MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Wednesday, February 8, 2012

BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI SCHOOL OF MY HEART, TOMORROW I WILL BE SEPARATED FROM YOU!


BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI

SCHOOL OF MY HEART,

TOMORROW I WILL BE SEPARATED FROM YOU!

CHẾ LAN VIÊN

by CHE LAN VIEN

Sắc nắng dần nghiêm lại, rồi gió nam về dấy bụi mù quấy rối ý xanh cao. Mỗi buổi mai, hoa xoan bừng sáng với mặt trời. Nệm đỏ chăn xanh, ngày dịu ngã mình trưa, đôi tiếng ve nhịp theo im tĩnh. Đến khi không gian thiết tha nhớ đến nắng vàng thì buổi chiều qua rất nặng nề, chắc bởi vừa trôi vừa mơ mộng.

The blazing rays of sunshine, little by little, condense; and the South Wind, with its swirls of dust, returns and embarrasses our noble thoughts. Each morning, the flamboyant flowers open out and shine under the sun. On its red mattress and its blue blanket, the Day takes its siesta peacefully. In the silence of midday, some cicadas tune their monotonous song to the tranquility of the country. At the moment when Space yearns for gazing again upon the gilded rays of the setting sun, the afternoon passes by laboriously. Probably, it passes time in reverie while going by.

Ôi! đất trời bỗng nhiên mang hồn một người Do Thái phiêu linh. Mùi muối biển nổi lên đậm đà trong mạch gió tuôn thao, ấy là nồng mặn của Ấn Độ dương gửi đến. Và bụi mù bay ở ngoài kia, cứ xem những vẻ dàn bày ở dưới vòm xanh, hẳn đã từng qua sa mạc Phi châu.

Alas! The Sky and the Earth carry suddenly away the spirit of a wandering Jew. The salted odor of the South Seas pleasantly cherishes his heart with the breath of a wind that passes: that is the odor sent to us by the Indian Ocean. If we glance at the cloud of dust that whirls in the air, we can easily guess that it has undoubtedly sojourned in the desert of the Sahara.

Nhưng thầm kín hơn hết chỉ có tình ý của hoa xoan. Hãy lắng nghe màu tươi trôi chảy đến sắc buồn, sự già nua mỗi lúc mỗi tăng trong nửa phút giây dịch biến. Chỉ một ngày mai thì hoa xoan đã là hoa cuối chợ đầu đình. Ôi! mi đến giữa bụi đường và mất đi theo cỏ rác! Và những đàn ve nữa, một khi mùa hè đã khuất, người ta liền quét dọn với hoa khô.

Nevertheless, discrete are the intentions of flamboyant flowers. Let us listen to the sap of life that comes out from them and leads us toward sadness! At every moment, increases old age: in only one day, the flamboyant flowers will fade and fall down. Alas! You who were born in scented bushes, you die in dust! And the cicadas also, once summer is over, one would sweep away and the poor dead cicadas and the faded fallen flowers.

Những tràng học kia, nằm mê trong nắng, thì bởi lẽ gì cũng nhuốm nỗi buồn những người Do Thái phiêu linh? Cửa mi mở rộng, tam cấp trơn tru, ta nghe mi gọi đàn con thơ sạch của mi và bảo:

Those schools, drunk under the scorching sun, for which reason they also, pale of sadness without name, become wandering Jews? With their large gates opened, I hear them call their ingenuous students and say to them:

- Các con ơi! mùa thu và mùa đông lạnh lẽo đã qua rồi. Những cánh cửa không còn cùng nhau chung kết nỗi buồn, bây giờ đất trời nắng ráo, các con có thể rời ta. Ôi! mái ngói của ta đang rên lên vì những lời kêu gọi trên cao, sao các con dửng dưng với bao nhiêu thúc dục bên ngoài?

“My children! Autumn and winter have passed, we should not remain thus together for always. Now that the weather is fine, it is the favorable moment for you to leave your school and to part far. Yes, you must leave and part far, my children! And, without regret, you can abandon me here, forever! O my God! My roofs quiver in hearing the calls from on high, why do you all seem to be insensitive to those external charms which attract us unceasingly?”

Mùa xuân, khi hoa cỏ giàu sang, phấn hương thịnh mãn, lời mời đưa nào đâu rõ rệt thế này. Và bây giờ nắng nghiêm gió khắc, sự biệt ly lại hiện đến trên đường lót chông gai ngăn bước của chân non.

In spring, when flowers abound and their perfumes exhale, no invitation is much clearer than that one. Now that the sun is becoming increasingly severe and the wind increasingly stronger, it is for us the moment of separation on the thorny path where young people are struggling very hard.

Những cậu học sinh, mấy năm nay điệp lẫn với thái bình của bàn của ghế, cũng đã bắt đầu thành những người Do Thái phiêu linh. Tôi thấy các cậu, vào những giờ học, ngồi thừ bên sách vở, mắt mờ đi, huyễn hoặc bởi hạt ngọc vô hình của đôi điểm không gian.

Those students who, these years, lived peacefully amidst of desk seats, became wandering Jews! I caught sight of them who, during the hours of class, sat down nonchalantly in front of their books, with a faraway look, being charmed by I don't know which luminous points that might wander in space.

Vâng, cũng có đôi người mơ đến một cảnh nhà trên núi đồi nào đó, nuôi sống bởi dăm ba mẫu ruộng, một sức trâu hay một sức bò. Đôi người mơ đến sự cầm tù có lương trong một mái sinh nhai nào đó, làm nô lệ tháng ngày cho cái đồng hồ ông chủ, rút bớt không gian hầu yên tĩnh với thời gian. Nhưng rất đông là mơ rời bỏ gia đình, làm thia lia vang bóng cho sự rời bỏ nhà trường. Họ sẽ lấy độ đường dài làm nóng bánh xe lăn (trai trẻ vốn đang thèm sức nóng).

Yes, some of them probably dream of a beautiful house leaning over some pleasant hill, where they will be able to live, thanks to a few hectares of land, with the help of an ox or a water buffalo. Others wish to earn wages and be employed in some companies as slaves, day after day, of the director's watch. However, the majority thinks about abandoning their dear school to leave far. The length of the path will excite their taste of adventure (as passion normally expires with the termination of youth).

Do Thái giang hồ, họ không nghĩ rằng ngày kia rồi sẽ trở về nước cũ. Những quả tim thơ dại kia ơi, đã là con chim bồ câu trắng thì không nên ra khỏi chuồng chim. Bùn dơ sẽ làm bẩn hết lòng mi cho đến lúc lòng mi cùng với bùn dơ lẫn kiếp.

Vậy thì làm sao, khi chiếc xe của một lưu học sinh chở đồ ra khỏi cổng trường, lại không có ác điểu của Edgar Poe đâu đấy để kêu lên lời than đen tối sau này:

- Và thôi, không có gì nữa hết.

Wandering Jews, they have never imagined they might return one day to their native soil! O poor ingenuous hearts! You who are white doves, don't leave your dovecote! Mud will not be long in soiling your hearts, until your hearts and mud mix together!

What to do then? When the car of an intern comes out of the school and Edgar Poe's Raven is not there to say to him this gloomy lamentation: “Never more!”

Cái ý tưởng đưa ra đây nếu không buồn cười quá: trước cổng trường, theo tôi, nên xây một cái tam cấp thật cao. Ngày bãi học, chọn một ông thầy già ra đứng đấy. Và mỗi người học sinh đi qua trước mặt, lặng yên để nghe ông ta bảo:

- Con ơi, con đang bước xuống cuộc đời. Cuộc đời không phải là một cái gì lên cao nữa.

I will expose to you my idea (please do not laugh at it!): In front of the school gate, I would like to have built three very high steps. At the exit of the school, you would choose an old professor and invite him to get up there; and each student would pass in front of him in silence to hear him say:

“My child, you go down into life.” – Life, that is not something that makes us go up!

Bây giờ, khi sự biệt ly chỉ còn gang tấc, những cõi lòng đã bao lâu tê lạnh, cùng cất lên những lời kêu gọi đắm say. Đấy là những mùa hè bừng cháy với nắng thiêu, êm đềm với bóng mát. Mỗi giờ chơi, các học sinh từng đoàn, từng tốp, nhưng thường lắm chỉ hai người, dìu nhau đi trên piste của sân trường. Người cúi đầu nhìn bóng vướng theo chân, người ngẩng mặt lên cao chờ nét mây bay qua mắt. Bước đi không bao trùm tiếng nói, lời buông ra hạ thấp xuống như đêm (sự mơ hồ dễ làm hiểu những ý quá xa cách nói).

