MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Friday, April 13, 2012

‘People, your government has returned to you!’ Hỡi nhân dân, chính quyền đã quay về với các bạn!



‘People, your government has returned to you!’

Hỡi nhân dân, chính quyền đã quay về với các bạn!

Vaclav Havel

Vaclav Havel


20/12/2011

The playwright who became a protestor who became a president, Vaclav Havel, has died today. There is already much on the blogosphere about this Czech great, and there will be more in tomorrow's papers. But if you only read one thing connected with him, then I'd advise you make it the address he delivered to the Czechoslovakian people on 1 January 1990, which I've copied below. It was only a few days after his election as president, yet triumphalism and celebration is there little. Instead, Havel dwells on the horrors his country endured in the Twentieth Century, and — crucially — how they were permitted to come about. It is one of my favourite speeches, and it speaks now, as well as words can, of Havel's achievements and legacy:

Nhà viết kịch trở thành người biểu tình rồi trở thành Tổng thống, Vaclav Havel, đã qua đời hôm nay. Đã có nhiều bài viết trên các blog về nhân vật người Séc vỹ đại này và sẽ còn nhiều hơn nữa tren báo ngày mai. Nhưng nếu bạn chỉ muốn đọc một thứ có liên quan tới ông thì tôi muốn khuyên cho bạn đọc bài diễn văn của ông trước nhân dân Tiệp Khắc ngày 01 tháng 1 năm 1990, mà tôi đã chép lại dưới đây. Chỉ một vài ngày sau khi được bầu làm tổng thống, nhưng niềm hân hoan chiến thắng và ăn mững rất ít. Thay vào đó, Havel sống lại những nỗi kinh hoàng nước ông đã phải chịu đựng trong thế kỷ XX, - điều quan trọng – bằng cách nào những điều đó được phép xảy ra. Đây là một trong những bài diễn văn yêu thích của tôi, và bây giờ người ta có thể nói, như người ta vẫn thường nói, về những thành tựu và di sản của Havel:

‘My dear fellow citizens,

For forty years you heard from my predecessors on this day different variations on the same theme: how our country was flourishing, how many million tons of steel we produced, how happy we all were, how we trusted our government, and what bright perspectives were unfolding in front of us.

Thưa đồng bào!

Bốn mươi năm qua, cứ đến ngày này các bạn đã nghe những vị tiền nhiệm của tôi phát biểu về cùng chủ đề với nhiều phiên bản khác nhau: rằng nước ta đang thịnh, rằng chúng ta sản xuất được hàng triệu tấn thép, rằng chúng ta tin tưởng chính phủ của mình, và rằng những viễn cảnh tươi sáng đang mở ra trước chúng ta.

I assume you did not propose me for this office so that I, too, would lie to you.

Tôi nghĩ rằng các bạn không tiến cử tôi vào chức vụ này để rồi tôi cũng sẽ nói dối với các bạn.

Our country is not flourishing. The enormous creative and spiritual potential of our nations is not being used sensibly. Entire branches of industry are producing goods that are of no interest to anyone, while we are lacking the things we need. A state which calls itself a workers' state humiliates and exploits workers. Our obsolete economy is wasting the little energy we have available. A country that once could be proud of the educational level of its citizens spends so little on education that it ranks today as seventy-second in the world. We have polluted the soil, rivers and forests bequeathed to us by our ancestors, and we have today the most contaminated environment in Europe. Adults in our country die earlier than in most other European countries.

Nước ta nào phải đang thịnh. Tiềm năng sáng tạo và tiềm năng tinh thần lớn lao của các dân tộc chúng ta hiện không được sử dụng hợp lý. Toàn bộ các ngành công nghiệp của ta đang sản xuất hàng hóa chẳng ai quan tâm, trong khi những thứ ta cần lại thiếu. Một nhà nước tự gọi mình là nhà nước của giai cấp công nhân lại sỉ nhục và bóc lột công nhân. Nền kinh tế lạc hậu của chúng ta đang phung phí năng lượng ít ỏi sẵn có của mình. Một đất nước từng có thể tự hào về trình độ học vấn của công dân lại chi tiêu quá ít vào giáo dục đến nỗi hiện nay xếp hạng 72 trên thế giới. Chúng ta đã gây ô nhiễm đất, sông và rừng do tổ tiên để lại, và hiện nay chúng ta có môi trường nhiễm bẩn nhất Châu Âu. Người lớn ở nước ta chết sớm hơn ở hầu hết các nước Châu Âu khác.

Allow me a small personal observation. When I flew recently to Bratislava, I found some time during discussions to look out of the plane window. I saw the industrial complex of Slovnaft chemical factory and the giant Petr'alka housing estate right behind it. The view was enough for me to understand that for decades our statesmen and political leaders did not look or did not want to look out of the windows of their planes. No study of statistics available to me would enable me to understand faster and better the situation in which we find ourselves.

