về những nơi như thế.
Câu trả lời khiến bà Medlock đột nhiên cười phá lên.
- Này, thế thì cô đúng là một bà già mất rồi. Cô không quan tâm gì sao?
- Tôi có quan tâm hay không thì chẳng có gì quan trọng. – Con bé đáp.
- Đến đây thì cô đúng, - bà Medlock đáp, - không có gì quan trọng. Cô được lưu lại trang viên Misselthwaite vì lý do gì thì tôi chịu, trừ phi bởi đó là cách dễ dàng nhất. Ông ấy chẳng bận tâm đến cô đâu, đó là điều chắc chắn. Ông ấy chưa bao giờ bận tâm đến ai cả.
She stopped herself as if she had just remembered something in time.
"He's got a crooked back," she said. "That set him wrong. He was a sour young man and got no good of all his money and big place till he was married."
Bà ta dừng lại như thể lúc ấy vừa chợt nhớ ra điều gì. - Ông ấy gù lưng. Có lẽ điều đó khiến ông luôn trong tâm trạng bất ổn. Ông còn trẻ mà đã hay cáu kỉnh, và cho tới khi lấy được vợ thì ông ấy chẳng biết dùng tiền bạc và cơ ngơi to lớn của mình vào việc gì.
Mary's eyes turned toward her in spite of her intention not to seem to care. She had never thought of the hunchback's being married and she was a trifle surprised. Mrs. Medlock saw this, and as she was a talkative woman she continued with more interest. This was one way of passing some of the time, at any rate.
Mary ngước mắt nhìn bà, mặc dù nó định tỏ vẻ là không thèm nghe. Nó quả chưa bao giờ tưởng tượng một người lưng gù lại có thể cưới được vợ nên thấy ngạc nhiên kinh khủng. bà Medlock nhận ra điều này và vốn dĩ là một người đàn bà lắm mồm, bà ta lại tiếp tục, mỗi lúc một say sưa. Đó là một cách giết thời gian trong mọi hoàn cảnh.
"She was a sweet, pretty thing and he'd have walked the world over to get her a blade o' grass she wanted. Nobody thought she'd marry him, but she did, and people said she married him for his money. But she didn't--she didn't," positively. "When she died--"
Mary gave a little involuntary jump.
- Bà ấy thật xinh xắn, đáng yêu, và ông ấy có thể đi khắp thế giới chỉ để kiếm cho bà một nhánh cỏ mà bà muốn. Không môt ai nghĩ bà ấy lại lấy ông, vậy mà bà ấy đã làm thế, thiên hạ họ đồn bà ấy lấy ông chỉ vì tiền. Nhưng bà ấy không phải vậy – bà ấy không phải là người như vậy, tuyệt đối không. Khi bà ấy chết…
Mary bỗng giật thót người.
"Oh! did she die!" she exclaimed, quite without meaning to. She had just remembered a French fairy story she had once read called "Riquet a la Houppe." It had been about a poor hunchback and a beautiful princess and it had made her suddenly sorry for Mr. Archibald Craven.
- Ôi, bà ấy chết rồi à? – Con bé kêu lên, hoàn toàn vô thức. Nó chợt nhớ tới một câu chuyện thần tiên của Pháp mà có lần nó đã đọc tên là “Riquet à la Houppe”. Câu chuyện kể về một người lưng gù nghèo khó và một cô công chúa xinh đẹp, khiến con bé chợt thấy thương cảm cho ông Archibald Craven.
"Yes, she died," Mrs. Medlock answered. "And it made him queerer than ever. He cares about nobody. He won't see people. Most of the time he goes away, and when he is at Misselthwaite he shuts himself up in the West Wing and won't let any one but Pitcher see him. Pitcher's an old fellow, but he took care of him when he was a child and he knows his ways."
- Phải. – Bà Medlock đáp. – Chính chuyện này khiến ông ấy càng trở nên kỳ cục hơn bao giờ hết. Ông không còn quan tâm tới bất kỳ ai. Mà cũng chẳng muốn gặp gỡ người nào hết. Hầu hết thời gian ông đi đây đó và hễ cứ về tới Misselthwaite là ông lại giam mình trong chái nhà phía Tây, không cho ai ngoài Pitcher được phép gặp mặt. Pitcher là một lão già đã trông nom ông từ khi ông còn bé và chỉ có lão mới biết đường mà chăm sóc ông.
It sounded like something in a book and it did not make Mary feel cheerful. A house with a hundred rooms, nearly all shut up and with their doors locked--a house on the edge of a moor--whatsoever a moor was--sounded dreary. A man with a crooked back who shut himself up also! She stared out of the window with her lips pinched together, and it seemed quite natural that the rain should have begun to pour down in gray slanting lines and splash and stream down the window-panes. If the pretty wife had been alive she might have made things cheerful by being something like her own mother and by running in and out and going to parties as she had done in frocks "full of lace." But she was not there any more.
Câu chuyện đó tựa hồ như chỉ có trong sách, và nó không làm Mary thấy vui. Một ngôi nhà có đến ngót trăm căn phòng mà hầu như đều đóng kín mít, cửa khoá then cài – một ngôi nhà nằm bên rìa cánh đồng hoang, cho dù cánh đồng hoang có là cái gì đi nữa, thì cũng quả là thê lương. Một người đàn ông với cái lưng gù luôn tự giam mình thì cũng như thế. Nó đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Nếu bà vợ xinh đẹp của ông ấy còn sống, hẳn bà ấy sẽ làm một cái gì đó đầy hào hứng, tựa như người mẹ của nó, chạy ra chạy vào hoặc mặc những tà áo dài “đầy đăng ten” đi dự tiệc. Nhưng bà ấy làm gì còn trên đời.
"You needn't expect to see him, because ten to one you won't," said Mrs. Medlock. "And you mustn't expect that there will be people to talk to you. You'll have to play about and look after yourself. You'll be told what rooms you can go into and what rooms you're to keep out of. There's gardens enough. But when you're in the house don't go wandering and poking about. Mr. Craven won't have it."
- Cô đừng mong đợi gặp ông ấy làm gì, tôi dám cược 10 ăn 1 là cô không muốn đâu. – Bà Medlock bảo. – Cô cũng đừng mong có ai chuyện trò hỏi han. Cô sẽ phải tự chơi lấy và tự chăm sóc bản thân. Rồi cô sẽ được người ta bảo cho căn phòng nào thì được phép vào và căn phòng nào cô phải tránh xa. Ngần ấy vườn tược là đủ rồi. Nhưng khi đã đặt chân vào nhà thì đừng có lang thang đây đó hay tò mò lục lọi. Ông Craven không cho phép đâu.
"I shall not want to go poking about," said sour little Mary and just as suddenly as she had begun to be rather sorry for Mr. Archibald Craven she began to cease to be sorry and to think he was unpleasant enough to deserve all that had happened to him.
- Tôi không thèm tò mò lục lọi gì hết. – Con bé Mary chanh chua đáp lại.
Và cũng đột ngột như khi nó bắt đầu thấy xót xa cho ông Archibald Craven, lúc này nó đâm bớt thương cảm và nghĩ bụng ông ta khó chịu như thế, có gặp chuyện như vậy cũng đáng thôi.
And she turned her face toward the streaming panes of the window of the railway carriage and gazed out at the gray rain-storm which looked as if it would go on forever and ever. She watched it so long and steadily that the grayness grew heavier and heavier before her eyes and she fell asleep.
Đoạn nó ngoảnh sang cánh cửa chớp của toa xe, nhìn chằm chằm vào cơ mưa dông xám xịt tưởng chừng như đang xối xả bất tận ngoài kia. Cho tới khi bầu trời mỗi lúc một xám xịt hơn. Mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn trước mắt nó và nó ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Translated by by nguyen tuan khanh

CHAPTER 3

Chapter III
ACROSS THE MOOR
Chương 3: Băng qua đồng hoang
She slept a long time, and when she awakened Mrs. Medlock had bought a lunchbasket at one of the stations and they had some chicken and cold beef and bread and butter and some hot tea. The rain seemed to be streaming down more heavily than ever and everybody in the station wore wet and glistening waterproofs. The guard lighted the lamps in the carriage, and Mrs. Medlock cheered up very much over her tea and chicken and beef. She ate a great deal and afterward fell asleep herself, and Mary sat and stared at her and watched her fine bonnet slip on one side until she herself fell asleep once more in the corner of the carriage, lulled by the splashing of the rain against the windows. It was quite dark when she awakened again. The train had stopped at a station and Mrs. Medlock was shaking her.
Bên kia cánh đồng hoang. Mary ngủ được một lúc khá lâu, khi nó tỉnh dậy thì bà Medlock đã mua sẵn một giỏ đồ ăn trưa tại một ga nào đó, và cả hai đánh chén thịt gà, thị bò nguội, bánh mì với bơ và cả trà nóng nữa, một cách ngon lành. Cơn mưa dường như mỗi lúc một mạnh hơn, mọi người trên sân ga ai nấy đều khoác trên mình những chiếc áo mưa ước sũng và bóng loáng. Người phụ trách đoàn tàu đi thắp các ngọn đèn dầu trong toa, và bà Medlock tỏ ra vui vẻ hơn sau khi chén đẫy các món thịt gà, thịt bò và trà.Sau một bữa no nê, bà ngủ thiếp đi, con bé Mary ngồi nhìn bà chòng chọc, ngắm ngía chiếc mũ tròn không vành xinh xắn của bà lúc này bị lệch sang một bên, cho tới khi chính nó cũng một lần nữa thiếp đi trong góc toa, được tiếng mưa táo vào cửa sổ vỗ về trong giấc ngủ. Khi nó tỉnh dậy lần nữa thì trời đã tối mịt. Đoàn tàu dừng bánh trước một sân ga, bà Medlock lay con bé.
"You have had a sleep!" she said. "It's time to open your eyes! We're at Thwaite Station and we've got a long drive before us."
- Cô ngủ được một giấc rồi đấy! Dậy đi nào! Chúng ta đã tới ga Thwaite, còn cả một chặng đường dài trước mắt nữa cơ mà.
Mary stood up and tried to keep her eyes open while Mrs. Medlock collected her parcels. The little girl did not offer to help her, because in India native servants always picked up or carried things and it seemed quite proper that other people should wait on one.
Mary đứng dậy, cố mở mắt, trong khi bà Madlock thu xếp hành lý. Nó không tỏ ý muốn giúp bà, bởi vì ở Ấn Độ đám tôi tớ người địa phương thường phải khuân vác đồ đạc nên chuyện những người khác phải hầu hạ, phục dịch một người là lẽ đương nhiên.
The station was a small one and nobody but themselves seemed to be getting out of the train. The station-master spoke to Mrs. Medlock in a rough, good-natured way, pronouncing his words in a queer broad fashion which Mary found out afterward was Yorkshire.
Đây là một ga xép và dường như chẳng có ai xuống tàu trừ hai người. Người trưởng ga nói với bà Medlock bằng một giọng khề khà đôn hậu, với lối phát âm nằng nặng hơi lạ tai của ông ta, và ngay sau đó, Mary biết được rằng đó là giọng Yorkshire.
"I see tha's got back," he said. "An' tha's browt th' young 'un with thee."
"Aye, that's her," answered Mrs. Medlock, speaking with a Yorkshire accent herself and jerking her head over her shoulder toward Mary. "How's thy Missus?"
"Well enow. Th' carriage is waitin' outside for thee."
- Tôi mừng bà đã trở về, - ông ta nói. – Lại còn mang theo một đứa trẻ nữa.