Now that the separation is near, formerly insensitive and cold hearts raise suddenly impassioned calls. At the recreation, the students, by bands or groups, generally of two, walk in the courtyard. One of them lowers his head and looks at his moving shadow attached to his feet; the other raises his head and awaits a fine cloud that will pass by in front of him. The two friends walk in silence. The rare words, which slip out from time to time, drop as the evening (the imprecision makes them understood how much there is far from thoughts to words).

Buổi chiều, nếu có bạn thân ở ký túc xá, người ta lưu lại độ nửa giờ, nếu cùng ở ngoài, người ta kéo đến nhà nhau, hay nếu cả hai cùng học trong trường thì những nẻo vắng, những phòng im được nghe hơi họ thở.

In the evening, if his friend is an intern, he will remain another half an hour at school with him; or if his friend is an extern, he will come to see him at his home; or if they are both interns, in seldom attended places, in quiet rooms, you can hear their irregular breathing.

Vì còn một tháng nữa sẽ xa nhau. Một tháng nữa sẽ xa nhau! Tiếng ấy bay theo gió ở ngoài sân, có ai đưa vào lớp học, một đôi người nghe ở cổng trường.

Khi ngạo mạn như một lời thử thách. Một tháng nữa sẽ xa nhau. Có gì lo và có gì đáng nói. Rồi đây chết cả đi cũng được, cùng gặp nhau trở lại chưa hẳn đã hay gì.

Khi mềm yếu và chỉ là những cánh tay đưa ra cầu khẩn, những bàn tay rộng mở theo nhịp của lòng.

- Tình thương của tôi ơi! Còn một tháng nữa sẽ xa nhau, hãy mặn nồng thêm chút nữa.

- Còn một tháng nữa sẽ xa nhau! Nếu không yêu, xin chớ nói chi sự thật. Cứ lầm nhau trong ảo tưởng hoa sương.

The reason is that there will be no more than one month left to us, only one month, and we will separate from each other.

In one month, we will separate from each other! These words, carried by the wind, traverse the schoolyard and enter the classrooms. Some students even heard them just before they reach the gate of school.

One starts to say:

“In one month, we will separate from each other. Do we still have some worries which are worth that we talk about?”

Then:

“My darling, in one month, I will not have you any more! Will you remember me?”

“My friend, in one month, I will not have you any more! If you don't like me, please don't tell me the truth! Let us preserve our illusions!”

Còn một tháng nữa sẽ xa nhau! Và thôi, thế là không còn gì nữa hết. Người đi bước xuống cuộc đời. Người ở lại, trên giấy tím viết thư, thay tên người bạn khác. Những cặp tình nhân bắt nhau thề thốt, bắt nhau hẹn hò. Lợi dụng thì giờ ngắn ngủi, họ đòi nhau từng chút yêu thương, để lúc vàng đã vào tay, bỗng nhỏ lệ vì thì giờ ngắn ngủi.

In one month, they will separate from each other, and it will be all over! One of them will go into life; the other, on purple writing paper, will write the name of another friend. The two children make oaths, promises. Taking advantage of the little time left to them, they want to cherish each other even more; and, when happiness is between their hands, suddenly tears run down, because time passes so quickly!

Còn một tháng nữa sẽ xa nhau! Và bỗng một hôm, một buổi chiều (tại sao cũng cứ buổi chiều?), trường học sẽ nằm mơ thấy cửa mình tự mở, rồi dường như có ai bước nhẹ trên thềm. Và nằm khoèo ở bốn góc trời, các học sinh, trong lúc xa xôi trường nhớ đến người, bỗng thương tiếc cây xanh ngói đỏ.

In one month, they will separate from each other! And then, one evening (why only the evening?), the school will dream that its gates would open by themselves, and that somebody would put slightly the foot on its threshold. And the students, scattered to the four corners of the earth, during long summer holidays, will remember their school and will regret its red roof and its green trees.

Và bỗng một hôm, một buổi chiều (tại sao lại đến buổi chiều?) trường học sẽ nằm mơ thấy cửa mình tự mở, rồi dường như có ai bước nhẹ trên thềm. Và nằm khoèo ở bốn góc trời, các học sinh, trong lúc xa xôi trường nhớ đến người, bỗng thương tiếc cây xanh ngói đỏ.

And then, one evening (why always the evening?), the school will dream that its gates would open by themselves, and that somebody would put slightly the foot on its threshold. And the students, scattered to the four corners of the earth, during long summer holidays, will remember their school and will regret its red roof and its green trees.

Một người nhớ đến một buổi sáng mùa xuân qua từ lâu. Anh chàng đang ngồi học, bỗng nghe có tiếng lính kéo nhau đi tập ngoài đường. Vội vàng mở cửa nhìn ra. Và mắt anh ngưng lại bên hè, một đàn bướm đậu. Năm con, mười con, không dễ thường nhiều hơn thế nữa - một ngày lễ bướm chen nhau trên một chỗ đất bằng. Anh chàng lén thầy giáo, viên giấy quăng ra, nhưng hơn mười bận đều đi sai cả. Giờ chơi, ra đuổi, anh chàng sát mũi vào chỗ đất, để rồi ngạc nhiên không thấy một mùi hương ngát nào hết cả, quên đi rằng mình chẳng phải là loài có cặp cánh vàng. Anh đặt lên đấy một tờ giấy trắng, và đàn bướm không tìm ra chỗ cũ. Bây giờ nằm không, anh ví von một cách khá rẻ tiền:

A student will remember a far-off morning of spring: as he opened the window of his class, his glance fell on a flowery meadow where butterflies were fluttering. Five or ten butterflies, no more than that! At the recreation, he came out, pursued them. When he had put the nose near the grasses to smell, he was very much surprised by the lack of perfume! He had forgotten, poor child, that he was not a butterfly with gold wings! He laid nevertheless a blank paper sheet there, hoping that the butterflies would not find the trace any more.

- Cái gì đã làm mất dấu trường tôi? Hay ai đã bỏ lên đó một tờ giấy trắng?

Remained alone, he pondered: “Who could erase the trace of my school? Would somebody have laid there a blank paper sheet?”

Một người nhớ đến một buổi chiều (hình như vương lại từ mùa hạ). Bấy giờ là sau buổi học, anh bơm xe sửa soạn ra về. Bỗng dừng tay lại, từ laboratoire gần đấy vang ra giọng bổng trầm của một chiếc harmonica lẫn theo tiếng hát. Rồi động khung cửa trên cao, hai khuôn mặt đẹp, ngập ngừng giữa lá cây xanh. Lời ca và khúc hát dìu nhau đi trong mơ màng. Soir de Rafles, J'ai deux amours... toàn những điệu đã xưa, giờ đây hồ dễ không một ai nhớ đến. Phút giây chiều ảo não của âm thanh đã đưa anh về những ngày tháng xa mờ: chiếc hôn yêu lúc mới vào trường - một cuộc hòa nhạc năm đệ nhất niên - một người hay đi mà hát dưới bóng thông... những kỷ niệm đứng buồn trong sương của trời dĩ vãng.

A student will remember a certain afternoon (the memory may probably come to him from the summer): as he was inflating the tires of his bicycle, he heard, coming from an upstairs laboratory, a sound of a harmonica that accompanied the words sung by a lovely voice, now high now low in pitch. The words and the music went together in a dream like a couple of lovers. Soir de Rafles, J'ai deux amours (2)... Those songs are indeed very old; and nowadays, it is likely that no one would remember them. The song helped him revive his dear memories: a kiss that he received the day of his entry in school, a concert of music when he was still in fifth year class, a boy who walked and sang softly under the pines... The memories sadly loomed up out of mists of the past.

Mỗi người giữ một hình ảnh riêng, và đó là cái trường của họ. Riêng tây như một linh hồn. Tất cả lòng thương, tôi đem ra thương hại lấy tôi. Vì một tháng nữa đây, tôi bỏ trường mà đi. Bỏ trường mà đi! Bỏ trường mà đi!