Tôi xin mạn phép nêu một quan sát nhỏ của cá nhân. Gần đây, khi đáp máy bay đến Bratislava, tôi tranh thủ chút thời gian giữa những lúc nói chuyện để nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay. Tôi thấy khu công nghiệp liên hợp của nhà máy hóa chất Slovnaft và khu nhà ở Petr’alka khổng lồ ngay đằng sau nhà máy. Quang cảnh đó đủ để tôi hiểu rằng trong nhiều thập niên giới chính khách và lãnh tụ chính trị của chúng ta đã không hoặc không muốn nhìn ra cửa sổ máy bay của họ. Tôi không có số liệu nghiên cứu thống kê để hiểu nhanh hơn và rõ hơn hiện trạng chúng ta đang đối mặt.

But all this is still not the main problem. The worst thing is that we live in a contaminated moral environment. We fell morally ill because we became used to saying something different from what we thought. We learned not to believe in anything, to ignore one another, to care only about ourselves. Concepts such as love, friendship, compassion, humility or forgiveness lost their depth and dimension, and for many of us they represented only psychological peculiarities, or they resembled gone-astray greetings from ancient times, a little ridiculous in the era of computers and spaceships. Only a few of us were able to cry out loudly that the powers that be should not be all-powerful and that the special farms, which produced ecologically pure and top-quality food just for them, should send their produce to schools, children's homes and hospitals if our agriculture was unable to offer them to all.

Nhưng tình hình đó vẫn chưa phải là vấn đề chính. Điều tệ hại nhất là chúng ta sống trong một môi trường đạo đức nhiễm độc. Đạo đức của chúng ta đổ bệnh vì chúng ta đã nhiễm thói quen nói khác với suy nghĩ của mình. Chúng ta biết cách không tin vào gì cả, biết bỏ mặc nhau, chỉ biết chăm lo cho chính mình. Những khái niệm như tình yêu, tình bạn, lòng trắc ẩn, tính khiêm nhường, hay lòng khoan dung đã đánh mất cả chiều sâu lẫn diện rộng, và nhiều người trong chúng ta xem đó là những tính cách tâm lý kỳ dị, hoặc giống như những tàn tích từ thời xa xưa sót lại, hơi lạc lõng trong thời đại của máy vi tính và tàu vũ trụ. Chỉ một số ít trong chúng ta có khả năng lớn tiếng ta thán rằng giới chóp bu quyền lực lẽ ra không nên được toàn quyền như thế, và rằng những nông trại đặc biệt chuyên sản xuất thực phẩm xanh và sạch, cao cấp chỉ dành riêng cho họ nên gởi rau tươi quả ngọt đến các trường học, nhà thiếu nhi và bệnh viện nếu nền nông nghiệp của chúng ta không thể cung cấp cho tất cả mọi người.

The previous regime — armed with its arrogant and intolerant ideology — reduced man to a force of production, and nature to a tool of production. In this it attacked both their very substance and their mutual relationship. It reduced gifted and autonomous people, skillfully working in their own country, to the nuts and bolts of some monstrously huge, noisy and stinking machine, whose real meaning was not clear to anyone. It could not do more than slowly but inexorably wear out itself and all its nuts and bolts.

Chế độ trước đây – được trang bị ý thức hệ kiêu căng và không biết dung thứ – đã giáng cấp con người xuống thành một lực lượng sản xuất, giáng cấp thiên nhiên xuống thành một công cụ sản xuất. Ở điểm này, chế độ đó đã tấn công chính bản chất của con người và thiên nhiên lẫn mối quan hệ hỗ tương giữa con người và thiên nhiên. Chế độ đó đã giáng cấp những con người tài năng và tự chủ, lao động có kỹ năng trong đất nước của chính mình, xuống thành các linh kiện phụ tùng của một cỗ máy kềnh càng, ồn ào và hôi hám nào đó, mà chẳng ai rõ ý nghĩa thực thụ của cỗ máy đó là gì. Cỗ máy đó chẳng làm gì khác hơn là tự bào mòn một cách từ từ và không thương tiếc chính nó và những linh kiện phụ tùng.

When I talk about the contaminated moral atmosphere, I am not talking just about the gentlemen who eat organic vegetables and do not look out of the plane windows. I am talking about all of us. We had all become used to the totalitarian system and accepted it as an unchangeable fact and thus helped to perpetuate it. In other words, we are all — though naturally to differing extents — responsible for the operation of the totalitarian machinery. None of us is just its victim. We are all also its co-creators.