- Đúng vậy, nó đấy, - bà Medlock đáp lời cũng bằng thứ giọng vùng Yorkshire và hất đầu về phía Mary.
- Bà nhà ông thế nào?
- Cũng ổn. Xe ngựa đang ở ngoài kia chờ hai người đấy.
A brougham stood on the road before the little outside platform. Mary saw that it was a smart carriage and that it was a smart footman who helped her in. His long waterproof coat and the waterproof covering of his hat were shining and dripping with rain as everything was, the burly station-master included. When he shut the door, mounted the box with the coachman, and they drove off, the little girl found herself seated in a comfortably cushioned corner, but she was not inclined to go to sleep again.
Cỗ xe độc mã đỗ bên đường trước thềm ga nhỏ. Mary thấy đó là một cỗ xe thanh nhã và một người hầu trông cũng rất lịch lãm, đỡ nó lên xe. Chiếc áo mưa dài cùng chiếc mũ trùm kín đầu của anh ta loang loáng và đang sũng nước mưa như tất cả mọi thứ xung quanh, kể cả ông trưởng ga lực lưỡng. Khi anh ta đóng cửa xe rồi trèo lên chỗ ngồi với người đánh xe ngựa, và họ đánh xe đi, thì con bé nhận thấy mình đang ngồi trong một góc xe trải nêm vô cùng êm ái, nhưng nó cũng không định ngủ lại nữa.
She sat and looked out of the window, curious to see something of the road over which she was being driven to the queer place Mrs. Medlock had spoken of. She was not at all a timid child and she was not exactly frightened, but she felt that there was no knowing what might happen in a house with a hundred rooms nearly all shut up--a house standing on the edge of a moor.
Đưa mắt ra ngoài cửa sổ, nó tò mò nhìn cảnh vật đang lướt qua bên đường, con đường rồi sẽ đưa nó đến một nơi kỳ dị mà bà Medlock vừa cho nó hay. Nó hoàn toàn không phải một đứa trẻ rụt rè, nó cũng chẳng sợ hãi gì mà chỉ cảm thấy không rõ điều gì sắp xảy đến trong ngôi nhà có đến 100 phòng lúc nào cũng đóng im ỉm kia – ngôi nhà nằm bên rìa một cánh đồng hoang.
"What is a moor?" she said suddenly to Mrs. Medlock.
"Look out of the window in about ten minutes and you'll see," the woman answered. "We've got to drive five miles across Missel Moor before we get to the Manor. You won't see much because it's a dark night, but you can see something."
- Cánh đồng hoang là gì hả bà? – Nó bỗng cất tiếng hỏi bà Medlock.
- Cứ nhìn ra ngoài cửa sổ chừng mươi phút cô sẽ rõ. Chúng ta phải đi những 5 dặm xuyên qua cánh đồng hoang Missel, trước khi tới trang viên. Trời tối mịt nên cô chẳng thấy gì nhiều đâu, nhưng cũng có thể nhận ra một vài thứ.
Mary asked no more questions but waited in the darkness of her corner, keeping her eyes on the window. The carriage lamps cast rays of light a little distance ahead of them and she caught glimpses of the things they passed.
Mary không hỏi thêm câu nào nữa mà ngồi im chờ đợi bóng tối của cổ xe, mắt vẫn hướng về phía cửa sổ. Mấy ngọn đèn trên cỗ xe ngựa chỉ đủ soi sáng một quãng ngắn phía trước họ, thế nhưng con bé vẫn loáng thoáng thấy cảnh vật khi họ lướt xe qua.
After they had left the station they had driven through a tiny village and she had seen whitewashed cottages and the lights of a public house. Then they had passed a church and a vicarage and a little shop-window or so in a cottage with toys and sweets and odd things set our for sale. Then they were on the highroad and she saw hedges and trees. After that there seemed nothing different for a long time--or at least it seemed a long time to her.
Sau lúc rời khỏi nhà ga, khi qua một ngôi làng nhỏ, nó đã nhìn thấy mấy túp nhà gianh quét vôi trắng và ánh đèn từ một quán rượu hắt ra. Xe chạy qua nhà thờ và nhà xứ rồi lướt nhanh qua cửa sổ của một cửa hiệu nhỏ hay gì đó đại loại như vậy, cũng là nhà gianh, nơi nó thấy có bày bán đồ chơi, kẹo bánh và những thứ ngồ ngộ. Khi ra đến đường cái, nó lại thấy hàng rào cùng cây cối vườn tược. Sau đó, chẳng có gì khác nữa trong cả thời gian dài, hoặc ít ra là một khoảng thời gian đối với con bé.
At last the horses began to go more slowly, as if they were climbing up-hill, and presently there seemed to be no more hedges and no more trees. She could see nothing, in fact, but a dense darkness on either side. She leaned forward and pressed her face against the window just as the carriage gave a big jolt.
"Eh! We're on the moor now sure enough," said Mrs. Medlock.
Cuối cùng, những con ngựa bắt đầu phi chậm dần, như thể chúng đang leo lên đồi vậy, rồi ngay lúc ấy chẳng thấy hàng rào cùng cây cối đâu nữa. Mary không còn thấy gì hết ngoài bóng đêm dày đặc hai bên đường. Nó ngả người dán mặt vào khuôn cửa sổ, đúng lúc đó, cổ xe ngựa xóc nảy lên.
- À! Giờ thì chắc hẳn chúng ta đã tới cánh đồng hoang rồi. – Bà Medlock thốt lên.
The carriage lamps shed a yellow light on a rough-looking road which seemed to be cut through bushes and low-growing things which ended in the great expanse of dark apparently spread out before and around them. A wind was rising and making a singular, wild, low, rushing sound.
Mấy ngọn đèn của cỗ xe ngựa hắt ra một thứ ánh sáng vàng ệch xuống con đường khấp khệnh có vẻ đang xuyên qua các bụi rậm và những gì đó thấp lè te để rồi kết thúc trong màn đêm tối tăm mịt mìng đang trải rộng trước mặt và xung quanh họ. Một cơn gió đang nổi lên và tạo ra thứ âm thanh rì rào, hoang dại và kỳ quặc.
"It's--it's not the sea, is it?" said Mary, looking round at her companion.
"No, not it," answered Mrs. Medlock. "Nor it isn't fields nor mountains, it's just miles and miles and miles of wild land that nothing grows on but heather and gorse and broom, and nothing lives on but wild ponies and sheep."
"I feel as if it might be the sea, if there were water on it," said Mary. "It sounds like the sea just now."
"That's the wind blowing through the bushes," Mrs. Medlock said. "It's a wild, dreary enough place to my mind, though there's plenty that likes it--particularly when the heather's in bloom."
- Đây… đây không phải là biển, phải không? Mary hỏi và quay sang nhìn người đi cùng.
- Không đâu, - bà Medlock đáp. – Đó cũng chẳng phải đồng ruộng, hay núi non mà chỉ là những dặm dài vô tận toàn đất hoang, chẳng có gì mọc nổi ngoài thạch thảo, kim tước và đậu chổi, cũng chẳng con gì sống nổi trừ loài ngựa hoang Pony(6) và cừu.
- Tôi cảm thấy như đây là biển, nếu có thêm nước, - Mary bảo. – Âm thanh nghe chẳng khác gì biển.
- Chẳng qua là gió đang thởi qua các bụi cây, - bà Medlock bảo nó. – Trong tâm trí tôi thì đây là một nơi thê lương hoang dã nhất, mặc dầu cũng có nhiều nơi như thế, đặc biệt là vào mùa thạch thảo ra hoa.
On and on they drove through the darkness, and though the rain stopped, the wind rushed by and whistled and made strange sounds. The road went up and down, and several times the carriage passed over a little bridge beneath which water rushed very fast with a great deal of noise. Mary felt as if the drive would never come to an end and that the wide, bleak moor was a wide expanse of black ocean through which she was passing on a strip of dry land.
Cứ thế họ cho xe chạy xuyên qua đêm tối, và dù lúc này mưa đã tạnh nhưng gió vẫn hối hả, gào rít, tạo ra những âm thanh kỳ dị. Con đường hết dốc lên lại đổ xuống, thỉnh thoảng cỗ xe lăn bánh qua một chiếc cầu nhỏ, bên dưới nước chảy xiết, ầm ầm. Mary có cảm tưởng chuyến đi này sẽ không bao giờ kết thúc, và cánh đồng hoang trống trải, mênh mông là cả một đại dương đen ngòm trải rộng đến vô cùng mà nó đang phải vượt qua.
"I don't like it," she said to herself. "I don't like it," and she pinched her thin lips more tightly together.
- Mình không thích nơi này. Mình chẳng thích nó tí nào. – Nó thầm nhủ, và lại bặm môi chặt hơn.
The horses were climbing up a hilly piece of road when she first caught sight of a light. Mrs. Medlock saw it as soon as she did and drew a long sigh of relief.
"Eh, I am glad to see that bit o' light twinkling," she exclaimed. "It's the light in the lodge window. We shall get a good cup of tea after a bit, at all events."
Khi cỗ xe leo lên một đoạn đường đồi thì con bé nhận ra có một ánh đèn. Cùng lúc, bà Medlcok cũng nhìn thấy ngọn đèn với nó, bèn thở phào nhẹ nhõm.
- Chà, tôi lấy làm mừng được trông thấy ánh đèn nhấp nháy, - bà ta thốt lên. – Kia là ánh đèn từ cửa sổ phòng người gác cổng. Chỉ một lát nữa là chúng ta sẽ được làm một tách trà ngon.
It was "after a bit," as she said, for when the carriage passed through the park gates there was still two miles of avenue to drive through and the trees (which nearly met overhead) made it seem as if they were driving through a long dark vault.
Quả là phải “một lát nữa”, như bà ta nói, bởi vì khi cỗ xe lăn bánh qua cổng vườn thì vẫn còn hai dặm đường nữa, thế rồi những tán cây (gần như ở ngay trên đầu) khiến họ tưởng như đang chạy dọc theo một mái vòm dằng dặc tối tăm.
They drove out of the vault into a clear space and stopped before an immensely long but low-built house which seemed to ramble round a stone court. At first Mary thought that there were no lights at all in the windows, but as she got out of the carriage she saw that one room in a corner upstairs showed a dull glow.
Họ đánh xe ra khỏi vòm cây tới một chỗ quang đãng và dừng bánh trước ngôi nhà dài hun hút nhưng thấp tè, dường nhu bao quanh một cái sân lát đá. Thoạt đầu Mary cứ tưởng không có ánh đèn sau các cửa sổ, nhưng khi vừa bước ra khỏi cỗ xe ngựa, nó nhận thấy có một căn phòng ở phía góc tầng trên phát ra thứ ánh sáng mờ đục.
The entrance door was a huge one made of massive, curiously shaped panels of oak studded with big iron nails and bound with great iron bars. It opened into an enormous hall, which was so dimly lighted that the faces in the portraits on the walls and the figures in the suits of armor made Mary feel that she did not want to look at them. As she stood on the stone floor she looked a very small, odd little black figure, and she felt as small and lost and odd as she looked. A neat, thin old man stood near the manservant who opened the door for them.