Everyone preserves his memory faithfully, and it is the memory of the school of his own. For me, my school is like a heart. With all my heart, I had pity on myself, because there will be no more than one month left to me, only one month, and I will abandon my school.

Ô hay! không một ai kêu mà bỗng nghe như vang dội! Ô hay! không một ai kêu mà bỗng nghe như vang dội!

To abandon my school! To abandon my school! Who thus obliges me to abandon my school, which is so dear to me?

Ah! I will abandon my school! How strange it is: nobody shouts these words to me, yet I hear them as an echo that resounds in my heart.

Cảnh trường đẹp đẽ của ta ơi! Ngày mai ta sẽ bị lùa ra - dù muốn hay không - ở giữa chỗ ô uế của cuộc đời. Ngồi vào bữa tiệc đời, dễ gì vui với đôi cái vỏ dưa. Thường lắm là - như lời của nhà thi sĩ Pháp - người ta làm những hình ma để khách đồng bàn đánh rơi chén đũa.

How strange it is: nobody shouts to me these words, yet I hear them as an echo that resounds in my heart. School of my heart! Tomorrow, I will be separated from you and will be thrown, in spite of myself, in the swirls of life.

Người ta không thể, nụ cười ánh ở trên môi, nói dễ dàng như buổi xưa kia ngồi bên cửa sổ: "Hạnh phúc nào có khó gì. Chỉ cần nhận biết màu xanh của da trời và sắc hồng của cành đào đang hé nở."

One cannot, with a smile stuck on his lips, make an easy statement like formerly at a windowsill: “To find happiness, it is not quite difficult thing. It is just enough to distinguish the blue of the sky from the pink of peach flowers which are opening out.”

Kể ra thì trời cũng xanh luôn đấy chứ, và nếu chịu khó đi vào miền Nam, hoa đào hồng ở đó nở quanh năm! Nhưng hỡi ôi! Sắc màu làm sao đi đến con ngươi, mắt người ta bây giờ không còn trong sáng nữa.

To tell the truth, always blue is the sky; and, if you don't bother to take the trouble to go a little farther toward the south of Vietnam, dear reader, you would notice that the pink flowers of peach open out all year long. Alas! The beauty of the sky, as well as the beauty of flowers, does not make our eyes shine any more!

Các em rất gần gũi của ta ơi! Hãy giơ tay lên để tôi xem đến bao nhiêu thì sự cách xa làm các em lẫn với sắc trời. Những lời hò hẹn khó khăn lắm mới quấn gót chân đi, và khi về đến cổng nhà, bao nhiêu trẻ thơ của các em, tôi sợ e gia đình cướp mất.

Students, my dear friends, in spite of the good advice that others might give you, once you returned to your home, I am seriously afraid that your innocence might be dispossessed by your family!

Riêng tôi về trong một cái thành hẻo lánh quạnh hiu. Bỗng một sáng nào, tôi thấy nhớ cảnh trường đã cùng các em rời bỏ. Một chiếc vé tàu, mấy xu xe kéo, và này đây tôi ở giữa cảnh xưa. Nhưng lạnh lùng, vắng vẻ biết bao nhiêu! Người ta chú ý đến giày mũ của tôi hơn tấm lòng tôi mang đến đó. Người bạn thân yêu nhất có lẽ chỉ khác mọi người ở chỗ cái riết tay hơi chặt mà thôi!

As for me, in a small provincial town, I will return to live, solitary, withdrawn from the world. Then, one morning, I will remember my school where we had separated. A railway ticket, some coins, and that's how I find again my school, the school of my own. Ah! How cold and sad it was! Other people noticed more my shoes and my hat than my heart that I had brought to them. Perhaps, my most intimate friend differed from the others by a handshake a little more cordial.

And that's all.

Nhưng nếu sự tình cờ nào lại lùa chúng ta trở về đấy cả, sự tiếc thương vẫn không thôi cào cấu lòng người. Lạc đi trong bốn phương trời, chúng ta đã học được những tiếng nói dị kỳ, cái máy móc của cuộc đời làm sự ràng rịt chúng ta sai mạch lạc. Ai nhớ chi người! Ai thương chi cảnh! Lòng ta mơ chỉ là mơ một tuổi đã qua rồi.

Nhưng tôi tưởng buồn bã hơn hết chỉ có cảnh sau này:

What seems to me the saddest and most monotonous situation, that is the following one:

Một ngày kia, cột cho mụ vợ, người ta sẽ đóng tôi vào ẩm mục của gia đình. Chiều nào nhắc ghế ra sân, tôi ngồi nhìn mây bay gió thổi. Trời cao tột mấy từng trời, núi xa xanh không hiểu nghĩ suy gì bỗng thâm màu lại. Và cũng chẳng hiểu vì sao, thiết tha không gian lại làm tôi nhớ đến nhà trường. Vài giọt lệ rơi châu trên mí mắt. Vợ tôi ra gọi vào ăn cơm tối, thấy nước mắt tôi, người sẽ nghĩ làm sao? Ai đến trả lời cho tôi rằng tôi nhớ cái trường lúc đó.

One day, by giving me a woman, one will confine me to the humility of the family. Each late afternoon, sitting in front of my house, I will look at the clouds that pass by and I will listen to the blow of the wind. The mountains in the distance – I don't know of what they will have thought – will suddenly become more somber than ever. I don't know either what will help me remembering my school. Then I will have tears running down in my eyes. Some drops will come out and remain suspended on my cheeks. If my wife were with me at that moment, what would she think of these tears, still all warm? Who will explain to her for me that I regret my life of schoolboy, at that precise moment?

Một đứa con nữa ra đời, một cái quả để còng đầu tôi xuống tuổi già của tâm hồn cũng như của thể chất. Và chẳng may trưa nào đó, một trong những người thường biết cánh tay tôi lạc vào bình yên ẩm thấp của gia đình tôi. Một bữa cơm ngon, một chiếc mùng dọn sạch, thau nước sau khi họ thức dậy, bạc vài đồng để tiễn họ đi xa.

Và khi người phái bộ của dĩ vãng đi rồi, tôi sẽ kêu con tôi để bảo:

- Đó là một người bạn thân, xưa kia thầy ở nhà trường.

Bạn thân mà thôi. Chữ bạn yêu, đã lâu, lâu rồi, người già không dùng đến nữa.

Ôi! Bỏ trường mà đi! Bỏ lòng mà đi! Hỡi những học sinh, khi ra khỏi trường, nhớ vứt trả sách vở cho những tên cu-li canh cửa. Không phải lo mai sau nhớ lại, nhưng sợ rằng góp nhặt bao nhiêu vẫn chẳng gợi nên vết tích gì. Cũng đừng hiểu lầm để thở than khi lưu luyến cổng trường: "Kỷ niệm sẽ bị chôn sâu trong trí nhớ."

Ah! To abandon one's school! To abandon one's heart! Students, my dear friends, after the last class, at the exit of the school, don't forget to leave all your books and notebooks to the janitor of your school. Don't worry not to be able to read them again, or to preserve some as souvenirs! Although you would keep them with much care and affection, I bet that they would not be for you of any usefulness. Furthermore, it would be futile for you to sigh, at the exit of the school: “Our memories will firmly remain engraved in our brain!”

Không! không! xác chết thường hay lấy lại được hồn. Hãy nói rằng: "Kỷ niệm đã đem nhau ra khỏi cửa hồn, và cuộc đời gian xảo lấy bạc vàng để đánh lận của ta bao nhiêu hương và sắc."

No, no! The corpse never retains the soul. You should say this instead: “The memories will hustle to flee through the gate of our heart; and money and dishonesty will steal everything from us, perfume and beauty of things.”

Ôi! Ngoài kia, nắng cao muôn trượng, gầy gầy trời xanh mở giữa cô liêu. Cây trong sân rẽ lá cho gió thổi một nguồn tươi. Tiếng chim sẻ rơi thành muôn vàn chấm nắng... Chỉ một chốc nữa thì giờ chơi, các học sinh sẽ đi qua trên những lớp sỏi mòn, và sân trường lại phủ thêm một lần kỷ niệm.

Oh! The brilliant sun is already at its zenith. The solitary sky opens its immense gates. The trees spread out their foliage to the freshness of a light breeze that passes. The chirp of sparrows falls into thousands of luminous drops...