Khi bàn về bầu không khí đạo đức bị nhiễm độc, tôi không chỉ đang nói đến những bậc trưởng thượng ăn rau xanh và sạch, và không nhìn ra cửa sổ máy bay. Tôi đang nói về tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta đã quen với cơ chế toàn trị và chấp nhận nó như một sự thật không thể thay đổi, do vậy giúp nó trường tồn. Nói cách khác, tất cả chúng ta – dù đương nhiên ở những mức độ khác nhau – đều chịu trách nhiệm về sự vận hành của cỗ máy toàn trị. Không ai trong chúng ta chỉ là nạn nhân của nó. Tất cả chúng ta đều chung tay góp sức tạo ra nó.

Why do I say this? It would be very unreasonable to understand the sad legacy of the last forty years as something alien, which some distant relative bequeathed to us. On the contrary, we have to accept this legacy as a sin we committed against ourselves. If we accept it as such, we will understand that it is up to us all, and up to us alone to do something about it. We cannot blame the previous rulers for everything, not only because it would be untrue, but also because it would blunt the duty that each of us faces today: namely, the obligation to act independently, freely, reasonably and quickly. Let us not be mistaken: the best government in the world, the best parliament and the best president, cannot achieve much on their own. And it would be wrong to expect a general remedy from them alone. Freedom and democracy include participation and therefore responsibility from us all.

Tại sao tôi nói vậy? Thật chẳng phải chút nào nếu hiểu di sản đau buồn của bốn mươi năm qua là điều xa lạ do một người bà con xa để lại cho chúng ta. Trái lại, chúng ta phải chấp nhận cái di sản này như một tội lỗi chúng ta tự gây ra cho chính mình. Nếu chấp nhận như vậy, chúng ta sẽ hiểu rằng tất cả chúng ta, chỉ có chúng ta mà thôi, phải hành động về chuyện đó. Chúng ta không thể đổ lỗi mọi thứ cho giới cai trị trước đây, không chỉ vì điều đó không đúng, mà còn vì như vậy sẽ làm thui chột bổn phận mà mỗi người chúng ta đương đầu hiện nay, đó là nghĩa vụ hành động độc lập, tự do, hợp lý và nhanh chóng. Chúng ta hãy đừng nhầm lẫn: chính phủ tốt nhất trên thế giới, quốc hội tốt nhất và tổng thống tốt nhất, không thể tự thân đạt được nhiều thành quả. Và sẽ là sai lầm nếu ta hy vọng một mình chính phủ có thể đưa ra giải pháp chung. Tự do và dân chủ bao gồm sự tham gia, do đó gồm cả trách nhiệm từ tất cả chúng ta.

If we realize this, then all the horrors that the new Czechoslovak democracy inherited will cease to appear so terrible. If we realize this, hope will return to our hearts.

Nếu chúng ta nhận ra điều này, thì tất cả những nỗi kinh hoàng mà nền dân chủ mới của Tiệp Khắc thừa hưởng sẽ không còn quá kinh khủng nữa. Nếu chúng ta nhận ra điều này, con tim chúng ta sẽ lại có quyền hy vọng.

In the effort to rectify matters of common concern, we have something to lean on. The recent period — and in particular the last six weeks of our peaceful revolution — has shown the enormous human, moral and spiritual potential, and the civic culture that slumbered in our society under the enforced mask of apathy. Whenever someone categorically claimed that we were this or that, I always objected that society is a very mysterious creature and that it is unwise to trust only the face it presents to you. I am happy that I was not mistaken. Everywhere in the world people wonder where those meek, humiliated, skeptical and seemingly cynical citizens of Czechoslovakia found the marvelous strength to shake the totalitarian yoke from their shoulders in several weeks, and in a decent and peaceful way. And let us ask: Where did the young people who never knew another system get their desire for truth, their love of free thought, their political ideas, their civic courage and civic prudence? How did it happen that their parents — the very generation that had been considered lost — joined them? How is it that so many people immediately knew what to do and none needed any advice or instruction?

Trong nỗ lực khắc phục những mối quan tâm chung, chúng ta có cái để dựa vào. Thời gian gần đây – và đặc biệt sáu tuần vừa qua của cuộc cách mạng diễn ra trong bình yên của chúng ta – đã cho thấy tiềm năng con người, đạo đức và tinh thần lớn lao và nền văn hóa dân sự vốn ngủ quên trong xã hội chúng ta dưới cái mặt nạ vô cảm mà ta buộc phải đeo. Khi có người nhất mực khẳng định chúng ta là thế này thế nọ, tôi luôn phản bác bằng lập luận rằng xã hội là một tạo vật bí ẩn và thật là dại dột nếu chỉ tin vào bộ mặt bề ngoài nó lộ ra cho ta thấy. Tôi mừng vì mình đã không sai lầm. Khắp thế giới người ta tự hỏi những công dân nhu mì, bị sỉ nhục và có vẻ hoài nghi chua chát của Tiệp Khắc lấy đâu ra sức mạnh kỳ diệu để chỉ trong mấy tuần, và một cách đường hoàng và yên bình, tháo bỏ ách toàn trị lâu nay đè nặng trên vai. Và chúng ta hãy đặt câu hỏi: những người trẻ tuổi này chưa từng biết đến một cơ chế khác lấy đâu ra lòng khát khao chân lý, tình yêu tư tưởng tự do, quan niệm chính trị, lòng can đảm công dân và tính thận trọng công dân của họ? Làm thế nào mà cả cha mẹ của họ – chính thế hệ đã bị xem là lạc lối – cũng tham gia với họ? Bằng cách nào mà rất nhiều người lập tức biết phải làm gì và chẳng ai cần khuyên nhủ hay hướng dẫn gì cả?