Cửa vào là một cánh cửa khổng lồ làm từ những tấm gỗ sồi chắc nịch,lạ mắt, được tán bằng những chiếc đi to tướng trên các nẹp sắt to bản. Cánh cửa mở thông vào gian đại sảnh rộng thênh thang, nơi chỉ được chiếu sáng mờ mờ đến nỗi những khuôn mặt trong các bức chân dung treo trên tường và hình dáng nhân vật trong các bộ trang phục áo giáp khiến Mary cảm thấy không còn muốn nhìn họ nữa. Khi nó dừng chân trên sàn lát đá, nom nó mới nhỏ bé làm sao, một hình hài tí hon, đen đủi và kỳ quặc, mà chính nó cũng cảm thấy mình thực nhỏ bé, kỳ quặc và mất hết can đảm. Một người đàn ông đứng tuổi, cao gầy, ăn mặc gọn gàng, đang đứng cạnh người hầu mở cửa cho họ.
"You are to take her to her room," he said in a husky voice. "He doesn't want to see her. He's going to London in the morning."
"Very well, Mr. Pitcher," Mrs. Medlock answered. "So long as I know what's expected of me, I can manage."
"What's expected of you, Mrs. Medlock," Mr. Pitcher said, "is that you make sure that he's not disturbed and that he doesn't see what he doesn't want to see."
- Hãy đưa cô đây về phòng, - ông ta nói bằng giọng khàn khàn. - Ông chủ chưa muốn gặp cô ấy. Ông ấy sắp sửa đi Luân Đôn vào sáng sớm ngày mai.
- Tốt thôi, ông Pitcher, - bà Medlock bảo. – Miễn là tôi biết người ta muốn gì ở tôi, tôi có thể giải quyết được mà.
- Điều người ta muốn ở bà, bà Medlock, - Ông pitcher sẵng giọng – là bà phải đảm bảo là ông ấy không bị quấy rầy và không phải thấy những gì ông ấy không muốn thấy.
And then Mary Lennox was led up a broad staircase and down a long corridor and up a short flight of steps and through another corridor and another, until a door opened in a wall and she found herself in a room with a fire in it and a supper on a table.
Mrs. Medlock said unceremoniously:
"Well, here you are! This room and the next are where you'll live--and you must keep to them. Don't you forget that!"
It was in this way Mistress Mary arrived at Misselthwaite Manor and she had perhaps never felt quite so contrary in all her life.
Rồi Mary được dẫn lên một cầu thang rộng, dẫn tới một hành lang dài, qua mấy bậc tam cấp thì đi xuyên qua một hành lang nữa, rồi một hành lang khác cho tới khi mở ra một cánh cửa, và con bé nhận thấy mình đang ở giữa một căn phòng có lò sưởi cùng với bữa tối đã dọn sẵn trên bàn. Mà Medlock nói một cách thô lỗ:
- Được rồi, đến nơi rồi đấy! Phòng này và phòng bên là nơi ở của cô, cô phải ở nguyên đây. Chớ có quên!
Mary đã tới trang viên Misselthwaite như thế đấy, và có lẽ trong suốt cuộc đời nó, chưa bao giờ con bé cảm thấy trong lòng lại ngổn ngang đến vậy.

CHAPTER 4

Chapter IV MARTHA
Chương 4: Martha
When she opened her eyes in the morning it was because a young housemaid had come into her room to light the fire and was kneeling on the hearth-rug raking out the cinders noisily. Mary lay and watched her for a few moments and then began to look about the room.
Sáng hôm ấy,, người hầu gái trẻ vào phòng Mary cời thêm lửa trong lò sưởi và khiến nó thức giấc. Chị ta quỳ trên tấm thảm trước lò sưởi để cào than cháy dở nên gây ra tiếng động. Mary vẫn nằm, ngắm chị ta một lúc rồi đưa mắt khắp phòng.
She had never seen a room at all like it and thought it curious and gloomy. The walls were covered with tapestry with a forest scene embroidered on it. There were fantastically dressed people under the trees and in the distance there was a glimpse of the turrets of a castle. There were hunters and horses and dogs and ladies. Mary felt as if she were in the forest with them. Out of a deep window she could see a great climbing stretch of land which seemed to have no trees on it, and to look rather like an endless, dull, purplish sea.
Nó chưa bao giờ thấy một căn phòng nào như thế, và nghĩ rằng căn phòng này thật lạ lùng, ảm đạm. Các bức tường đều được phủ kín bằng những tấm thảm có thêu cảnh rừng cây. Kia là những người ăn mặc phóng túng đứng dưới gốc cây, và xa hơn nữa là bóng dáng mấy tháp canh của một toà lâu đài. Rồi thì cảnh người đi săn, ngựa nghẽo, bầy chó săn và cả mấy phu nhân nữa.Mary có cảm tưởng như nó đang sống trong khu rừng ấy với họ. Phóng tầm mắt qua cửa sổ, nó nhận ra cả một vùng đất đai trải rộng mênh mông dường như không một bóng cây, nom tựa một đại dương vô tận, màu hung đỏ và chán ngắt.
"What is that?" she said, pointing out of the window.
Martha, the young housemaid, who had just risen to her feet, looked and pointed also. "That there?" she said.
"Yes."
"That's th' moor," with a good-natured grin. "Does tha' like it?"
"No," answered Mary. "I hate it."
"That's because tha'rt not used to it," Martha said, going back to her hearth. "Tha' thinks it's too big an' bare now. But tha' will like it."
"Do you?" inquired Mary.
- Gì thế kia? – Nó hỏi, chỉ tay ra ngoài cửa sổ. Martha, người hầu gái trẻ nhỏm người lên nhìn, tay cũng chỉ theo.
- Ngoài kia ấy ạ? – Chị hỏi.
- Phải.
- Đấy là cánh đồng hoang, - chị đáp với nụ cười hiền hậu. – Cô có thích không?
- Không, - Mary đáp. – Tôi ghét nó.
- Chẳng qua là vì cô chưa quen ở đây đấy thôi. – Martha vừa nói, vừa quay trở lại trước lò sưởi. Chắc cô cho rằng nó quá rộng và trống trải. Nhưng rồi cô sẽ thấy thích nó cho mà xem.
- Thế còn chị? – Mary dò hỏi.
"Aye, that I do," answered Martha, cheerfully polishing away at the grate. "I just love it. It's none bare. It's covered wi' growin' things as smells sweet. It's fair lovely in spring an' summer when th' gorse an' broom an' heather's in flower. It smells o' honey an' there's such a lot o' fresh air--an' th' sky looks so high an' th' bees an' skylarks makes such a nice noise hummin' an' singin'. Eh! I wouldn't live away from th' moor for anythin'."
- Ầy, tôi thích chứ! – Martha vui vẻ đáp, tay vẫn lau chiếc ghi lò. – Tôi yêu nó lắm. Nó chẳng trống trải tẹo nào. Khắp vùng này phủ đầy những cây cỏ mang hương vị ngọt ngào. Vào mùa xuân hay mùa hè thì lại càng đáng yêu hơn khi thạch thảo, kim tước và đậu chổi trổ toàn hoa là hoa. Thơm tựa mật ong. Không gian tràn ngập không khí trong lành – bầu trời cao vời vợi, từng bầy ong vo vo và chim chiền chiện thì cất tiếng hót lảnh lót mới dễ thương làm sao. Chà! Tôi sẽ chẳng bao giờ sống xa cánh đồng hoang dù có cái gì đi nữa.
Mary listened to her with a grave, puzzled expression. The native servants she had been used to in India were not in the least like this. They were obsequious and servile and did not presume to talk to their masters as if they were their equals. They made salaams and called them "protector of the poor" and names of that sort. Indian servants were commanded to do things, not asked. It was not the custom to say "please" and "thank you" and Mary had always slapped her Ayah in the face when she was angry. She wondered a little what this girl would do if one slapped her in the face. She was a round, rosy, good-natured-looking creature, but she had a sturdy way which made Mistress Mary wonder if she might not even slap back--if the person who slapped her was only a little girl.
Mary lắng nghe chị ta với vẻ mặt bối rối, nghiêm trang. Đám gia nhân người địa phương mà nó đã quen ở Ấn Độ hoàn toàn không giống thế này. Họ đều có vẻ khúm núm và quỵ luỵ chứ không dám chuyện trò bình đẳng với chủ như thế. Họ thường chào kiều salam, và gọi chủ mình là “người bảo hộ cho kẻ nghèo” cùng nhiều cái tên tương tự. Các gia nhân người Ấn được yêu cầu chỉ biết làm chứ không được thắc mắc. Chẳng lấy đâu ra thói quen nói “làm ơn” hoặc “cảm ơn” và Mary vẫn thường lăng mạ Ayah của nó mỗi khi nó tức giận. Nó hơi ngỡ ngàng tự hỏi không biết cô gái này sẽ làm gì nếu có kẻ dám lăng mạ cô. Cô ta mộc mạc ưa nhìn, hồng hào và tròn lẳn, nhưng ở chị ta có một vẻ vững chãi khiến cô chủ Mary thầm nghĩ không biết chị ta có phản ứng lại nếu người sỉ nhục mình chỉ là một đứa bé gái.
"You are a strange servant," she said from her pillows, rather haughtily.
Martha sat up on her heels, with her blackingbrush in her hand, and laughed, without seeming the least out of temper.
- Chị là một người ở kỳ lạ, - Mary vẫn vùi mặt trong mấy chiếc gối nói với vẻ khá cao ngạo.
Martha ngồi xổm, tay cầm chiếc bàn chải màu đen, chị bật cười không một chút bực tức.
"Eh! I know that," she said. "If there was a grand Missus at Misselthwaite I should never have been even one of th' under house-maids. I might have been let to be scullerymaid but I'd never have been let upstairs. I'm too common an' I talk too much Yorkshire. But this is a funny house for all it's so grand. Seems like there's neither Master nor Mistress except Mr. Pitcher an' Mrs. Medlock. Mr. Craven, he won't be troubled about anythin' when he's here, an' he's nearly always away. Mrs. Medlock gave me th' place out o' kindness. She told me she could never have done it if Misselthwaite had been like other big houses." "Are you going to be my servant?" Mary asked, still in her imperious little Indian way.
- Vâng, tôi cũng biết thế, - chị đáp. – Nếu như có một bà lớn ở Misselthwaite thì tôi thậm chí cũng không bao giờ được làm phụ hầu gái nữa kia. Có lẽ tôi chỉ được một chân ở phòng rửa bát là cùng, mà tôi cũng chẳng khi nào được phép lên gác. Tôi quá tầm thường, thêm cái giọng Yorkshire quá nặng. Nhưng đây là ngôi nhà lạ lùng, mặc dù nó thật tuyệt vời. Có vẻ như ông Pitcher và bà Medlock là Ông chủ và Bà chủ duy nhất ở đây. Ông Craven ư, ông ấy chằng bao giờ bận tâm về điều gì khi sống ở đây, mà ông ấy thì thường xuyên xa nhà. Bà Medlock vì lòng tốt đã cho tôi một chỗ ở. Bà ấy bảo tôi rằng bà ấy sẽ không khi nào cư xử như vậy nếu như Misselthwaite cũng giống các dinh thự khác.
- Chị sắp thành người hầu của tôi phải không? – Mary hỏi, nó vẫn giữ cái cung cách ngạo mạn từ hồi nhỏ khi còn ở Ấn Độ.
Martha began to rub her grate again. "I'm Mrs. Medlock's servant," she said stoutly. "An' she's Mr. Craven's--but I'm to do the housemaid's work up here an' wait on you a bit. But you won't need much waitin' on."
Martha bắt đầu chùi cái ghi lò lần nữa. - Tôi là người hầu của bà Medlock, - chị nói với vẻ cả quyết, còn bà ấy là người hầu của ông Craven. Tôi phải làm phận sự của người hầu gái ở đây và đang đợi cô sai bảo. Nhưng cô cũng chẳng cần gì lắm thì phải.
"Who is going to dress me?" demanded Mary.
Martha sat up on her heels again and stared. She spoke in broad Yorkshire in her amazement.
"Canna' tha' dress thysen!" she said.
"What do you mean? I don't understand your language," said Mary.
"Eh! I forgot," Martha said. "Mrs. Medlock told me I'd have to be careful or you wouldn't know what I was sayin'. I mean can't you put on your own clothes?"
- Ai sẽ mặc quần áo cho tôi? – Mary đòi hỏi.
Martha nhỏm dậy lần nữa và nhìn chòng chọc. Chị vẫn nói bằng giọng Yorkshire nằng nặng, vẻ kinh ngạc.
- Chẳng nhẽ cô không tự mặc quần áo được hay sao!
- Ý chị là gì? Tôi không hiểu ngôn ngữ của chị.
- Ồ, tôi quên khuấy đi mất. – Martha bảo. – Bà Medlock có dặn tôi phải nói năng cẩn thận kẻo cô không hiểu những điều tôi nói. Ý tôi là chẳng nhẽ cô không tự mặc quần áo được sao?
"No," answered Mary, quite indignantly. "I never did in my life. My Ayah dressed me, of course."
"Well," said Martha, evidently not in the least aware that she was impudent, "it's time tha' should learn. Tha' cannot begin younger. It'll do thee good to wait on thysen a bit. My mother always said she couldn't see why grand people's children didn't turn out fair fools--what with nurses an' bein' washed an' dressed an' took out to walk as if they was puppies!"
"It is different in India," said Mistress Mary disdainfully. She could scarcely stand this.
- Không. – Mary đáp một cách tức giận. –Từ bé tới giờ tôi chưa bao giờ làm việc đó. Người hầu của tôi phải mặc quần áo cho tôi, đó là việc đương nhiên.
- Chà, - Martha thót lên, rõ ràng không chút ý thức rằng mình đang hỗn láo, - thế thì đến lúc cô phải học rồi đấy. Cô không thể cứ trẻ con mãi như thế được, vậy thì cứ đợi chút cũng tốt thôi. Mẹ tôi luôn bảo bà không tài nào hiểu nổi tại sao các trẻ con các nhà quyền quý lại không biết bẻ chiếc bánh put-đinh cho đúng cách, cái gì cũng phải bảo mậu, nào giặt giũ, nào mặc quần áo, nào đưa đi dạo, như thể đó là những chú chó con vậy!
- Thật khác hẳn ở Ấn Độ, - Cô chủ Mary nói vẻ khinh khỉnh. – Khác hẳn đấy! – Nó thấy khó mà có thể chịu đựng điều này.
But Martha was not at all crushed.
"Eh! I can see it's different," she answered almost sympathetically. "I dare say it's because there's such a lot o' blacks there instead o' respectable white people. When I heard you was comin' from India I thought you was a black too."
Mary sat up in bed furious.
"What!" she said. "What! You thought I was a native. You--you daughter of a pig!"
Martha stared and looked hot.
Martha cũng chẳng vừa.
- Ờ, tôi cũng thấy khác hẳn, - chị trả lời với vẻ thông cảm. – Tôi dám nói rằng chẳng qua ở đó có quá nhiều người da đen, lại có ít người da trắng đáng kính. Lúc nghe nói cô sắp từ Ấn Độ trở về, tôi cứ ngỡ cô là người da đen cơ đấy.
Từ trên giường, Mary ngồi bật dậy, cáu tiết.
- Cái gì! Cái gì! Chị nghĩ tôi là người bản xứ chắc. Chị… chị là đồ con lợn!
Martha nhìn nó chòng chọc, trông vẻ mặt chị thật giận dữ.
"Who are you callin' names?" she said. "You needn't be so vexed. That's not th' way for a young lady to talk. I've nothin' against th' blacks. When you read about 'em in tracts they're always very religious. You always read as a black's a man an' a brother. I've never seen a black an' I was fair pleased to think I was goin' to see one close. When I come in to light your fire this mornin' I crep' up to your bed an' pulled th' cover back careful to look at you. An' there you was," disappointedly, "no more black than me--for all you're so yeller."
- Cô chưởi tôi đấy à? Cô không cần phải bực bội đến thế. Đó không phải là cách nói năng của một tiểu thư. Tôi chẳng có vấn đề gì với đám da đen ấy. Khi đọc về họ trong sách cổ ta chỉ nhận thấy họ là những người vô cùng mộ đạo. Chúng ta luôn đọc thấy lời dạy rằng người da đen cũng là con người và là anh em với ta. Tôi chưa bao giờ gặp một người da đen, và tôi rất sung sướng khi nghĩ rằng tối sắp được gặp họ trong một ngày gần đây. Lúc tôi vào nhóm lửa phòng cô sáng nay, tôi đã rón rén tới bên giường cô và nhẹ nhàng kéo tấm chăn để ngắm cô. Thì ra cô là… tôi thất vọng quá, cũng chẳng đen hơn tôi là mấy. Có thế mà cô cũng hét lên. Mary không thèm kiềm chế cơn thịnh nộ và nỗi bẽ bàng của nó.
Mary did not even try to control her rage and humiliation. "You thought I was a native! You dared! You don't know anything about natives! They are not people--they're servants who must salaam to you. You know nothing about India. You know nothing about anything!"
- Chị nghĩ tôi là bọn dân bản xứ à! Chị dám thế à! Chị không hiểu chút nào về dân bản xứ hết! Chúng không phải là người. Chúng chỉ là bọn tôi tớ, lúc nào cũng cúi đầu chào lạy người ta. Chị không hiểu gì về xứ Ấn Độ hết. Chị chẳng biết cái quái gì cả!
She was in such a rage and felt so helpless before the girl's simple stare, and somehow she suddenly felt so horribly lonely and far away from everything she understood and which understood her, that she threw herself face downward on the pillows and burst into passionate sobbing. She sobbed so unrestrainedly that good-natured Yorkshire Martha was a little frightened and quite sorry for her. She went to the bed and bent over her.
Con bé đang bị một cơn giận cuốn đi và giờ nó thấy tuyệt vọng trước cái nhìn chằm chằm bình thản của cô gái, tồi không rõ tại sao nó bỗng cảm thấy cô đơn kinh khủng, thấy mọi thứ đều xa lạ với nó, nó gieo mình xuống, vùi mặt vào mấy chiếc gối rồi bật khóc nức nở.Nó thổn thức không sao nén lại được đến nỗi chị Martha người Yorkshire với bản tính tốt bụng cũng thấy mủi lòng xót thương. Chị tiến đến bên giường, cúi xuống con bé.
"Eh! you mustn't cry like that there!" she begged. "You mustn't for sure. I didn't know you'd be vexed. I don't know anythin' about anythin'--just like you said. I beg your pardon, Miss. Do stop cryin'."
- Ôi, cô không được khóc như thế đâu! – Chị khẩn khoản van xin. – Cô phải thề là không khóc nữa. Tôi quả không nghĩ cô lại phật lòng. Tôi thật chẳng biết gì sất, đúng như cô nói. Tôi xin cô tha thứ, thưa cô. Đừng khóc nữa.
There was something comforting and really friendly in her queer Yorkshire speech and sturdy way which had a good effect on Mary. She gradually ceased crying and became quiet. Martha looked relieved.
Một cái gì đó thật thân thiết và dễ chịu trong lối nói Yorkshire kỳ quặc của chị, cả cái vẻ vững vàng, cứng cỏi của chị nữa cũng tác động tới Mary. Con bé dần dà nín khóc và im hẳn. Nom Martha cũng đã bớt căng thẳng.
"It's time for thee to get up now," she said. "Mrs. Medlock said I was to carry tha' breakfast an' tea an' dinner into th' room next to this. It's been made into a nursery for thee. I'll help thee on with thy clothes if tha'll get out o' bed. If th' buttons are at th' back tha' cannot button them up tha'self."
- Đến lúc cô phải dậy rồi, - chị nói. – Bà Medlock bảo tôi phải dọn cho cô bữa sáng với trà, và bữa tối ở phòng bên cạnh. Nơi này đã được sửa lại thành phòng trẻ cho cô. Kho cô ra khỏi giường, tôi sẽ giúp cô mặc áo nếu cô không thể cài các khuy sau lưng được.
When Mary at last decided to get up, the clothes Martha took from the wardrobe were not the ones she had worn when she arrived the night before with Mrs. Medlock.
"Those are not mine," she said. "Mine are black."
She looked the thick white wool coat and dress over, and added with cool approval:
"Those are nicer than mine."
Cuối cùng, Mary quyết định ngồi dậy. Bộ đồ mà Martha lấy từ tủ quần áo không phải bộ mà nó đã mặc khi đến đây vào đêm hôm trước cùng bà Medlock.
- Bộ này không phải của tôi. Bộ của tôi màu đen cơ.
Nó nhìn qua chiếc áo khoác len dày và váy màu trắng, và lạnh lùng chấp nhận:
"Những thứ này đẹp hơn của tôi."
"These are th' ones tha' must put on," Martha answered. "Mr. Craven ordered Mrs. Medlock to get 'em in London. He said `I won't have a child dressed in black wanderin' about like a lost soul,' he said. `It'd make the place sadder than it is. Put color on her.' Mother she said she knew what he meant. Mother always knows what a body means. She doesn't hold with black hersel'."
- Đây chính là bộ mà cô phải mặc - Martha đáp. - Ông Craven đã lệnh cho bà Medlock tìm mua chúng ở tận Luân Đôn kia đấy. Ông ấy bảo: “tôi không muốn thấy một đứa trẻ mặc đồ đen đi đi lại lại như một hồn ma”. Ông ấy còn nói: “Điều đó khiến nơi này càng trở nên buồn bã. Hãy phủ màu sắc rực rỡ lên người con bé.” Mẹ tôi bảo bà hiểu ý ông ấy muốn nói gì. Bà luôn hiểu suy nghĩ của người khác. Bà không bao giờ giữ màu đen bên mình.
"I hate black things," said Mary.
The dressing process was one which taught them both something. Martha had "buttoned up" her little sisters and brothers but she had never seen a child who stood still and waited for another person to do things for her as if she had neither hands nor feet of her own.
- Tôi căm ghét những thứ màu đen, - Mary bảo.
Việc mặc quần áo cũng giúp cả hai hiểu ra môt điều gì đó. Martha đã từng “cài khuy” cho các em gái bé bỏng của chị, và cả mấy đứa em trai nữa, nhưng quả thật chị chưa bao giờ thấy một đứa trẻ nào cứ đứng ngây ra chờ người khác làm mọi việc cho nó như thể nó chẳng có tay chân vậy.
"Why doesn't tha' put on tha' own shoes?" she said when Mary quietly held out her foot.
"My Ayah did it," answered Mary, staring. "It was the custom."
She said that very often--"It was the custom." The native servants were always saying it. If one told them to do a thing their ancestors had not done for a thousand years they gazed at one mildly and said, "It is not the custom" and one knew that was the end of the matter.
- Tại sao cô không tự đi giày vào? – cô bảo nó vì thấy Mary vẫn không hề nhúc nhích hai chân.
- Ayah của tôi phải làm việc ấy, - Mary trả lời, vẫn nhìn chằm chằm. – Đó là tục lệ. Nó rất hay nói thế - “Đó là tục lệ”. Ngay cả đám gia nhân bản xứ cũng thường nói thế. Giá có ai bảo họ làm một việc gì mà ông bà tổ tiên họ đã không làm từ hàng nghìn năm qua thì hẳn họ sẽ trừng mắt giận dữ với người đó và bảo: “Đấy không phải là tục lệ”, và người đó hiểu ngay rằng nên kết thúc chủ đề đó cho xong đi.
It had not been the custom that Mistress Mary should do anything but stand and allow herself to be dressed like a doll, but before she was ready for breakfast she began to suspect that her life at Misselthwaite Manor would end by teaching her a number of things quite new to her--things such as putting on her own shoes and stockings, and picking up things she let fall.
Làm gì có cái lệ là Cô chủ Mary phải tự làm mọi thứ, ngoài việc đứng để người ta mặc quần áo cho mình như một con búp bê. Nhưng trước khi vào bữa sáng, nó đâm ra hồ nghi không rõ cuộc đời ở Trang viên Misselthwaite này liệu rời có dạy cho nó vô vàn những điều hoàn toàn mới mẻ - như đi giày, đi tất, rồi nhặt những vật đánh rơi.
If Martha had been a well-trained fine young lady's maid she would have been more subservient and respectful and would have known that it was her business to brush hair, and button boots, and pick things up and lay them away. She was, however, only an untrained Yorkshire rustic who had been brought up in a moorland cottage with a swarm of little brothers and sisters who had never dreamed of doing anything but waiting on themselves and on the younger ones who were either babies in arms or just learning to totter about and tumble over things.
Nếu Martha được dạy dỗ đúng đắn để làm hầu gái cho một tiểu thư trẻ thì chị ta cần khúm núm và kính cẩn hơn mới phải, chị ta cũng nên hiểu bổn phận của mình là chải tóc, đi giày, nhặt đồ vật và để gọn chúng lại. Nhưng dẫu sao thì, chị ta cũng là một con người mộc mạc chất phác vùng Yorkshire, sinh ra trong một túp lều gianh nơi vùng đất hoang vu với một bầy lít nhít em trai em gái, chẳng dám mơ đến gì khác ngoài việc hầu hạ phục dịch hoặc trông nom đám em vẫn đang chập chững đi và ngã nhào.
If Mary Lennox had been a child who was ready to be amused she would perhaps have laughed at Martha's readiness to talk, but Mary only listened to her coldly and wondered at her freedom of manner. At first she was not at all interested, but gradually, as the girl rattled on in her good-tempered, homely way, Mary began to notice what she was saying.
Nếu Mary Lennox là một đứa trẻ biết đùa thì hẳn nó sẽ bật cười trước sự mau mồm mau miệng của Martha, nhưng Mary chỉ nghe chị với vẻ lạnh lùng, và ngạc nhiên trước cử chỉ thoải mái của chị. Thoạt đầu nó chẳng mấy quan tâm, nhưng dần dà, khi chị cứ huyên thuyên trò chuyện với vẻ hồn nhiên than mật, thì Mary bắt đầu chú ý tới những điều chị nói.
"Eh! you should see 'em all," she said. "There's twelve of us an' my father only gets sixteen shilling a week. I can tell you my mother's put to it to get porridge for 'em all. They tumble about on th' moor an' play there all day an' mother says th' air of th' moor fattens 'em. She says she believes they eat th' grass same as th' wild ponies do. Our Dickon, he's twelve years old and he's got a young pony he calls his own."
- Ôi, cô nên gặp tất cả bọn tôi. Chúng tôi có 12 người. Cha tôi chỉ kiếm được 16 si-ling mỗi tuần. Tôi có thể nói với cô rằng với số tiền đó mẹ tôi chỉ đủ lo cháo đặc cho cả nhà. Bọn trẻ cứ chạy đùa trên cánh đồng hoang vu đó cả ngày, mẹ tôi bảo chính không khí của đồng hoang đã vỗ béo chúng. Bà còn bảo bà tin rằng chúng ăn cỏ như loài ngựa hoang vậy. Thằng Dickon nhà chúng tôi năm nay đã mười hai tuổi, nó cũng có một con ngựa non mà nó luôn bảo là của riêng nó.
"Where did he get it?" asked Mary.
"He found it on th' moor with its mother when it was a little one an' he began to make friends with it an' give it bits o' bread an' pluck young grass for it. And it got to like him so it follows him about an' it lets him get on its back. Dickon's a kind lad an' animals likes him."
- Cậu ta kiếm được con ngựa đó ở đâu? – Mary hỏi. - Thằng Dickon tìm thấy con ngựa từ lúc nó còn bé tẹo trên cánh đồng hoang cùng với mẹ của nó, và từ đó Dickon làm bạn với nó, cho nó ăn vụn bánh, lại tìm cỏ tươi cho nó. Con vật tỏ ra mến thằng bé, lẽo đẽo theo Dickon suốt ngày rồi cho nó ngồi trên lưng. Dickon là một đứa tốt bụng nên súc vật đều yêu mến nó.
Mary had never possessed an animal pet of her own and had always thought she should like one. So she began to feel a slight interest in Dickon, and as she had never before been interested in any one but herself, it was the dawning of a healthy sentiment.
Mary chưa bao giờ có được một con vật cưng của riêng mình, và đã luôn nghĩ rằng nó nên có một con. Bởi vậy, nó bắt đầu cảm thấy hơi thinh thích thằng Dickon. Nếu như trước đây nó chẳng thèm quan tâm đến ai khác ngoài bản thân, thì lúc này trong nó bắt đầu nhen lên một thứ tình cảm lành mạnh tự nhiên.
When she went into the room which had been made into a nursery for her, she found that it was rather like the one she had slept in. It was not a child's room, but a grown-up person's room, with gloomy old pictures on the walls and heavy old oak chairs. A table in the center was set with a good substantial breakfast. But she had always had a very small appetite, and she looked with something more than indifference at the first plate Martha set before her.
Khi vừa bước chân vào căn phòng đã được sửa lại thành phòng trẻ cho nó, con bé nhận thấy nơi này khá giống với căn phòng nó đã từng ngủ. Đây không phải căn phòng dành cho trẻ con mà cho một người trưởng thành, với dăm ba bức tranh cổ u ám trên tường và đây đó vài chiếc ghế cổ bằng gỗ sồi nặng trịch. Trên cái bàn kê giữa phòng đã thấy dọn sẵn bữa điểm tâm thịnh soạn. Con bé vốn chẳng mấy khi ăn uống ngon miệng nên chỉ thờ ơ liếc qua chiếc đĩa mạ bạc đầu tiên Martha đặt trước mặt nó.
"I don't want it," she said.
"Tha' doesn't want thy porridge!" Martha exclaimed incredulously.
"No."
"Tha' doesn't know how good it is. Put a bit o' treacle on it or a bit o' sugar."
"I don't want it," repeated Mary.
"Eh!" said Martha. "I can't abide to see good victuals go to waste. If our children was at this table they'd clean it bare in five minutes."
"Why?" said Mary coldly. "Why!" echoed Martha. "Because they scarce ever had their stomachs full in their lives. They're as hungry as young hawks an' foxes."
"I don't know what it is to be hungry," said Mary, with the indifference of ignorance.
- Tôi không thích món này, - nó bảo.
- Cô không thích món cháo này ư! – Martha thốt lên vẻ ngờ vực.
- Không.
- Cô không biết nó ngon lành như thế nào đâu? Cho một chút mật hoặc đường vào thì tuyệt.
- Tôi không thích món này, - Mary nhắc lại.
- Chao ôi! – Martha kêu lên. – Tôi không sao chịu nổi khi nhìn thấy thức ăn đồ uống ngon lành bị bỏ phí. Giá bọn trẻ nhà chúng tôi được ngồi vào bàn này thì chúng sẽ chén sạch chỗ ấy trong vòng năm phút.
-Tại sao? – Mary hỏi vẻ lạnh lùng.
- Tại sao à! – Martha đay lại. – Bởi vì hiếm khi chúng được no bụng trong đời. Chúng luôn đói khát như bầy diều bầy cáo vậy.
- Tôi quả không hiểu bị đói là gì, - Mary nói với vẻ hững hờ của kẻ không biết tới cái cảm giác này.
Martha looked indignant.
"Well, it would do thee good to try it. I can see that plain enough," she said outspokenly. "I've no patience with folk as sits an' just stares at good bread an' meat. My word! don't I wish Dickon and Phil an' Jane an' th' rest of 'em had what's here under their pinafores."
"Why don't you take it to them?" suggested Mary.
Martha trông có vẻ phẫn nộ.
- Hừ, cứ thử xem, chắc là tốt cho cô đấy, tôi thì thấy quá rõ, - chị nói toạc ra – tôi không đủ kiên nhẫn với những người chỉ ngồi giương mắt nhìn bánh mì với thịt ngon lành. Trời ơi! Tôi chỉ ao ước Dickon, Phil và Jane và những đứa còn lại có được những gì tại đây.
- Sao chị không mang về cho họ, - Mary gợi ý.
"It's not mine," answered Martha stoutly. "An' this isn't my day out. I get my day out once a month same as th' rest. Then I go home an' clean up for mother an' give her a day's rest."
Mary drank some tea and ate a little toast and some marmalade.
- Những thứ này không phải của tôi, - Martha trả lời thẳng thắn.– Vả lại, hôm nay cũng không phải ngày về nhà của tôi. Tôi được phép về mỗi tháng một lần, coi như ngày nghỉ. Lúc ấy, tôi về ngay nhà và lai dọn nhà giúp mẹ, để bà có được một ngày nghỉ ngơi.
Mary nhấp ngụm trà, ăn chút bánh mì nướng và mứt cam.
"You wrap up warm an' run out an' play you," said Martha. "It'll do you good and give you some stomach for your meat."
Mary went to the window. There were gardens and paths and big trees, but everything looked dull and wintry.
"Out? Why should I go out on a day like this?" "Well, if tha' doesn't go out tha'lt have to stay in, an' what has tha' got to do?"
- Cô mặc cho ấm vào, rồi ra ngoài mà chơi. Như thế cô sẽ thấy sảng khoái, có đói bụng thì ăn mới ngon miệng.
Mary bước tới bên cửa số. Ngoài kia là vườn tược cùng mấy con đường mòn và dăm cái cây lớn, nhưng cảnh vật trông ảm đạm tựa mùa đông.
- Ra ngoài ư? Tại sao tôi phải ra ngoài vào một ngày như thế này?
- Nếu cô không muốn ra ngoài thì cô phải ở trong phòng, vậy cô sẽ làm gì?
Mary glanced about her. There was nothing to do. When Mrs. Medlock had prepared the nursery she had not thought of amusement. Perhaps it would be better to go and see what the gardens were like.
"Who will go with me?" she inquired.
Mary ngước nhìn xung quanh. Chẳng có gì để làm cả. Khi bà Medlock chuẩn bị phòng trẻ thì bà ta không nghĩ tới cái trò giải trí. Có lẽ nên ra ngoài kia xem mấy khu vườn ra sao.
- Ai đi cùng tôi? – Nó hỏi.
Martha stared.
"You'll go by yourself," she answered. "You'll have to learn to play like other children does when they haven't got sisters and brothers. Our Dickon goes off on th' moor by himself an' plays for hours. That's how he made friends with th' pony. He's got sheep on th' moor that knows him, an' birds as comes an' eats out of his hand. However little there is to eat, he always saves a bit o' his bread to coax his pets."
Martha trố mắt. - Cô tự đi chứ, - chị đáp. – cô hãy học sống như bọn trẻ vẫn chơi khi chúng không có anh chị em. Thằng Dickon nhà chúng tôi thường tự ra ngoài đồng hoang mà chơi hàng giờ. Nó cũng kết thân với mấy con ngựa hoang bằng cách ấy đấy. Nó cũng khiến được bầy cừu ngoài cánh đồng hiểu nó, và chim chóc thì sà xuốn ăn ngay trên hai bàn tay nó. Dẫu chẳng có mấy thức ăn, nhưng nó luôn dành dụm chút xíu bánh mì cho các con vật yêu của nó.
It was really this mention of Dickon which made Mary decide to go out, though she was not aware of it. There would be, birds outside though there would not be ponies or sheep. They would be different from the birds in India and it might amuse her to look at them. Martha found her coat and hat for her and a pair of stout little boots and she showed her her way downstairs.
Quả tình cái lối kể lể này về Dickon đã khiến Mary quyết định ra khỏi nhà, dù nó không nhận ra điều đó. Sẽ có chim chóc ngoài kia, chứ không phải ngựa hoang với cừu. Chúng chắc phải khác chim chóc ở Ấn Độ, và ngắm nhìn chúng sẽ làm nó thấy vui. Martha tìm cho nó áo khoác và mũ, lại thêm đôi giày bốt vừa xinh vừa bền, xong xuôi chị chỉ cho nó lối ra cầu thang.
"If tha' goes round that way tha'll come to th' gardens," she said, pointing to a gate in a wall of shrubbery. "There's lots o' flowers in summer-time, but there's nothin' bloomin' now." She seemed to hesitate a second before she added, "One of th' gardens is locked up. No one has been in it for ten years."
- Nếu cô đi theo đường kia thì cô sẽ ra tới vườn, - chị vừa nói vừa chỉ về phái cái cổng ẩn trong hàng giậu có nhiều cây bụi. - Ở đó có vô vàn hoa nở khi hè về, nhưng bây giờ thì chẳng cây nào nở hoa hết. Chị có vẻ lưỡng lự giây lát rồi nói thêm.
- Một trong các khi vườn hiện đang bị khoá kín. Suốt mười năm qua chưa một ai đặt chân vào đó.
"Why?" asked Mary in spite of herself. Here was another locked door added to the hundred in the strange house.
"Mr. Craven had it shut when his wife died so sudden. He won't let no one go inside. It was her garden. He locked th' door an' dug a hole and buried th' key. There's Mrs. Medlock's bell ringing--I must run."
- Tại sao? – Mary buột miệng hỏi. Lại thêm một cánh cửa nữa bị khoá, thêm vào con số hàng trăm căn phòng bị khóa trong ngôi nhà kỳ lạ này.
- Ông Craven đã cho khoá nó khi vợ ông đột ngột qua đời. Ông không cho phép ai bước vào trong. Đó chính là khu vườn riêng của phu nhân. Ông ấy tự tay khoá cánh cửa và đào một cái hố để giấu chìa khoá. Chuông của bà Medlock đang rung đấy, tôi phải chạy đi đây.
After she was gone Mary turned down the walk which led to the door in the shrubbery. She could not help thinking about the garden which no one had been into for ten years. She wondered what it would look like and whether there were any flowers still alive in it.
Sau khi chị đã rời xa, Mary quay xuống lối đi dạo dẫn tới cánh cổng chỗ cây bụi. Nó không thể không nghĩ đến khu vườn không có ai đặt chân vào trong suốt mười năm qua. Nó tò mò muốn biết khu vườn trông thế nào và tự nhủ không rõ có còn cây hoa nào sống sót trong đó không.
When she had passed through the shrubbery gate she found herself in great gardens, with wide lawns and winding walks with clipped borders. There were trees, and flower-beds, and evergreens clipped into strange shapes, and a large pool with an old gray fountain in its midst. But the flower-beds were bare and wintry and the fountain was not playing. This was not the garden which was shut up. How could a garden be shut up? You could always walk into a garden.
Vượt qua cánh cổng bằng bụi cây, nó nhận ra mình đang đứng giữa một khu vườn rộng với những bãi cỏ lớn, những lối đi quanh co và những bờ câu được chăm tỉa. Cơ man nào là cây cối, thảm hoa và những cây trường xuân được xén tỉa tạo nên những hình thù kỳ lạ, với cả một hồ nước rộng có đài phun nước màu xám cũ kỹ ngay chính giữa. Nhưng lúc này các thảm hoa đều trơ trụi, tiêu điều, còn đài phun nước thì đã ngừng phun. Đây không phải là khu vườn bị khoá. Vườn tược mà phải khoá lại thì còn ra thể thống gì nhỉ? Người ta ai cũng có thể đi dạo trong vườn kia mà.
She was just thinking this when she saw that, at the end of the path she was following, there seemed to be a long wall, with ivy growing over it. She was not familiar enough with England to know that she was coming upon the kitchen-gardens where the vegetables and fruit were growing. She went toward the wall and found that there was a green door in the ivy, and that it stood open. This was not the closed garden, evidently, and she could go into it.
Đang nghĩ vậy thì nó trông thấy ở cuối con đường mòn mình đang đi, hình như có một bức tường dài dằng dặc phủ kín dây thường xuân. Nó không biết nhiều về nước Anh để mà hiểu rằng nó sắp bước vào khu vườn dành cho nhà bếp, là nơi chỉ trồng toàn rau và quả. Nó tiến về phía bức tường thì phát hiện ra một cánh cửa ra vào sơn xanh thấp thoáng trong đám lá thường xuân, cửa để ngỏ.
She went through the door and found that it was a garden with walls all round it and that it was only one of several walled gardens which seemed to open into one another.
Rõ ràng khu vườn này không hề đóng, và nó có thể vào trong đó. Nó tiến qua cánh cửa và nhận thấy đó là một khu vườn có tường bao, và chỉ là một trong số mấy khu vườn có tường bao quanh, vườn nọ dường như mở thông sang vườn kia.
She saw another open green door, revealing bushes and pathways between beds containing winter vegetables. Fruit-trees were trained flat against the wall, and over some of the beds there were glass frames. The place was bare and ugly enough, Mary thought, as she stood and stared about her. It might be nicer in summer when things were green, but there was nothing pretty about it now.
Con bé thấy một cánh cửa màu xanh khác mở ngỏ, để lộ mấy bụi cây và các đường mòn nhỏ chạy giữa những luống rau mùa đông. Cây ăn quả được trồng thành hàng doc sát chân tường, và một số luống đất có khung kính che bên trên. Nơi này mới trơ trụi và xấu xí làm sao, Mary nghĩ bụng khi nó đứng ngắm nhìn quanh. Có lẽ vào mùa hè thì sẽ đẹp hơn, khi tất cả đều xanh tươi chứ lúc này thì chẳng có gì đẹp hết.
Presently an old man with a spade over his shoulder walked through the door leading from the second garden. He looked startled when he saw Mary, and then touched his cap. He had a surly old face, and did not seem at all pleased to see her--but then she was displeased with his garden and wore her "quite contrary" expression, and certainly did not seem at all pleased to see him.
Ngay lúc đó, một ông lão vác mai trên vai từ cánh cửa khu vườn thứ hai bước vào. Ông lão giật nảy mình khi nhìn thấy Mary, rồi đưa tay chạm nhẹ trên vành mũ. Ông có vẻ mặt già nua cáu kỉnh và chẳng hề tỏ ra mừng rỡ khi gặp con bé – nhưng lúc đó Mary nào có thích thú gì khu vườn, và cùng với bộ dạng ương bướng, nó cũng không tỏ vẻ gì là mừng khi thấy ông.
"What is this place?" she asked.
"One o' th' kitchen-gardens," he answered.
"What is that?" said Mary, pointing through the other green door.
"Another of 'em," shortly. "There's another on t'other side o' th' wall an' there's th' orchard t'other side o' that."
"Can I go in them?" asked Mary.
"If tha' likes. But there's nowt to see."
- Đây là đâu thế?
- Một khu vườn dành cho bếp ăn đấy cô ạ, - ông lão đáp.
- Thế kia là gì? – Mary vừa hỏi, vừa đưa tay chỉ qua cánh cửa màu xanh kia.
- Một vườn nhà bếp khác. Và một vườn nữa ở bên kia bức tường và vườn cây ăn quả ở sau tất cả chúng.
- Tôi có thể vào trong các khu vườn ấy không? – Mary hỏi.
- Nếu cô muốn. Nhưng cũng chẳng có gì đáng xem.
Mary made no response. She went down the path and through the second green door. There, she found more walls and winter vegetables and glass frames, but in the second wall there was another green door and it was not open. Perhaps it led into the garden which no one had seen for ten years. As she was not at all a timid child and always did what she wanted to do, Mary went to the green door and turned the handle.
Mary không đáp lại. Nó đi xuôi theo con đường mòn và bước qua cánh cửa màu xanh thứ hai. Ở đây, nó lại thấy mấy bức tường nữa với những luống rau vụ đông và nhà khung kính. Nơi bức tường thứ hai là một cánh cửa sơn xanh khép kín. Có lẽ cánh cửa này dẫn tới khi vườn mà suốt mười năm qua chưa một ai được tới. Vốn dĩ không phải đứa trẻ rụt rè, lại luôn làm những gì nó thích nên Mary bước dấn tới chỗ cánh cửa xanh và xoay tay nắm.
She hoped the door would not open because she wanted to be sure she had found the mysterious garden--but it did open quite easily and she walked through it and found herself in an orchard. There were walls all round it also and trees trained against them, and there were bare fruit-trees growing in the winter-browned grass--but there was no green door to be seen anywhere.
Nó hy vọng cánh cửa không mở, bởi vì nó muốn chắc chắn mình đã phát hiện ra khu vườn đầy bí ẩn đó. Thế nhưng cửa hoàn toàn dễ mở. Trước khi bước vào trong, nó nhận ra mình đang ở giữa một vườn cây ăn quả. Vẫn những bức tường bao quanh khu vườn, những cây cối dựa vào bờ tường, và những cây ăn quả trơ trụi mọc giữa vạt cỏ nâu xám mùa đông, nhưng chẳng thấy cánh cửa xanh nào hết.
Mary looked for it, and yet when she had entered the upper end of the garden she had noticed that the wall did not seem to end with the orchard but to extend beyond it as if it enclosed a place at the other side.
Con bé đưa mắt tìm kiếm cánh cửa đó, và khi tiến về cuối khu vườn, nó để ý thấy bức tường dường như không dừng lại chỗ vườn cây quả ma còn dài ra nữa, như còn chạy quanh thêm một khoảng đất phía bên kia.
She could see the tops of trees above the wall, and when she stood still she saw a bird with a bright red breast sitting on the topmost branch of one of them, and suddenly he burst into his winter song--almost as if he had caught sight of her and was calling to her.
Từ đây trông thấy rõ mấy ngọn cây trên bờ tường, và khi đứng im, nó trông thấy một con chim có bộ lông ức đỏ rực, đang đậu trên cành cao nhất trong mấy ngọn cây, đột nhiên hót vang bài ca mùa đông của nó, như thể nó đã trông thấy con bé và cất tiếng gọi.
She stopped and listened to him and somehow his cheerful, friendly little whistle gave her a pleased feeling--even a disagreeable little girl may be lonely, and the big closed house and big bare moor and big bare gardens had made this one feel as if there was no one left in the world but herself.
Con bé đứng lặng nghe chim hót. Không hiểu sao tiếng hót thân thiện, vui vẻ của nó làm dâng lên trong lòng Mary một cảm giác dễ chịu, dù cho đứa con gái nhỏ khó chịu đó có thể cô độc, và dù ngôi nhà đồ sộ khép kín này,cánh đồng hoang trơ trụi này và cả những khu vườn trống trải rộng mênh mông này nữa cũng chỉ khiến cho sinh linh đó cảm thấy như thể không gì còn tồn tại trên thế giới này ngoài bản thân nó.
If she had been an affectionate child, who had been used to being loved, she would have broken her heart, but even though she was "Mistress Mary Quite Contrary" she was desolate, and the bright-breasted little bird brought a look into her sour little face which was almost a smile. She listened to him until he flew away. He was not like an Indian bird and she liked him and wondered if she should ever see him again. Perhaps he lived in the mysterious garden and knew all about it.
Nếu là một đứa trẻ được yêu thương thì có lẽ trái tim nó đã rung lên thổn thức, nhưng bởi là “cô chủ Mary ngang ngược” cho nên con chim nhỏ có bộ lông ức đỏ tươi kia cũng chỉ khiến cho khuôn mặt non nớt cáu kỉnh của con bé khẽ nở một nụ cười.. Mary lặng người nghe con chim hót cho tới khi nó vỗ cánh bay đi. Nó chẳng thấy giống một loài chi Ấn Độ nào cả, con bé thấy thích và tự hỏi liệu có còn được gặp lại nó không. Biết đâu con chim ấy lại sống trong khu vườn bí ẩn và biết nhiều chuyện về khu vườn cũng nên.
Perhaps it was because she had nothing whatever to do that she thought so much of the deserted garden. She was curious about it and wanted to see what it was like. Why had Mr. Archibald Craven buried the key? If he had liked his wife so much why did he hate her garden?
Có lẽ chẳng có việc gì làm nên con bé cứ nghĩ mãi về khu vườn bị bỏ hoang. Nó tò mò về khu vườn và càng muốn xem sự thể ra sao. Vì cớ gì mà ông Archinald Craven phải vùi chìa khoá xuống đất? Nếu ông ấy yêu thương vợ đến vậy thì sao lại ghét khu vườn của bà?
She wondered if she should ever see him, but she knew that if she did she should not like him, and he would not like her, and that she should only stand and stare at him and say nothing, though she should be wanting dreadfully to ask him why he had done such a queer thing.
Nó tự hỏi không biết mình có bên gặp ông ấy hay không, nhưng nó biết rằng nếu có gặp thì nó sẽ chẳng thích ông, và hẳn ông cũng chẳng mến nó, và nó sẽ chỉ đứng mà nhìn ông chòng chọc, không nói một câu, mặc dầu nó thèm đến chết đi được muốn hỏi tại sao ông lại làm một việc kỳ dị như thế.
"People never like me and I never like people," she thought. "And I never can talk as the Crawford children could. They were always talking and laughing and making noises."
“Mọi người chẳng bao giờ ưa mình, mà mình cũng chẳng bao giờ ưa họ,” nó nghĩ. “Mình cũng chẳng bao giờ biết nói năng như bọn trẻ nhà Crawford. Chúng nó lúc nào cũng nói cười và làm ầm ĩ cả lên.” Con bé chợt nhớ tới con chim ức đỏ và cách con chim hát bài ca như để dành cho nó.
She thought of the robin and of the way he seemed to sing his song at her, and as she remembered the tree-top he perched on she stopped rather suddenly on the path.
"I believe that tree was in the secret garden--I feel sure it was," she said. "There was a wall round the place and there was no door."
Nó đứng phắt lại trên đường mòn khi đột nhiên nhớ ra ngọn cây nơi có chim đã đậu. “mình tin rằng cái cây ấy ở trong khu vườn bí mật. mình cảm thấy chắc chắn như vậy. Có một bức tường bao quanh nơi đó, nhưng không thấy cửa,” nó lẩm bẩm.
She walked back into the first kitchen-garden she had entered and found the old man digging there. She went and stood beside him and watched him a few moments in her cold little way. He took no notice of her and so at last she spoke to him.
Nó quay lại khu vườn của nhà bếp lúc ban đầu, vừa tiến vào thì gặp ông lão đang đào xới ở đó. Nó bước tới đứng cạnh ông, ngắm ông với vẻ lạnh lùng trong giây lát. Ông lão không để ý tới nó, cuối cùng nó đành lên tiếng.
"I have been into the other gardens," she said.
"There was nothin' to prevent thee," he answered crustily.
"I went into the orchard."
"There was no dog at th' door to bite thee," he answered.
"There was no door there into the other garden," said Mary.
"What garden?" he said in a rough voice, stopping his digging for a moment.
"The one on the other side of the wall," answered Mistress Mary. "There are trees there--I saw the tops of them. A bird with a red breast was sitting on one of them and he sang."
- Các khu vườn tôi đều vào cả rồi.
- Chẳng có gì ngăn cô cả - ông lão đáp lại một cách cộc cằn.
- Tôi đã vào cả vườn cây ăn quả.
- Không có chó canh cửa cắn cô đâu, - ông lão đáp.
- Làm gì có cửa thông sang khu vườn kia, - Mary nói.
- Vườn nào? – Ông lão hỏi bằng giọng thô lỗ, ngừng đào đất trong giây lát.
- Vườn ở bên kia bức tường, - Mary trả lời, - cả cây cối ở đó nữa. Tôi đã thấy ngọn của chúng. Con chim ức đỏ đậu trên một ngọn cây, nó còn hót nữa.
To her surprise the surly old weather-beaten face actually changed its expression. A slow smile spread over it and the gardener looked quite different. It made her think that it was curious how much nicer a person looked when he smiled. She had not thought of it before. He turned about to the orchard side of his garden and began to whistle--a low soft whistle. She could not understand how such a surly man could make such a coaxing sound.
Trước nỗi ngạc nhiên của con bé, khuôn mặt cáu kỉnh già nua dạn dày nắng gió ấy chợt biến đổi. Một nụ cười chậm rãi nở trên khuôn mặt ông già, và người làm vườn lúc này trông khác hẳn.
Điều đó khiến con bé nghĩ thật kỳ lạ, một người lại có thể trở nên dễ thương biết bao khi nở một nụ cười. Trước đây nó quả chưa nghĩ tới điều đó. Ông lão quay người về phía khu vườn quả và bắt đầu huýt sáo – tiếng sáo trầm trầm dịu dàng. Nó không thể hiểu nổi vì sao con người cau có ấy có thể tạo nên một âm thanh ngọt ngào đến vậy.
Almost the next moment a wonderful thing happened. She heard a soft little rushing flight through the air--and it was the bird with the red breast flying to them, and he actually alighted on the big clod of earth quite near to the gardener's foot.
"Here he is," chuckled the old man, and then he spoke to the bird as if he were speaking to a child.
Gần như ngay lúc đó, một điều kỳ diệu đã xảy ra. Nó nghe tiếng loạt xoạt êm ái trong không trung, và con chim ức đỏ thắm vụt bay đến chẳng khác nào một đốm lửa, đậu xuống tảng đất lớn ngay sát chân người làm vườn. Nó đây rồi, - ông lão cười một mình, đoạn quay sang nói với con chim như nói với một đứa trẻ.
"Where has tha' been, tha' cheeky little beggar?" he said. "I've not seen thee before today. Has tha, begun tha' courtin' this early in th' season? Tha'rt too forrad."
- Mày vừa ở đâu về, đồ nhãi con hư đốn, - lão đùa. – Từ hôm qua tới giờ tao chẳng thấy mày đâu cả. Mới đầu mày mà mày đã bắt đầu ve vãn bạn tình rồi sao? Thế là sớm quá đấy.
The bird put his tiny head on one side and looked up at him with his soft bright eye which was like a black dewdrop. He seemed quite familiar and not the least afraid. He hopped about and pecked the earth briskly, looking for seeds and insects.
Con chim nghiêng nghiêng cái đầu xinh xắn sang bên, ngước nhìn ông lão bằng đôi mắt sáng dịu dàng tựa hai giọt sương đen. Hình như nó đã quá quen với lão và không chút sợ hãi. Nó nhảy lên mổ mổ đất để tìm ngũ cốc và côn trùng.
It actually gave Mary a queer feeling in her heart, because he was so pretty and cheerful and seemed so like a person. He had a tiny plump body and a delicate beak, and slender delicate legs.
Điều đó khiến Mary thấy rung động kỳ lạ, bởi con vật thật xinh xắn, vui vẻ, và trông mới giống con người làm sao. Nó có cái thân tròn như trái mận, cái mỏ thanh tú cùng hai cái cẳng thật mảnh mai.
"Will he always come when you call him?" she asked almost in a whisper.
"Aye, that he will. I've knowed him ever since he was a fledgling. He come out of th' nest in th' other garden an' when first he flew over th' wall he was too weak to fly back for a few days an' we got friendly. When he went over th' wall again th' rest of th' brood was gone an' he was lonely an' he come back to me."
"What kind of a bird is he?" Mary asked.
-Hễ ông gọi là nó bay đến liền sao?? – Nó hỏi như thể thì thầm.
- Phải, hễ gọi là nó đến. Tôi biết nó từ khi nó mới ra ràng. Nó bay khỏi tổ từ khu vườn kia, lần đầu bay qua tường thì nó yếu quá, không đủ sức bay trở về nữa trong mấy ngày liền, và chúng tôi kết bạn với nhau. Đến lúc nó qua nổi bức tường thì những con cùng lứa cũng đã bay xa rồi, còn mỗi một mình nên nó trở lại với tôi.
- Nó là loài chim gì thế? – Mary hỏi.
"Doesn't tha' know? He's a robin redbreast an' they're th' friendliest, curiousest birds alive. They're almost as friendly as dogs--if you know how to get on with 'em. Watch him peckin' about there an' lookin' round at us now an' again. He knows we're talkin' about him."
It was the queerest thing in the world to see the old fellow. He looked at the plump little scarlet-waistcoated bird as if he were both proud and fond of him.
- Cô không biết à? Nó là loài ức đỏ, loài chim thân thiện nhất, hiếu kỳ nhất còn sống cho tới ngày nay. Chúng thân thiện gần như bọn chó vậy, nếu cô biết cách làm quen với chúng. Nhìn nó đang mổ đấy, nó đang ngó quanh và đôi lúc liếc nhìn chúng ta nữa. Nó hiểu chúng ta đang nói về nó.
Chẳng có gì trên thế gian này kỳ dị bằng ông lão ấy. Lão đang ngắm nghía con chim có bộ ức đỏ tươi, vừa tự hào vừa trìu mến.
"He's a conceited one," he chuckled. "He likes to hear folk talk about him. An' curious--bless me, there never was his like for curiosity an' meddlin'. He's always comin' to see what I'm plantin'. He knows all th' things Mester Craven never troubles hissel' to find out. He's th' head gardener, he is."
- Nó là hay tự phụ lắm đấy, - lão cười mủm mỉm. – Nó rất thích nghe người ta bàn tán về nó. Và thóc mách nữa chứ, chao ôi, chẳng có ai lại hay tò mò và can thiệp vào chuyện người khác như nó. Nó thường xà xuống xem tôi đang trồng cây gì. Nó biết tất cả những điều mà bản thân ông Craven không buồn khám phá. Nó mới chính là người làm vườn hàng đầu ở đây.
The robin hopped about busily pecking the soil and now and then stopped and looked at them a little. Mary thought his black dewdrop eyes gazed at her with great curiosity. It really seemed as if he were finding out all about her. The queer feeling in her heart increased. "Where did the rest of the brood fly to?" she asked.
Com chim ức đỏ vẫn nhảy quanh, hối hả mổ xuống đất, thỉnh thoảng dừng lại ngó nghiêng sang hai người. Mary nhận thấy đôi mắt như hai hạt sương đen của nó đang trân trân nhìn mình với vẻ hết sức lạ lẫm. Có vẻ như nó đang tìm hiểu mọi thứ về con bé. Cảm giác kỳ lạ trong lòng Mary mỗi lúc một tăng lên.
- Những con chim cùng lứa khác bay đi đâu? - Nó hỏi.
"There's no knowin'. The old ones turn 'em out o' their nest an' make 'em fly an' they're scattered before you know it. This one was a knowin' one an, he knew he was lonely."
- Không biết. Những con chim già đẩy chúng ra khỏi tổ, dạy chúng bay, rồi chúng bay tản mác bốn phương trước khi ta kịp nhận ra. Tôi chỉ còn thấy con này, nó cũng biết mình đơn độc.
Mistress Mary went a step nearer to the robin and looked at him very hard.
"I'm lonely," she said.
She had not known before that this was one of the things which made her feel sour and cross. She seemed to find it out when the robin looked at her and she looked at the robin.
Cô chủ nhỏ Mary bước một bước lại gần hơn con chim ức đỏ, nhìn nó và bảo:
- Tao cũng đơn độc như mày.
Trước đây con bé không biết đó là một trong những điều khiến nó khó chịu và khổ sở. Dường như nó nhận ra điều đó khi con chum ức đỏ nhìn nó và nó cũng nhìn lại con chim.
The old gardener pushed his cap back on his bald head and stared at her a minute.
"Art tha' th' little wench from India?" he asked.
Mary nodded.
"Then no wonder tha'rt lonely. Tha'lt be lonlier before tha's done," he said.
He began to dig again, driving his spade deep into the rich black garden soil while the robin hopped about very busily employed.
"What is your name?" Mary inquired.
Người làm vườn già đẩy cái mũ ra phía sau cái đầu hói, nhìn nó trân trân trong giây lát.
- Cô có phải cô tiểu thư từ Ấn Độ về không?
Mary gật đầu.
- Chả trách cô đơn độc là phải. Còn đơn độc hơn trước kia nữa cơ, - lão bảo. Lão lại xới đất, lưỡi mai xắn sâu vào lớp đấy vườn màu mỡ trong khi con chim ức đỏ nhảy nhót gần đó, ra vẻ bận rộn.
- Tên ông là gì? – Mary hỏi.
He stood up to answer her.
"Ben Weatherstaff," he answered, and then he added with a surly chuckle, "I'm lonely mysel' except when he's with me," and he jerked his thumb toward the robin. "He's th' only friend I've got."
"I have no friends at all," said Mary. "I never had. My Ayah didn't like me and I never played with any one."
Lão đứng thẳng người, đáp:
- Ben Weatherstaff.– Rồi lão nói thêm với nét cười cau có. – bản thân tôi cũng đơn độc, chỉ trừ khi có nó ở bên, - lão trỏ ngón tay cái về phía con chim ức đỏ. – Nó là người bạn duy nhất mà tôi có.
- Tôi thì chẳng có bạn bè nào cả, - Mary bảo. – Tôi chẳng bao giờ có bạn. Ngay Ayah của tôi cũng chẳng thích tôi, và tôi chưa bao giờ chơi với ai hết.
It is a Yorkshire habit to say what you think with blunt frankness, and old Ben Weatherstaff was a Yorkshire moor man.
"Tha' an' me are a good bit alike," he said. "We was wove out of th' same cloth. We're neither of us good lookin' an' we're both of us as sour as we look. We've got the same nasty tempers, both of us, I'll warrant."
Người Yorkshire có thói hay nói thẳng tuột những điều họ nghĩ, và lão Ben Weatherstaff chính là một cư dân của vùng đồng hoang Yorshire này.
- Cô và tôi hơi giống nhau đó. Chúng ta cùng một giuộc với nhau. Đều không ưa nhìn, và đều gắt gỏng. Chúng ta cũng có cái tính khí khó chịu, cả hai đều vậy, tôi cam đoan đấy.
This was plain speaking, and Mary Lennox had never heard the truth about herself in her life. Native servants always salaamed and submitted to you, whatever you did. She had never thought much about her looks, but she wondered if she was as unattractive as Ben Weatherstaff and she also wondered if she looked as sour as he had looked before the robin came. She actually began to wonder also if she was "nasty tempered." She felt uncomfortable.
Nói thế thật là thẳng thắn, và Mary Lennox chưa bao giờ nghe người ta nói thật về bản thân nó. Đám gia nhân bản xứ vốn chỉ biết vâng dạ và phục tùng, bất kể chủ nhân mình làm gì. Con bé chẳng mấy khi nghĩ về diện mạo của mình, nhưng nó tự hỏi không biết nó có khó coi như lão Ben Weatherstaff không, và nó cũng băn khoăn không biết trông nó có bẳn tính như lão lúc trước khi con chim ức đỏ bay tới. Nó thật sự bắt đầu phân vân không biết mình có phải là kẻ “khó chịu”. Nó cảm thấy không được thoải mái.
Suddenly a clear rippling little sound broke out near her and she turned round. She was standing a few feet from a young apple-tree and the robin had flown on to one of its branches and had burst out into a scrap of a song. Ben Weatherstaff laughed outright.
"What did he do that for?" asked Mary.
"He's made up his mind to make friends with thee," replied Ben. "Dang me if he hasn't took a fancy to thee."
"To me?" said Mary, and she moved toward the little tree softly and looked up.
Bỗng có tiếng rì rầm khẽ vang lên gần đó, nó ngó nhìn quanh. Nó đang đứng cách một cây táo non mấy bước chân, con chim ức đỏ liệng xuống đậu trên một cành táo và hót lên một tràng líu lo.
Lão Ben Weatherstaff cười phá lên.
- Nó làm gì đấy? – Mary hỏi.
- Nó quyết định đánh bạn với cô đấy. Quỷ tha ma bắt tôi đi nếu như nó không thích cô.
- Tôi ư? – Mary hỏi, nó rón rén lại gần cái cây nhỏ rồi ngước nhìn lên.
"Would you make friends with me?" she said to the robin just as if she was speaking to a person. "Would you?" And she did not say it either in her hard little voice or in her imperious Indian voice, but in a tone so soft and eager and coaxing that Ben Weatherstaff was as surprised as she had been when she heard him whistle.
- Mày có muốn làm bạn với tao không? – Nó nói với con chim ức đỏ, như thể với một con người. – Muốn không nào? – Nó nói câu ấy không hề gắt gỏng hay với cái giọng Ấn Độ kiêu căng, mà bằng một âm điệu mượt mà, âu yếm và háo hức đến nỗi lão Ben Weatherstaff cũng phải sửng sốt, chẳng khác nào con bé lúc nghe lão huýt sáo.
"Why," he cried out, "tha' said that as nice an' human as if tha' was a real child instead of a sharp old woman. Tha' said it almost like Dickon talks to his wild things on th' moor."
"Do you know Dickon?" Mary asked, turning round rather in a hurry.
"Everybody knows him. Dickon's wanderin' about everywhere. Th' very blackberries an' heather-bells knows him. I warrant th' foxes shows him where their cubs lies an' th' skylarks doesn't hide their nests from him."
- Sao thế nhỉ, - lão kêu lên, cô nói câu ấy thật hay., như một đứa trẻ thật sự chứ không phải một mụ già cay nghiệt. Cô nói cứ y như thằng Dickon đang trò chuyện với mấy con thú hoang của nó ngoài đồng hoang.
- Ông biết Dickon sao? – Mary hỏi, vội quay người lại.
- Ai mà chẳng biết nó. Thằng Dickon lang thang khắp nơi. Các loài từ mâm xôi cho tới thạch thảo đều quen với nó. Tôi dám đánh cược rằng ngay đến bọn cáo cũng sẵn lòng chỉ cho thằng bé chỗ nằm của lũ cáo con, và cả bọn chiền chiện cũng chẳng giấu nó tổ của chúng.
Mary would have liked to ask some more questions. She was almost as curious about Dickon as she was about the deserted garden. But just that moment the robin, who had ended his song, gave a little shake of his wings, spread them and flew away. He had made his visit and had other things to do.
Mary vẫn muốn hỏi thêm vài câu nữa. Nó tò mò về thằng Dickon không kém gì về khu vườn bỏ hoang. Nhưng đúng lúc ấy, con chim ức đỏ ngừng hót, khẽ vỗ cánh rồi tung mình bay đi. Nó đã xong chuyến viếng thăm của mình, còn nhiều việc khác đang chờ nó.
"He has flown over the wall!" Mary cried out, watching him. "He has flown into the orchard--he has flown across the other wall--into the garden where there is no door!"
- Nó bay qua bức tường kìa, - Mary kêu to, nhìn theo. – Nó bay vào vườn quả rồi, nó lại bay qua bức tường kia, vào trong khu vườn không có cửa!
"He lives there," said old Ben. "He came out o' th' egg there. If he's courtin', he's makin' up to some young madam of a robin that lives among th' old rose-trees there."
"Rose-trees," said Mary. "Are there rose-trees?"
- Nó sống ở đó, - Lão Ben bảo. – Chính ở nơi ấy nó nở ra từ trứng. Nếu nó đang tìm bạn tình thì hẳn nó phải bám theo nàng chim ức đỏ nào đấy sống trong mấy khóm hồng già ở đó rồi.
- Khóm hồng à, - Mary thốt lên. - Ở đó có những khóm hồng sao?
Ben Weatherstaff took up his spade again and began to dig.
"There was ten year' ago," he mumbled.
"I should like to see them," said Mary. "Where is the green door? There must be a door somewhere."
Lão Ben Weatherstaff nhấc cái mai và bắt đầu đào.
- Mười năm về trước, - lão lẩm bẩm.
- Tôi muốn được tận mắt thấy chúng, - Mary nói. – Cánh cửa xanh ở đâu? Chắc hẳn phải có một cánh cửa ở đâu đó.
Ben drove his spade deep and looked as uncompanionable as he had looked when she first saw him.
"There was ten year' ago, but there isn't now," he said.
Lão Ben xắn sâu lưỡi mai xuống và lại tỏ ra thiếu thân thiện như lần đầu con bé thấy lão.
- Mười năm về trước chứ không phải bây giờ, - lão bảo.
"No door!" cried Mary. "There must be." "None as any one can find, an' none as is any one's business. Don't you be a meddlesome wench an' poke your nose where it's no cause to go. Here, I must go on with my work. Get you gone an' play you. I've no more time."
- Không thấy cánh cửa nào! – Mary kêu lên. – Phải có chứ.
- Chưa một ai có thể tìm thấy, vả lại cũng chẳng phải việc của ai, cô đừng có như mấy cô nàng lắm chuyện cứ hay nhúng mũi vào chỗ không phải của mình. Hừ, tôi phải đi làm việc đây. Cô đi mà chơi đi. Tôi không được rảnh.
And he actually stopped digging, threw his spade over his shoulder and walked off, without even glancing at her or saying good-bye.
Lão thôi đào xới, nhấc mai lên vai rồi đi khỏi, cũng không buồn nhìn hay chào con bé.



 MOVIE 1949