In one moment, it is the recreation. The students will get out and walk on that layer of gravel there; and the schoolyard will cover itself with a new memory.

Translated from the Vietnamese by TRUC HUY

CHẾ LAN VIÊN

Hè 1939 - Collège Quy Nhơn.

(1) - Original title “Bỏ Trường Mà Đi”, poetic essay extracted from the collection of essays “Vàng Sao” (The Gold of Stars) published in 1942. Chế Lan Viên (real name: Phan Ngọc Hoan, 1920-1989), Vietnamese poet and essayist, published, in 1937, his collection of poems “Điêu Tàn” (Ruins) which made him famous.

(2) - In French in original text. Evening at Rafles, I have two loves.

LES ÉTOILES THE STARS. NHỮNG VÌ SAO



LES ÉTOILES (1)

THE STARS.

NHỮNG VÌ SAO (1)

(Récit d'un berger provençal)

TALE OF A PROVENCAL SHEPHERD.

(Lời thuật chuyện của một gã chăn cừu xứ Provence)

par ALPHONSE DAUDET

by ALPHONSE DAUDET

ALPHONSE DAUDET

Du temps que je gardais les bêtes sur le Luberon, je restais des semaines entières sans voir âme qui vive, seul dans le pâturage avec mon chien Labri et mes ouailles. De temps en temps l’ermite du Mont-de-l’Ure passait par là pour chercher des simples ou bien j’apercevais la face noire de quelque charbonnier du Piémont; mais c’étaient des gens naïfs, silencieux à force de solitude, ayant perdu le goût de parler et ne sachant rien de ce qui se disait en bas dans les villages et les villes. Aussi, tous les quinze jours, lorsque j’entendais, sur le chemin qui monte, les sonnailles du mulet de notre ferme m’apportant les provisions de quinzaine, et que je voyais apparaître peu à peu, au-dessus de la côte, la tête éveillée du petit miarro (garçon de ferme), ou la coiffe rousse de la vieille tante Norade, j’étais vraiment bien heureux. Je me faisais raconter les nouvelles du pays d’en bas, les baptêmes, les mariages; mais ce qui m’intéressait surtout, c’était de savoir ce que devenait la fille de mes maîtres, notre demoiselle Stéphanette, la plus jolie qu’il y eût à dix lieues à la ronde. Sans avoir l’air d’y prendre trop d’intérêt, je m’informais si elle allait beaucoup aux fêtes, aux veillées, s’il lui venait toujours de nouveaux galants; et à ceux qui me demanderont ce que ces choses-là pouvaient me faire, à moi pauvre berger de la montagne, je répondrai, que j’avais vingt ans et que cette Stéphanette était ce que j’avais vu de plus beau dans ma vie.

IN the days when I kept sheep on the Luberon, I was often for weeks together without seeing a living soul, alone in the pastures with my dog Labri and the flock. From time to time the hermit of the Mont-de-1'Ure passed that way in search of

simples; or occasionally I saw the blackened face of some Piedmontese charcoal-burner; but these were quiet folk, silent by force of solitude, having lost their liking for talk, and knowing nothing of what went on below in the towns and villages. So when I heard, every fortnight, on the road coming up the mountain, the/bells of our farm mule bringing me food for the next two weeks, and when I saw, appearing little by little above the slope, the lively head of our miarro (farm-boy) or the red coif of old Aunt Norade, I was really very happy. I made them tell me all the news of the world down below, the baptisms, the marriages, etc.; but that which interested me above all was to know what the daughter of my master was about, our Demoiselle Stephanette, the prettiest young lady in all the country round. Without seeming to take great interest, I managed to find out when she went to fetes and dances, and whether she had new lovers; and if others asked me what such things mattered to me, a poor shepherd on a mountain, I answered that I was twenty years old, and that Mademoiselle Stephanette was the loveliest thing I had ever seen in my life.

Trong thời gian tôi chăn cừu trên miền núi Luberon (2), có khi suốt mấy tuần lễ liên tiếp tôi không trông thấy một bóng người, chỉ một mình tôi thui thủi trên cánh đồng cỏ với con chó Labri và đàn cừu của tôi. Thỉnh thoảng có vị tu sĩ sống ẩn dật ở núi Ure đi ngang qua đây để tìm kiếm dược thảo hoặc là tôi trông thấy bộ mặt lọ lem dính đầy bụi than của người thợ phu mỏ xứ Piémont, nhưng họ là những người chất phác, khuôn mặt lầm lì vì quen sống lâu ngày trong cảnh cô đơn, không còn hứng thú trò chuyện và chẳng biết gì về những chuyện trong làng ngoài tỉnh mà người ta đang bàn tán ở dưới đó. Vì thế, cứ khoảng mười lăm ngày, khi tôi nghe tiếng lục lạc từ con đường mòn dưới núi đi lên của con la ở nông trại mang lương thực nửa tháng cho tôi, rồi tôi thấy xuất hiện dần dần trên sườn dốc bộ mặt tươi vui của thằng bé miarro (thằng nhỏ giúp việc ở trại) hay chiếc khăn trùm màu hung đỏ của thím già Norade, là tôi cảm thấy trong lòng thật sung sướng vô cùng. Tôi yêu cầu họ kể cho nghe những chuyện xảy ra ở dưới đồng bằng, những buổi lễ rửa tội, những đám cưới hỏi... Nhưng điều mà tôi chú ý và thích nghe hơn cả là biết tin tức về cô con gái cưng của ông bà chủ trại, vị tiểu thư Stéphanette, thiếu nữ xinh đẹp nhất trong toàn vùng. Cố làm ra vẻ như không mấy quan tâm, tôi hỏi thăm xem nàng có hay đi dự nhiều dạ tiệc không, có nhiều chàng trai ngấp nghé tán tỉnh không. Và nếu có ai hỏi tôi muốn biết những chuyện ấy có ích lợi gì cho cái thân phận nghèo hèn của một tên chăn cừu miền núi như tôi, thì tôi sẽ trả lời rằng tôi đang tuổi hai mươi và đối với tôi nàng Stéphanette là người thiếu nữ đẹp nhất trần gian.

Or, un dimanche que j’attendais les vivres de quinzaine, il se trouva qu’ils n’arrivèrent que très tard. Le matin je me disais : “C’est la faute de la grand’messe” puis, vers midi, il vint un gros orage, et je pensai que la mule n’avait pas pu se mettre en route à cause du mauvais état des chemins. Enfin, sur les trois heures, le ciel étant lavé, la montagne luisante d’eau et de soleil, j’entendis parmi l’égouttement des feuilles et le débordement des ruisseaux gonflés, les sonnailles de la mule, aussi gaies, aussi alertes qu’un grand carillon de cloches un jour de Pâques. Mais ce n’était pas le petit miarro, ni la vieille Norade qui la conduisait. C’était... devinez qui!... notre demoiselle, mes enfants! notre demoiselle en personne, assise droite entre les sacs d’osier, toute rose de l’air des montagnes et du rafraîchissement de l’orage.

Now one Sunday, when I was expecting my two weeks' provisions, it happened that they did not come until very late. In the morning I said to myself, “Tis the fault of high mass; “then, about mid-day, there came up a great storm, and I thought that the mule could not start on account of the roads. At last, about three o'clock, when the sky was washed clear and the mountain was shining with sun and water, I heard amid the dripping from the leaves and the gurgle of the overflowing brooks, the tinkle of the mule-bells, as gay and alert as the grand church chimes of an Easter-day. But it was not our little miarro, nor old Aunt Norade who was leading him. It was guess who? Our demoiselle, my children! our demoiselle in person, sitting up straight between the osier baskets, quite rosy with the mountain air and the refreshing coolness of the storm.