I think there are two main reasons for the hopeful face of our present situation. First of all, people are never just a product of the external world; they are also able to relate themselves to something superior, however systematically the external world tries to kill that ability in them. Secondly, the humanistic and democratic traditions, about which there had been so much idle talk, did after all slumber in the unconsciousness of our nations and ethnic minorities, and were inconspicuously passed from one generation to another, so that each of us could discover them at the right time and transform them into deeds.

Tôi nghĩ có hai lý do chính cho bộ mặt đầy hy vọng của hiện trạng nước ta. Trước tiên, con người không chỉ là một sản phẩm của thế giới bên ngoài; họ còn có thể gắn mình với điều gì đó siêu việt, bất luận thế giới bên ngoài cố gắng tiêu diệt một cách có hệ thống khả năng đó trong họ. Thứ hai, những truyền thống nhân văn và dân chủ, mà trước đây có quá nhiều đồn đoán, dù gì cũng đã ngủ quên trong cơn mê muội của các dân tộc và sắc dân thiểu số của chúng ta, và được lặng lẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để mỗi người chúng ta có thể khám phá những truyền thống đó đúng thời điểm và biến chúng thành hành động.

We had to pay, however, for our present freedom. Many citizens perished in jails in the 1950s, many were executed, thousands of human lives were destroyed, hundreds of thousands of talented people were forced to leave the country. Those who defended the honor of our nations during the Second World War, those who rebelled against totalitarian rule and those who simply managed to remain themselves and think freely, were all persecuted. We should not forget any of those who paid for our present freedom in one way or another. Independent courts should impartially consider the possible guilt of those who were responsible for the persecutions, so that the truth about our recent past might be fully revealed.

Tuy nhiên, chúng ta đã phải trả giá cho tự do hiện nay của mình. Nhiều công dân đã chết trong tù trong thập niên 1950, nhiều người bị hành quyết, hàng ngàn mạng người bị tiêu diệt, hàng trăm ngàn người tài năng bị buộc phải rời khỏi đất nước. Những người bảo vệ danh dự của các dân tộc chúng ta trong Đệ Nhị Thế Chiến, những người phản kháng chế độ toàn trị và những người chỉ gắng là chính mình và suy nghĩ tự do, tất thảy đều bị trừng phạt. Chúng ta không nên quên bất cứ ai đã trả giá cho tự do hiện nay của chúng ta bằng cách này hay cách khác. Những tòa án độc lập nên cân nhắc một cách công bằng tội lỗi khả dĩ của những ai chịu trách nhiệm cho những đòn trừng phạt đó, để sự thật về quá khứ gần đây của chúng ta được tiết lộ đầy đủ.

We must also bear in mind that other nations have paid even more dearly for their present freedom, and that indirectly they have also paid for ours. The rivers of blood that have flowed in Hungary, Poland, Germany and recently in such a horrific manner in Romania, as well as the sea of blood shed by the nations of the Soviet Union, must not be forgotten. First of all because all human suffering concerns every other human being. But more than this, they must also not be forgotten because it is these great sacrifices that form the tragic background of today's freedom or the gradual emancipation of the nations of the Soviet Bloc, and thus the background of our own newfound freedom. Without the changes in the Soviet Union, Poland, Hungary, and the German Democratic Republic, what has happened in our country would have scarcely happened. And if it did, it certainly would not have followed such a peaceful course.

Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những quốc gia khác cũng đã trả giá còn đắt hơn cho tự do hiện tại của họ, và nhớ rằng họ cũng đã gián tiếp trả giá cho tự do của chúng ta. Chúng ta không được quên những dòng sông máu tuôn chảy ở Hungary, Ba Lan, Đức và gần đây một cách ghê rợn ở Romania, cũng như biển máu đã đổ ở những nước thuộc Liên Xô. Trước tiên bởi vì toàn bộ nỗi đau khổ của con người liên quan đến mọi người khác. Nhưng ngoài ra, chúng ta cũng không được quên những điều đó vì chính những hy sinh vĩ đại này tạo nên bối cảnh bi thảm của tự do ngày nay hay sự giải phóng dần dần các nước thuộc khối Xô Viết, do đó là bối cảnh cho tự do mới tìm thấy của chúng ta. Nếu không có những thay đổi ở Liên Xô, Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Dân chủ Đức, những gì đã diễn ra ở nước ta khó mà xảy ra. Và nếu có xảy ra, chắc chắn diễn biến đã không yên bình như vậy.

The fact that we enjoyed optimal international conditions does not mean that anyone else has directly helped us during the recent weeks. In fact, after hundreds of years, both our nations have raised their heads high of their own initiative without relying on the help of stronger nations or powers. It seems to me that this constitutes the great moral asset of the present moment. This moment holds within itself the hope that in the future we will no longer suffer from the complex of those who must always express their gratitude to somebody. It now depends only on us whether this hope will be realized and whether our civic, national, and political self-confidence will be awakened in a historically new way.

Việc chúng ta hưởng những điều kiện quốc tế tối ưu không có nghĩa là có ai khác trực tiếp giúp đỡ chúng ta trong những tuần gần đây. Thực vậy, sau hàng trăm năm, cả hai dân tộc chúng ta đã ngẩng cao đầu tự hào về tính chủ động của mình mà không cần dựa dẫm vào sự giúp đỡ của những dân tộc hay cường quốc mạnh hơn. Tôi nghĩ điều này tạo nên tài sản đạo đức cao quý của thời điểm hiện tại. Thời điểm này chan chứa hy vọng rằng trong tương lai chúng ta sẽ không còn mang mặc cảm của người phải luôn luôn mang ơn kẻ khác. Giờ đây chỉ tùy thuộc chúng ta liệu niềm hy vọng này có thành hiện thực hay không và liệu lòng tự tin công dân, dân tộc và chính trị có được đánh thức theo một cách mới mẻ chưa từng thấy trong lịch sử.

Self-confidence is not pride. Just the contrary: only a person or a nation that is self-confident, in the best sense of the word, is capable of listening to others, accepting them as equals, forgiving its enemies and regretting its own guilt. Let us try to introduce this kind of self-confidence into the life of our community and, as nations, into our behavior on the international stage. Only thus can we restore our self-respect and our respect for one another as well as the respect of other nations.

Tự tin không phải là tự ái. Mà ngược lại: chỉ một người hay một dân tộc tự tin, hiểu theo nghĩa hay nhất của từ này, mới có khả năng lắng nghe người khác, chấp nhận họ là bình đẳng với mình, tha thứ cho những kẻ thù của mình và ăn năn về tội lội của chính mình. Chúng ta hãy thử áp dụng kiểu tự tin này vào đời sống của cộng đồng chúng ta và, với tư cách dân tộc, vào cách hành xử của chúng ta trên trường quốc tế. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể khôi phục lòng tự trọng của mình và sự tôn trọng lẫn nhau của chúng ta, cũng như sự tôn trọng đối với các dân tộc khác.



Our state should never again be an appendage or a poor relative of anyone else. It is true that we must accept and learn many things from others, but we must do this in the future as their equal partners, who also have something to offer.

Nhà nước chúng ta sẽ chẳng bao giờ lại là phần lệ thuộc hay người bà con nghèo của bất cứ ai khác. Đúng là chúng ta phải chấp nhận và học hỏi nhiều điều từ những nước khác, nhưng trong tương lai chúng ta phải làm như vậy với tư cách đối tác đồng đẳng của họ và cũng có cái để họ học hỏi.

Our first president wrote: “Jesus, not Caesar.” In this he followed our philosophers Chelčický and Komenský. I dare to say that we may even have an opportunity to spread this idea further and introduce a new element into European and global politics. Our country, if that is what we want, can now permanently radiate love, understanding, the power of the spirit and of ideas. It is precisely this glow that we can offer as our specific contribution to international politics.

Tổng thống đầu tiên của chúng ta viết: “Jesus, chứ không phải Caesar.” Ở điểm này, ông noi theo các triết gia Chelčický và Komenský của chúng ta. Tôi dám nói rằng chúng ta thậm chí có thể có cơ hội truyền bá ý tưởng này rộng hơn và đưa một nhân tố mới vào chính trị Châu Âu và toàn cầu. Nếu muốn, nước ta hiện nay có thể vĩnh viễn biểu lộ tình thương yêu, sự thông cảm, sức mạnh của tinh thần và của ý tưởng. Ngọn lửa nhiệt tình rạng rỡ này chính là điều cụ thể chúng ta có thể đóng góp vào chính trị quốc tế.

Masaryk [the first president of Czechoslovakia] based his politics on morality. Let us try, in a new time and in a new way, to restore this concept of politics. Let us teach ourselves and others that politics should be an expression of a desire to contribute to the happiness of the community rather than of a need to cheat or rape the community. Let us teach ourselves and others that politics can be not simply the art of the possible, especially if this means the art of speculation, calculation, intrigue, secret deals and pragmatic maneuvering, but that it can also be the art of the impossible, that is, the art of improving ourselves and the world.