Thế rồi, một hôm chủ nhật nọ, tôi cũng chờ đợi chuyến tiếp tế lương thực cho nửa tháng, nhưng sao lần này nó tới muộn quá. Từ buổi sáng, tôi nghĩ bụng : “Có lẽ vì lễ lớn ở nhà thờ đây thôi.” Rồi đến trưa, một trận mưa giông lớn đổ xuống, tôi lại cho rằng vì đường trơn ướt lầy lội, con la chưa thể lên đường được. Mãi cho đến khoảng ba giờ chiều, trời quang mây tạnh, sườn núi lấp lánh nước mưa và ánh sáng mặt trời, tôi bỗng nghe được giữa tiếng nước nhỏ giọt róc rách trên cành lá và tiếng suối reo do nước lũ dâng trào, tiếng lục lạc leng keng của con la, nghe thật là vui tươi rộn ràng chẳng khác gì tiếng chuông nhà thờ đổ hồi trong ngày lễ Phục sinh cả. Nhưng không phải thằng nhỏ ở nông trại, cũng chẳng phải thím già Norade ngồi trên lưng lừa như mọi khi. Mà là... xin bạn thử đoán xem ai?Chính là vị tiểu thư trại nhà, bạn ạ! Đúng vậy, vị tiểu thư Stéphanette đích thân đến. Nàng ngồi ngay ngắn trên mình la giữa những chiếc giỏ mây, đôi má ửng hồng vì khí trời của núi và làn gió mát sau trận mưa giông vừa qua.

Le petit était malade, tante Norade en vacances chez ses enfants. La belle Stéphanette m’apprit tout ça, en descendant de sa mule, et aussi qu’elle arrivait tard parce qu’elle s’était perdue en route; mais à la voir si bien endimanchée, avec son ruban à fleurs, sa jupe brillante et ses dentelles, elle avait plutôt l’air de s’être attardée à quelque danse que d’avoir cherché son chemin dans les buissons. Ô la mignonne créature! Mes yeux ne pouvaient se lasser de la regarder. Il est vrai que je ne l’avais jamais vue de si près. Quelquefois l’hiver, quand les troupeaux étaient descendus dans la plaine et que je rentrais le soir à la ferme pour souper, elle traversait la salle vivement, sans guère parler aux serviteurs, toujours parée et un peu fière... Et maintenant je l’avais là devant moi, rien que pour moi; n’était-ce pas à en perdre la tête?

The boy was ill; Aunt Norade was off for a holiday with the children. The beautiful Stephanette told me all this as she got off the mule, and also that she came late because she had lost her way; but to see her dressed in her Sunday best, with her flowered ribbon, her brilliant petticoat, and her laces, I must say she had more the look of having lingered at some dance than of searching for a path among the bushes. Oh, the dainty creature! My eyes never wearied of looking at her. It is true that I had never before seen her quite so near. Sometimes, in winter, when the flocks had come down upon the plains and I returned to the farmhouse at night for my supper, she would cross the hall quickly, scarcely speaking to the servants, always gayly dressed and perhaps a little haughty. And now I had her before me, all to myself! Was it not enough to turn my head?

Thằng nhỏ bị bệnh, còn thím già Norade thì xin nghỉ phép về thăm con. Nàng Stéphanette xinh đẹp vừa từ trên mình la tụt xuống vừa nói cho tôi biết như vậy. Nàng còn nói thêm vì lạc đường cho nên đã đến trễ. Nhưng trông nàng ăn mặc đẹp đẽ như thế kia, trên đầu kết băng hoa và vận chiếc váy lộng lẫy có thêu đăng ten, tôi thấy cô nàng có vẻ như đã nấn ná ham vui trong một cuộc khiêu vũ nào đó hơn là đã dò dẫm tìm đường trong các bụi rậm. Ôi, người đâu mà xinh đẹp lạ thường! Tôi say đắm nhìn nàng mà không muốn rời mắt. Thật tình mà nói tôi chưa bao giờ có dịp được nhìn ngắm nàng ở gần như thế. Về mùa đông, sau khi đã lùa đàn cừu xuống đồng bằng, tôi về nông trại để dùng cơm tối, thỉnh thoảng tôi thấy nàng đi thoăn thoắt ngang qua phòng ăn của chúng tôi, nhưng chẳng mấy khi nàng nói chuyện với kẻ ăn người ở, luôn luôn trang điểm đẹp đẽ và có vẻ hơi kiêu kỳ một chút... Thế mà bây giờ tôi lại diễm phúc có nàng đứng ngay trước mặt tôi, và chỉ có mình tôi thôi, như vậy thì bảo làm sao tôi không bối rối cho được?

Quand elle eut tiré les provisions du panier, Stéphanette se mit à regarder curieusement autour d’elle. Relevant un peu sa belle jupe du dimanche qui aurait pu s’abîmer, elle entra dans le parc, voulut voir le coin où je couchais, la crèche de paille avec la peau de mouton, ma grande cape accrochée au mur, ma crosse, mon fusil à pierre. Tout cela l’amusait.

When she had taken the provisions from the basket Stephanette looked about her with curiosity. Lifting her handsome best petticoat slightly, for it might have got injured, she entered the cabin, asked to see where I slept, in a trough full of straw with a sheepskin over it, looked at my big cloak hanging to the wall, my crook, and my gun. All of which amused her.

Sau khi lấy hết lương thực từ trong các giỏ ra, cô nàng bắt đầu tò mò đưa mắt nhìn chung quanh. Nàng vén nhẹ chiếc váy đẹp cho khỏi lấm, bước vào phía bên trong lán, muốn xem chỗ tôi ngủ, chiếc ổ rơm với tấm áo da cừu, cái áo choàng rộng treo trên vách, chiếc gậy, cây súng đá... Tất cả những thứ ấy có vẻ làm cho nàng ngạc nhiên thích thú.

- Alors c’est ici que tu vis, mon pauvre berger?Comme tu dois t’ennuyer d’être toujours seul! Qu’est-ce que tu fais?A quoi penses-tu?...

"So this is where you live, my poor shepherd?” she said.

"How bored you must be all alone. What do you do? What do you think about?”

- Thì ra anh ngủ ở đây à, anh mục đồng tội nghiệp của tôi! Sống một mình như thế này thì chắc là buồn lắm nhỉ? Hàng ngày anh làm gì?Anh nghĩ gì?

J’avais envie de répondre: “A vous, maîtresse”, et je n’aurais pas menti; mais mon trouble était si grand que je ne pouvais pas seulement trouver une parole. Je crois bien qu’elle s’en apercevait, et que la méchante prenait plaisir à redoubler mon embarras avec ses malices:

I had a great mind to answer, “Of you, my mistress,” and I shouldn't have lied; but my trouble of mind was so great that I couldn't so much as find a word. I think she noticed this and the mischievous creature took pleasure in doubling my embarrassment by her teasing.

Tôi rất muốn trả lời: “Nghĩ đến cô, cô chủ ạ.” Phải nói như thế mới trung thực với lòng mình, nhưng vì bối rối quá nên tôi không nghĩ ra được một lời nói nào. Tôi tin chắc rằng nàng cũng nhận thấy sự bối rối của tôi, nhưng cô nàng tinh nghịch lại lấy đó làm thích thú và cố tình trêu chọc để làm cho tôi càng thêm bối rối:

- Et ta bonne amie, berger, est-ce qu’elle monte te voir quelquefois?... Ça doit être bien sûr la chèvre d’or, ou cette fée Estérelle qui ne court qu’à la pointe des montagnes...

“And your sweetheart, shepherd; she comes to see you sometimes, does she not? I am sure she must be the golden kid, or that fairy Estrella who flits along the summits of the mountains.”

- Mục đồng ơi, thế cô bạn gái thân thiết của anh có thỉnh thoảng lên đây thăm anh không? Cô ấy chắc hẳn là con dê cái có bộ lông vàng hay nàng tiên Estérelle chỉ quen nhảy nhót trên các đỉnh núi thôi nhỉ?

Et elle-même, en me parlant, avait bien l’air de la fée Estérelle, avec le joli rire de sa tête renversée et sa hâte de s’en aller qui faisait de sa visite une apparition.

- Adieu, berger.

- Salut, maîtresse.

Et la voilà partie, emportant ses corbeilles vides.

And she herself as she spoke to me had quite the air of the fairy Estrella, with that pretty laugh from her head tossed back, and her haste to be off, which made her visit seem much like a vision. “Adieu, shepherd.”

“Your servant, mistress.”

And away she went, with the empty baskets.

Trong lúc nói chuyện với tôi, chính cô nàng mới có dáng điệu giống như nàng tiên Estérelle, với nụ cười duyên dáng, đầu hơi ngả ra đàng sau và vẻ vội vàng muốn ra về, làm cho cuộc thăm viếng ngắn ngủi của nàng không khác nào một sự xuất hiện bất ngờ.

- Thôi, chào tạm biệt mục đồng nhé.

- Xin chào tạm biệt cô chủ.

Thế là nàng đi mất, mang theo những chiếc giỏ không.

Lorsqu’elle disparut dans le sentier en pente, il me semblait que les cailloux, roulant sous les sabots de la mule, me tombaient un à un sur le cœur. Je les entendis longtemps, longtemps; et jusqu’à la fin du jour je restai comme ensommeillé, n’osant bouger, de peur de faire en aller mon rêve. Vers le soir, comme le fond des vallées commençait à devenir bleu et que les bêtes se serraient en bêlant l’une contre l’autre pour rentrer au parc, j’entendis qu’on m’appelait dans la descente, et je vis paraître notre demoiselle, non plus rieuse ainsi que tout à l’heure, mais tremblante de froid, de peur, de mouillure. Il paraît qu’au bas de la côte elle avait trouvé la Sorgue grossie par la pluie d’orage, et qu’en voulant passer à toute force, elle avait risqué de se noyer. Le terrible, c’est qu’à cette heure de nuit il ne fallait plus songer à retourner à la ferme; car le chemin par la traverse, notre demoiselle n’aurait jamais su s’y retrouver toute seule, et moi je ne pouvais pas quitter le troupeau. Cette idée de passer la nuit sur la montagne la tourmentait beaucoup, surtout à cause de l’inquiétude des siens. Moi, je la rassurais de mon mieux:

When she passed out of sight down the sloping path it seemed to me that the stones rolled away

by the hoofs of the mule were falling, one by one, on my heart. I heard them a long, long time; and till late in the day I sat as if dozing, not daring to stir for fear lest my vision should leave me. Towards evening, as the depths of the valleys were beginning to grow blue, and the creatures were pressing together and bleating to enter the fold, I heard myself called from below, and I saw our young lady, no longer laughing as before, but trembling with fear and cold and dampness. It seems she had found at the base of the slope the river Sorgue so swollen by the storm that, being determined to cross it, she came near getting drowned. The terrible part was that at that hour of the night there was no use attempting to return to the farm, because she never could have found her way by the cross-road all by herself, and, as for me, I could not leave my flock. The idea of passing the night on the mountain worried her greatly, especially on account of her people's anxiety. I soothed her as best I could.

Khi nàng đã khuất dạng sau con đường dốc nhỏ, tôi tưởng chừng như những viên sỏi lăn lóc dưới móng chân la đang rơi từng viên một vào lòng tôi. Tôi còn nghe thấy trong lòng tiếng sỏi rơi như thế mãi cho đến lúc chiều tàn, không dám cử động, chỉ sợ làm tan vỡ giấc mơ đẹp của tôi. Chiều tối xuống dần, khi thung lũng bắt đầu ngả màu xanh lam và đàn súc vật kêu be be chen lấn nhau về chuồng, tôi bỗng nghe thấy tiếng ai gọi tôi từ phía dưới sườn núi, rồi tôi thấy vị tiểu thư của chúng ta xuất hiện, nhưng không còn vui tươi như lúc ban chiều mà run lập cập vì ướt, lạnh và sợ hãi. Có vẻ như là, khi xuống phía lưng chừng sườn núi, nàng đã gặp con suối Sorgue bị nước lũ tràn ngập sau trận mưa giông, và vì nàng muốn lội qua cho bằng được nên suýt bị chết đuối. Nghiệt một nỗi, đêm hôm tối tăm, vào giờ này không mong gì về nông trại được nữa, vì đi đường tắt thì nàng không thể một mình tìm ra lối về, còn tôi thì không thể bỏ đàn cừu mà đi được. Ý nghĩ phải ngủ lại qua đêm trên núi làm nàng rất băn khoăn, nét lo âu hiện rõ vì sợ ở nhà bố mẹ lo lắng. Tôi cố lựa lời để nói cho nàng yên tâm:

- En juillet, les nuits sont courtes, maîtresse... Ce n’est qu’un mauvais moment.

“The nights are so short in July, mistress it is only a moment's trouble.”

- Trời tháng bảy, đêm ngắn thôi, cô chủ à... Không sao đâu, cô nên chịu khó một chút cho qua đêm thôi.

Et j’allumai vite un grand feu pour sécher ses pieds et sa robe toute trempée de l’eau de la Sorgue. Ensuite j’apportai devant elle du lait, des fromageons; mais la pauvre petite ne songeait ni à se chauffer, ni à manger, et de voir les grosses larmes qui montaient dans ses yeux, j’avais envie de pleurer, moi aussi.

And I lighted a big fire quickly to dry her little feet and her gown all soaked in the river. After which I brought her some milk and cheese; but the poor little thing thought neither of warmth nor of food; and when I saw the big tears welling up in her eyes I wanted to cry myself.

Tôi vội vàng nhóm một ngọn lửa lớn để nàng hơ chân và hong khô bộ áo bị ướt sũng khi lội qua suối. Rồi tôi mang sữa tươi và pho mát đến cho nàng, nhưng cô bé đáng thương chẳng thiết gì đến chuyện sưởi ấm hay ăn uống gì cả. Nhìn thấy nàng nước mắt lưng tròng, tôi cũng muốn khóc theo với nàng.

Cependant la nuit était venue tout à fait. Il ne restait plus sur la crête des montagnes qu’une poussière de soleil, une vapeur de lumière du côté du couchant. Je voulus que notre demoiselle entrât se reposer dans le parc. Ayant étendu sur la paille fraîche une belle peau toute neuve, je lui souhaitai la bonne nuit, et j’allai m’asseoir dehors devant la porte... Dieu m’est témoin que, malgré le feu d’amour qui me brûlait le sang, aucune mauvaise pensée ne me vint; rien qu’une grande fierté de songer que dans un coin du parc, tout près du troupeau curieux qui la regardait dormir, la fille de mes maîtres – comme une brebis plus précieuse et plus blanche que toutes les autres – reposait, confiée à ma garde. Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes...

And now the darkness was really coming. Nothing remained on the crest of the mountain but a dust of the sun, a vapour of light to the westward. I asked our young lady to enter and rest in the cabin; and then, having stretched a fine new sheepskin on a pile of fresh straw, I wished her good-night and went out to sit by myself before the door. God is my witness that, in spite of the fire of love that burned my blood, no evil thought came into my mind, nothing but a great pride to think that in a corner of my hut, quite close to the flock that eyed her inquisitively, the daughter of my master, a lamb more precious and snow-white than they, was sleeping, intrusted to my care. Never did the heavens seem to me so deep, the stars so bright.

Rồi màn đêm cũng xuống hẳn. Chỉ còn một chút ít vầng dương còn vương lại trên đỉnh núi cao và một làn hơi ánh sáng mong manh ở phía mặt trời lặn. Tôi muốn để nữ chủ nhân của tôi vào nằm nghỉ bên trong lán. Sau khi trải một tấm da cừu đẹp và mới tinh xuống lớp ổ rơm mới, tôi chúc nàng ngủ ngon, rồi bước ra ngồi ngoài hiên cửa... Xin có trời chứng giám cho tôi, mặc dầu ngọn lửa tình hừng hực bốc cháy trong lòng nhưng tôi không hề có một ý tưởng xấu xa nào, trong lòng tự cảm thấy rất hãnh diện khi nghĩ đến ở góc lán bên kia, ngay cạnh đàn cừu đang tò mò nhìn nàng ngủ, có cô con gái của ông bà chủ tôi – như một con cừu non quý báu nhất và trắng ngần nhất – đang nằm ngủ và được giao phó cho tôi canh gác. Chưa bao giờ tôi được nhìn ngắm bầu trời sâu thăm thẳm và các vì tinh tú rực sáng lấp lánh như đêm nay...

Tout à coup, la claire-voie du parc s’ouvrit et la belle Stéphanette parut. Elle ne pouvait pas dormir. Les bêtes faisaient crier la paille en remuant, ou bêlaient dans leurs rêves. Elle aimait mieux venir près du feu. Voyant cela, je lui jetai ma peau de bique sur les épaules, j’activai la flamme, et nous restâmes assis l’un près de l’autre sans parler.

Suddenly the wicket opened and Stephanette appeared. She could not sleep. The creatures had crackled the straw as they moved, or else they were bleating as they dreamed. She preferred to come out to the fire. Seeing this I threw my goatskin round her shoulders and blew up a flame, and there we stayed, sitting side by side, without saying a word.

Bỗng tấm chấn song xịch mở và nàng Stéphanette xinh đẹp xuất hiện bước ra. Nàng không tài nào ngủ được vì đàn cừu cựa quậy khiến rơm rạ kêu sột soạt hoặc là chúng kêu be be trong lúc đang ngủ mê. Nàng thích ra ngồi cạnh đống lửa hơn. Thấy vậy, tôi liền khoác tấm da cừu của tôi lên vai nàng, khêu to ngọn lửa, rồi hai chúng tôi ngồi bên cạnh nhau, im lặng không nói năng gì.

Si vous avez jamais passé la nuit à la belle étoile, vous savez qu’à l’heure où nous dormons, un monde mystérieux s’éveille dans la solitude et le silence. Alors les sources chantent bien plus clair, les étangs allument des petites flammes. Tous les esprits de la montagne vont et viennent librement; et il y a dans l’air des frôlements, des bruits imperceptibles, comme si l’on entendait les branches grandir, l’herbe pousser. Le jour, c’est la vie des êtres; mais la nuit, c’est la vie des choses. Quand on n’en a pas l’habitude, ça fait peur... Aussi notre demoiselle était toute frissonnante et se serrait contre moi au moindre bruit. Une fois, un cri long, mélancolique, parti de l’étang qui luisait plus bas, monta vers nous en ondulant. Au même instant une belle étoile filante glissa par-dessus nos têtes dans la même direction, comme si cette plainte que nous venions d’entendre portait une lumière avec elle.

If you have ever passed a night beneath the stars you know that during the hours when people sleep a mysterious world wakes up in the solitude and silence. The springs sing clearer, the ponds are lighted by little flames. All the spirits of the mountain go and come freely; there 's rustling in the air, imperceptible noises as if we could hear the branches grow and the grass springing. Day is the life of beings, but night is the life of things. If you are not accustomed to it 't is alarming; and so our young lady shuddered and pressed against me at the slightest noise. Once a long, melancholy cry came from the pond that shone below us, rising in undulations. At the same instant a beautiful shooting star glided above our heads in the same direction, as if that plaint which we had just heard had brought light with it.

Nếu bạn đã từng ngủ qua đêm ngoài trời dưới trăng sao, chắc bạn cũng thừa biết rằng trong khi chúng ta ngủ thì cả một thế giới huyền bí đang bừng sống dậy trong thanh vắng và tĩnh mịch. Lúc ấy tiếng suối reo nghe như rõ hơn, những ao hồ thấy có những đốm lửa li ti nhen nhúm lên. Những thần linh của núi rừng đi lại tự do, và trong không gian có những tiếng sột soạt, những tiếng động rất khẻ, tưởng chừng như ta có thể nghe được một cành cây đang chuyển mình vươn dài ra và cỏ cây đang mọc thêm ra. Ban ngày là đời sống của các sinh vật, còn ban đêm là đời sống của các thực vật và sự vật. Nếu chưa quen với những tiếng động ban đêm, có khi làm cho ta sợ hãi... Thế nên vị tiểu thư của chúng ta, cứ mỗi lần nghe thấy một tiếng động dù là rất nhỏ, nàng cũng đã run sợ và lại nép sát vào người tôi. Có một lần, từ phía mặt ao hồ lấp lánh dưới kia, bỗng vọng lên một tiếng hú kéo dài não nuột, ngân vang uốn lượn về phía chúng tôi. Cũng vừa lúc đó một ngôi sao băng rực sáng xẹt qua trên đầu chúng tôi và bay về cùng một hướng, tựa như là tiếng than van mà chúng tôi vừa nghe thấy kia đã mang theo một luồng ánh sáng vậy.

- Qu’est-ce que c’est?me demanda Stéphanette à voix basse.

- Une âme qui entre en paradis, maîtresse; et je fis le signe de la croix.

Elle se signa aussi, et resta un moment la tête en l’air, très recueillie. Puis elle me dit :

- C’est donc vrai, berger, que vous êtes sorciers, vous autres ?

- Nullement, notre demoiselle. Mais ici nous vivons plus près des étoiles, et nous savons ce qui s’y passe mieux que des gens de la plaine.

“What is that? “asked Stephanette in a whisper.

“A soul that enters paradise, my mistress,” and I made the sign of the cross. She too crossed herself, and sat for a moment with her head turned upward to the sky, reflecting. Then she said to me: “Is it true, shepherd, that all of you are wizards?”

“Not so, mistress. But here we live closer to the stars, and we know what goes on among them better than the people of the plains.”

- Cái gì thế? Stéphanette khe khẽ hỏi tôi.

- Thưa cô, đó là một linh hồn vừa được lên thiên đàng. Nói xong tôi làm dấu thánh giá.

Nàng cũng làm dấu như tôi và ngửa cổ nhìn lên trời như thế một hồi lâu, vẻ mặt trầm ngâm. Rồi nàng quay lại hỏi tôi :

- Này mục đồng, có phải các anh đều là phù thủy cả không?

- Thưa cô, không phải đâu ạ! Nhưng vì ở đây chúng tôi sống gần trăng sao hơn những người dưới đồng bằng nên biết rõ hơn những sự việc xảy ra ở trên trời.

Elle regardait toujours en haut, la tête appuyée dans la main, entourée de la peau de mouton comme un petit pâtre céleste:

- Qu’il y en a! Que c’est beau! Jamais je n’en avais tant vu... Est-ce que tu sais leurs noms, berger?

She still looked upward, resting her head upon her hand, wrapped in the goatskin, like a little celestial shepherd. “How many there are I how beautiful! Never did I see so many. Do you know their names, shepherd?”

Nàng vẫn đưa mắt ngước lên nhìn bầu trời, đầu dựa vào lòng bàn tay, vai khoác tấm da cừu, trông cô nàng giống như một mục đồng của nhà trời vậy.

- Ồ, nhiều sao quá! Thật là tuyệt vời! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sao như thế này. Mục đồng ơi, thế anh có biết tên của những vì sao không?

- Mais oui, maîtresse... Tenez! juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de saint Jacques (la voie lactée). Il va de France droit sur l’Espagne. C’est saint Jacques de Galice qui l’a tracé pour montrer sa route au brave Charlemagne lorsqu’il faisait la guerre aux Sarrasins. Plus loin, vous avez le Char des âmes (la grande Ourse) avec ses quatre essieux resplendissants. Les trois étoiles qui vont devant sont les Trois Bêtes, et cette toute petite contre la troisième c’est le Charretier. Voyez-vous tout autour cette pluie d’étoiles qui tombent?Ce sont les âmes dont le bon Dieu ne veut pas chez lui... Un peu plus bas, voici le Râteau ou les Trois Rois (Orion). C’est ce qui nous sert d’horloge, à nous autres. Rien qu’en les regardant, je sais maintenant qu’il est minuit passé. Un peu plus bas, toujours vers le midi, brille Jean de Milan, le flambeau des astres (Sirius). Sur cette étoile-là, voici ce que les bergers racontent. Il paraît qu’une nuit Jean de Milan, avec les Trois Rois et la Poussinière (la Pléiade), furent invités à la noce d’une étoile de leurs amies. La Poussinière, plus pressée, partit, dit-on, la première, et prit le chemin haut. Regardez-la, là-haut, tout au fond du ciel. Les Trois Rois coupèrent plus bas et la rattrapèrent; mais ce paresseux de Jean de Milan, qui avait dormi trop tard, resta tout à fait derrière, et furieux, pour les arrêter, leur jeta son bâton. C’est pourquoi les Trois Rois s’appellent aussi le Bâton de Jean de Milan... Mais la plus belle de toutes les étoiles, maîtresse, c’est la nôtre, c’est l’Étoile du Berger, qui nous éclaire à l’aube quand nous sortons le troupeau, et aussi le soir quand nous le rentrons. Nous la nommons encore Maguelonne, la belle Maguelonne qui court après Pierre de Provence (Saturne) et se marie avec lui tous les sept ans

“Why, yes, mistress... See! just above us, that's the Path of Saint James (the Milky Way). It goes from France to Spain. 'T was Saint James of Galicia who marked it out to show the way to our brave Charlemagne when he made war upon the Saracens. 1 Farther on, there 's the Chariot of Souls (Great Bear), with its four resplendent axles. The three stars before it are its three steeds, and the little one close to the third is the charioteer. Do you see that rain of stars falling over there? Those are the souls that the Good God won't have in heaven... Lower down there 's the Rake or the Three Kings (Orion). That serves us for a clock, us shepherds. Merely by looking at them now I know it is past midnight. Still lower, over there to the southward, shines John of Milan, the torch of the stars (Sirius). Here's what the shepherds say about that star: It seems that one night John of Milan with the Three Kings and the Poucintire (the Pleiad) were invited to the wedding of a star, a friend of theirs. The Poucintire, being in a hurry, started, they say, the first and took the upper road. Look at her, up there, in the depths of the sky. The Three Kings cut across and caught up with her, but that lazy John of Milan, who slept too late, stayed quite behind, and being furious, tried to stop them by flinging his stick. That 's why the Three Kings are sometimes called the Stick of John of Milan... But the most beautiful of all the stars, mistress, is ours, the Shepherd's Star, which lights us at dawn of day when we lead out the flock, and at night when we gather it in. We call that star the Maguelonne, the beautiful Maguelonne which runs after Pierre de Provence (Saturn), and marries him every seven years.”

- Biết chứ ạ, thưa cô chủ. Đây này, ngay trên đầu chúng ta, kìa là Con đường của thánh Jacques (la Voie lactée, dải Ngân Hà) (3). Nó chạy thẳng một mạch từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha, do chính thánh Jacques de Galice (4) đã vạch ra để chỉ đường cho Charlemagne dũng cảm tiến quân đánh giặc Sarrasins (5). Xa hơn chút nữa là Chiếc xe chở linh hồn (la Grande Ourse, sao Bắc Đẩu) với bốn trục xe sáng ngời. Ba ngôi sao đi phía trước là Ba con vật (les Trois Bêtes) kéo xe, và ngôi sao nhỏ nhất ở ngay sát ngôi sao thứ ba là Người đánh xe (le Charretier). Cô có thấy chung quanh có một chùm sao rơi rụng như mưa sa không?Đấy là những linh hồn mà Thượng Đế không muốn chúng ở cạnh Ngài... Rồi ở phía dưới một chút là sao Bừa cào (le Râteau), còn gọi là Ba ông vua (Orion, sao Sâm). Đó là chiếc đồng hồ của mục đồng chúng tôi để biết được giờ giấc. Chỉ cần nhìn chúng là tôi biết bây giờ đã quá nửa đêm rồi. Phía dưới một chút nữa, vẫn theo hướng Nam, là ngôi sao Jean de Milan (6) sáng ngời, ngọn đuốc của các vì tinh tú (Sirius). Về ngôi sao đó, mục đồng chúng tôi thường kể chuyện như sau : vào một đêm nọ, Jean de Milan cùng Ba ông vua và sao Rua (la Poussinière, la Pléiade) (7) được mời đến dự lễ cưới của một ngôi sao bạn. Theo lời người ta kể, sao Rua vội vã đi trước, theo con đường ở phía trên. Cô nhìn xem kìa, ngôi sao ấy ở chỗ cao tít tận cuối trời kia. Ba ông vua đi đường tắt phía dưới nên đuổi kịp, riêng anh chàng Jean de Milan vì lười biếng ngủ quên nên bị bỏ lại đằng sau. Anh ta bực mình liền quăng ngay chiếc gậy để cản đường họ. Bởi thế nên người ta còn gọi chòm sao Ba ông vua là Chiếc gậy của Jean de Milan... Nhưng cô chủ ạ, ngôi sao đẹp nhất trong tất cả những vì sao lại là ngôi sao của chúng tôi, đó là sao Mục đồng (Étoile du Berger), nó soi đường cho chúng tôi lùa đàn súc vật ra bãi lúc bình minh và xua chúng về chuồng lúc hoàng hôn. Chúng tôi còn gọi ngôi sao ấy là Maguelonne, nàng Maguelonne xinh đẹp chạy theo chàng Pierre de Provence (Saturne, Thổ Tinh) và cứ bảy năm một lần lại kết hôn với chàng.

- Comment! berger, il y a donc des mariages d’étoiles ?

- Mais oui, maîtresse.

“Why, shepherd! do stars really marry?”

“To be sure they do, mistress.”

- Thế vậy hả? Lại có chuyện các vì sao cưới hỏi nhau nữa cơ à?

- Có chứ ạ, thưa cô chủ.

Et comme j’essayais de lui expliquer ce que c’était que ces mariages, je sentis quelque chose de frais et de fin peser légèrement sur mon épaule. C’était sa tête alourdie de sommeil qui s’appuyait contre moi avec un joli froissement de rubans, de dentelles et de cheveux ondés. Elle resta ainsi sans bouger jusqu’au moment où les astres du ciel pâlirent, effacés par le jour qui montait. Moi, je la regardais dormir, un peu troublé au fond de mon être, mais saintement protégé par cette claire nuit qui ne m’a jamais donné que de belles pensées. Autour de nous, les étoiles continuaient leur marche silencieuse, dociles comme un grand troupeau; et par moments je me figurais qu’une de ces étoiles, la plus fine, la plus brillante, ayant perdu sa route, était venue se poser sur mon épaule pour dormir...

And as I tried to explain to her what such marriages were I felt something fresh and delicate lie softly on my shoulder. 'Twas her head, weighed down by sleep, which rested upon me with a dainty rustle of ribbons and laces and waving hair. She stayed thus, never moving, till the stars in the sky grew pale, dimmed by the rising day. As for me, I looked at her sleeping, a little shaken in the depths of my being, but sacredly protected by that clear night, which has never given me any but

noble thoughts. Around us the stars continued their silent way, docile as a flock, and at times I fancied that one of them, the most delicate, the most brilliant, had lost its way and had come down to rest upon my shoulder and sleep.

"She stayed thus, never moving, till the stars in the sky grew pale:'

Và trong khi tôi đang cố giải thích cho nàng thế nào là những hôn lễ của các vì sao, thì tôi cảm thấy như có vật gì tươi mát và mịn màng đè nhẹ lên vai tôi. Thì ra đầu nàng, nặng trĩu vì buồn ngủ, đã tựa vào vai tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng ten và mái tóc gợn sóng của nàng. Nàng ngồi yên không nhúc nhích, đầu tựa vào vai tôi như thế cho đến khi những vì sao bắt đầu lu mờ dần và nhoà đi trong những tia sáng đầu tiên của buổi ban mai. Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, trong đáy lòng hơi xao xuyến một chút, nhưng vẫn giữ được sự thanh khiết của tâm hồn vì đêm sao sáng như thế kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý nghĩ cao đẹp. Chung quanh chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình thầm lặng, ngoan ngoãn như một đàn cừu vĩ đại, và đôi lúc tôi có cảm tưởng như một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, sáng ngời nhất, vì lạc mất đường đã đến tựa đầu vào vai tôi và ngủ giấc yên lành...






Translated by TRÚC HUY

(1) - Extrait des “Lettres de mon Moulin” d'Alphonse Daudet (1840-1897). Ce récit a paru d'abord dans le journal “Le Bien public” , en 1873 (8 avril). Il fut recueilli dans “Robert Helmont” (1874) d'où il fut retiré pour être joint à l'édition définitive des “Lettres de mon Moulin” (1879).

1 All these details of popular astronomy are translated from the

“Provencal Almanach,” published at Avignon.

(1) - Dịch từ nguyên tác Pháp ngữ “Les Étoiles”, trích từ tác phẩm “Lettres de mon moulin” (Thư viết từ chiếc cối xay của tôi) của Alphonse Daudet (1840-1897).

(2) - Luberon: một vùng miền núi không cao, ở gần dãy núi Alpes thuộc nước Pháp.

(3) - Chemin de saint Jacques: dải Ngân Hà (la Voie lactée).

(4) - Galice: tên một thành phố của Tây Ban Nha.

(5) - Sarrasins: tên gọi quân A rập, thời trung cổ, đã xâm lược châu Âu và châu Phi.

(6) - Jean de Milan: sao Sirius (Thiên Lang).

(7) - La Poussinière (còn gọi là La Pléiade, Kim Ngưu): tên một chòm sao nhỏ ở bắc bán cầu.

http://www.saigonline.com/truc_huy/nvs_daudet.htm