Masaryk [tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc] đã đặt chính trị của mình trên nền tảng đạo đức. Chúng ta hãy thử, trong một thời đại mới và theo một cách mới, khôi phục quan niệm này về chính trị. Chúng ta hãy tự dạy mình và người khác rằng chính trị nên là cách biểu lộ lòng khao khát đóng góp vào hạnh phúc của cộng đồng chứ không phải nhu cầu lường gạt hay cưỡng đoạt cộng đồng. Chúng ta hãy tự dạy mình và người khác rằng chính trị không thể chỉ là thuật làm điều khả thi, đặc biệt nếu như vậy nghĩa là thuật đầu cơ, tính toán, mưu toan, thỏa thuận mờ ám và dùng thủ đoạn thực dụng, mà chính trị cũng có thể là thuật làm điều bất khả thi, tức là thuật hoàn thiện bản thân và thế giới.

We are a small country, yet at one time we were the spiritual crossroads of Europe. Is there a reason why we could not again become one? Would it not be another asset with which to repay the help of others that we are going to need?

Chúng ta là nước nhỏ, tuy nhiên có thời chúng ta đã là giao lộ tinh thần của Châu Âu. Có lý nào chúng ta lại không thể lấy lại vị thế đó? Chẳng lẽ đó không là một tài sản khác có thể dùng để đền ơn giúp đỡ của những nước khác mà chúng ta sắp cần đến?

Our homegrown Mafia, those who do not look out of the plane windows and who eat specially fed pigs, may still be around and at times may muddy the waters, but they are no longer our main enemy. Even less so is our main enemy any kind of international Mafia. Our main enemy today is our own bad traits: indifference to the common good, vanity, personal ambition, selfishness, and rivalry. The main struggle will have to be fought on this field.

Bè lũ Mafia nội địa của chúng ta, những kẻ không nhìn ra cửa sổ máy bay và ăn thịt lợn được nuôi riêng, có thể vẫn còn lẩn quất và đôi khi có thể gây rối ren, nhưng họ không còn là kẻ thù chính của chúng ta. Mafia quốc tế dưới bất cứ hình thức nào càng không phải là kẻ thù chính của chúng ta. Kẻ thù chính của chúng ta hiện nay là những thói xấu của mình: thái độ bàng quan với lợi ích chung, sự phù phiếm, tham vọng cá nhân, tính ích kỷ, và thói ganh đua. Cuộc đấu tranh chính sẽ diễn ra trên trận địa này.

There are free elections and an election campaign ahead of us. Let us not allow this struggle to dirty the so-far clean face of our gentle revolution. Let us not allow the sympathies of the world, which we have won so fast, to be equally rapidly lost through our becoming entangled in the jungle of skirmishes for power. Let us not allow the desire to serve oneself to bloom once again under the stately garb of the desire to serve the common good. It is not really important now which party, club or group prevails in the elections. The important thing is that the winners will be the best of us, in the moral, civic, political and professional sense, regardless of their political affiliations. The future policies and prestige of our state will depend on the personalities we select, and later, elect to our representative bodies.

Sẽ có những cuộc bầu cử tự do và một chiến dịch tranh cử trước mắt chúng ta. Chúng ta đừng để cuộc đấu tranh này làm bẩn bộ mặt đến nay vẫn còn sạch sẽ của cuộc cách mạng êm đềm của chúng ta. Chúng ta đừng để những nỗi thông cảm của thế giới mà chúng ta đã giành được rất nhanh lại cũng nhanh chóng ra đi do chúng ta lạc lối giữa vô vàn cuộc đấu đá tranh giành quyền lực. Chúng ta đừng để ước muốn phục vụ bản thân lại nở rộ trong cái lốt trang trọng của ước muốn phục vụ lợi ích chung. Bây giờ đảng phái nào hay hội nhóm nào thắng cử không thực sự quan trọng. Điều quan trọng là những ai đắc cử sẽ là người giỏi nhất trong chúng ta, theo nghĩa đạo đức, dân sự, chính trị và chuyên nghiệp, bất kể họ thuộc chính đảng nào. Những chính sách tương lai và uy tín của nhà nước chúng ta sẽ phụ thuộc vào những nhân vật chúng ta lựa chọn, và sau này, bầu vào các cơ quan đại diện của chúng ta.

My dear fellow citizens!

Three days ago I became the president of the republic as a consequence of your will, expressed through the deputies of the Federal Assembly. You have a right to expect me to mention the tasks I see before me as president.

Thưa đồng bào!

Cách đây ba ngày, tôi trở thành tổng thống của nước cộng hòa theo ý nguyện của các bạn, được bày tỏ thông qua các đại biểu của Hội đồng Liên Bang. Các bạn có quyền mong đợi tôi nêu ra những nhiệm vụ tôi đặt ra cho mình với tư cách là tổng thống.

The first of these is to use all my power and influence to ensure that we soon step up to the ballot boxes in a free election, and that our path toward this historic milestone will be dignified and peaceful.

Nhiệm vụ thứ nhất là sử dụng toàn bộ quyền lực và ảnh hưởng của tôi để bảo đảm rằng chúng ta sẽ nhanh chóng đi bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử tự do, và con đường đi đến cột mốc lịch sử này sẽ đường hoàng và yên bình.

My second task is to guarantee that we approach these elections as two self-governing nations who respect each other's interests, national identity, religious traditions, and symbols. As a Czech who has given his presidential oath to an important Slovak who is personally close to him, I feel a special obligation -- after the bitter experiences that Slovaks had in the past -- to see that all the interests of the Slovak nation are respected and that no state office, including the highest one, will ever be barred to it in the future.

Nhiệm vụ thứ hai của tôi là bảo đảm rằng chúng ta tiếp cận những cuộc bầu cử này với tư cách hai dân tộc tự trị tôn trọng lợi ích, bản sắc dân tộc, truyền thống tôn giáo và biểu tượng của nhau. Là một người Czech đã đọc lời tuyên thệ tổng thống với một người Slovak rất gần gũi với mình, tôi cảm nhận một bổn phận đặc biệt – sau những kinh nghiệm cay đắng mà người Slovak đã nếm trong quá khứ – đó là bổn phận bảo đảm rằng tất cả những lợi ích của dân tộc Slovak được tôn trọng và trong tương lai dân tộc Slovak sẽ không bao giờ bị cản trở đảm nhiệm những chức vụ nhà nước, bao gồm chức vụ cao nhất.

My third task is to support everything that will lead to better circumstances for our children, the elderly, women, the sick, the hardworking laborers, the national minorities and all citizens who are for any reason worse off than others. High-quality food or hospitals must no longer be a prerogative of the powerful; they must be available to those who need them the most.

Nhiệm vụ thứ ba của tôi là ủng hộ mọi điều giúp cải thiện hoàn cảnh cho trẻ em, người cao niên, phụ nữ, người bệnh, người lao động siêng năng, các dân tộc thiểu số và tất cả những công dân của chúng ta vì lý do nào đó khó khăn hơn người khác. Thực phẩm chất lượng cao hay bệnh viện cao cấp sẽ không được là đặc quyền của kẻ có quyền; mà phải dành cho những ai cần nhất.

As supreme commander of the armed forces I want to guarantee that the defensive capability of our country will no longer be used as a pretext for anyone to stand in the way of courageous peace initiatives, the reduction of military service, the establishment of alternative military service and the overall humanization of military life.

Là chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang tôi muốn bảo đảm rằng năng lực quốc phòng của nước ta sẽ không còn được dùng như cái cớ để bất cứ ai cản đường những sáng kiến hòa bình can đảm, giảm lực lượng quân sự, thiết lập lực lượng quân sự thay thế và việc nhân đạo hóa đời sống quân sự.

In our country there are many prisoners who, though they may have committed serious crimes and have been punished for them, have had to submit — despite the goodwill of some investigators, judges and above all defense lawyers — to a debased judiciary process that curtailed their rights. They now have to live in prisons that do not strive to awaken the better qualities contained in every person, but rather humiliate them and destroy them physically and mentally. In a view of this fact, I have decided to declare a relatively extensive amnesty. At the same time I call on the prisoners to understand that forty years of unjust investigations, trials and imprisonments cannot be put right overnight, and to understand that the changes that are being speedily prepared still require time to implement. By rebelling, the prisoners would help neither society nor themselves. I also call on the public not to fear the prisoners once they are released, not to make their lives difficult, to help them, in the Christian spirit, after their return among us to find within themselves that which jails could not find in them: the capacity to repent and the desire to live a respectable life.

Ở nước ta có nhiều tù nhân dù có thể đã phạm những tội ác nghiêm trọng và đã bị trừng phạt vì những tội đó nhưng – bất chấp thiện chí của một số điều tra viên, quan tòa, và trên hết là các luật sư biện hộ – đã phải cam chịu một hệ thống tư pháp suy đồi tước mất quyền của họ. Giờ đây họ phải sống trong những nhà tù không phấn đấu đánh thức các phẩm chất tốt đẹp hơn bên trong mỗi người, mà lại nhục mạ và hủy hoại họ về cả thể xác lẫn tinh thần. Xét đến thực tế này, tôi đã quyết định tuyên bố ân xá tương đối rộng khắp. Đồng thời tôi kêu gọi các tù nhân hiểu rằng bốn mươi năm với những cuộc điều tra, phiên tòa và án tù bất công không thể nào được chỉnh sửa trong một sớm một chiều, và hiểu rằng những thay đổi đang được nhanh chóng chuẩn bị vẫn cần có thời gian để thực hiện. Nếu nổi loạn, các tù nhân sẽ chẳng giúp ích gì cho xã hội và bản thân. Tôi cũng kêu gọi công chúng đừng sợ các tù nhân một khi họ được phóng thích, đừng gây khó khăn cho cuộc sống của họ, mà nên giúp đỡ, trong tinh thần Cơ đốc giáo, sau khi họ quay về với chúng ta để tìm ra trong bản thân họ những điều mà ngục tù đã không tìm thấy trong con người họ: đó là khả năng ăn năn và ước ao sống một đời đứng đắn.

My honorable task is to strengthen the authority of our country in the world. I would be glad if other states respected us for showing understanding, tolerance and love for peace. I would be happy if Pope John Paul II and the Dalai Lama of Tibet could visit our country before the elections, if only for a day. I would be happy if our friendly relations with all nations were strengthened. I would be happy if we succeeded before the elections in establishing diplomatic relations with the Vatican and Israel. I would also like to contribute to peace by briefly visiting our close neighbors, the German Democratic Republic and the Federal Republic of Germany. Neither shall I forget our other neighbors — fraternal Poland and the ever-closer countries of Hungary and Austria.

Nhiệm vụ vinh dự của tôi là củng cố uy quyền của nước ta trên thế giới. Tôi sẽ vui mừng nếu những nhà nước khác tôn trọng chúng ta vì đã thể hiện sự thông cảm, lòng khoan dung và tình yêu hòa bình. Tôi sẽ hài lòng nếu Giáo Hoàng John Paul II và Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng có thể thăm nước ta trước các kỳ bầu cử, dù chỉ một ngày. Tôi sẽ hài lòng nếu những quan hệ hữu nghị của chúng ta với tất cả các quốc gia khác được củng cố. Tôi sẽ hài lòng nếu trước các kỳ bầu cử chúng ta thiết lập được quan hệ ngoại giao với Vatican và Israel. Tôi cũng muốn đóng góp vào hòa bình bằng cách viếng thăm trong thời gian ngắn các nước láng giềng gần gũi của chúng ta, Cộng hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức. Tôi cũng sẽ không quên những nước láng giềng khác của chúng ta – nước Ba Lan anh em và những nước ngày càng gần gũi với ta là Hungary và Áo.

In conclusion, I would like to say that I want to be a president who will speak less and work more. To be a president who will not only look out of the windows of his airplane but who, first and foremost, will always be present among his fellow citizens and listen to them well.

Để kết luận, tôi xin nói rằng tôi muốn là một tổng thống nói ít làm nhiều. Là một tổng thống sẽ không chỉ nhìn ra cửa sổ máy bay mà, trên hết thảy, sẽ luôn luôn ở bên những công dân của mình và chăm chú lắng nghe họ.

You may ask what kind of republic I dream of. Let me reply: I dream of a republic independent, free, and democratic, of a republic economically prosperous and yet socially just; in short, of a humane republic that serves the individual and that therefore holds the hope that the individual will serve it in turn. Of a republic of well-rounded people, because without such people it is impossible to solve any of our problems — human, economic, ecological, social, or political.

Các bạn có thể hỏi tôi mơ đến nước cộng hòa kiểu nào. Tôi xin trả lời: tôi mơ về một nước cộng hòa độc lập, tự do, và dân chủ, về một nước cộng hòa thịnh vượng kinh tế nhưng cũng công bằng xã hội; tóm lại, về một nước cộng hòa phục vụ từng cá nhân và qua đó hy vọng rằng từng cá nhân sẽ lại phục vụ đất nước. Về một nước cộng hòa có nhân dân phát triển toàn diện, bởi vì nếu không có nhân dân như vậy thì không thể giải quyết bất cứ vấn đề nào của chúng ta – con người, kinh tế, sinh thái, xã hội, hay chính trị.

The most distinguished of my predecessors opened his first speech with a quotation from the great Czech educator Komenský. Allow me to conclude my first speech with my own paraphrase of the same statement:

Người xuất chúng nhất trong số những bậc tiền nhiệm của tôi đã mở đầu diễn văn đầu tiên của ông bằng lời trích dẫn nhà giáo dục vĩ đại người Czech Komenský. Tôi xin mạn phép kết thúc diễn văn đầu tiên của mình bằng lối diễn giải của riêng mình cho cùng lời phát biểu đó:

People, your government has returned to you!’

Hỡi nhân dân, chính quyền đã quay về với các bạn!




Translated by PVLH

http://www.spectator.co.uk/coffeehouse/7496733/people-your-government-has-returned-to-you.thtml

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn