MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, February 20, 2012

THE SECRET GARDEN 4- KHU VƯỜN BÍ MẬT 4




CHAPTER 13

Chapter XIII "I AM COLIN"
Chương 13: TỚ LÀ COLIN
Mary took the picture back to the house when she went to her supper and she showed it to Martha.
"Eh!" said Martha with great pride. "I never knew our Dickon was as clever as that. That there's a picture of a missel thrush on her nest, as large as life an' twice as natural."
Mary mang hình vẽ về nhà. Đến bữa tối, nó đưa mẩu giấy cho Martha.
- Ồ! – Martha kêu lên hãnh diện.- Không ngờ thằng Dickon nhà tôi lại sáng dạ đến thế. Đây là bức vẻ một con chim hét tầm gửi đang ở trong tổ, to như thực và còn giống hơn cả ngoài tự nhiên.
Then Mary knew Dickon had meant the picture to be a message. He had meant that she might be sure he would keep her secret. Her garden was her nest and she was like a missel thrush. Oh, how she did like that queer, common boy!
She hoped he would come back the very next day and she fell asleep looking forward to the morning.
But you never know what the weather will do in Yorkshire, particularly in the springtime. She was awakened in the night by the sound of rain beating with heavy drops against her window. It was pouring down in torrents and the wind was "wuthering" round the corners and in the chimneys of the huge old house. Mary sat up in bed and felt miserable and angry.
Bấy giờ Mary mới hiểu Dickon có ý muốn sử dụng bức hình này là một lời nhắn. Ngụ ý rằng con bé có thể tin tưởng nó sẽ giữ kín bí mật của con bé. Khu vườn là cái tổ và con bé chính là con chim hét tầm gửi. Ôi, sao nó thấy thích cái cậu bé con nhà bình dân lạ lùng ấy đến thế. Nó hy vọng ngày hôm sau Dickon sẽ quay lại và đi ngủ trong tâm trạng ngóng đợi cho trời mau sáng. Nhưng không ai biết trước được thời tiết ở Yorkshire sẽ ra sao, đặc biệt vào mùa xuân. Mary bị đánh thức vào lúc nửa đêm bởi tiếng mưa rơi nặng hạt quất vào cửa sổ. Trời đang mưa như trút, gió thì gào rú tứ bề, cả trong các ống khói của ngôi nhà cổ đồ sộ. Mary ngồi bật dậy trên giường, nó cảm thấy khổ sở và tức giận vô cùng.
"The rain is as contrary as I ever was," she said. "It came because it knew I did not want it."
She threw herself back on her pillow and buried her face. She did not cry, but she lay and hated the sound of the heavily beating rain, she hated the wind and its "wuthering." She could not go to sleep again. The mournful sound kept her awake because she felt mournful herself. If she had felt happy it would probably have lulled her to sleep. How it "wuthered" and how the big raindrops poured down and beat against the pane!
- Cơn mưa thật trái khoáy, chẳng khác gì mình đã từng như vậy.
Nó thừa biết mình không thích mà vẫn cứ đến. Nó gieo mình xuống gối và vùi mặt vào đó. Nó không khóc mà chỉ nằm vật ra, cảm thấy căm ghét tiếng mưa rơi nặng hạt đang quất xuống ràn tạt cùng tiếng gió gào rú. Con bé không tài nào ngủ lại được. Âm thanh thê lương ấy làm nó tỉnh ngủ, cảm thấy trong lòng buồn rầu vô hạn. Nếu đang lúc vui vẻ, tiếng mưa kia còn dễ ru nó vào giấc ngủ. Còn lúc này đây, cớ sao gió cứ phải gào lên, và những giọt mưa to tướng kia thì cứ quất mãi vào ô cửa sổ!
"It sounds just like a person lost on the moor and wandering on and on crying," she said.
She had been lying awake turning from side to side for about an hour, when suddenly something made her sit up in bed and turn her head toward the door listening. She listened and she listened.
"It isn't the wind now," she said in a loud whisper. "That isn't the wind. It is different. It is that crying I heard before."
- Nghe như thể có kẻ đi lạc giữa đồng hoang đang lang thang than khóc, - nó nhủ thầm.
Con bé nằm đó không ngủ được, trở mình hết bên này rồi bên kia dễ đến gần tiếng đồng hồ, bỗng có tiếng gì khiến nó ngồi bật dậy trên giường và ngoái đầu về phía cửa, lắng nghe. Nó nghe ngóng một hồi lâu.
- Bây giờ không phải là gió nữa,- nó thầm thì thành tiếng,- Không phải gió, tiếng gió nghe khác hẳn. Đây chính là tiếng khóc mình đã nghe thấy bữa trước.
The door of her room was ajar and the sound came down the corridor, a far-off faint sound of fretful crying. She listened for a few minutes and each minute she became more and more sure. She felt as if she must find out what it was. It seemed even stranger than the secret garden and the buried key. Perhaps the fact that she was in a rebellious mood made her bold. She put her foot out of bed and stood on the floor.
"I am going to find out what it is," she said. "Everybody is in bed and I don't care about Mrs. Medlock--I don't care!"
Cánh cửa phòng nó khép hờ và âm thanh ấy vọng lại từ ngoài hành lang, một tiếng khóc bẳn gắt lúc xa lúc gần. Con bé lắng nghe mấy phút liền, mỗi lúc lại càng thêm tin chắc. Nó cảm thấy nó phải khám phá cho ra đó là cái gì. Chuyện này ven đường còn kỳ quặc hơn cả khu vườn bí mật với chiếc chìa khóa bị vùi kỹ. Và có lẽ đang trong tâm trạng nổi loạn nên nó mới bạo dạn đến vậy. Nó thò chân ra khỏi giường và đứng trên sàn nhà.
- Mình phải tìm cho ra đó là cái gì. Giờ này ai nấy vẫn còn trên giường, mình không cần phải lo tới bà Medlock, không cần!
There was a candle by her bedside and she took it up and went softly out of the room. The corridor looked very long and dark, but she was too excited to mind that. She thought she remembered the corners she must turn to find the short corridor with the door covered with tapestry--the one Mrs. Medlock had come through the day she lost herself. The sound had come up that passage. So she went on with her dim light, almost feeling her way, her heart beating so loud that she fancied she could hear it. The far-off faint crying went on and led her. Sometimes it stopped for a moment or so and then began again. Was this the right corner to turn?
Sẵn có cây nến cạnh giường, con bé cầm theo rồi rón rén ra khỏi phòng. Hành lang dài dằng dặc và tối mịt, nhưng Mary quá phấn khích để bận tâm đến điều đó. Nó nghĩ nó vẫn nhớ những chỗ ngoặc phải rẽ để tìm ra đoạn hành lang ngắn có cánh cửa ra vào phủ tấm thảm thêu - đoạn hành lang bà Medlock đã rẽ qua vào cái hôm nó bị lạc. Tiếng khóc lại vang lên dọc lối đi. Nó bước tiếp trong ánh nến lúc mờ lúc tỏ, hầu như chỉ nhận ra đường qua cảm giác của bàn chân, tim đập thình thịch đến nỗi tường chừng nghe rõ từng nhịp một. Tiếng khóc ai oán vẫn tiếp tục và dẫn đường cho nó. Có lúc âm thanh ấy ngưng bặt giây lát rồi lại nổi lên. Liệu đã đến chỗ rẽ chưa?
She stopped and thought. Yes it was. Down this passage and then to the left, and then up two broad steps, and then to the right again. Yes, there was the tapestry door.
Con bé dừng chân suy nghĩ. Phải rồi, chính là lối này. Đến cuối đoạn hành lang này thì rẽ trái, rồi bước lên hai bậc rộng thì rẽ phải. Đúng rồi, cánh cửa treo tấm thảm đây rồi.
She pushed it open very gently and closed it behind her, and she stood in the corridor and could hear the crying quite plainly, though it was not loud. It was on the other side of the wall at her left and a few yards farther on there was a door. She could see a glimmer of light coming from beneath it. The Someone was crying in that room, and it was quite a young Someone. So she walked to the door and pushed it open, and there she was standing in the room!
Nó nhẹ nhàng đẩy cánh cửa rồi khép lại sau lưng, nó nhận ra mình đang đứng giữa một hành lang khác, tiếng khóc nghe còn rõ hơn mặc dầu không to lắm. Chỗ này đã là bên kia bức tường. Ở phía trái con bé, cách mấy mét, có một cánh cửa. Từ đây, nó nhìn rõ mấy tia sáng le lói hắt ra từ dưới khe cửa. Ai đó đang khóc trong phòng, và người đó còn trẻ. Nó bước tới bên cánh cửa và mở ra, và thế là nó đang đứng trong căn phòng đó!
It was a big room with ancient, handsome furniture in it. There was a low fire glowing faintly on the hearth and a night light burning by the side of a carved four-posted bed hung with brocade, and on the bed was lying a boy, crying fretfully.
Đó là một gian phòng lớn, bên trong bày toàn đồ đạc cổ rất đẹp. Ngọn lửa leo lét cháy trong lò sưởi, một ngọn đèn ngủ lập loè bên chiếc giường có bốn cột chạm trổ treo rèm gấm thêu kim tuyến, và trên giường, một thằng bé đang nằm khóc hết sức thương tâm.
Mary wondered if she was in a real place or if she had fallen asleep again and was dreaming without knowing it. The boy had a sharp, delicate face the color of ivory and he seemed to have eyes too big for it. He had also a lot of hair which tumbled over his forehead in heavy locks and made his thin face seem smaller. He looked like a boy who had been ill, but he was crying more as if he were tired and cross than as if he were in pain.
Mary ngỡ ngàng không biết phải chăng mình đang ở một nơi có thực, hay mình đã thiếp đi và đang mơ nàng mà không hề hay biết. Thằng bé đó có khuôn mặt dài dài, thanh tú, làn da trắng ngà và đôi mắt dường như quá lớn so với khuôn mặt của nó. Mái tóc buông thành những lọn nặng trước trán khiến khuôn mặt nó trông càng nhỏ hơn. Nó có dáng vẻ của một đứa trẻ bị ốm, nhưng đang gào khóc bởi mệt mỏi và cáu bẳn hơn là vì đau yếu.
Mary stood near the door with her candle in her hand, holding her breath. Then she crept across the room, and, as she drew nearer, the light attracted the boy's attention and he turned his head on his pillow and stared at her, his gray eyes opening so wide that they seemed immense.
Mary đứng ngay bên cửa ra vào, tay cầm cây nến, nín thở. Nó rón rén bước tới, và khi nó đến gần hơn, ánh sáng đã thu hút sự chú ý của thằng bé và thằng bé quay đầu trên gối, nhìn Mary chòng chọc bằng đôi mắt màu xám mở to đến mênh mông của nó.
"Who are you?" he said at last in a half-frightened whisper. "Are you a ghost?"
"No, I am not," Mary answered, her own whisper sounding half frightened. "Are you one?"
He stared and stared and stared. Mary could not help noticing what strange eyes he had. They were agate gray and they looked too big for his face because they had black lashes all round them.
- Cậu là ai? – Cuối cùng, thằng bé lên tiếng bằng giọng thì thầm pha chút sợ hãi,- Cậu là ma à?
- Không, tớ không phải ma,- Mary trả lời, tiếng thì thầm của chính nó cũng pha lẫn sợ hãi.
- Còn cậu là ma phải không?
Thằng bé vẫn nhìn chằm chằm không chớp, Mary không thể không chú ý đến đôi mắt kỳ lạ của nó. Chúng có màu xám mã não và nom quá to sợ với cả một hàng mi đen sậm viền quanh.
"No," he replied after waiting a moment or so. "I am Colin."
"Who is Colin?" she faltered.
"I am Colin Craven. Who are you?"
"I am Mary Lennox. Mr. Craven is my uncle."
"He is my father," said the boy.
"Your father!" gasped Mary. "No one ever told me he had a boy! Why didn't they?"
"Come here," he said, still keeping his strange eyes fixed on her with an anxious expression.
She came close to the bed and he put out his hand and touched her.
"You are real, aren't you?" he said. "I have such real dreams very often. You might be one of them."
- Không,- thằng bé đáp sau một thoáng chờ đợi,- Tớ là Colin.
- Colin nhà ai? – Con bé ấp úng hỏi.
- Tớ là Colin Craven. Thế cậu là ai?
- Tớ là Mary Lennox. Ông Craven là bác tớ.
- Ông ấy là cha tớ đấy.- Thằng bé bảo.
- Cha cậu ư! – Mary thở hổn hển,- Chưa từng thấy ai bảo tớ ông ấy có một người con trai. Tại sao họ lại làm như thế?
- Lại gần đây,- thằng bé bảo, đôi mắt kỳ lạ của nó vẫn nhìn như dán chặt vào Mary với vẻ lo lắng bồn chồn. Mary tiến lại gần chiếc giường, thằng bé duỗi tay và chạm vào người nó.
- Cậu là người thực, phải không? Tớ rất hay có những giấc mơ giống như y như thực. Cậu có lẽ là một trong số đó.
Mary had slipped on a woolen wrapper before she left her room and she put a piece of it between his fingers.
"Rub that and see how thick and warm it is," she said. "I will pinch you a little if you like, to show you how real I am. For a minute I thought you might be a dream too."
Mary đã khoác vội một cái áo choàng bằng len trước khi rời khỏi phòng nó, nó liền đặt một mảnh áo vào giữa các ngón tay thằng bé.
- Cậu thử cọ nó vào da xem nó ấm và dầy thế nào,- con bé nói,- hay tớ sẽ véo cậu một cái nếu cậu muốn, để cho cậu thấy tớ thực đến thế nào. Ban nãy, cũng có lúc tớ thoáng nghĩ cậu chỉ là một giấc mơ.
"Where did you come from?" he asked.
"From my own room. The wind wuthered so I couldn't go to sleep and I heard some one crying and wanted to find out who it was. What were you crying for?"
"Because I couldn't go to sleep either and my head ached. Tell me your name again."
"Mary Lennox. Did no one ever tell you I had come to live here?"
- Cậu vừa từ đâu tới đây? – Thằng bé hỏi.
- Từ phòng tớ. Gió hú ghê quá khiến tớ không sao ngủ nổi, thế rồi tớ nghe có tiếng ai khóc, và muốn xem đó là ai. Cậu khóc cái gì thế?
- Bởi vì tớ cũng không tài nào ngủ được và tớ thấy đau đầu quá. Nói lại cho tớ tên của cậu đi.
- Mary Lennox. Không có ai từng nói cho cậu hay tớ đến sao?
He was still fingering the fold of her wrapper, but he began to look a little more as if he believed in her reality.
"No," he answered. "They daren't."
"Why?" asked Mary.
"Because I should have been afraid you would see me. I won't let people see me and talk me over."
"Why?" Mary asked again, feeling more mystified every moment.
Thằng bé vẫn mân mê trên tay mảnh áo của Mary, và trông nó, có vẻ như đã tin hơn vào sự hiện diện của Mary.
- Chưa,- thằng bé trả lời,- Họ không dám.
- Tại sao?- Mary hỏi.
- Bởi vì chắc chắn tớ sẽ lo sợ là cậu nhìn thấy tớ. Tớ sẽ không để mọi người trông thấy và dỗ dành mình.
- Tại sao?- Mary gặng hỏi lần nữa, mỗi lúc một cảm thấy hoang mang.
"Because I am like this always, ill and having to lie down. My father won't let people talk me over either. The servants are not allowed to speak about me. If I live I may be a hunchback, but I shan't live. My father hates to think I may be like him."
"Oh, what a queer house this is!" Mary said. "What a queer house! Everything is a kind of secret. Rooms are locked up and gardens are locked up--and you! Have you been locked up?"
"No. I stay in this room because I don't want to be moved out of it. It tires me too much."
"Does your father come and see you?" Mary ventured.
"Sometimes. Generally when I am asleep. He doesn't want to see me."
"Why?" Mary could not help asking again.
- Bởi tớ lúc nào cũng như thế này, ốm đau dặt dẹo và phải nằm suốt ngày. Cha tớ cũng không cho ai dỗ dành tớ. Bọn gia nhân càng không được phép bàn tàn về tớ. Nếu tớ sống, có lẽ tớ sẽ là một thằng gù, nhưng tớ sẽ không sống nổi đâu. Cha tớ ghét cái ý nghĩ rằng rồi tớ cũng sẽ giống như ông ấy.
- Trời ơi, ngôi nhà này mới kỳ dị làm sao!- Mary kêu lên- Một ngôi nhà kỳ dị quá thể! Mỗi một thứ là cả một bí mật. Các căn phòng khóa chặt, những khu vườn cũng khóa kín, và ngay cả cậu nữa! Cậu đã bị nhốt kín trong phòng chăng?
- Không. Tớ ở lì trong này bởi tớ chẳng muốn ra khỏi phòng làm gì. Di chuyển chỉ khiến tớ mệt lử.
- Cha cậu có hay đến thăm cậu không? – Mary đánh liều hỏi.
- Thỉnh thoảng. Thường thì vào lúc tớ đang ngủ. Ông ấy chẳng muốn gặp tớ.
- Tại sao? – Mary không thể không hỏi lại.
A sort of angry shadow passed over the boy's face.
"My mother died when I was born and it makes him wretched to look at me. He thinks I don't know, but I've heard people talking. He almost hates me."
"He hates the garden, because she died," said Mary half speaking to herself.
"What garden?" the boy asked.
Nét mặt thằng bé thoáng vẻ giận dữ.
- Mẹ tớ chết khi tớ vừa sinh ra, và điều đó khiến ông đau khổ mỗi khi nhìn thấy tớ. Ông cứ nghĩ rằng tớ không biết, nhưng tớ nghe thiên hạ bàn tán thế. Ông hầu như căm ghét tớ.
- Ông cũng ghét lây cả khu vườn, bởi vì bà đã chết,- Mary bảo, nửa như nói với chính mình.
- Khu vườn nào? – Thằng bé hỏi.
"Oh! just--just a garden she used to like," Mary stammered. "Have you been here always?" "Nearly always. Sometimes I have been taken to places at the seaside, but I won't stay because people stare at me. I used to wear an iron thing to keep my back straight, but a grand doctor came from London to see me and said it was stupid. He told them to take it off and keep me out in the fresh air. I hate fresh air and I don't want to go out."
- Ồ! Chỉ…chỉ là khu vườn mà mẹ cậu ưa lui tới. – Mary thì thào.- Thì ra cậu luôn ở đây thôi sao.
- Gần như luôn luôn. Đôi lần tớ được đưa tới những chỗ nghĩ bên bờ biển. nhưng tớ không muốn ở lại bởi ai ai cũng nhìn tớ chòng chọc. Tớ thường phải mang một vật bằng sắt để giữ cho lưng thẳng, nhưng rồi có lần một vị bác sĩ giỏi từ Luân Đôn đến thăm bệnh cho tớ, ông ấy bảo chuyện đó quả là ngu xuẩn. Ông sai họ gỡ nó ra và bắt tớ phải sống ngoài trời thoáng đãng. Tớ chúa ghét khí trời và chẳng muốn ra ngoài.
"I didn't when first I came here," said Mary. "Why do you keep looking at me like that?"
"Because of the dreams that are so real," he answered rather fretfully. "Sometimes when I open my eyes I don't believe I'm awake."
"We're both awake," said Mary. She glanced round the room with its high ceiling and shadowy corners and dim fire-light. "It looks quite like a dream, and it's the middle of the night, and everybody in the house is asleep--everybody but us. We are wide awake."
- Ngày đầu mới tới đây tớ cũng vậy,- Mary bảo,- Tại sao cậu cứ nhìn tớ chằm chằm như thế?
- Bởi vì những giấc mơ đó lại quá thực,- thằng bé trả lời, hơi có vẻ cáu kỉnh,- Có những lúc mở mắt rồi mà tớ vẫn không tin mình thức.
- Chúng ta đều đang thức đây,- Mary bảo. Nó liếc quanh gian phòng có trần cao, các góc phòng tôi tối trong ánh lửa mờ ảo,- Chuyện này cũng khá giống một giấc mơ. Cũng đã nửa đêm rồi, mọi người trong nhà đang ngủ cả, tất cả mọi người, trừ chúng ta. Chúng ta đang thức rõ rành rành.
"I don't want it to be a dream," the boy said restlessly.
Mary thought of something all at once.
"If you don't like people to see you," she began, "do you want me to go away?"
He still held the fold of her wrapper and he gave it a little pull.
"No," he said. "I should be sure you were a dream if you went. If you are real, sit down on that big footstool and talk. I want to hear about you."
- Tớ không muốn đây chỉ là một giấc mơ,- thằng bé nói một cách bồn chồn.
Ngay lập tức, Mary nghĩ ra một điều gì đó.
- Nếu như cậu không muốn ai trông thấy cậu, cậu có muốn tớ đi khỏi đây không?
Thằng bé vẫn cầm mảnh áo choàng của con bé trong tay, và thử kéo cho giãn ra.
- Không,- nó nói,- Tớ sẽ tin rằng cậu chỉ là một giấc mơ nếu cậu bỏ đi. Còn nếu cậu có thực thì hãy ngồi xuống chiếc ghế lớn để chăn này mà nói chuyện. Tớ rất muốn nghe về cậu.
Mary put down her candle on the table near the bed and sat down on the cushioned stool. She did not want to go away at all. She wanted to stay in the mysterious hidden-away room and talk to the mysterious boy.
"What do you want me to tell you?" she said.
He wanted to know how long she had been at Misselthwaite; he wanted to know which corridor her room was on; he wanted to know what she had been doing; if she disliked the moor as he disliked it; where she had lived before she came to Yorkshire.
Mary đặt cây nến của nó lên mặt bàn kê gần giường, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu bọc nệm. Con bé không muốn bỏ đi chút nào. Nó muốn nán lại trong gian phòng bí hiểm được giấu kín này để chuyện trò với một thằng bé cũng bí hiểm không kém.
- Cậu muốn tớ kể cậu nghe chuyện gì?
Thằng bé muốn biết nó đã ở Misselthwaite được bao lâu, phòng con bé nằm ở hành lang nào; nó còn muốn biết con bé đã làm được những gì; và liệu con bé có chán ghét cánh đồng hoang như nó không; và rồi con bé đã sống ở đâu trước khi đến Yorkshire.
She answered all these questions and many more and he lay back on his pillow and listened. He made her tell him a great deal about India and about her voyage across the ocean. She found out that because he had been an invalid he had not learned things as other children had. One of his nurses had taught him to read when he was quite little and he was always reading and looking at pictures in splendid books.
Con bé trả lời tất cả các câu hỏi của nó và còn nhiều hơn thế. Thằng bé kia ngã đầu trên gối lắng nghe. Nó bắt con bé kể cho nó nghe hàng lô hàng lốc chuyện về Ấn Độ cũng như chuyến vượt biển của Mary. Con bé nhận ra rằng bởi vì Colin là người tàn tật nên nó không học cùng những thứ với bọn trẻ khác. Một trong những bảo mẫu của nó đã dạy nó đọc từ khi còn rất nhỏ, và kể từ đó nó luôn đọc và ngắm các bức tranh trong các cuốn sách lộng lẫy.
Though his father rarely saw him when he was awake, he was given all sorts of wonderful things to amuse himself with. He never seemed to have been amused, however. He could have anything he asked for and was never made to do anything he did not like to do. "Everyone is obliged to do what pleases me," he said indifferently. "It makes me ill to be angry. No one believes I shall live to grow up."
Cho dù cha nó hiếm khi tới thăm lúc nó còn thức, nhưng Colin vẫn có đủ các thứ đồ chơi tuyệt vời để chơi. Mặc dầu vậy, nó dường như chẳng bao giờ thấy vui. Nó có thể có bất cứ thứ gì mà nó đòi hỏi và chưa bao giờ phải làm những gì nó không muốn.
- Ở đây, mọi người buộc phải làm đủ chuyện cho tớ vui,- nó nói một cách thờ ơ,- Tớ sẽ bị ốm thêm nếu tức giận. Không ai tin rằng tớ sẽ sống để mà lớn lên.
He said it as if he was so accustomed to the idea that it had ceased to matter to him at all. He seemed to like the sound of Mary's voice. As she went on talking he listened in a drowsy, interested way. Once or twice she wondered if he were not gradually falling into a doze. But at last he asked a question which opened up a new subject.
Nó nói như thể đã quen với cái ý nghĩ đó đến nỗi chẳng còn bận tâm gì nữa. Nó có vẻ thích giọng nói của Mary. Khi con bé tiếp tục nói, nó chăm chú lắng nghe với vẻ mặt mơ màng. Có lúc Mary tự nhủ có phải nó đang lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Nhưng cuối cùng, thằng bé hỏi một câu khiến câu chuyện mở sang một hướng khác.
"How old are you?" he asked.
"I am ten," answered Mary, forgetting herself for the moment, "and so are you."
"How do you know that?" he demanded in a surprised voice.
"Because when you were born the garden door was locked and the key was buried. And it has been locked for ten years."
Colin half sat up, turning toward her, leaning on his elbows.
"What garden door was locked? Who did it? Where was the key buried?" he exclaimed as if he were suddenly very much interested.
"It--it was the garden Mr. Craven hates," said Mary nervously. "He locked the door. No one--no one knew where he buried the key." "What sort of a garden is it?" Colin persisted eagerly.
"No one has been allowed to go into it for ten years," was Mary's careful answer.
- Cậu bao nhiêu tuổi rồi?- thằng bé hỏi.
- Mười tuổi,- Mary trả lời, lúc đó nó đã dường như quên khuấy bản thân- bằng đúng tuổi của cậu.
- Làm thế nào cậu biết được điều đó?- thằng bé hỏi vặn bằng giọng ngạc nhiên.
- Bởi vì khi cậu ra đời, cánh cửa khu vườn bị khóa lại, còn chiếc chìa khóa thì người ta đem vùi kín. Khu vườn ấy đã bị khóa suốt mười năm qua.
Colin nhỏm nửa người lên, quay đầu về phía con bé và tựa mình trên hai khuỷu tay.
- Cánh cửa khu vườn nào bị khóa? Ai đã làm việc ấy? Chiếc chìa bị vùi ở đâu? – Thằng bé thốt lên, bỗng nhiên nó tỏ ra hết sức quan tâm.
- Đó…đó chính là khu vườn mà ông Craven căm ghét,- Mary nói vẻ sợ hãi,- Ông đã khóa chặt cửa. Không ai…không ai biết chỗ ông chôn chiếc chìa khóa.
- Cái thứ vườn nào thế không biết? – Colin nhắc lại, vẻ háo hức.
- Không một ai được phép vào trong đó suốt mười năm qua,- Mary thận trọng đáp lời.
But it was too late to be careful. He was too much like herself. He too had had nothing to think about and the idea of a hidden garden attracted him as it had attracted her. He asked question after question. Where was it? Had she never looked for the door? Had she never asked the gardeners?
"They won't talk about it," said Mary. "I think they have been told not to answer questions."
"I would make them," said Colin.
Nhưng thận trọng thì cũng quá muộn rồi. Thằng bé tỏ ra thích thú chẳng kém gì Mary. Bao lâu nay chẳng có gì để mà quan tâm tới, cho nên cái ý nghĩ về một khu vườn được giấu kín thu hút nó, hệt như Mary lúc trước. Nó hỏi hết câu này sang câu khác. Khu vườn ở đâu? Mary chưa bao giờ tìm kiếm cánh cửa ấy à? Mary chưa hỏi những người làm vườn về chuyện đó sao?
- Họ chẳng chịu nói đâu, - Mary đáp, - Tớ nghĩ họ đã được dặn không được phép trả lời bất kỳ câu hòi nào.
- Tớ sẽ bắt bọn họ phải nói,- Colin bảo.
"Could you?" Mary faltered, beginning to feel frightened. If he could make people answer questions, who knew what might happen!
"Everyone is obliged to please me. I told you that," he said. "If I were to live, this place would sometime belong to me. They all know that. I would make them tell me."
- Cậu bắt được à? – Mary ngập ngừng, và bắt đầu cảm thấy sợ hãi. Nếu thằng bé có thể bắt được mọi người trả lời, ai mà biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra.
- Ở đây mọi người buộc phải làm vui lòng tớ. Tớ đã bảo cậu rồi đó. Nếu tớ sống được thì một ngày nào đó cả chốn này sẽ thuộc về tớ. Họ thừa biết điều đó. Chắc chắn tớ sẽ bắt họ phải nói.
Mary had not known that she herself had been spoiled, but she could see quite plainly that this mysterious boy had been. He thought that the whole world belonged to him. How peculiar he was and how coolly he spoke of not living.
"Do you think you won't live?" she asked, partly because she was curious and partly in hope of making him forget the garden.
Mary không biết bản thân nó cũng một dạo hư đốn, nhưng nó có thể nhận thấy rõ ràng thằng bé bí ẩn này cũng đang như thế: nó nghĩ rằng cả thế giới này thuộc về mình; nó mới thật là kỳ dị và cứ nhắc tới chuyện thôi không sống nữa mới thản nhiên làm sao.
- Cậu nghĩ cậu không sống nổi à? – Con bé hỏi, phần vì tò mò, phần vì hy vọng làm Colin quên đi chuyện khu vườn.
"I don't suppose I shall," he answered as indifferently as he had spoken before. "Ever since I remember anything I have heard people say I shan't. At first they thought I was too little to understand and now they think I don't hear. But I do. My doctor is my father's cousin. He is quite poor and if I die he will have all Misselthwaite when my father is dead. I should think he wouldn't want me to live."
"Do you want to live?" inquired Mary.
"No," he answered, in a cross, tired fashion. "But I don't want to die. When I feel ill I lie here and think about it until I cry and cry."
- Tớ không cho rằng mình có thể sống được,- thằng bé trả lời, vẫn hững hờ y như trước,- Kể từ khi tớ nhớ được mọi chuyện, tớ đã thấy người ta nói rằng tớ sẽ không sống được. Thoạt đầu, họ nghĩ tớ còn quá nhỏ để có thể hiểu được, còn bây giờ thì họ nghĩ tới không nghe thấy gì cả. Nhưng tớ biết hết. Bác sĩ của tớ là em họ của cha tớ. Ông ta nghèo rớt mùng tơi nên nếu tớ chết đi thì ông ta sẽ có cả trang viên Misselthwaite này khi cha tớ qua đời. Tớ vẫn nghĩ ông ta không muốn tớ sống.
- Thế cậu có muốn sống không? – Mary căn vặn.
- Không,- nó đáp lời với vẻ mệt mỏi buồn chán,- Nhưng tớ cũng không muốn chết. Khi cảm thấy ốm yếu, tớ nằm bệt ở đây suy nghĩ về chuyện đó cho tới khi chỉ còn biết khóc và khóc.
"I have heard you crying three times," Mary said, "but I did not know who it was. Were you crying about that?" She did so want him to forget the garden.
"I dare say," he answered. "Let us talk about something else. Talk about that garden. Don't you want to see it?"
"Yes," answered Mary, in quite a low voice.
"I do," he went on persistently. "I don't think I ever really wanted to see anything before, but I want to see that garden. I want the key dug up. I want the door unlocked. I would let them take me there in my chair. That would be getting fresh air. I am going to make them open the door."
- Tớ đã nghe thấy tiếng khóc ba lần, nhưng không biết là ai. Thì ra cậu khóc về chuyện đó hả? – Con bé hỏi, chỉ muốn Colin quên đi chuyện khu vườn.
- Hẳn rồi. Nhưng chúng ta hãy nói chuyện khác đi. Về khu vườn chẳng hạn. Cậu không muốn nhìn thấy nó à?
- Có chứ,- Mary trả lời bằng một giọng trầm hẳn xuống. - Tớ cũng vậy,- thằng bé tiếp tục một cách dai dẳng, - Trước đây tớ không nghĩ mình lại thích ngắm cái này cái nọ, nhưng bây giờ tớ muốn tận mắt thấy khu vườn ấy. Tớ muốn chiếc chìa phải được đào lên. Tớ muốn cánh cửa được mở ra. Tớ sẽ bắt đám gia nhân khiêng tớ trong chiếc ghế bành đó. Ngoài ấy, chắc không khí trong lành lắm. Và rồi tớ sẽ bắt họn họ phải mở cánh cửa ấy ra.
He had become quite excited and his strange eyes began to shine like stars and looked more immense than ever.
"They have to please me," he said. "I will make them take me there and I will let you go, too."
Mary's hands clutched each other. Everything would be spoiled--everything! Dickon would never come back. She would never again feel like a missel thrush with a safe-hidden nest.
"Oh, don't--don't--don't--don't do that!" she cried out.
He stared as if he thought she had gone crazy!
"Why?" he exclaimed. "You said you wanted to see it."
"I do," she answered almost with a sob in her throat, "but if you make them open the door and take you in like that it will never be a secret again."
He leaned still farther forward.
Nó trở nên thật kích động, đôi mắt kỳ lạ của nó lấp lánh như hai vì sao và trông lại càng mênh mông hơn bao giờ hết. - Bọn họ có bổn phận làm tớ hài lòng. Tớ sẽ bắt họ đưa tớ tới đó và tớ sẽ để cậu đi cùng.
Hai bàn tay Mary nắm chặt vào nhau. Mọi việc rồi sẽ hỏng hết cho mà xem, mọi việc. Dickon sẽ chẳng bao giờ quay lại nữa. Bản thân nó rồi cũng không bao giờ còn cái cảm giác của một con chim hét đang ẩn náu trong chiếc tổ an toàn nữa.
- Ôi, đừng…đừng…đừng làm vậy! – Con bé kêu lên. Thằng bé nhìn trừng trừng như thể nó nghĩ con bé đang phát điên!
- Sao thế? Cậu bảo cậu muốn nhìn thấy nó cơ mà?
- Đúng là tớ muốn vậy,- con bé trả lời, gần như đang thổn thức trong cổ họng,- nhưng cậu bắt họ mở cánh cửa ấy và khiêng cậu vào như vậy thì còn gì là một bí mật nữa. Thằng bé ngả hẳn người về phía trước.
"A secret," he said. "What do you mean? Tell me."
Mary's words almost tumbled over one another.
"You see--you see," she panted, "if no one knows but ourselves--if there was a door, hidden somewhere under the ivy--if there was--and we could find it; and if we could slip through it together and shut it behind us, and no one knew any one was inside and we called it our garden and pretended that--that we were missel thrushes and it was our nest, and if we played there almost every day and dug and planted seeds and made it all come alive--"
- Một bí mật,- nó nói,- Ý cậu định nói gì? Bảo cho tớ biết đi. Lời nói của Mary trở nên lộn xộn.
- Cậu cũng rõ…cậu cũng rõ…- nó thở hổn hển,- nếu không một ai hay biết ngoài chúng ta…nếu có một cánh cửa, ẩn đâu đó dưới đám thường xuân…nếu có…và chúng ta có thể tự tìm thấy nó, và nếu chúng ta cùng lách qua cánh cửa đó rồi khép nó lại sau lưng mình, thì đố ai biết được có người ở bên trong, đến lúc ấy ta sẽ gọi nó là khu vườn của ta và giả vờ rằng…rằng chúng mình là những con chim hét, còn khu vườn là chiếc tổ của chúng mình, và rồi nếu ngày nào chúng mình cũng được chơi đùa ở đó, tha hồ mà đào xới, trồng cây, gieo hạt và chăm cho chúng được sống…
"Is it dead?" he interrupted her.
"It soon will be if no one cares for it," she went on. "The bulbs will live but the roses--"
He stopped her again as excited as she was herself.
"What are bulbs?" he put in quickly.
"They are daffodils and lilies and snowdrops. They are working in the earth now--pushing up pale green points because the spring is coming."
"Is the spring coming?" he said. "What is it like? You don't see it in rooms if you are ill."
… - Chẳng lẽ nó chết à? – Thằng bé ngắt lời Mary. - Thì cũng chẳng mấy chốc, nếu không có người chăm sóc cho nó,- con bé nói tiếp,- các loại củ thì vẫn sống, trừ các nhánh hồng… Thằng bé ngắt lời và tỏ ra phấn khích chẳng kém gì Mary. - Các loại củ là cái gì?- Nó hỏi rất nhanh. - Chúng là thủy tiên hoa vàng, ly ly và hoa giọt tuyết. Lúc này, chúng đang cựa mình trong đất…nảy ra những mầm non xanh biếc vì mùa xuân đang tới. - Mùa xuân đang tới ư? Nó như thế nào? Tớ không thể thấy nó trong phòng khi đang ốm đau bệnh tật thế này.
"It is the sun shining on the rain and the rain falling on the sunshine, and things pushing up and working under the earth," said Mary. "If the garden was a secret and we could get into it we could watch the things grow bigger every day, and see how many roses are alive. Don't you. see? Oh, don't you see how much nicer it would be if it was a secret?"
- Ấy là lúc mặt trời chiếu sáng trong cơn mưa và mưa rơi trong ánh nắng, muôn vật trở mình cửa quậy dưới lòng đất,- Mary bảo,- Nếu khu vườn còn là một bí mật, thì chúng mình có thể lẻn vào trong ấy mà ngắm mọi thứ mỗi ngày một lớn dần, và xem có bao nhiêu khóm hồng còn sống. Cậu thấy không? Ôi, cậu không thấy sẽ tuyệt biết bao nếu nó còn là một bí mật hay sao?
He dropped back on his pillow and lay there with an odd expression on his face.
"I never had a secret," he said, "except that one about not living to grow up. They don't know I know that, so it is a sort of secret. But I like this kind better."
Thằng bé buông người xuống chiếc gối, nằm thần mặt ra đó. - Tớ chưa bao giờ có một bí mật nào cả, ngoài cái điều là không được sống mà lớn lên. Họ không biết rằng tớ cũng hiểu được điều đó, vì vậy đó cũng có thể coi là một bí mật. Nhưng tớ thích cái kiểu bí mật này hơn.
"If you won't make them take you to the garden," pleaded Mary, "perhaps--I feel almost sure I can find out how to get in sometime. And then--if the doctor wants you to go out in your chair, and if you can always do what you want to do, perhaps--perhaps we might find some boy who would push you, and we could go alone and it would always be a secret garden."
- Nếu cậu không bắt họ đưa cậu tới khu vườn đó,- Mary khẩn khoản,- thì có thể…tớ cảm thấy gần như chắc chắn rằng có ngày tớ sẽ khám phá ra cách để vào trong đó. Và nếu ông bác sĩ muốn cậu ra ngoài trong chiếc ghế của cậu, và nếu cậu có thể làm những gì cậu muốn làm…thì có lẽ…có lẽ chúng mình sẽ kiếm lấy một cậu bé đẩy xe cho cậu, như vậy chúng mình có thể ra đi một mình với nhau, và khu vườn đó sẽ mãi mãi là một khu vườn bí mật.
"I should--like--that," he said very slowly, his eyes looking dreamy. "I should like that. I should not mind fresh air in a secret garden."
- Tớ chắc chắn thích điều đó,- thằng bé nói thật chậm rãi, đôi mắt mơ màng,- Tớ chắc chắn thích điều đó. Tớ sẽ không cảm thấy phiền lòng với cái không khí trong lành trong một khu vườn bí mật đâu.
Mary began to recover her breath and feel safer because the idea of keeping the secret seemed to please him. She felt almost sure that if she kept on talking and could make him see the garden in his mind as she had seen it he would like it so much that he could not bear to think that everybody might tramp in to it when they chose.
Mary bắt đầu thở phào, cảm thấy nhẹ cả người. Hình như ý tưởng giữ gìn bí mật đã làm cho thằng bé khoái chí. Nó cảm thấy gần như chắc chắn rằng nếu cứ tiếp tục câu chuyện và làm cho thằng bé mường tượng ra khu vườn như nó đã thấy tận mắt thì thằng bé sẽ thích thú tới mức không thể chịu đựng nổi nếu có kẻ lẹ đột nhập vào trong, một khi chúng đã chọn cho riêng mình.
"I'll tell you what I think it would be like, if we could go into it," she said. "It has been shut up so long things have grown into a tangle perhaps."
He lay quite still and listened while she went on talking about the roses which might have clambered from tree to tree and hung down--about the many birds which might have built their nests there because it was so safe. And then she told him about the robin and Ben Weatherstaff, and there was so much to tell about the robin and it was so easy and safe to talk about it that she ceased to be afraid. The robin pleased him so much that he smiled until he looked almost beautiful, and at first Mary had thought that he was even plainer than herself, with his big eyes and heavy locks of hair.
- Bây giờ tớ sẽ kể cho cậu nghe tớ tưởng tượng nó sẽ như thế nào, nếu ta vào được trong đó nhé,- con bé nói. – Khu vườn đã bị khóa kín lâu đến vậy thì có lẽ mọi thứ mọc lộn xộn lắm…
Thằng bé nằm im thin thít lắng nghe, trong lúc Mary kể tiếp về các khóm hồng. Nó kể rằng biết đâu lúc này chúng chẳng bò từ cây này sang cây khác rồi rủ xuống, chim chóc biết đâu chẳng đang làm tổ ở trên ấy, bởi vì đó là nơi an toàn nhất. Đến đoạn nó kể cho thằng bé về con chim ức đỏ và lão Ben Weatherstaff, và có bao nhiêu chuyện đáng kể về con ức đỏ thì nó nói dễ dàng trôi chảy đến nỗi nó cũng cảm thấy sợ. Con chim ức đỏ đã làm thằng Colin thích thú quá đỗi, cứ mỉm cười suốt và trông đẹp trai hẳn lên, dù thoạt đầu Mary thấy thằng bé còn xấu xí hơn cả mình, với đôi mắt to và những lọn tóc nặng trĩu rủ trên vầng trán.


"I did not know birds could be like that," he said. "But if you stay in a room you never see things. What a lot of things you know. I feel as if you had been inside that garden."
She did not know what to say, so she did not say anything. He evidently did not expect an answer and the next moment he gave her a surprise.
"I am going to let you look at something," he said. "Do you see that rose-colored silk curtain hanging on the wall over the mantel-piece?"
Mary had not noticed it before, but she looked up and saw it. It was a curtain of soft silk hanging over what seemed to be some picture.
"Yes," she answered.
"There is a cord hanging from it," said Colin. "Go and pull it."
- Tớ quả không hình dung nỗi chim chóc lại như vậy. Nhưng, nếu cậu cứ ở lì trong phòng thì cậu sẽ chẳng thấy gì hết. Giờ cậu đã biết được bao thứ trên đời. Tớ có cảm tưởng như cậu đã từng vào trong khu vườn.
Mary không biết nói gì, vì thế nó chỉ im lặng. Thằng bé Colin rõ ràng cũng chẳng đợi câu trả lời, ngay lập tức nó làm Mary ngạc nhiên.
- Tớ định cho cậu xem cái này. Cậu có thấy tấm màn lụa màu hồng treo trên tường, phía trên bệ lò sưởi kia không?
Nãy giờ Mary không để ý tới tấm màn, nó ngước mắt lên và nhìn thấy vật đó. Một tấm màn bằng lụa mềm phủ lên một cái gì tựa như bức tranh.
- Có,- Con bé đáp.
- Có sợi dây treo ở đó đó - Colin bảo,- Cậu tới kéo nó đi.
Mary got up, much mystified, and found the cord. When she pulled it the silk curtain ran back on rings and when it ran back it uncovered a picture. It was the picture of a girl with a laughing face. She had bright hair tied up with a blue ribbon and her gay, lovely eyes were exactly like Colin's unhappy ones, agate gray and looking twice as big as they really were because of the black lashes all round them.
Mary đứng dậy, vô cùng tò mò. Nó tìm ra sợi dây. Khi nó kéo sợi dây, tấm màn lụa chuyển động, thu lại trên những chiếc khuyên tròn, để lộ ra một bức tranh. Đó là bức chân dung một phụ nữ có khuôn mặt tươi cười. Bà có mái tóc sáng màu được buộc bằng một dải ruy băng xanh. Đôi mắt vui vẻ đáng yêu của bà nom giống hệt đôi mắt bất hạnh của thằng Colin, cũng một màu xám mã não và trông còn to hơn thực với viền mi đen nhánh bao quanh.
"She is my mother," said Colin complainingly. "I don't see why she died. Sometimes I hate her for doing it."
"How queer!" said Mary.
"If she had lived I believe I should not have been ill always," he grumbled. "I dare say I should have lived, too. And my father would not have hated to look at me. I dare say I should have had a strong back. Draw the curtain again."
Mary did as she was told and returned to her footstool.
"She is much prettier than you," she said, "but her eyes are just like yours--at least they are the same shape and color. Why is the curtain drawn over her?"
He moved uncomfortably.
- Bà là mẹ tớ,- Colin nói giọng ca thán,- Tớ không rõ tại sao bà chết. Đôi khi tớ thấy hận bà vì việc đó.
- Ôi, kỳ quặc làm sao! – Mary kêu khẽ.
- Nếu bà còn sống, tớ tin rằng tớ sẽ không phải đau ốm liên miên thế này,- nó cáu kỉnh,- Tớ dám nói rằng mình cũng sẽ sống nữa. Và cha tớ hẳn sẽ không ghét phải nhìn thấy tớ. Tớ dám chắc tớ cũng sẽ có một cái lưng, khỏe mạnh. Thôi, cậu kéo tấm màn lại đi.
Mary làm theo lời nó rồi quay về chiếc ghế đẩu. - Bà đẹp hơn cậu nhiều, riêng đôi mắt nom giống hệt mắt cậu, ít ra là về hình dạng và màu sắc. Tại sao phải dùng tấm màn để che bức tranh?
Thằng bé cử động không được thoải mái lắm.
"I made them do it," he said. "Sometimes I don't like to see her looking at me. She smiles too much when I am ill and miserable. Besides, she is mine and I don't want everyone to see her." There were a few moments of silence and then Mary spoke.
"What would Mrs. Medlock do if she found out that I had been here?" she inquired.
"She would do as I told her to do," he answered. "And I should tell her that I wanted you to come here and talk to me every day. I am glad you came."
"So am I," said Mary. "I will come as often as I can, but"--she hesitated--"I shall have to look every day for the garden door."
- Tớ bảo bọn gia nhân làm thế,- thằng bé nói,- Đôi khi tớ không muốn bà nhìn tớ. Bà thì luôn mỉm cười trong khi tớ ốm đau khổ sở thế này. Ngoài ra, bà là của tớ và tớ không muốn bất kỳ kẻ nào được ngắm bà. Một thoáng im lặng, rồi Mary lên tiếng.
- Liệu bà Medlock sẽ làm gì nếu bà phát hiện ra tớ đã từng ở đây? – Con bé hỏi. - Bà ấy sẽ làm những gì tớ bảo bà ấy làm. Và tớ sẽ bảo bà ấy rằng tớ muốn cậu tới đây nói chuyện với tớ mỗi ngày. Tớ lấy làm mừng vì cậu đã tới.
- Tớ cũng vậy. Tớ sẽ thường xuyên tới khi nào có thể, nhưng…- con bé lưỡng lự,- hằng ngày tớ còn phải tìm kiếm cánh cửa khu vườn.
"Yes, you must," said Colin, "and you can tell me about it afterward."
He lay thinking a few minutes, as he had done before, and then he spoke again.
"I think you shall be a secret, too," he said. "I will not tell them until they find out. I can always send the nurse out of the room and say that I want to be by myself. Do you know Martha?"
"Yes, I know her very well," said Mary. "She waits on me."
He nodded his head toward the outer corridor.
- Ừ, cậu phải thế mới được,- Colin bảo,- rồi cậu có thể kể cho tớ nghe về nó sau đó. Nó nằm suy nghĩ mấy phút như lúc trước, rồi lại lên tiếng. - Tớ cho rằng cả cậu cũng là một điều bí mật. Tớ sẽ không kể cho mọi người cho tới khi họ phát hiện ra. Tớ vẫn thường cho cô bảo mẫu ra khỏi phòng, bảo rằng tớ muốn ở một mình. Cậu có biết Martha không?
- Có chứ, tớ biết chị ấy rất rõ là đằng khác, - Mary bảo,- Chị ấy phục vụ tớ mà.
Colin hất hàm về phía ngoài hành lang.
"She is the one who is asleep in the other room. The nurse went away yesterday to stay all night with her sister and she always makes Martha attend to me when she wants to go out. Martha shall tell you when to come here."
Then Mary understood Martha's troubled look when she had asked questions about the crying.
"Martha knew about you all the time?" she said.
"Yes; she often attends to me. The nurse likes to get away from me and then Martha comes."
"I have been here a long time," said Mary. "Shall I go away now? Your eyes look sleepy."
"I wish I could go to sleep before you leave me," he said rather shyly.
"Shut your eyes," said Mary, drawing her footstool closer, "and I will do what my Ayah used to do in India. I will pat your hand and stroke it and sing something quite low."
- Chị ấy là người ngủ ở phòng bên cạnh. Cô bảo mẫu đi vắng từ hôm qua và ngủ lại qua đêm với em gái. Cô ấy thường bảo Martha trông nom tớ mỗi khi muốn đi đâu đó. Martha sẽ báo cho cậu khi nào nên đến đây.
Mary bỗng vỡ lẽ buồn rầu của Martha mỗi bận nó hỏi chị về tiếng khóc đó.
- Martha đã biết cậu suốt thời gian qua à? – Con bé hỏi.
- Phải, chị ấy thường xuyên chăm sóc tớ. Còn cô bảo mẫu thì chỉ muốn thoát khỏi tớ, mỗi lần như thế Martha lại tới.
- Tớ ở đây quá lâu rồi,- Mary bảo,- Bây giờ tớ đi được chứ? Mắt cậu díp cả lại kìa.
- Ước gì tớ ngủ được trước lúc cậu bỏ tớ mà đi,- nó nói với vẻ ngượng ngùng.
- Nhắm mắt lại nào,- Mary vừa nói, vừa kéo chiếc ghế đẩu lại gần,- tớ sẽ làm những gì mà Ayah của tớ vẫn làm ở Ấn Độ cho cậu xem. Để tớ vỗ nhẹ bàn tay cậu, vuốt ve thế này rồi hát khẽ cho cậu nghe nhé.
"I should like that perhaps," he said drowsily.
Somehow she was sorry for him and did not want him to lie awake, so she leaned against the bed and began to stroke and pat his hand and sing a very low little chanting song in Hindustani.
"That is nice," he said more drowsily still, and she went on chanting and stroking, but when she looked at him again his black lashes were lying close against his cheeks, for his eyes were shut and he was fast asleep. So she got up softly, took her candle and crept away without making a sound.
- Chắc tớ sẽ thích lắm đấy,- thằng bé nói trong cơn ngái ngủ.
Không rõ tại sao, Mary cảm thấy thương thằng Colin và không muốn nó phải trằn trọc, thế là con bé liền ngã người vào thành giường và bắt đầu xoa bàn tay nó, miệng khẽ hát một bài thánh ca bằng tiếng Hindu.
- Hay quá,- thằng bé nói trong cơn mơ màng.
Mary vẫn tiếp tục hát và xoa nhẹ tay cho nó. Khi Mary nhìn Colin lần nữa thì đã thấy những sợi lông mi đen của nó rợp xuống đôi má, nó đã nhắm nghiền mắt, chìm nhanh vào giấc ngủ. Con bé bèn nhẹ nhàng đứng dậy, cầm cây nến rồi rón rén đi ra không một tiếng động.






CHAPTER 14

Chapter XIV: A YOUNG RAJAH
Chương 14: Vị TIểU VƯƠNG TRẻ TUổI
The moor was hidden in mist when the morning came, and the rain had not stopped pouring down. There could be no going out of doors. Martha was so busy that Mary had no opportunity of talking to her, but in the afternoon she asked her to come and sit with her in the nursery. She came bringing the stocking she was always knitting when she was doing nothing else.
"What's the matter with thee?" she asked as soon as they sat down. "Tha' looks as if tha'd somethin' to say."
"I have. I have found out what the crying was," said Mary.
Vào buổi sáng, cánh đồng hoang vẫn còn chìm đắm trong sương mù và mưa vẫn không ngừng trút xuống. Thực khó lòng ra khỏi nhà lúc này. Martha thì bận rộn đến nỗi Mary chẳng có dịp mà trò chuyện với chị, nhưng chiều hôm ấy nó gọi chị đến ngồi với nó trong phòng trẻ. Chị tới, mang theo chiếc bít tất chị vẫn đan mỗi khi không có việc gì khác để làm.
- Cô có chuyện gì đấy? – Chị hỏi ngay lúc cả hai vừa ngồi xuống. – Có vẻ cô đang có chuyện muốn nói thì phải.
- Đúng vậy. Tôi đã khám phá ra tiếng khóc ấy là gì. – Mary bảo.
Martha let her knitting drop on her knee and gazed at her with startled eyes.
"Tha' hasn't!" she exclaimed. "Never!"
"I heard it in the night," Mary went on. "And I got up and went to see where it came from. It was Colin. I found him."
Martha's face became red with fright.
"Eh! Miss Mary!" she said half crying. "Tha' shouldn't have done it--tha' shouldn't! Tha'll get me in trouble. I never told thee nothin' about him--but tha'll get me in trouble. I shall lose my place and what'll mother do!"
"You won't lose your place," said Mary. "He was glad I came. We talked and talked and he said he was glad I came."
Martha buông đồ đan của chị xuống đầu gối, ngước nhìn con bé bằng đôi mắt hốt hoảng.
- Cô không được! – Chị thốt lên – Không bao giờ được! - Tôi đã nghe thấy nó trong đêm, - Mary tiếp tục. – Tôi bèn ngồi dậy và đi xem nó vọng từ đâu tới. Thì ra là Colin. Tôi đã tìm ra cậu ấy. Khuôn mặt Martha đỏ bừng pha lẫn sợ hãi. - Ôi! Cô Mary! – Chị nói nửa như khóc. – Cô không được phép làm điều ấy, cô không được! Cô sẽ gây cho tôi bao rắc rối. Tôi chưa bao giờ nói với cô về cậu ấy… nhưng cô sẽ đẩy tôi vào rắc rối đấy. Tôi sẽ bị mất việc và rồi mẹ sẽ ra sao! - Chị chẳng việc gì phải mất việc, - Mary bảo. – Cậu ấy còn mừng là đằng khác. Chúng tôi đã nói chuyện suốt, cậu ấy bảo cậu ấy rất mừng vì tôi đã đến.
"Was he?" cried Martha. "Art tha' sure? Tha' doesn't know what he's like when anything vexes him. He's a big lad to cry like a baby, but when he's in a passion he'll fair scream just to frighten us. He knows us daren't call our souls our own."
"He wasn't vexed," said Mary. "I asked him if I should go away and he made me stay. He asked me questions and I sat on a big footstool and talked to him about India and about the robin and gardens. He wouldn't let me go. He let me see his mother's picture. Before I left him I sang him to sleep."
- Cậu ấy mừng?- Martha kêu tướng lên. – Cô có chắc không đấy? Cô còn chưa biết cậu ấy sẽ như thế nào khi có điều gì làm cậu ấy bực mình. Lớn tướng rồi mà vẫn khóc lóc như con nít, thế nhưng vào những lúc kích động cậu ấy lại gào thét dễ sợ làm mọi người chết khiếp. Cậu ấy thừa biết mọi người không ai dám phàn nàn, ca than.
- Cậu ấy không bực mình đâu. – Mary bảo. – Khi tôi hỏi xem liệu tôi đã đi được chưa, cậu ấy còn bảo tôi ở lại. Cậu ấy đã hỏi tôi rất nhiều, và tôi ngồi vào chỗ chiếc ghế đẩu lớn, kể cho cậu ấy nghe về Ấn Độ, về chim ức đỏ và khu vườn. Cậu ấy vẫn không chịu để tôi ra về. Cậu ấy còn cho tôi xem bức vẽ chân dung mẹ mình nữa. Trước khi đi, tôi còn hát ru cho cậu ấy ngủ.
Martha fairly gasped with amazement.
"I can scarcely believe thee!" she protested. "It's as if tha'd walked straight into a lion's den. If he'd been like he is most times he'd have throwed himself into one of his tantrums and roused th' house. He won't let strangers look at him."
"He let me look at him. I looked at him all the time and he looked at me. We stared!" said Mary.
Martha há hốc miệng vì kinh ngạc.
- Tôi khó mà tin nổi cô! – Chị phản đối. – Chẳng khác nào cô bước thẳng vào hang hùm. Gặp phải lúc cậu ấy nổi cơn tam bành và làm âm ĩ cả nhà thì khốn. Cậu ấy không ưa người lạ nhìn mình đâu.
- Vậy mà cậu ấy đã để tôi nhìn thấy đấy. Suốt thời gian ấy, tôi nhìn cậu và cậu cũng nhìn tôi. Chúng tôi cứ chằm chằm nhìn nhau! – Mary bảo.
"I don't know what to do!" cried agitated Martha. "If Mrs. Medlock finds out, she'll think I broke orders and told thee and I shall be packed back to mother."
"He is not going to tell Mrs. Medlock anything about it yet. It's to be a sort of secret just at first," said Mary firmly. "And he says everybody is obliged to do as he pleases."
- Tôi không còn biết phải làm gì đây! – Martha kêu lên vẻ kích động. – Nếu bà Medlock phát hiện ra, bà ấy sẽ cho rằng tôi dám vi phạm luật lệ mà để cho cô biết, và tôi sẽ được gửi trả lại cho mẹ tôi ngay tức khắc.
- Cậu ấy không có ý định kể cho bà Medlock bất cứ điều gì. Trước hết đây là một bí mật. – Mary nói như đinh đóng cột. – Và cậu ấy bảo mọi người buộc phải làm những gì cậu ấy muốn.
"Aye, that's true enough--th' bad lad!" sighed Martha, wiping her forehead with her apron.
"He says Mrs. Medlock must. And he wants me to come and talk to him every day. And you are to tell me when he wants me."
"Me!" said Martha; "I shall lose my place--I shall for sure!"
"You can't if you are doing what he wants you to do and everybody is ordered to obey him," Mary argued.
"Does tha' mean to say," cried Martha with wide open eyes, "that he was nice to thee!"
"I think he almost liked me," Mary answered.
"Then tha' must have bewitched him!" decided Martha, drawing a long breath.
- Hừ, thế là đủ, cái cậu này đến tệ!- Martha thở dài và lấy tạp dề lau vâng trán. - Cậu ấy bảo rằng bà Medlock phải nghe lời. Cậu ấy còn muốn tôi đến thăm hàng ngày và nói chuyện với cậu. Chính chị sẽ là người báo cho tôi khi cậu ấy muốn tôi đến.
- Tôi ư! – Martha kêu. – Để rồi tôi sẽ mất việc… chắc chắn vậy!
- Chị chẳng can hệ gì nếu chị làm những gì cậu ấy muốn chị làm và mọi người đều có bổn phận vâng lời cậu ấy, - Mary lý sự.
- Ý cô muốn nói, - Martha kêu to với đôi mắt tròn xoe, - rằng đối với cô, cậu ấy thật dễ thương!
- Tôi nghĩ cậu ấy hầu như rất thích tôi.
- Hẳn cô đã bỏ bùa mê cho cậu ấy rồi! – Martha cả quyết nói và hít một hơi dài.
"Do you mean Magic?" inquired Mary. "I've heard about Magic in India, but I can't make it. I just went into his room and I was so surprised to see him I stood and stared. And then he turned round and stared at me. And he thought I was a ghost or a dream and I thought perhaps he was. And it was so queer being there alone together in the middle of the night and not knowing about each other. And we began to ask each other questions. And when I asked him if I must go away he said I must not."
- Chị muốn nói đến phép thuật hả? – Mary hỏi vặn – Tôi từng nghe về Phép thuật hồi ở Ấn Độ, nhưng tôi có biết làm đâu . Vừa mới bước vào phòng cậu ấy, tôi đã ngạc nhiên đến nỗi chỉ biết đừng ngây ra đó mà nhìn chòng chọc. Thế rồi cậu ấy quay lại nhìn tôi đăm đăm. Cậu ấy ngỡ tôi là một hồn ma hay một giấc mộng, còn tôi nghĩ có lẽ cậu ấy cũng thế. Và thật kỳ quặc là chúng tôi đã ngồi cùng nhau giữa đêm khuya mà chưa từng biết gì về nhau . Chúng tôi bắt đầu hỏi nhau những chuyện khác , cho tới khi tôi bảo cậu ấy rằng đã đến lúc tôi phải đi thì cậu ấy vẫn ngăn lại.
"Th' world's comin' to a end!" gasped Martha.
"What is the matter with him?" asked Mary.
"Nobody knows for sure and certain," said Martha. "Mr. Craven went off his head like when he was born. Th' doctors thought he'd have to be put in a 'sylum. It was because Mrs. Craven died like I told you. He wouldn't set eyes on th' baby. He just raved and said it'd be another hunchback like him and it'd better die."
"Is Colin a hunchback?" Mary asked. "He didn't look like one."
- Vậy là sắp tới ngày tận thế rồi! – Martha hổn hển.
- Có chuyện gì với cậu ấy thế? – Mary hỏi.
- Không ai rõ nữa, - Martha đáp. – Ông Craven trở nên không bình thường từ khi cậu ấy chào đời. Bác sĩ cho rằng ông ấy có vấn đề về tâm lý. Chỉ vì bà Craven đã chết như tôi đã kể cho cô. Ông ấy không thèm để mắt tới đứa bé nữa. Ông ấy nói năng mê sảng, bảo lại thêm một thằng gù nữa giống ông ra đời và tốt hơn hết là nó chết đi cho rảnh nợ.
- Thì ra Colin là người gù? – Mary hỏi. – Cậu ấy chẳng giống một người gù tẹo nào.
"He isn't yet," said Martha. "But he began all wrong. Mother said that there was enough trouble and raging in th' house to set any child wrong. They was afraid his back was weak an' they've always been takin' care of it--keepin' him lyin' down and not lettin' him walk. Once they made him wear a brace but he fretted so he was downright ill. Then a big doctor came to see him an' made them take it off. He talked to th' other doctor quite rough--in a polite way. He said there'd been too much medicine and too much lettin' him have his own way."
"I think he's a very spoiled boy," said Mary.
- Cậu ấy đâu đến nỗi thế, - Martha bảo. – Nhưng cậu ấy bắt đầu xuống sức rồi. Mẹ tôi bảo đã có quá nhiều buồn rầu và đau đớn trong ngôi nhà này, khiến bất kỳ đứa trẻ nào cũng phải xuống sức. Họ sợ lưng cậu bé yếu ớt nên luôn để tâm chăm sóc cậu, bắt cậu nằm, không cho đi lại. Có dạo họ còn bắt cậu mang một cái nẹp chống, nhưng cậu ấy khổ sở cáu kỉnh đến nỗi đâm ra đổ bệnh. Rồi một ông bác sĩ có tiếng đến thăm bệnh cho cậu, và bắt họ tháo cái nẹp ra. Ông ấy nói với các thầy thuốc khác khá thô bạo, dù vẫn theo kiểu lịch sự. Ông ấy bảo bây giờ có cơ man là thuốc chữa bệnh, cứ để ông ấy chữa theo cách của mình.
- Tôi cho rằng cậu ấy quá được nuông chiều. – Mary bảo.
"He's th' worst young nowt as ever was!" said Martha. "I won't say as he hasn't been ill a good bit. He's had coughs an' colds that's nearly killed him two or three times. Once he had rheumatic fever an' once he had typhoid. Eh! Mrs. Medlock did get a fright then. He'd been out of his head an' she was talkin' to th' nurse, thinkin' he didn't know nothin', an' she said, `He'll die this time sure enough, an' best thing for him an' for everybody.' An' she looked at him an' there he was with his big eyes open, starin' at her as sensible as she was herself. She didn't know wha'd happen but he just stared at her an' says, `You give me some water an' stop talkin'.'"
- Cậu ấy là đứa trẻ bất hạnh nhất từ trước tới giờ! – Martha tiếp tục. – tôi không định nói rằng cậu ấy không ốm yếu. Đã vài lần cậu ấy bị ho và cảm lạnh suýt chết. Một bận, cậu ấy sốt vì thấp khớp, bận khác thì bị thương hàn. Chà! Bà Medlock sợ xanh cả mặt. Lúc cậu ấy đương bất tỉnh, bà ấy nói với cô bảo mẫu, cứ tưởng cậu ấy không biết gì: “Chắc chắn nó sẽ không qua khỏi lần này, mà như thế lại tốt hơn cho nó và mọi người”. Nói xong bà nhìn cậu. Cậu ấy vẫn nằm đó, đôi mắt to liền mở ra, chằm chằm nhìn bà, tỉnh táo. Bà Medlock không biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ thấy cậu giương mắt nhìn mình và bảo: “ Bà cho tôi ít nước và đừng nói nữa”.
"Do you think he will die?" asked Mary.
"Mother says there's no reason why any child should live that gets no fresh air an' doesn't do nothin' but lie on his back an' read picture-books an' take medicine. He's weak and hates th' trouble o' bein' taken out o' doors, an' he gets cold so easy he says it makes him ill."
Mary sat and looked at the fire. "I wonder," she said slowly, "if it would not do him good to go out into a garden and watch things growing. It did me good."
- Người ta cho rằng cậu ấy sắp chết à? – Mary hỏi.
- Mẹ tôi vẫn bảo có lý nào một đứa trẻ lại không cần tới khí trời trong lành, và chẳng làm gì ngoài nằm dài lưng, đọc truyện tranh và uống thuốc. Cậu ấy ốm đau quặt quẹo và căm ghét bị mang ra khỏi cửa. Cậu cũng dễ bị nhiễm lạnh đến nỗi cậu bảo đó là nguyên do làm cho cậu ốm.
Mary ngồi nhìn ngọn lửa.
- Tôi vẫn tự hỏi, - con bé chậm rãi nói, - sao cậu ấy không ra ngoài vườn mà ngắm cây cối mọc lên có hơn không. Điều đó đã làm tôi khỏe ra đấy.
"One of th' worst fits he ever had," said Martha, "was one time they took him out where the roses is by the fountain. He'd been readin' in a paper about people gettin' somethin' he called `rose cold' an' he began to sneeze an' said he'd got it an' then a new gardener as didn't know th' rules passed by an' looked at him curious. He threw himself into a passion an' he said he'd looked at him because he was going to be a hunchback. He cried himself into a fever an' was ill all night."
- Một trong những lần tồi tệ nhất của cậu ấy, - Martha nói, - là vào cái dịp họ đưa cậu ấy ra chỗ khóm hồng bên đài phun nước. Lúc ấy, cậu đang đọc trong một tờ báo về những người mắc một chứng bệnh mà cậu gọi là “sốt dị ứng do phấn hoa”, và thế là cậu bắt đầu hắt hơi và bảo cậu đã bị đúng như thế. Ngay lúc ấy, một người mới vào làm vườn đi ngang qua, anh ta không biết luật lệ nơi đây nên cứ nhìn cậu hết sức hiếu kỳ. Cậu liền nổi giận đùng đùng và bảo rằng anh ta nhìn cậu vì cậu sắp trở thành một thằng gù. Cậu kêu thét lên, sốt đùng đùng rồi ốm suốt đêm.
"If he ever gets angry at me, I'll never go and see him again," said Mary.
"He'll have thee if he wants thee," said Martha. "Tha' may as well know that at th' start."
Very soon afterward a bell rang and she rolled up her knitting.
"I dare say th' nurse wants me to stay with him a bit," she said. "I hope he's in a good temper."
She was out of the room about ten minutes and then she came back with a puzzled expression.
- Cậu ấy mà tức giận với tôi, tôi sẽ chẳng đến thăm nữa đâu. – Mary nói.
- Cô sẽ phải đến nếu cậu ấy muốn, - Martha bảo. – Có thể cô chỉ gặp may buổi đầu thôi.
Ngay sau đấy có tiếng chuông rung, chị cuốn đám đồ đan dở lại. - Tôi đoán chắc cô bảo mẫu muốn tôi ở bên cậu ấy một lát đây. Hy vọng cậu ấy đang dễ tính. Chị ra khỏi phòng khoảng mươi phút rồi quay lại với vẻ bối rối.
"Well, tha' has bewitched him," she said. "He's up on his sofa with his picture-books. He's told the nurse to stay away until six o'clock. I'm to wait in the next room. Th' minute she was gone he called me to him an' says, `I want Mary Lennox to come and talk to me, and remember you're not to tell any one.' You'd better go as quick as you can."
Mary was quite willing to go quickly. She did not want to see Colin as much as she wanted to see Dickon; but she wanted to see him very much.
- Chà, cô đã bỏ bùa cậu ấy hả, - chị nói. – Cậu đang ngồi trên ghế sofa với cuốn truyện tranh. Cậu bảo cô bảo mẫu có thể đi đâu đó cho tới sáu giờ. Tôi đợi ở phòng bên cạnh. Vào lúc cô ấy đi khỏi, cậu ấy gọi tôi tới và bảo: “Tôi muốn Mary Lennox tới đây và nói chuyện với tôi, và nhớ là không được kể lại với bất kỳ ai đâu đấy”. Tốt nhất là cô nên đi ngay đi.
Mary cũng muốn đi ngay. Tuy không háo hức gặp Colin như gặp Dickon, nhưng nó cũng thích gặp lại Colin lắm.
There was a bright fire on the hearth when she entered his room, and in the daylight she saw it was a very beautiful room indeed. There were rich colors in the rugs and hangings and pictures and books on the walls which made it look glowing and comfortable even in spite of the gray sky and falling rain. Colin looked rather like a picture himself. He was wrapped in a velvet dressing-gown and sat against a big brocaded cushion. He had a red spot on each cheek.
"Come in," he said. "I've been thinking about you all morning."
Ngọn lửa cháy rừng rực trong lò sưởi khi nó tiến vào phòng thằng bé, và trong ánh sang ban ngày con bé nhận căn phòng quả thực là đẹp. Màu sắc rực rỡ trên các tấm thảm trải sàn, thảm treo tường, các bức tranh và sách trên tường khiến căn phòng trông thật vui tươi và dễ chịu, ngay cả giữa lúc bầu trời xám xịt và mưa rơi sùi sụt.Colin trông cũng khá giống một bức chân dung. Nó được ủ kín trong chiêc áo khóac ngoài bằng nhung, ngồi tựa lưng vào một chiếc nệm bọc gấm thêu to tướng. Hai má nó đỏ lựng.
- Mời cậu vào. Tớ đã nghĩ về cậu suốt buổi sáng.
"I've been thinking about you, too," answered Mary. "You don't know how frightened Martha is. She says Mrs. Medlock will think she told me about you and then she will be sent away."
He frowned.
"Go and tell her to come here," he said. "She is in the next room."
Mary went and brought her back. Poor Martha was shaking in her shoes. Colin was still frowning.
"Have you to do what I please or have you not?" he demanded.
- Tớ cũng nghĩ về cậu, - Mary trả lời. – Cậu không thể hình dung nổi chị Martha đã sợ hãi đến mức nào đâu. Chị ấy bảo bà Medlock sẽ biết chị ấy kể với tớ vẻ cậu, rồi chị ấy sẽ bị đuổi việc.
Thằng bé cau mày. - Cậu hãy đi ra bảo chị ấy vào đây. Chị ấy đang ở phòng bên.
Mary ra ngoài rồi đưa Martha vào. Chị Martha đáng thương đang run lấy bẩy cả người. Colin vẫn cau mày.
- Chị có muốn làm những việc để tôi hài lòng không? – Nó nói như ra lệnh.
"I have to do what you please, sir," Martha faltered, turning quite red.
"Has Medlock to do what I please?"
"Everybody has, sir," said Martha.
"Well, then, if I order you to bring Miss Mary to me, how can Medlock send you away if she finds it out?"
"Please don't let her, sir," pleaded Martha.
"I'll send her away if she dares to say a word about such a thing," said Master Craven grandly. "She wouldn't like that, I can tell you."
"Thank you, sir," bobbing a curtsy, "I want to do my duty, sir."
- Tôi phải làm những thứ khiến cậu hài lòng, thưa cậu.- Martha ngập ngừng, mặt đỏ lên. - Thế bà Medlock có phải làm những gì để tôi hài lòng không?
- Mọi người đều phải thế, thưa cậu. – Martha nói.
- Hừ, vậy thì, nếu tôi ra lệnh cho chị đưa Mary tới cho tôi, thì làm sao bà Medlock dám đuổi chị nếu bà ta phát hiện ra việc này?
- Làm ơn đừng để bà ấy biết, thưa cậu. – Martha khẩn khoản.
- Tôi sẽ đuổi bà ấy ngay tức khắc nếu bà ấy dám nói một lời về những chuyện này, - cậu chủ Craven đĩnh đạc tuyên bố. – Bà ấy chẳng muốn điều đó đâu, tôi có thể khẳng định với chị như vậy.
- Xin cảm ơn cậu, - chị khẽ nhún gối. – Tôi muốn được làm tròn phận sự của mình, thưa cậu.
"What I want is your duty" said Colin more grandly still. "I'll take care of you. Now go away."
When the door closed behind Martha, Colin found Mistress Mary gazing at him as if he had set her wondering.
"Why do you look at me like that?" he asked her. "What are you thinking about?"
"I am thinking about two things."
"What are they? Sit down and tell me."
- Những gì tôi muốn là phận sự của chị. – Colin nói, mỗi lúc một rành mạch đâu ra đấy. – Từ nay tôi sẽ để tâm đến chị. Bây giờ thì đi đi.
Khi cửa đã khép lại sau lưng Martha, Colin nhận thấy Mary đang nhìn nó chằm chằm như thể nó đã khiến con bé ngạc nhiên lắm.
- Tại sao cậu lại nhìn tớ như vậy? Cậu đang nghĩ gì?
- Tớ đang nghĩ về hai điều.
- Điều gì nào? Ngồi xuống kể tớ nghe đi.
"This is the first one," said Mary, seating herself on the big stool. "Once in India I saw a boy who was a Rajah. He had rubies and emeralds and diamonds stuck all over him. He spoke to his people just as you spoke to Martha. Everybody had to do everything he told them--in a minute. I think they would have been killed if they hadn't."
"I shall make you tell me about Rajahs presently," he said, "but first tell me what the second thing was."
"I was thinking," said Mary, "how different you are from Dickon."
- Điều thứ nhất là, - Mary vừa nói vừa ngồi xuống chiếc ghế đẩu to.
– Có lần ở Ấn Độ tớ đã gặp một thằng bé vốn là một tiểu vương. Khắp người nó đính đầy ngọc rubi, ngọc lục bảo và kim cương. Nó nói với thần dân của nó y như cậu nói với Martha vậy. Ai ai cũng phải làm mọi việc mà nó bảo, ngay tức khắc. Tớ nghĩ họ sẽ bị giết nếu họ dám trái lời.
- Tớ sẽ bắt cậu phải kể cho tớ nghe về các vị tiểu vương ngay, nhưng trước hết hãy nói cho tớ điều thứ hai là gì.
- Tớ đang nghĩ, cậu và Dickon mới khác nhau làm sao.
"Who is Dickon?" he said. "What a queer name!"
She might as well tell him, she thought she could talk about Dickon without mentioning the secret garden. She had liked to hear Martha talk about him. Besides, she longed to talk about him. It would seem to bring him nearer.
- Dickon là ai? Cái tên nghe kỳ thế!
Nó có thể kể cho thằng bé nghe về Dickon lắm chứ, con bé nghĩ. Nó có thể kể về Dickon mà không hề nhắc tới khu vườn bí mật. Chính nó cũng thích nghe Martha kể về Dickon. Hơn thế, nó thích nói về thằng bé. Điều ấy dường như mang Dickon lại gần nó hơn.
"He is Martha's brother. He is twelve years old," she explained. "He is not like any one else in the world. He can charm foxes and squirrels and birds just as the natives in India charm snakes. He plays a very soft tune on a pipe and they come and listen."
There were some big books on a table at his side and he dragged one suddenly toward him. "There is a picture of a snake-charmer in this," he exclaimed. "Come and look at it"
The book was a beautiful one with superb colored illustrations and he turned to one of them.
"Can he do that?" he asked eagerly.
- Cậu ấy là em trai chị Martha. Cậu ấy mười hai tuổi, - nó giải thích, - cậu ấy chẳng giống bất kỳ ai trên thế giới này. Cậu ấy có thể mê hoặc các loài cáo, sóc và chim choc chẳng khác gì những người Ấn Độ mê hoặc lũ rắn của họ. Khi cậu ấy cất tiếng sáo nhẹ nhàng thì chúng kéo tới lắng nghe. Có mấy quyển sách to tướng trên bàn cạnh chỗ nó, thằng Colin đột ngột kéo một quyển lại phía mình.
- Trong sách này cũng có bức tranh một người dụ rắn. Đến mà xem. Cuốn sách này quả là đẹp tuyệt vời, với những hình minh họa đủ các sắc màu. Thằng bé trở lại câu chuyện của mình.
- Cậu ấy có thể làm được thế kia à? – Nó hỏi một cách háo hức.
"He played on his pipe and they listened," Mary explained. "But he doesn't call it Magic. He says it's because he lives on the moor so much and he knows their ways. He says he feels sometimes as if he was a bird or a rabbit himself, he likes them so. I think he asked the robin questions. It seemed as if they talked to each other in soft chirps."
Colin lay back on his cushion and his eyes grew larger and larger and the spots on his cheeks burned.
- Lúc ấy cậu thổi sáo, chúng đều lắng nghe, - Mary giải thích. Nhưng Dickon không gọi đó là ma thuật. Cậu ấy bảo, sở dĩ được như vậy là vì cậu đã sống trên đồng hoang quá lâu nên hiểu rõ tính nết của chúng. Cậu còn bảo có lúc cậu cảm thấy chính mình như một con chim hoặc con thỏ, bởi đã yêu chúng đến vậy. Tôi nghĩ cậu ấy đã hỏi con chim ức đỏ vài điều. Dường như họ đã dùng những tiếng líu ríu thật nhẹ ngàng để nói chuyện cùng nhau.
Colin ngả lưng trên tấm nệm, đôi mắt nó mỗi lúc một mở rộng và hai má nó ửng hồng.
"Tell me some more about him," he said.
"He knows all about eggs and nests," Mary went on. "And he knows where foxes and badgers and otters live. He keeps them secret so that other boys won't find their holes and frighten them. He knows about everything that grows or lives on the moor."
"Does he like the moor?" said Colin. "How can he when it's such a great, bare, dreary place?"
- Cậu ấy biết tất thẩy mọi điều về trứng chim và tổ chim, - Mary tiếp tục. – Cậu ấy còn rõ bọ cáo, lửng và rái cá sống ở đâu. Cậu ấy giữ bí mật về bọn chúng ghê đến nỗi bọn con trai khác không tài nào tìm ra tổ chúng để làm cho chúng sợ hãi. Cậu ấy còn biết về mọi thứ đang mọc hoặc sống trên cánh đồng hoang.
- Cậu ấy thích đồng hoang đến thế sao? Làm sao cậu ấy thích được khi đó chỉ là một nơi rộng lớn, trơ trụi và thê lương như vậy?
"It's the most beautiful place," protested Mary. "Thousands of lovely things grow on it and there are thousands of little creatures all busy building nests and making holes and burrows and chippering or singing or squeaking to each other. They are so busy and having such fun under the earth or in the trees or heather. It's their world."
"How do you know all that?" said Colin, turning on his elbow to look at her.
- Đó là nơi tươi đẹp nhất chứ, - Mary phản đối. – Hàng ngàn sinh vật đáng yêu đang mọc trên đó, cùng hàng ngàn con vật bé nhỏ suốt ngày đêm bận rộn xây tổ, đào hang, ríu rít ca hát và la lối cùng nhau. Lúc nào chúng cũng bận rộn đùa vui dưới mặt đất, trên cây hoặc trong bụi rậm. Đó là thế giới của chúng.
- Làm cách nào mà cậu biết được tất cả những chuyện ấy? – Colin hỏi, xoay mình trên khuỷu tay để nhìn con bé.
"I have never been there once, really," said Mary suddenly remembering. "I only drove over it in the dark. I thought it was hideous. Martha told me about it first and then Dickon. When Dickon talks about it you feel as if you saw things and heard them and as if you were standing in the heather with the sun shining and the gorse smelling like honey--and all full of bees and butterflies."
"You never see anything if you are ill," said Colin restlessly. He looked like a person listening to a new sound in the distance and wondering what it was.
- Thực ra tớ chưa một lần tới đó, - Mary nói, rồi như chợt nhớ ra điều gì. – Tớ chỉ mới đi xe ngựa qua đó trong màn đêm. Lúc đó, tớ nghĩ nó thật gớm ghiếc. Martha đã kể với tớ về nơi ấy trước, rồi mới đến Dickon. Khi nghe Dickon kể về cánh đồng hoang, ta có cảm tưởng được tận mắt nhìn thấy, nghe thấy mọi thứ, ngỡ như mình đang đứng giữa bụi thạch nam dưới ánh nắng, trong khi cây kim tước dậy mùi hương mật ong, còn khắp quanh ta, ong bướm rập rờn bay lượn.
- Người ta chẳng thể thấy gì khi đau yếu, - Colin nói vẻ bồn chồn.
Trông nó như thể một người đang lắng nghe một âm thanh xa lạ vọng lại từ xa, lòng phân vân tự hỏi không biết đó là cái gì.
"You can't if you stay in a room, " said Mary.
"I couldn't go on the moor" he said in a resentful tone.
Mary was silent for a minute and then she said something bold.
"You might--sometime."
He moved as if he were startled.
"Go on the moor! How could I? I am going to die." "How do you know?" said Mary unsympathetically. She didn't like the way he had of talking about dying. She did not feel very sympathetic. She felt rather as if he almost boasted about it.
- Cậu không thể nếu cậu cứ ngồi lì trong một căn phòng, - Mary nói.
- Tớ không đủ sức đi trên đồng hoang, - thằng bé nói với giọng uất ức.
Mary im lặng giây lát rồi nó nói bằng vẻ cả quyết.
- Đôi lúc cậu sẽ có thể.
Thằng bé cử động như thể bị giật mình.
- Đi trên cánh đồng hoang! Làm sao được? Tớ sắp chết rồi.
- Sao cậu biết? – Mary đáp lại, vẻ không đồng tình. Nó không ưa cái lối thằng bé nói về cái chết. nó thấy không đồng cảm cho lắm. Nó cảm tưởng thằng kia cứ thổi phồng mọi thứ thì đúng hơn.
"Oh, I've heard it ever since I remember," he answered crossly. "They are always whispering about it and thinking I don't notice. They wish I would, too."
Mistress Mary felt quite contrary. She pinched her lips together.
"If they wished I would," she said, "I wouldn't. Who wishes you would?"
"The servants--and of course Dr. Craven because he would get Misselthwaite and be rich instead of poor. He daren't say so, but he always looks cheerful when I am worse. When I had typhoid fever his face got quite fat. I think my father wishes it, too."
"I don't believe he does," said Mary quite obstinately.
That made Colin turn and look at her again.
"Don't you?" he said.
And then he lay back on his cushion and was still, as if he were thinking. And there was quite a long silence. Perhaps they were both of them thinking strange things children do not usually think.
- Ôi, tớ đã nghe điều đó từ khi tớ biết nhớ, - Colin trả lời, vẻ cáu kỉnh. – Họ lúc nào cũng thì thì thầm thầm và nghĩ rằng tớ không để ý. Họ cũng mong tớ chết cho rảnh nợ.
Cô chủ Mary liền nổi cơn tam bành. Nó bặm môi, rồi bảo thằng Colin. - Còn nếu họ mong tớ chết ấy à, thì đừng hòng. Vậy ai là người muốn cậu chết?
- Đám gia nhân ấy và, dĩ nhiên, cả bác sĩ Craven nữa, bởi ông ta có thể đoạt lấy Misselthwaire và trở nên giàu có chứ không nghèo xơ xác như bây giờ. Ông ta không dám nói ra, nhưng luôn có vẻ hả hê khi thấy tớ trong tình trạng tồi tệ. Dạo tớ bị ốm gần chết vì thương hàn, mặt ông ta tròn căng hẳn ra. Tớ cho rằng cha tớ cũng mong điều đó nữa.
- Tớ không tin ông ấy lại như thế nữa. – Mary đáp lại khăng khăng. Thế là Colin quay ra nhìn nó lần nữa.
- Cậu không tin ư? – thằng bé nói. Nói đoạn, nó nằm ngả người trên tấm nệm và im lặng, như đang bận suy nghĩ. Yên lặng hồi lâu. Cả hai đứa cùng suy nghĩ về những sự việc kỳ quặc mà lẽ ra bọn trẻ con chẳng mấy khi bận tâm.
"I like the grand doctor from London, because he made them take the iron thing off," said Mary at last "Did he say you were going to die?"
"No.".
"What did he say?"
"He didn't whisper," Colin answered. "Perhaps he knew I hated whispering. I heard him say one thing quite aloud. He said, 'The lad might live if he would make up his mind to it. Put him in the humor.' It sounded as if he was in a temper."
"Tôi muốn ông bác sĩ lớn từ London tới, bởi vì ông đã làm cho mọi người nhẹ nhõm," cuối cùng Mary nói "Ông ấy nói rằng cậu sẽ chết?"
"Không".
"Thế ông đã nói gì?"
"Ông ấy không nói thì thầm," Colin trả lời. "Có lẽ ông ấy biết tôi ghét trò thì thầm. Tôi nghe ông nói một điều khá to. Ông nói," cậu ấy có thể sống nếu cậu ấy quyết tâm sống. Hãy cho cậu ấy chút hài hước. Nghe như thể ông đang nổi nóng ".


"I'll tell you who would put you in the humor, perhaps," said Mary reflecting. She felt as if she would like this thing to be settled one way or the other. "I believe Dickon would. He's always talking about live things. He never talks about dead things or things that are ill. He's always looking up in the sky to watch birds flying--or looking down at the earth to see something growing. He has such round blue eyes and they are so wide open with looking about. And he laughs such a big laugh with his wide mouth--and his cheeks are as red--as red as cherries." She pulled her stool nearer to the sofa and her expression quite changed at the remembrance of the wide curving mouth and wide open eyes.
"Có lẽ mình sẽ cho cậu biết những ai sẽ mang cho cậu sự hài hước," Mary nói lại. Cô cảm thấy như thể cô muốn điều này phải được giải quyết bằng mọi cách. "Mình tin rằng Dickon sẽ làm được. Anh ấy luôn luôn nói về sinh vật. Anh không bao giờ nói về những cái chết hoặc bệnh tật. Anh ấy luôn luôn ngước nhìn bầu trời xem các loài chim bay -.... Hoặc nhìn xuống đất thấy một cái gì đó nảy nở. Anh có những đôi mắt màu xanh da trời, luôn mở tròn nhìn ra xung quanh, anh cười cười với cái miệng rộng của mình - và má anh đỏ như màu đỏ trái anh đào " Cô bé kéo chiếc ghế của mình lại gần sofa và vẻ mặt hoàn toàn thay đổi khi nhớ đến cái miệng cong rộng và đôi mắt mở to.
"See here," she said. "Don't let us talk about dying; I don't like it. Let us talk about living. Let us talk and talk about Dickon. And then we will look at your pictures."
"Xem ở đây", cô bé nói. "Chúng ta chớ nói chuyện về chết chóc, mình không thích. Hãy nói chuyện về cuộc sống. Hãy nói chuyện và nói về Dickon. Và sau đó chúng ta sẽ xem các bức tranh của cậu..."
It was the best thing she could have said. To talk about Dickon meant to talk about the moor and about the cottage and the fourteen people who lived in it on sixteen shillings a week--and the children who got fat on the moor grass like the wild ponies. And about Dickon's mother--and the skipping-rope--and the moor with the sun on it--and about pale green points sticking up out of the black sod. And it was all so alive that Mary talked more than she had ever talked before--and Colin both talked and listened as he had never done either before. And they both began to laugh over nothings as children will when they are happy together. And they laughed so that in the end they were making as much noise as if they had been two ordinary healthy natural ten-year-old creatures--instead of a hard, little, unloving girl and a sickly boy who believed that he was going to die.
Đó là điều tốt nhất cô có thể nói. Nói về Dickon có nghĩa là nói về đồng hoang và về đến căn nhà lá với 14 người sống trong đó với16 shilling một tuần - và những đứa trẻ lớn lên trên cỏ đồng hoang như những con ngựa hoang dã. Và nói về mẹ Dickon và sợi dây nhảy – vùng đồng hoang với ánh nắng mặt trời chiếu rọi - và những đốm xanh lá cây nhô lên khỏi cỏ đen. Và tất cả đề sống động tới mức Mary đã nói chuyện nhiều hơn bao giờ hết còn Colin vừa nói vừa lắng nghe nhiều hơn bao giờ hết. Và cả hai đều bắt đầu cười to chẳng vì lý do gì như trẻ em vốn thể khi chúng vui vẻ bên nhau. Và họ cười như vậy để cuối cùng họ đã làm ồn nhiều hệt như họ là những đứa bé mười tuổi bình thường, khỏe mạnh, tự nhiên chứ không phải là một cô bé và một cậu bé, bé khổ sở, ốm yếu, không tình thương yêu, tin rằng mình sắp chết.
They enjoyed themselves so much that they forgot the pictures and they forgot about the time. They had been laughing quite loudly over Ben Weatherstaff and his robin, and Colin was actually sitting up as if he had forgotten about his weak back, when he suddenly remembered something. "Do you know there is one thing we have never once thought of," he said. "We are cousins."
Họ vui vẻ nhiều tới mức chúng quên cả những bức tranh và quên cả thời gian. Chúng đã cười khá to khi nói về Ben Weatherstaff và con ức đỏ của ồng, và Colin đang ngồi dậy thực sự như thể nó đã quên hẳn cái lưng đau yếu của mình, thì đột nhiên nhớ ra một điều gì đó. "Cậu có biết có một điều mà chúng ta chưa bao giờ một lần nghĩ đến," nó nói. "Chúng ta là anh em họ."
It seemed so queer that they had talked so much and never remembered this simple thing that they laughed more than ever, because they had got into the humor to laugh at anything. And in the midst of the fun the door opened and in walked Dr. Craven and Mrs. Medlock.
Có vẻ kỳ lạ là chúng đã nói chuyện rất nhiều và không hề nhớ điều đơn giản rằng chúng cười nhiều hơn bao giờ hết, bởi vì chúng đã có sự hài hước đủ để cười bất cứ điều gì. Đang lúc chúng vui vẻ như thế, cánh cửa mở ra và đi bác sĩ Craven và bà Medlock bước vào.
Dr. Craven started in actual alarm and Mrs. Medlock almost fell back because he had accidentally bumped against her.
Bác sĩ Craven thực sựu hơi giật mình và bà Medlock gần như giật lùi trở lại bởi vì ông đã vô tình đụng phải bà.
"Good Lord!" exclaimed poor Mrs. Medlock with her eyes almost starting out of her head. "Good Lord!"
"What is this?" said Dr. Craven, coming forward. "What does it mean?"
Then Mary was reminded of the boy Rajah again. Colin answered as if neither the doctor's alarm nor Mrs. Medlock's terror were of the slightest consequence. He was as little disturbed or frightened as if an elderly cat and dog had walked into the room.
"Chúa ơi!" Bà Medlock khổ sở kêu lên với đôi mắt gần như bắt đầu lồi ra khỏi đầu cô. "Chúa ơi!"
"Thế này là thế nào?" Tiến sĩ Craven nói, tiến về phía trước. "Điều này có nghĩa là gì?"
Lúc đó, Maria được nhắc nhở kể về Tiểu vương một lần nữa. Colin trả lời hệt như sựu giật mình của bác sĩ cũng như vẻ khủng khiếp của bà Medlock chẳng mảy may mang lại hậu quả gì dù nhỏ. Nó hơi băn khoăn và giật mình một chút hệt như khi có một con mèo và con chó già bước vào phòng vậy.
"This is my cousin, Mary Lennox," he said. "I asked her to come and talk to me. I like her. She must come and talk to me whenever I send for her."
"Đây là người chị họ của tôi, Mary Lennox," Colin nói. "Tôi bảo chị ấy đến nói chuyện với tôi, tôi thích chị ấy. Chị phải đến nói chuyện với tôi bất cứ khi nào tôi cho gọi."
Dr. Craven turned reproachfully to Mrs. Medlock. "Oh, sir" she panted. "I don't know how it's happened. There's not a servant on the place tha'd dare to talk--they all have their orders."
Tiến sĩ Craven quay lại quở trách bà Medlock. "Ồ, thưa ông", bà hổn hển. "Tôi không biết chuyện đã xảy ra. Phận đầy tớ tôi không dám bàn chuyện – tôi chỉ có thể nghe lệnh thôi."
"Nobody told her anything," said Colin. "She heard me crying and found me herself. I am glad she came. Don't be silly, Medlock."
"Không ai nói với bất cứ điều gì vớ chị ấy," Colin nói. "Chị ấy nghe tôi khóc và tôi thấy mình rất vui khi chị đến. Đừng ngớ ngẩn thế, Medlock."
Mary saw that Dr. Craven did not look pleased, but it was quite plain that he dare not oppose his patient. He sat down by Colin and felt his pulse.
Mary thấy Tiến sĩ Craven không hài lòng, nhưng khá rõ ràng rằng ông không dám phản đối bệnh nhân của mình. Ông ngồi xuống cạnh Colin và bắt mạch.


"I am afraid there has been too much excitement. Excitement is not good for you, my boy," he said.
"I should be excited if she kept away," answered Colin, his eyes beginning to look dangerously sparkling. "I am better. She makes me better. The nurse must bring up her tea with mine. We will have tea together."
"Tôi sợ có quá nhiều Kích động. Kích động là không tốt cho cậu, cậu bé của tôi," ông nói.
"Tôi nên được vui mừng nếu chị ấy bỏ đi ư", Colin, trả lời mắt bắt đầu ánh lên nguy hiểm. "Tôi khá hơn rồi. Chị ấy đã làm cho tôi khá hơn. Nhũ mẫu hãy mang trà cho chị ấy và tôi. Chúng tôi sẽ uống trà với nhau."
Mrs. Medlock and Dr. Craven looked at each other in a troubled way, but there was evidently nothing to be done.
Bà Medlock và Tiến sĩ Craven nhìn nhau một cách khó khăn, nhưng có rõ ràng biết phải làm gì.
"He does look rather better, sir," ventured Mrs. Medlock. "But"--thinking the matter over--"he looked better this morning before she came into the room."
"Cậu ấy trông khá tốt hơn, thưa ông," bà Medlock đánh bạo nói. "Nhưng" - suy nghĩ vấn đề này - "cậu ấy khá hơn sáng nay trước khi cô ấy bước vào phòng."
"She came into the room last night. She stayed with me a long time. She sang a Hindustani song to me and it made me go to sleep," said Colin. "I was better when I wakened up. I wanted my breakfast. I want my tea now. Tell nurse, Medlock."
"Chị ấy bước vào phòng này đêm qua. Chọ đã ở lại với tôi một lúc lâu. Cô ấy hát một bài hát Hindu cho tôi nghe và dỗ tôi ngủ", Colin nói. "Tôi khá hơn khi tôi thức giấc. Tôi muốn ăn bữa sáng. Tôi muốn uống trà bây giờ. Hãy báo cho nhũ mẫu, bà Medlock."
Dr. Craven did not stay very long. He talked to the nurse for a few minutes when she came into the room and said a few words of warning to Colin. He must not talk too much; he must not forget that he was ill; he must not forget that he was very easily tired. Mary thought that there seemed to be a number of uncomfortable things he was not to forget.
Tiến sĩ Craven đã không ở lại lâu. Ông đã nói chuyện với nhũ mẫu một vài phút, khi bà bước vào phòng và nói một vài lời căn dặn với Colin. Ông không được nói quá nhiều, ông không được quên rằng cậu ấy đang ốm, ông không được quên rằng cậu ấy dễ bị mệt mỏi. Mary nghĩ rằng có vẻ như có một số những điều khó chịu ông ấy sẽ không quên.
Colin looked fretful and kept his strange black-lashed eyes fixed on Dr. Craven's face.
"I want to forget it," he said at last. "She makes me forget it. That is why I want her."
Dr. Craven did not look happy when he left the room. He gave a puzzled glance at the little girl sitting on the large stool. She had become a stiff, silent child again as soon as he entered and he could not see what the attraction was. The boy actually did look brighter, however--and he sighed rather heavily as he went down the corridor.
Colin trông có vẻ phật ýđưa đôi mắt có lông mi đen nhánh kỳ lạ nhìn chằm chằm vào mặt bác sĩ Craven.
"Tôi muốn quên chuyện đó," cuối cùng nói. "Chị ấy làm cho tôi quên chuyện đó. Đó là lý do tại sao tôi muốn có chị ấy."
Tiến sĩ Craven không vui khi ông rời phòng. Ông đã ném một cái nhìn bối rối về phía cô bé đang ngồi trên chiếc ghế lớn. Cô đã trở thành một con bé im lặng, cứng đơ trở lại ngay khi ông bước vào và ông không thể thấy những điều hấp dẫn. Cậu bé thực sự trông sáng sủa hơn, tuy nhiên - và ông ta thở dài khá nặng nề khi ông đã đi xuống hành lang.
"They are always wanting me to eat things when I don't want to," said Colin, as the nurse brought in the tea and put it on the table by the sofa. "Now, if you'll eat I will. Those muffins look so nice and hot. Tell me about Rajahs."
"Họ luôn luôn muốn tôi ăn những thứ khi tôi không muốn", Colin nói, khi nhũ mẫu mang trà vào và đặt nó cạnh ghế sofa. "Bây giờ, nếu cậu ăn, mình sẽ ăn. Nhữngcái bánh nướng xốp nhìn nóng và ngon lành. Kẻ cho mình nghe về Tiểu vương Rajahs đi."




CHAPTER 15

Chapter XV: NEST BUILDING
Chương 15 : XÂY Tổ ấM
After another week of rain the high arch of blue sky appeared again and the sun which poured down was quite hot. Though there had been no chance to see either the secret garden or Dickon, Mistress Mary had enjoyed herself very much. The week had not seemed long. She had spent hours of every day with Colin in his room, talking about Rajahs or gardens or Dickon and the cottage on the moor. They had looked at the splendid books and pictures and sometimes Mary had read things to Colin, and sometimes he had read a little to her. When he was amused and interested she thought he scarcely looked like an invalid at all, except that his face was so colorless and he was always on the sofa.
Sau một tuần mưa, bầu trời cao xanh vời vợi lại hiện ra cùng với vầng dương nóng bỏng. Dù không có cơ hội để để ngắm nhìn khu vườn bí mật hay gặp mặt Dickon, vậy mà cô chủ Mary vẫn cảm thấy vô cùng vui sướng. Tuần lễ dường như không kéo dài. Con bé được ở bên Colin vài giờ mỗi ngày trong căn phòng của thằng bé để kể về các vị tiểu vương, các khu vườn hoặc về Dickon và túp nhà gianh trên cánh đồng hoang. Hai đứa chụm đầu xem những cuốn sách tuyệt đẹp với vô số tranh vẽ bên trong, thỉnh thoảng Mary đọc vài truyện cho Colin và có lúc Colin cũng đọc cho nó nghe chút ít. Vào những lúc thằng bé vui cười và thích thú, Mary không thấy nó có vẻ gì của một người tàn tật, trừ khuôn mặt trằng nhợt nhạt và rằng nó luôn phải ngồi trên chiếc sofa.
"You are a sly young one to listen and get out of your bed to go following things up like you did that night," Mrs. Medlock said once. "But there's no saying it's not been a sort of blessing to the lot of us. He's not had a tantrum or a whining fit since you made friends. The nurse was just going to give up the case because she was so sick of him, but she says she doesn't mind staying now you've gone on duty with her," laughing a little.
- Cô thật láu cá khi cứ gỏng tai lên nghe ngóng rồi xuống giường lần ra mọi chuyện vào cái đêm hôm đó. – Một bữa, bà Medlock vừa tủm tỉm vừa bảo. – Nhưng phải công nhận như thế lại may cho chúng tôi. Từ ngày có cô cùng chơi, cậu ấy không còn cáu bẳn hay khóc than sầu thảm nữa. Cô bảo mẫu đã định bỏ việc vì quá mệt mỏi với cậu ấy đấy. Nhưng giờ cô ấy bảo ở lại cũng không sao vì đã có cô chia sẻ nhiệm vụ.
In her talks with Colin, Mary had tried to be very cautious about the secret garden. There were certain things she wanted to find out from him, but she felt that she must find them out without asking him direct questions. In the first place, as she began to like to be with him, she wanted to discover whether he was the kind of boy you could tell a secret to.
Trong các buổi trò chuyện với Colin, Mary cố thật thận trọng khi nói về khu vườn bí mật. Còn một số điều nó muốn biết về thằng bé, nhưng nó cảm thấy mình có thể tìm hiểu mà không cần phải hỏi thẳng Colin. Ngay từ buổi đầu, khi bắt đầu thích ở chỗ Colin, nó muốn biết liệu thằng bé có phải loại con trai mà người ta có thể gửi gắm một bí mật.
He was not in the least like Dickon, but he was evidently so pleased with the idea of a garden no one knew anything about that she thought perhaps he could be trusted. But she had not known him long enough to be sure. The second thing she wanted to find out was this: If he could be trusted--if he really could--wouldn't it be possible to take him to the garden without having any one find it out?
Thằng bé không có gì giống như Dickon, nhưng rõ ràng nó vô cùng thích thú trước ý tưởng về một khu vườn chưa một ai hay biết, đến độ con bé nghĩ có lẽ sẽ tin tưởng được đó. Nhng vì biết nó chưa lâu, nên Mary cũng không chắc lắm. Và còn điều nữa, đó là nếu thằng bé là người có thể tin cậy, nếu nó thực sự đáng tin, thì liệu có thể đưa nó đến khu vườn mà không sợ bị ai phát hiện?
The grand doctor had said that he must have fresh air and Colin had said that he would not mind fresh air in a secret garden. Perhaps if he had a great deal of fresh air and knew Dickon and the robin and saw things growing he might not think so much about dying. Mary had seen herself in the glass sometimes lately when she had realized that she looked quite a different creature from the child she had seen when she arrived from India. This child looked nicer. Even Martha had seen a change in her.
Ông bác sĩ đã dặn rằng Colin cần được sống trong bầu không khí trong lành, còn thằng bé cũng bảo nó chẳng quản ngại không khí tươi mát trong khu vườn bí mật. Biết đâu khi được hít thở đến thỏa thích khí trời nhẹ nhõm, được làm quen với Dickon và chim ức đỏ, được tận mắt thấy muôn vật sinh sôi nảy nở, thì nó chẳng còn nghĩ nhiều đến cái chết nữa. Thời gian gần đây, Mary thường ngắm nhìn mình trong gương, nó nhận ra một hình hài khác hẳn đứa trẻ nó từng thấy hôm mới từ Ấn Độ sang. Đứa bé này xinh hơn nhiều. Cả Martha cũng nhận ra những thay đổi đáng kể ở con bé.
"Th' air from th' moor has done thee good already," she had said. "Tha'rt not nigh so yeller and tha'rt not nigh so scrawny. Even tha' hair doesn't slamp down on tha' head so flat. It's got some life in it so as it sticks out a bit."
- Khí trời ngoài cánh đồng hoang đã khiến cô khỏe hẳn lên. Cô không còn la hét, không còn gấy nhẳng như trước. Thậm chí tóc cô cũng không còn lơ thơ trên trán mà đã dày dặn hơn. Khi tóc mọc dài hơn một chút, cô sẽ có một mái tóc óng ả.
"It's like me," said Mary. "It's growing stronger and fatter. I'm sure there's more of it."
"It looks it, for sure," said Martha, ruffling it up a little round her face. "Tha'rt not half so ugly when it's that way an' there's a bit o' red in tha' cheeks."
If gardens and fresh air had been good for her perhaps they would be good for Colin. But then, if he hated people to look at him, perhaps he would not like to see Dickon.
- Tóc tôi cũng giống tôi vậy, - Mary bảo. – Đang khỏe ra và dày dặn hơn. Chắc chắn tóc tôi còn dài ra nữa chứ.
- Cứ nhìn là biết, - Martha vừa nói vừa khẽ rũ những lọn tóc quanh mặt con bé. – Cô sẽ không còn xấu xí khi tóc mọc dài ra, với thêm một chút hồng hào trên đôi má.
Nếu khu vườn và không khí trong lành có lợi cho nó, thì có lẽ cũng sẽ như vậy với Colin. Nhưng có điều, Colin ghét mọi người nhìn mình, có thể cậu chàng chẳng thích thú gì khi gặp Dickon.
"Why does it make you angry when you are looked at?" she inquired one day.
"I always hated it," he answered, "even when I was very little. Then when they took me to the seaside and I used to lie in my carriage everybody used to stare and ladies would stop and talk to my nurse and then they would begin to whisper and I knew then they were saying I shouldn't live to grow up. Then sometimes the ladies would pat my cheeks and say `Poor child!' Once when a lady did that I screamed out loud and bit her hand. She was so frightened she ran away."
- Tại sao cậu lại tức giận khi có ai nhìn mình hả? – Một hôm, con bé vặn hỏi.
- Tớ luôn căm thù chuyện đó, - thằng bé đáp, - ngay cả khi tớ còn bé tí. Dạo họ đưa tớ tới bãi biển, tớ chỉ nằm lì trong xe ngựa của tớ, ai ai cũng nhìn tớ chằm chằm, cả các quý bà cũng chẳng chịu tha, họ bắt chuyện với bảo mẫu rồi quay sang thì thào to nhỏ, và lúc ấy tớ thừa biết họ đang bảo tớ sẽ chẳng sống nổi chứ đừng nói là lớn lên. Thỉnh thoảng có bà còn vỗ vỗ vào hai má tớ mà nói: “Đứa trẻ thật đáng thương!” Có lần, một bà vừa làm thế là tớ khóc ré lên và cắn vào bàn tay bà ta. Bà ta kinh hoàng chạy biến.
"She thought you had gone mad like a dog," said Mary, not at all admiringly.
"I don't care what she thought," said Colin, frowning.
"I wonder why you didn't scream and bite me when I came into your room?" said Mary. Then she began to smile slowly.
"I thought you were a ghost or a dream," he said. "You can't bite a ghost or a dream, and if you scream they don't care."
- Chắc bà ta cho rằng cậu điên như một con chó, - Mary bảo, tỏ vẻ không thần phục.
- Tớ không cần biết bà ta nghĩ gì, - Colin nhíu mày nói.
- Tớ đang tự hỏi tại sao cậu không kêu lên và cắn tớ hôm tớ bước vào phòng cậu? – Mary nói. Rồi nó khẽ nhoẻn miệng cười.
- Lúc đó tớ tưởng cậu là một con ma hay giấc mộng. Người ta không thể đi cắn một con ma hay giấc mộng được, và nếu có kêu gào lên thì cũng chẳng ai thèm quan tâm.
"Would you hate it if--if a boy looked at you?" Mary asked uncertainly.
He lay back on his cushion and paused thoughtfully.
"There's one boy," he said quite slowly, as if he were thinking over every word, "there's one boy I believe I shouldn't mind. It's that boy who knows where the foxes live--Dickon."
- Liệu cậu có thấy căm ghét không nếu… nếu có một anh bạn nhìn cậu? – Mary ngập ngừng hỏi.
Thằng bé lại ngả người trên tấm nệm và ngẫm nghĩ.
- Một anh bạn, - nó nói hết sức chậm rãi, như đang cân nhắc từng từ, - có một anh bạn mà tớ cho rằng không cần phải băn khoăn. Đó chính là cái cậu bé biết cả chỗ bọn cáo đang sống. Dickon chứ gì?
"I'm sure you wouldn't mind him," said Mary.
"The birds don't and other animals," he said, still thinking it over, "perhaps that's why I shouldn't. He's a sort of animal charmer and I am a boy animal."
Then he laughed and she laughed too; in fact it ended in their both laughing a great deal and finding the idea of a boy animal hiding in his hole very funny indeed. What Mary felt afterward was that she need not fear about Dickon.
- Tớ cả quyết rằng cậu không phải lo về anh ấy, - Mary bảo.
- Ngay đến chim chóc và súc vật cũng không phải lo về cậu ấy cơ mà, - Colin nói, vẫn vẻ ngẫm nghĩ, - đó có lẽ là lý do tại sao tớ không lo. Cậu ấy là một tay thu phục được cả thú hoang, và tớ chính là một gã thú hoang chính cống.
Nói đoạn, nó phá lên cười, và con bé cũng cười theo; quả thực, câu chuyện đã kết thúc với cảnh hai đứa cùng cười ngặt nghẽo và thấy rằng cái ý tưởng một gã thú hoang đang náu mình trong cái hang của gã nghe thật ngộ quá. Rốt cục, Mary cảm thấy nó không cần phải lo lắng gì về Dickon nữa.
On that first morning when the sky was blue again Mary wakened very early. The sun was pouring in slanting rays through the blinds and there was something so joyous in the sight of it that she jumped out of bed and ran to the window. She drew up the blinds and opened the window itself and a great waft of fresh, scented air blew in upon her. The moor was blue and the whole world looked as if something Magic had happened to it. There were tender little fluting sounds here and there and everywhere, as if scores of birds were beginning to tune up for a concert. Mary put her hand out of the window and held it in the sun.
Vào cái buổi sáng đầu tiên khi bầu trời trong xanh trở lại, Mary thức dậy từ rất sớm. Mặt trời đang tỏa những tia nắng xiên xiên qua mấy tấm rèm cửa, và có một cái gì vui tươi trong cảnh tượng ấy đến nỗi con bé nhảy phắt khỏi giường, chạy tới bên cửa sổ. Nó tự tay kéo rèm và mở cửa sổ, một làn khí thơm mát, trong lành thoang thoảng lướt qua. Cánh đồng hoang đượm một màu xanh ngắt. Tưởng chừng như vừa có một phép màu nào đó vừa xảy đến với thế giới đó vậy. Đây đó mọi nơi vang lên những âm thanh nhè nhẹ xao xuyến, của các loài chim đang bắt đầu dọn giọng cho một buổi hòa nhạc. Mary chìa bàn tay ra ngoài cửa sổ, hong nó trong ánh nắng.
"It's warm--warm!" she said. "It will make the green points push up and up and up, and it will make the bulbs and roots work and struggle with all their might under the earth."
- Ấm quá! Ấm quá! Ấm áp thế này thì các mầm non sẽ chóng nhú, chồi và rễ sẽ chóng mọc lên với tất cả sức mạnh của chúng từ trong lòng đất.
She kneeled down and leaned out of the window as far as she could, breathing big breaths and sniffing the air until she laughed because she remembered what Dickon's mother had said about the end of his nose quivering like a rabbit's. "It must be very early," she said. "The little clouds are all pink and I've never seen the sky look like this. No one is up. I don't even hear the stable boys."
Con bé quỳ xuống và ngả hẳn người ra ngoài cửa sổ, hít một hơi sâu rồi khịt khịt mũi cho tới khi nó cười phá lên khi chợt nhớ tới những gì mà bà mẹ Dickon đã nói về chóp mũi rung rung như mũi thỏ của cậu ấy.
- Còn sớm quá, - con bé thầm nhủ. – Mấy đám mây nhỏ kia toàn một màu hồng, mình chưa từng nhìn thấy bầu trời như vậy bao giờ. Chưa một ai thức giấc. Mình thậm chí còn chưa nghe thấy tiếng của những người làm trong chuồng ngựa nữa.
A sudden thought made her scramble to her feet.
"I can't wait! I am going to see the garden!"
She had learned to dress herself by this time and she put on her clothes in five minutes. She knew a small side door which she could unbolt herself and she flew downstairs in her stocking feet and put on her shoes in the hall. She unchained and unbolted and unlocked and when the door was open she sprang across the step with one bound, and there she was standing on the grass, which seemed to have turned green, and with the sun pouring down on her and warm sweet wafts about her and the fluting and twittering and singing coming from every bush and tree.
Một ý nghĩ bất chợt khiến con bé giật mình.
- Mình không thể đợi được! Mình phải ra ngó lại khu vườn bí mật xem sao!
Lúc này, Mary đã có thể tự mặc quần áo được rồi, nó chỉnh tề váy áo trong vòng có năm phút. Nó biết một cửa ngách nhỏ mà nó có thể tự mở lấy, nó chạy như bay xuống tầng dưới, trên đôi chân mới chỉ vội xỏ tất, ra đến gần đại sảnh nó mới xỏ xong giày.
Con bé tháo xích cửa, gạt then cài, tra chìa khóa xong thì cánh cửa mới chịu mở ra. Nó lao xuống bậc thềm chỉ với một cú nhảy, và thế là nó đã đặt chân lên bãi cỏ xanh mơn mởn, nơi ánh nắng chan hòa tỏa xuống thân mình nó, mùi hương thoang thoảng ngọt ngào ấm áp vây quanh nó, cùng tiếng vi vu réo rắt và tiếng hót lanh lảnh từ khắp các bụi râm, lùm cây đang vọng đến bên tai.
She clasped her hands for pure joy and looked up in the sky and it was so blue and pink and pearly and white and flooded with springtime light that she felt as if she must flute and sing aloud herself and knew that thrushes and robins and skylarks could not possibly help it. She ran around the shrubs and paths towards the secret garden.
Con bé xiết chặt hai bàn tay trước niềm vui thuần khiết rồi ngước nhìn bầu trời, bầu trời ấy vừa xanh ngăn ngắt vừa phơn phớt hồng, pha chút ánh ngọc trai lẫn trong màu trắng nõn nà và rồi tràn ngập ánh sáng của tiết xuân, đến nỗi con bé cảm thấy nó muốn tự mình huýt sáo và hát vang lên, biết rằng các con chim hét, chim ức đỏ và cả chim chiền chiện cũng khó lòng mà nén nổi điều đó. Con bé chạy lần theo các bụi cây và đường mòn dẫn tới khu vườn bí mật.
"It is all different already," she said. "The grass is greener and things are sticking up every- where and things are uncurling and green buds of leaves are showing. This afternoon I am sure Dickon will come."
- Tất cả đều khác rồi, - con bé nói. – Thảm cỏ xanh tươi hơn, các chồi biếc đang nhú lên khắp mặt đất, các búp lá đều mở ra và các mầm xanh đang lấp ló. Mình đoán chắc chiều nay Dickon sẽ đến.
The long warm rain had done strange things to the herbaceous beds which bordered the walk by the lower wall. There were things sprouting and pushing out from the roots of clumps of plants and there were actually here and there glimpses of royal purple and yellow unfurling among the stems of crocuses. Six months before Mistress Mary would not have seen how the world was waking up, but now she missed nothing. When she had reached the place where the door hid itself under the ivy, she was startled by a curious loud sound. It was the caw--caw of a crow and it came from the top of the wall, and when she looked up, there sat a big glossy-plumaged blue-black bird, looking down at her very wisely indeed. She had never seen a crow so close before and he made her a little nervous, but the next moment he spread his wings and flapped away across the garden. She hoped he was not going to stay inside and she pushed the door open wondering if he would.
Cơn mưa ấm áp kéo dài đã làm nên điều kì diệu cho những luống cỏ viền quanh lối đi dạo cạnh bức tường thấp. Có gì đó đang bắt đầu đâm chồi và nhú lên từu bộ rễ của các lùm cây, và đây đó thậm chí đã thấy lóe lên sắc tím vương giả cùng sắc vàng đang trào ra từ những than cây nghệ tây. Sáu tháng trước, cô chủ Mary không tài nào hình dung nổi thế giới sẽ bừng tỉnh thế nào, nhưng giờ đây nó không bỏ lỡ một điều gì hết.Lúc con bé đặt chân đến chỗ cánh cửa ẩn dưới đám dây thường xuân, nó giật nảy mình bởi một âm thanh lớn kì quặc. Thì ra là tiếng kêu quàng quạc của một chú quạ, từ đỉnh bờ tường. Ngước mắt nhìn lên, nó nhận ra một con chim có bộ lông xanh đen bong loáng – là một con quạ đang ngó nhìn con bé với vẻ khôn ngoan tinh quái. Từ trước tới giờ, Mary chưa từng nhìn thấy một con quạ gần đến thế, khiến nó thấy hơi lo. Nhưng ngay sau đó, con quạ kia trải rộng đôi cánh bay ngang qua khu vườn. Mary hi vọng nó không định ở lại trong đó, liền đẩy cánh cửa ra xem con quạ có còn đó không.
When she got fairly into the garden she saw that he probably did intend to stay because he had alighted on a dwarf apple-tree and under the apple-tree was lying a little reddish animal with a Bushy tail, and both of them were watching the stooping body and rust-red head of Dickon, who was kneeling on the grass working hard.
Khi đã vào hẳn trong vườn, con bé nhận ra con chim đã sà xuống đậu trên một cây táo còi, dưới tán cây táo là một con vật bé xíu có bộ lông hung đỏ và chiếc đuôi bông xù – cả hai con vật đều đang ngắm nhìn tấm lưng trần cúi rạp và cái đầu tóc hung hung của thằng Dickon lúc này đang quỳ trên thảm cỏ làm việc cật lực. Mary phóng như bay qua thảm cỏ tới bên thằng bé.
Mary flew across the grass to him.
"Oh, Dickon! Dickon!" she cried out. "How could you get here so early! How could you! The sun has only just got up!"
He got up himself, laughing and glowing, and tousled; his eyes like a bit of the sky.
"Eh!" he said. "I was up long before him. How could I have stayed abed! Th' world's all fair begun again this mornin', it has. An' it's workin' an' hummin' an' scratchin' an' pipin' an' nest-buildin' an' breathin' out scents, till you've got to be out on it 'stead o' lyin' on your back. When th' sun did jump up, th' moor went mad for joy, an' I was in the midst of th' heather, an' I run like mad myself, shoutin' an' singin'. An' I come straight here. I couldn't have stayed away. Why, th' garden was lyin' here waitin'!"
Mary put her hands on her chest, panting, as if she had been running herself.
"Oh, Dickon! Dickon!" she said. "I'm so happy I can scarcely breathe!"
- Ôi, Dickon! Dickon! – Con bé kêu toáng lên. – Sao anh có thể đến đây sớm thế? Hả anh? Mặt trời mới chỉ vừa mọc kia mà!
Thằng bé đứng dậy, nó cười to sôi nổi, rồi đưa tay vò vò cho mái tóc rối bù lên; đôi mắt nó chẳng khác nào một mảng trời xanh.
- Ồ! Tôi thức dậy trước đó từ lâu rồi. Làm sao có thể lần chần trên giường cơ chứ! Mọi thứ của thế giới đều bắt đầu trở lại vào sang hôm nay. Tất cả đang vận động, rì rầm, bới tìm, líu lo, làm tổ, và cùng nhau hít thở làn hương thơm ngát, đến nỗi người ta phải ra ngoài mà sống chứ chẳng ai chịu nằm dài lưng ở nhà. Khi mặt trời thức dậy, lúc ấy tôi đang nằm giữa bụi thạch thảo, bản than cũng tưởng mình sướng đến phát điên lên, tối cứ hét tướng lên rồi lại hát. Rồi tôi tới thẳng đây. Tôi không thể không tới. Tại sao ư: bởi khu vườn nằm đây và đợi tôi!
Mary đưa hai bàn tay lên ngực, hổn hển, như người vừa mới chạy.
- Ôi, Dickon! Dickon! – Nó thốt lên. – Tôi thấy hạnh phúc đến nỗi khó mà thở nổi!
Seeing him talking to a stranger, the little bushy-tailed animal rose from its place under the tree and came to him, and the rook, cawing once, flew down from its branch and settled quietly on his shoulder.
Thấy Dickon chuyện trò với kẻ lạ mặt, con vật tí hon có cái đuôi xù ngóc đầu khỏi chỗ của nó dưới gốc cây và sán lại gần thằng bé, còn con quạ lại cất tiếng kêu quàng quạc lần nữa, tung cánh từ trên cành cây nơi nó đậu đỗ xuống thật êm ru xuống bên vai Dickon.
"This is th' little fox cub," he said, rubbing the little reddish animal's head. "It's named Captain. An' this here's Soot. Soot he flew across th' moor with me an' Captain he run same as if th' hounds had been after him. They both felt same as I did."
- Đây là cáo con, - thằng bé nói, xoa xoa lên cái đầu màu đỏ xinh xinh của con vật. – Tên nó là Đại úy. Còn đây là Bồ hóng. Con Bồ hóng ấy à, nó đã bay qua đồng hoang theo tôi, còn Đại úy, nó chạy thục mạng như thể có bầy chó săn đang truy đuổi đằng sau. Cả hai đứa đều có cùng cảm giác với tôi.
Neither of the creatures looked as if he were the least afraid of Mary. When Dickon began to walk about, Soot stayed on his shoulder and Captain trotted quietly close to his side.
"See here!" said Dickon. "See how these has pushed up, an' these an' these! An' Eh! Look at these here!"
Hai con vật đều nhìn Mary không chút sợ hãi. Khi Dickon bước đi, con Bồ hóng vẫn đậu trên vai thằng bé, còn Đại úy thì quấn quýt liền bên nó.
- Trông này! – Dickon kêu lên. – Xem chúng đang nhú lên này, và đây, đây nữa! Ôi! Nhìn kia nữa kìa!
He threw himself upon his knees and Mary went down beside him. They had come upon a whole clump of crocuses burst into purple and orange and gold. Mary bent her face down and kissed and kissed them.
"You never kiss a person in that way," she said when she lifted her head. "Flowers are so different."
He looked puzzled but smiled.
"Eh!" he said, "I've kissed mother many a time that way when I come in from th' moor after a day's roamin' an' she stood there at th' door in th' sun, lookin' so glad an' comfortable."
Nó quỳ thụp xuống, Mary chạy lại bên nó. Chúng thấy cả một khóm nghệ tây đang đua nhau khoe những sắc vàng, da cam và tím từ bao giờ. Mary cúi sát mặt xuống và hôn, hôn mãi lên chúng.
- Người ta chẳng bao giời hôn ai như thế này, - con bé nói khi ngẩng đầu lên. – Nhưng với những bông hoa thì là chuyện khác.
Thằng Dickon có vẻ bối rối, nhưng chỉ mỉm cười.
- Ồ! Tôi đã hôn mẹ nhiều lần như vậy khi từ đồng hoang trở về sau một ngày lang thang, và bà đứng đó, bên cánh cửa, trong ánh nắng, thật vui sướng và dễ chịu.
They ran from one part of the garden to another and found so many wonders that they were obliged to remind themselves that they must whisper or speak low. He showed her swelling leafbuds on rose branches which had seemed dead. He showed her ten thousand new green points pushing through the mould. They put their eager young noses close to the earth and sniffed its warmed springtime breathing; they dug and pulled and laughed low with rapture until Mistress Mary's hair was as tumbled as Dickon's and her cheeks were almost as poppy red as his.
Hai đứa chạy từ góc vườn này sang góc vườn kia và khám phá ra bao điều kì diệu, đến nỗi chúng buộc phải tự nhắc nhau nói khé. Thằng bé chỉ cho Mary xem búp lá quăn tít trên một nhánh hồng mà bề ngoài tưởng chừng đã chết. Nó cũng chỉ cho con bé hàng ngàn chồi xanh non đang nhú lên từ lớp đất mùn. Chúng ghé sát những cái mũi trẻ thơ đầy háo hức của mình xuống mặt đất, rồi hít lấy hít để hơi thở mùa xuân ấm áp của đất, chúng xới đất, nhổ cỏ và cười khẽ trong nỗi sung sướng vô ngần cho tới khi mái tóc cô chủ Mary rối bù như tóc của Dickon và hai má nó đỏ ửng không khác gì thằng bé.
There was every joy on earth in the secret garden that morning, and in the midst of them came a delight more delightful than all, because it was more wonderful. Swiftly something flew across the wall and darted through the trees to a close grown corner, a little flare of red-breasted bird with something hanging from its beak. Dickon stood quite still and put his hand on Mary almost as if they had suddenly found themselves laughing in a church.
Biết bao niềm vui trần thế đã đến với khu vườn bí mật buổi sáng hôm ấy, trong đó có một niềm vui còn lớn hơn hết thảy, kì diệu hơn hết thẩy. Một cái gì nhanh như ánh chớp bay vụt qua bức tường, rồi phóng qua cả các lùm cây tới một góc vườn sát ngay đó – con chim ức đỏ tựa như ngọn lửa rực rỡ, mỏ ngậm một vật gì, từ đâu xuất hiện. Dickon đứng lặng người, vịn tay vào Mary, như thể hai đứa chợt nhận ra mình vừa phá lên cười trong một nhà thờ.
"We munnot stir," he whispered in broad Yorkshire. "We munnot scarce breathe. I knowed he was mate-huntin' when I seed him last. It's Ben Weatherstaff's robin. He's buildin' his nest. He'll stay here if us don't fight him." They settled down softly upon the grass and sat there without moving.
- Đừng làm náo động, - thằng bé thì thầm bằng thứ giọng Yorkshire thật nặng. – Chúng mình phải tránh cả thở mạnh nữa. Trông thấy nó lần vừa rồi là tôi biết nó đang mùa kết đôi. Đây là con chim ức đỏ của ông Ben Weatherstaff. Nó đang xây tổ của nó đấy. Nó sẽ ở đây, nếu chúng mình không làm nó sợ. Hai đứa nhẹ nhàng nằm xoài xuống bãi cỏ, không dám cử động.
"Us mustn't seem as if us was watchin' him too close," said Dickon. "He'd be out with us for good if he got th' notion us was interferin' now. He'll be a good bit different till all this is over. He's settin' up housekeepin'. He'll be shyer an' readier to take things ill. He's got no time for visitin' an' gossipin'. Us must keep still a bit an' try to look as if us was grass an' trees an' bushes. Then when he's got used to seein' us I'll chirp a bit an' he'll know us'll not be in his way."
- Chúng mình đừng nhìn nó gần quá, - Dickon bảo. – Cậu chàng sẽ bay khỏi đây, nếu lúc này mà bị quấy rầy. Chỉ là hơi khó tính một chút thôi cho tới khi tất cả chuyện này qua đi. Nó đang đảm đương gánh nặng gia đình đấy. Nó dễ e dè và không thoải mái. Nó không có thì giờ để chơi bời thăm hỏi hay nói chuyện tầm phảo đâu. Chúng mình cần giữ im lặng them chút nữa, và cố vờ như mình là cây cỏ hay bụi rậm. Cho tới khi nó quen với chúng mình, tôi sẽ hót một hồi, và rồi nó sẽ hiểu chúng mình chẳng hề cản đường nó.
Mistress Mary was not at all sure that she knew, as Dickon seemed to, how to try to look like grass and trees and bushes. But he had said the queer thing as if it were the simplest and most natural thing in the world, and she felt it must be quite easy to him, and indeed she watched him for a few minutes carefully, wondering if it was possible for him to quietly turn green and put out branches and leaves. But he only sat wonderfully still, and when he spoke dropped his voice to such a softness that it was curious that she could hear him, but she could.
Cô chủ Mary không chắc có làm nổi như Dickon không: giả vờ bắt chước cỏ cây, bụi rậm cho bằng được. Nhưng thằng bé nói về những điều lạ lung đó như những chuyện đơn giản và tự nhiên nhất đời vậy. Quả thực con bé cảm thấy việc đó hoàn toàn dễ dàng đối với Dickon. Nó thận trọng quan sát thằng bé mấy phút liền, tự nhủ biết đâu Dickon lại chẳng lặng lẽ mà biến thành cành lá cũng nên.Nhưng thằng bé chỉ ngồi im phăng phắc, và bất chợt buông thấp giọng đến mức cũng lạ là Mary còn nghe được nó, dù rằng con bé đã nghe được.
"It's part o' th' springtime, this nest-buildin' is," he said. "I warrant it's been goin' on in th' same way every year since th' world was begun. They've got their way o' thinkin' and doin' things an' a body had better not meddle. You can lose a friend in springtime easier than any other season if you're too curious."
- Vào cữ này của tiết xuân, chim thường xây tổ ấm, - thằng bé nói. – Tôi dám đánh cược rằng kể từ khi có thế giới thì năm nào chuyện đó cũng đến. Vạn vật có cách nghĩ và cách làm riêng của chúng, và con người tốt hơn hết là đừng có can thiệp vào. Dễ mất một người bạn vào tiết xuân hơn bất kì mùa nào khác, nếu người ta quá tò mò tọc mạch.
"If we talk about him I can't help looking at him," Mary said as softly as possible. "We must talk of something else. There is something I want to tell you."
"He'll like it better if us talks o' somethin' else," said Dickon. "What is it tha's got to tell me?"
"Well--do you know about Colin?" she whispered.
He turned his head to look at her.
"What does tha' know about him?" he asked.
- Nếu cứ bàn mãi về nó như vậy, ta sẽ chẳng thể nào ngưng nhìn nó được. – Mary nói khẽ kháng. – Ta nên nói chuyện khác đi. Có điều này tôi muốn nói với anh đây.
- Nó sẽ thích hơn nếu ta nói chuyện gì khác. – Dickon tiếp lời. – Cô định bảo gì tôi?
- Phải rồi. Anh có biết gì về Colin không? – Mary thì thào hỏi.
Dickon ngoái đầu nhìn con bé.
- Thế cô biết những gì về cậu ấy?
"I've seen him. I have been to talk to him every day this week. He wants me to come. He says I'm making him forget about being ill and dying," answered Mary.
Dickon looked actually relieved as soon as the surprise died away from his round face.
"I am glad o' that," he exclaimed. "I'm right down glad. It makes me easier. I knowed I must say nothin' about him an' I don't like havin' to hide things."
- Tôi đã từng gặp cậu ấy. Suốt tuần vừa rồi, ngày nào tôi cũng được nói chuyện với cậu ấy. Cậu ấy rất muốn tôi tới. Cậu ấy bảo tôi đã giúp cậu ấy quên hẳn việc ốm đau chết chóc. – Mary trả lời.
Dickon trông nhẹ nhóm hẳn, ngay khi sự ngạc nhiên trên khuôn mặt bầu bĩnh của nó biến mất.
- Tôi lấy làm mừng vì điều đó, - Dickon thốt lên. – Đáng mừng lắm. Như thế tôi sẽ thấy dễ chịu hơn. Tôi vẫn biết không được phép nói bất cứ chuyện gì về cậu ấy, mà tôi thì lại không thích che giấu điều gì.
"Don't you like hiding the garden?" said Mary.
"I'll never tell about it," he answered. "But I says to mother, `Mother,' I says, `I got a secret to keep. It's not a bad 'un, tha' knows that. It's no worse than hidin' where a bird's nest is. Tha' doesn't mind it, does tha'?'"
Mary always wanted to hear about mother.
"What did she say?" she asked, not at all afraid to hear.
- Chẳng lẽ anh không thích giấu chuyện khu vườn bí mật?
- Tôi chưa hề kể với ai về nó, - Dickon đáp. – Nhưng tôi có bảo mẹ: “Mẹ ạ, con có một bí mật buộc phải giấu kín. Đấy không phải là điều xấu, mẹ biết đấy. Chẳng tệ hơn việc che giấu một tổ chim. Mẹ chẳng cần bận tâm làm gì, phải không mẹ?”
Mary lúc nào cũng thích được nghe về người mẹ.
- Vậy bà đã nói gì? – Nó hỏi mà không hề sợ phải nghe câu trả lời.
Dickon grinned sweet-temperedly.
"It was just like her, what she said," he answered. "She give my head a bit of a rub an' laughed an' she says, 'Eh, lad, tha' can have all th' secrets tha' likes. I've knowed thee twelve year'.'"
"How did you know about Colin?" asked Mary.
Dickon tóet miệng cười ngọt ngào.
- Thì cũng giống như bà và những gì bà vẫn nói, - thằng bé đáp. – Bà khẽ xoa đầu tôi rồi cười bảo: “Hừ, anh chàng này, con cứ việc giữ cái bí mật mà con thích. Mẹ biết cái tính của con mười hai năm nay rồi còn gì.”
- Anh biết Colin như thế nào? – Mary hỏi.
"Everybody as knowed about Mester Craven knowed there was a little lad as was like to be a cripple, an' they knowed Mester Craven didn't like him to be talked about. Folks is sorry for Mester Craven because Mrs. Craven was such a pretty young lady an' they was so fond of each other. Mrs. Medlock stops in our cottage whenever she goes to Thwaite an' she doesn't mind talkin' to mother before us children, because she knows us has been brought up to be trusty. How did tha' find out about him? Martha was in fine trouble th' last time she came home. She said tha'd heard him frettin' an' tha' was askin' questions an' she didn't know what to say."
- Mọi người ai nấy đều biết ông Craven có một đứa con trai sinh ra vốn què quặt, và họ cũng biết ông Craven không thích nó bị đem ra bàn tán. Dân chúng đều lấy làm tiếc cho ông Craven, bởi bà Craven là một phu nhân xinh đẹp và hai người đã yêu thương nhau đến vậy. Bà Medlock thường dừng chân ở ngôi nhà gianh của chúng tối mỗi bận bà sang bên Thwaite, và lần nào bà cũng nói chuyện với mẹ tôi, trước mặt cả lũ trẻ con chúng tôi, vì bà biết chúng tôi đã được dạy dỗ thành những đứa đáng tin cậy. Làm thế nào mà cô phát hiện ra cậu ấy? Lần vừa rồi về thăm nhà, nom chị Martha lo lắng lắm. Chị ấy kể rằng cô đã nghe thấy cậu ấy khóc, và cô đã hỏi những câu hỏi khiến chị ấy chẳng biết trả lời sao.
Mary told him her story about the midnight wuthering of the wind which had wakened her and about the faint far-off sounds of the complaining voice which had led her down the dark corridors with her candle and had ended with her opening of the door of the dimly lighted room with the carven four-posted bed in the corner. When she described the small ivory-white face and the strange black-rimmed eyes Dickon shook his head.
Mary bèn thuật lại chuyện tiếng gào của gió giữa đêm khuya đã khiến nó thức giấc, tiếng nức nở xa xăm đã dẫn bước nó tới những hành lang tối tăm với cây nến trên tay, rồi việc nó mở cánh cửa căn phòng có ánh sang lờ mờ với chiếc giường có bốn cột chạm trổ kê ở góc phòng.Đến đoạn nó miêu tả khuôn mặt trắng ngà nhỏ nhắn và đôi mắt có mi đen kì lạ của Colin thì thằng Dickon lắc đầu.
"Them's just like his mother's eyes, only hers was always laughin', they say," he said. "They say as Mr. Craven can't bear to see him when he's awake an' it's because his eyes is so like his mother's an' yet looks so different in his miserable bit of a face."
- Chúng giống hệt đôi mắt bà mẹ, chỉ có điều đôi mắt bà luôn biết cười, tôi cũng nghe họ nói vậy. – Thằng bé tiếp, - họ còn bảo ông Craven không thể chịu đựng được việc nhìn cậu ấy khi cậu ấy thức dậy, bởi vì đôi mắt cậu giống bà mẹ quá đỗi, có khác chăng là vẻ đau khổ trên khuôn mặt cậu.
"Do you think he wants to die?" whispered Mary.
"No, but he wishes he'd never been born. Mother she says that's th' worst thing on earth for a child. Them as is not wanted scarce ever thrives. Mester Craven he'd buy anythin' as money could buy for th' poor lad but he'd like to forget as he's on earth. For one thing, he's afraid he'll look at him some day and find he's growed hunchback."
- Anh có cho rằng cậu ấy muốn chết không? – Mary thì thầm hỏi.
- Không, nhưng cậu ấy ước giá đừng bao giờ sinh ra thì hơn. Còn mẹ tôi, bà bảo rằng đó là điều bất hạnh nhất trên đời đối với một đứa trẻ. Ông Craven đã mua bất kể thứ gì mà tiền bạc có thể mua được cho anh chàng tội nghiệp ấy, chỉ có điều ông muốn quên đi sự hiện diện của cậu ấy trên đời này. Có một việc khiến ông sợ hãi là sẽ tới một ngày ông phải đối mặt với con trai mình, và nhận ra cậu ấy đã lớn lên với cái lưng gù.
"Colin's so afraid of it himself that he won't sit up," said Mary. "He says he's always thinking that if he should feel a lump coming he should go crazy and scream himself to death."
- Bản thân Colin khiếp sợ việc ấy đến nỗi cậu ấy không muốn ngồi dậy nữa, - Mary nói. – Cậu ấy bảo cậu ấy luôn nghĩ rằng nếu thấy một cái bướu mọc ra là cậu ấy sẽ phát điên và gào khóc cho tới khi chết.
"Eh! he oughtn't to lie there thinkin' things like that," said Dickon. "No lad could get well as thought them sort o' things."
- Trời ơi! Cậu ấy không nên nằm ì ra mà tưởng tượng những điều như vậy, - Dickon bảo. – Chẳng ai có thể khỏe mạnh được nếu chỉ nghĩ rặt những chuyện vớ vẩn như vậy.
The fox was lying on the grass close by him, looking up to ask for a pat now and then, and Dickon bent down and rubbed his neck softly and thought a few minutes in silence. Presently he lifted his head and looked round the garden.
Con cáo nãy giờ vẫn nằm trên vạt cỏ ngay cạnh Dickon, thỉnh thoảng nó ngướic lên như muốn được vỗ về, Dickon cúi xuống xoa nhẹ vào cổ nó và im lặng nghĩ ngợi vài phút. Đột nhiên, thằng bé ngẩng đầu và ngó quanh khu vườn.
"When first we got in here," he said, "it seemed like everything was gray. Look round now and tell me if tha' doesn't see a difference."
Mary looked and caught her breath a little.
"Why!" she cried, "the gray wall is changing. It is as if a green mist were creeping over it. It's almost like a green gauze veil."
"Aye," said Dickon. "An' it'll be greener and greener till th' gray's all gone. Can tha' guess what I was thinkin'?"
"I know it was something nice," said Mary eagerly. "I believe it was something about Colin."
- Lần đầu chúng ta vào đây, - nó nói – hình như mọi vật đều xám. Bây giờ nhin xung quanh mà xem, cô không nhận ra có gì đổi khác sao. Mary nhìn quanh và hít một hơi nhẹ.
- Sao thế này! – Con bé kêu lên, - bức tường màu xám đang biến đổi, khác nào có một màn sương màu xanh đang lan toả trên đó. Như một tấm mạng che mặt bằng sa xanh.
- Ấy! – Dickon bảo. – Rồi nó sẽ còn xanh hơn, xanh hơn nữa cho tới khi màu xám úa hoàn toàn biến mất. Cô có đoán tôi đang nghĩ gì không?
- Tôi biết phải là cái gì hay lắm, - Mary đáp lại vẻ háo hức. – Tôi tin rằng điều đó có lien quan đến Colin.
"I was thinkin' that if he was out here he wouldn't be watchin' for lumps to grow on his back; he'd be watchin' for buds to break on th' rose-bushes, an' he'd likely be healthier," explained Dickon. "I was wonderin' if us could ever get him in th' humor to come out here an' lie under th' trees in his carriage."
- Tôi đang nghĩ nếu cậu ấy được ra đây thì đỡ phải lo chuyện cái bướu mọc trên lưng, thay vào đó cậu ấy được ngắm những nụ bông hé nở trên các khóm hoa hồng, và chắc chắn sẽ khỏe hẳn ra, - Dickon giảng giải. – Tôi tự hỏi nếu ta giúp cậu ấy được vui vẻ, được ra ngoài này mà nằm dưới tán cây thì hay biết mấy.
"I've been wondering that myself. I've thought of it almost every time I've talked to him," said Mary. "I've wondered if he could keep a secret and I've wondered if we could bring him here without any one seeing us. I thought perhaps you could push his carriage. The doctor said he must have fresh air and if he wants us to take him out no one dare disobey him. He won't go out for other people and perhaps they will be glad if he will go out with us. He could order the gardeners to keep away so they wouldn't find out."
Dickon was thinking very hard as he scratched Captain's back.
- Tôi cũng thường tự hỏi về chuyện đó. Hầu như lúc nào tôi cũng nghĩ tới điều đó mỗi khi nói chuyện với Colin, - Mary bảo. – Tôi tự nhủ không biết cậu ấy có giữ được bí mật không, và liệu chúng ta có thể đưa cậu ấy ra đây mà không sợ ai trông thấy không. Tôi nghĩ có lẽ anh sẽ là người đẩy xe giúp cậu ấy. Bác sĩ bảo cậu ấy cần được hít thở không khí trong lành, và một khi cậu ấy muốn chúng ta đưa ra ngoài trời thì đố ai dám không vâng lời. Cậu ấy sẽ không ra ngoài với những người khác, và có lẽ mọi người sẽ lấy làm mừng khi cậu ấy bằng lòng đi với bọn mình. Cậu ấy có thể ra lệnh cho những người làm vườn đi chỗ khác, thế nên họ sẽ không tài nào phát hiện ra đâu.
Dickon đăm chiêu suy nghĩ trong lúc đưa tay gãi lưng cho con Đại úy.
"It'd be good for him, I'll warrant," he said. "Us'd not be thinkin' he'd better never been born. Us'd be just two children watchin' a garden grow, an' he'd be another. Two lads an' a little lass just lookin' on at th' springtime. I warrant it'd be better than doctor's stuff."
- Được thế thì thật tốt cho cậu ấy, tôi tin chắc như vậy, - thằng bé nói. – Sẽ không ai còn dám nghĩ thà cậu ấy đừng sinh ra trên đời. Trước đây chỉ có hai đứa chúng mình được ngắm cây cối trong vườn mọc lên, giờ thêm cậu ấy nữa là ba. Hai chàng và một nàng cùng nhau ngắm mùa xuân. Tôi dám đánh cược rằng điều đó còn tốt hơn mấy món thuốc của ông bác sĩ.
"He's been lying in his room so long and he's always been so afraid of his back that it has made him queer," said Mary. "He knows a good many things out of books but he doesn't know anything else. He says he has been too ill to notice things and he hates going out of doors and hates gardens and gardeners. But he likes to hear about this garden because it is a secret. I daren't tell him much but he said he wanted to see it."
- Bấy lâu nay, cậu ấy phải nằm bẹp trong phòng và luôn lo sợ cái lưng sẽ khiến mình dị dạng, - Mary bảo.
Cô bé ngừng lại 1 lát rồi nói tiếp.
- Cậu ấy hiểu biết nhiều nhờ sách vở, ngoài ra thì chẳng có gì. Cậu ấy bảo cứ ốm yếu suốt thế thì lấy đâu ra sức lực để nhận biết mọi thứ khác, thành thử cậu ấy ghét ra khỏi nhà, ghét vườn tược và ghét luôn cả người làm vườn. Nhưng cậu ấy lại thích nghe về khu vườn này, bởi nói là cả một bí mật. Tôi không dám kể lể nhiều, nhưng cậu ấy bảo rất thèm được ngắm nó.
"Us'll have him out here sometime for sure," said Dickon. "I could push his carriage well enough. Has tha' noticed how th' robin an' his mate has been workin' while we've been sittin' here? Look at him perched on that branch wonderin' where it'd be best to put that twig he's got in his beak."
- Đợi tới khi thật chắc chắn ta mới đưa cậu ấy ra đây, - Dickon tiếp – Tôi đủ sức đẩy xe cho cậu ấy. Cô có để ý thấy con chim ức đỏ và con mái của nó vẫn mải mê làm việc trong lúc ta ngồi đây không? Hãy xem nó đang đậu trên cái cành kia kìa, nó đang phân vân tự hỏi đâu là chỗ tốt nhất để nó cài cành nhỏ vừa ngậm trong mỏ mang về.
He made one of his low whistling calls and the robin turned his head and looked at him inquiringly, still holding his twig. Dickon spoke to him as Ben Weatherstaff did, but Dickon's tone was one of friendly advice.
Thằng bé huýt một tiếng trầm ngâm, con chim ức đỏ quay đầu nhìn nó vẻ dò hỏi, mỏ vẫn ngậm cái cành non. Dickon nói với nó theo kiểu lão Ben Weatherstaff vẫn thường làm, nghe như một lời khuyên thân thiện.
"Wheres'ever tha' puts it," he said, "it'll be all right. Tha' knew how to build tha' nest before tha' came out o' th' egg. Get on with thee, lad. Tha'st got no time to lose."
- Nơi nào mày chọn để làm tổ, hẳn đó là nơi yên lành. Trước khi rời khỏi vở trứng thì mày đã hiểu phải làm một cái tổ cho gia đình mình ra sao rồi. Tiếp tục đi, anh bạn. Đừng để phí thời gian.
"Oh, I do like to hear you talk to him!" Mary said, laughing delightedly. "Ben Weatherstaff scolds him and makes fun of him, and he hops about and looks as if he understood every word, and I know he likes it. Ben Weatherstaff says he is so conceited he would rather have stones thrown at him than not be noticed."
- Ôi, tôi thích nghe anh nói chuyện với nó! – Mary nói và bật cười sung sướng. – Ông Ben Weatherstaff cứ mắng mỏ và trêu chọc nó, còn nó thì nhảy nhót xung quanh và hiểu được từng từ một, và tôi biết nó thích thế lắm. Ông Ben bảo nó tự phụ đến mức thà bị ném đá chứ không thể không được ai để ý.
Dickon laughed too and went on talking.
"Tha' knows us won't trouble thee," he said to the robin. "Us is near bein' wild things ourselves. Us is nest-buildin' too, bless thee. Look out tha' doesn't tell on us."
Dickon nghe thế cũng phải bật cười, thằng bé tiếp tục trò chuyện.
- Mày thừa biết bọn tao không muốn quấy rầy mày, - nó bảo với con chim ức đỏ.– Như bọn tao đây cũng gần như những kẻ sống đời hoang dã. Bọn tao cũng đang xây tổ đấy. Chúa phù hộ cho mày. Coi chừng, đừng nói với ai về bọn tao nhé, nghe không?
And though the robin did not answer, because his beak was occupied, Mary knew that when he flew away with his twig to his own corner of the garden the darkness of his dew-bright eye meant that he would not tell their secret for the world.
Và mặc cho con chim ức đỏ không trả lời, bởi vì nó đang ngậm đầy mỏ, Mary vẫn biết rằng khi nó bay đi cùng với cái cành nhỏ, trở về góc vườn của nó, bóng sẫm trong đôi mắt như giọt sương của nó ngụ ý rằng nó không đời nào đi kể lại bí mật của chúng cho thế giới này.




CHAPTER 16

Chapter XVI: "I WON'T!" SAID MARY
Chương 16: MARY: “Tớ Sẽ KHÔNG ĐếN!”
They found a great deal to do that morning and Mary was late in returning to the house and was also in such a hurry to get back to her work that she quite forgot Colin until the last moment.
"Tell Colin that I can't come and see him yet," she said to Martha. "I'm very busy in the garden."
Martha looked rather frightened.
"Eh! Miss Mary," she said, "it may put him all out of humor when I tell him that."
But Mary was not as afraid of him as other people were and she was not a self-sacrificing person.
"I can't stay," she answered. "Dickon's waiting for me;" and she ran away.
Buổi sáng hôm đó, hai đứa trẻ tìm ra vô khối việc để làm. Lúc Mary quay về nhà thì đã muộn, sau đó nó còn vội vã trở lại với công việc đến nỗi quên khuấy cả Colin, cho tới phút cuối.
- Chị bảo với Colin rằng tôi không thể tới thăm cậu ấy được, - nó nói với Martha. – Tôi đang rất bận ngoài vườn. Martha trông có vẻ hoảng hốt.
- Kìa, cô Mary, việc đó có thể khiến cậu ấy bực bội điên lên khi tôi báo tin.
Nhưng Mary đâu có sợ Colin như những người khác, và nó vốn dĩ không phải một người biết hy sinh.
- Tôi không thể ở lại. Dickon đang đợi tôi,- đoạn nó chạy đi ngay.
The afternoon was even lovelier and busier than the morning had been. Already nearly all the weeds were cleared out of the garden and most of the roses and trees had been pruned or dug about. Dickon had brought a spade of his own and he had taught Mary to use all her tools, so that by this time it was plain that though the lovely wild place was not likely to become a "gardener's garden" it would be a wilderness of growing things before the springtime was over.
Buổi chiều hôm ấy còn bận bịu và dễ thương hơn cả buổi sáng. Hầu như tất cả cỏ dại đều được dọn sạch và các khóm hồng cùng cây cối trong vườn đều được xén tỉa, vun gốc. Dickon mang mai của mình đến, nó còn dạy Mary cách sử dụng mọi dụng cụ, nên lúc này chốn hoang dại đáng yêu đấy tuy chưa giống một khu vườn của người làm vườn chuyên nghiệp, nhưng sẽ biến thành cả rừng cây vươn lên trước khi mùa xuân trôi qua.
"There'll be apple blossoms an' cherry blossoms overhead," Dickon said, working away with all his might. "An' there'll be peach an' plum trees in bloom against th' walls, an' th' grass'll be a carpet o' flowers."
- Hoa táo và hoa anh đào sẽ tới đầu tiên, - Dickon nói trong khi hăng hái làm việc, - kế đến là mùa đào, rồi thì đám mận bên bờ tường cũng thi nhau nở rộ, và bãi cỏ này rồi sẽ biến thành một thảm hoa cho mà xem.
The little fox and the rook were as happy and busy as they were, and the robin and his mate flew backward and forward like tiny streaks of lightning. Sometimes the rook flapped his black wings and soared away over the tree-tops in the park. Each time he came back and perched near Dickon and cawed several times as if he were relating his adventures, and Dickon talked to him just as he had talked to the robin. Once when Dickon was so busy that he did not answer him at first, Soot flew on to his shoulders and gently tweaked his ear with his large beak. When Mary wanted to rest a little Dickon sat down with her under a tree and once he took his pipe out of his pocket and played the soft strange little notes and two squirrels appeared on the wall and looked and listened.
Con cáo nhỏ và con quạ cũng ra điều sung sướng và bận rộn như bọn chúng, còn chim ức đỏ cùng bạn đời của nó thì bay qua bay ại như những vệt sang bé xíu. Thỉnh thoảng con quạ lại vỗ vỗ đôi cánh đen của nó rồi bay vút lên ngọn cây trong vườn. Mỗi lần trở lại đậu gần Dickon, nó kêu lên mấy tiếng quạ quạ như đang kể lại những chuyến phiêu lưu của nó, Dickon bèn trò chuyện với nó như với con chim ức đỏ lúc trước. Một lúc khi Dickon đang bận tay không kịp trả lời nó, Bồ hóng bèn bay ngay lên vai và lấy cái mỏ to tướng véo nhẹ lên vai thằng bé. Khi Mary muốn nghỉ tay một lát, Dickon bèn ngồi xuống bên con bé dưới một tán cây. Nó rút cây sáo ra khỏi túi, và khi mấy nốt nhạc êm ái vừa mới cất lên thì hai con sóc từ đâu xuất hiện trên bờ tường, nghiêng ngó lắng nghe.
"Tha's a good bit stronger than tha' was," Dickon said, looking at her as she was digging. "Tha's beginning to look different, for sure."
Mary was glowing with exercise and good spirits.
"I'm getting fatter and fatter every day," she said quite exultantly. "Mrs. Medlock will have to get me some bigger dresses. Martha says my hair is growing thicker. It isn't so flat and stringy."
The sun was beginning to set and sending deep gold-colored rays slanting under the trees when they parted.
"It'll be fine tomorrow," said Dickon. "I'll be at work by sunrise."
"So will I," said Mary.
- Trông cô thế mà khỏe hơn tôi tưởng đấy, - Dickon nói trong lúc nhìn con bé xới đất. – Đã bắt đầu khác hẳn xưa rồi, thật đấy.
Cả người Mary hồng rực lên bởi hoạt động chân tay và tinh thần phấn chấn.
- Tôi mỗi ngày một béo ra, - nó hớn hở nói. – Bà Medlock sẽ kiếm cho tôi mấy chiếc áo rộng hơn. Chị Martha thì bảo tóc tôi ngày một dày hơn. Nó không còn mỏng dính và rối tung như trước nữa.
Mặt trời đang lặn dần và chiếu những tia nắng vàng thẫm chênh chếch xuống tán cây khi hai đứa trẻ chia tay nhau.
- Ngày mai trời sẽ đẹp, - Dickon bảo. – Mặt trời mọc là tôi bắt đầu làm việc ngay.
- Tôi cũng sẽ như vậy. – Mary đáp.
She ran back to the house as quickly as her feet would carry her. She wanted to tell Colin about Dickon's fox cub and the rook and about what the springtime had been doing. She felt sure he would like to hear. So it was not very pleasant when she opened the door of her room, to see Martha standing waiting for her with a doleful face.
Con bé guồng chân chạy hết tốc lực. Nó chỉ muốn kể lại cho Colin nghe về con cáo, con quạ của Dickon và những gì mùa xuân đã và đang mang lại. Nó chắc chắn rằng Colin sẽ thích nghe. Thế nhưng mọi thứ chẳng lấy gì làm vui, khi nó mở cửa phòng và bắt gặp Martha đang đứng đợi với bộ mặt sầu thảm.
"What is the matter?" she asked. "What did Colin say when you told him I couldn't come?"
"Eh!" said Martha, "I wish tha'd gone. He was nigh goin' into one o' his tantrums. There's been a nice to do all afternoon to keep him quiet. He would watch the clock all th' time."
- Chuyện gì vậy? – nó hỏi. – Colin nói gì khi chị báo rằng tôi không thể tới được?
- Ôi!- Martha đáp. – Tôi ước gì cô có mặt tại đó mà chứng kiến. Cậu ấy lại lên cơn cáu giận điên cuồng như trước đây. Suốt buổi chiều chẳng có cách nào làm cho cậu ấy yên được. Cậu ấy cứ nhìn đồng hồ suốt.
Mary's lips pinched themselves together. She was no more used to considering other people than Colin was and she saw no reason why an ill-tempered boy should interfere with the thing she liked best. She knew nothing about the pitifulness of people who had been ill and nervous and who did not know that they could control their tempers and need not make other people ill and nervous, too. When she had had a headache in India she had done her best to see that everybody else also had a headache or something quite as bad. And she felt she was quite right; but of course now she felt that Colin was quite wrong.
Đôi môi của Mary bậm lại. Thực ra nó ích kỷ chẳng kém Colin là bao, và nó nhận thấy chẳng có lý nào một thằng bé hay bẳn gắt lại được phép can thiệp vào những thứ nó đang vô cùng thích thú. Con bé không hình dung ra nổi nỗi khổ của những kẻ đang ốm đau rầu rĩ, những kẻ không có ý thức tự kiềm chế mình và bắt người khác cũng mệt mỏi phát ốm theo. Dạo ở Ấn Độ, mỗi khi bị nhức đầu, nó đã cố làm cho những người khác cũng bị đau đầu hay một cái gì tệ hại như thế. Và nó cảm thấy mình hoàn toàn đúng; dĩ nhiên, bây giờ nó cho rằng Colin hoàn toàn sai.
He was not on his sofa when she went into his room. He was lying flat on his back in bed and he did not turn his head toward her as she came in. This was a bad beginning and Mary marched up to him with her stiff manner.
Lúc Mary bước vào phòng riêng của Colin thì thằng bé không còn trên ghế sofa. Nó đang nằm dài trên giường, không thèm ngoái đầu lại nhìn khi con bé bước vào. Đây quả là một sự mở đầu tồi tệ. Mary cũng tiến lại chỗ thằng bé trong dáng điệu cứng nhắc của nó.
"Why didn't you get up?" she said.
"I did get up this morning when I thought you were coming," he answered, without looking at her. "I made them put me back in bed this afternoon. My back ached and my head ached and I was tired. Why didn't you come?" "I was working in the garden with Dickon," said Mary.
- Tại sao cậu không ngồi dậy? - Nó hỏi. - Sáng nay tớ đã dậy vì nghĩ thể nào cậu cũng tới, - thằng bé đáp, mắt không nhìn Mary. – Đến chiều tớ mới sai bọn họ đưa tớ về giường. Tớ đau lưng, nhức đầu và thấy mệt mỏi. Tại sao cậu không tới hả?
- Tớ làm việc trong vườn với Dickon.
Colin frowned and condescended to look at her.
"I won't let that boy come here if you go and stay with him instead of coming to talk to me," he said.
Mary flew into a fine passion. She could fly into a passion without making a noise. She just grew sour and obstinate and did not care what happened.
"If you send Dickon away, I'll never come into this room again!" she retorted.
"You'll have to if I want you," said Colin.
"I won't!" said Mary.
"I'll make you," said Colin. "They shall drag you in."
Colin chau mày rồi mới chiếu cố nhìn đến nó.
- Tớ sẽ không cho phép thằng nhóc ấy đến đây nếu cậu cứ bỏ đi và ở lại với thằng ấy, trong khi lẽ ra phải đến đây nói chuyện với tớ, - nó nói.
Mary nổi giận lôi đình. Nó có thể giận dữ mà không làm huyên náo. Nó chỉ trở nên gay gắt, ương ngạnh và không cần biết chuyện gì sẽ xảy ra.
- Nếu cậu đuổi Dickon đi, tớ sẽ không bao giờ bước chân tới căn phòng này nữa, - con bé trả miếng.
- Cậu phải đến nếu tớ muốn, - Colin nói.
- Tớ sẽ không đến! – Mary đáp lại.
- Tớ sẽ ép cậu, - Colin bảo. – Bọn họ sẽ kéo cậu vào.
"Shall they, Mr. Rajah!" said Mary fiercely. "They may drag me in but they can't make me talk when they get me here. I'll sit and clench my teeth and never tell you one thing. I won't even look at you. I'll stare at the floor!"
They were a nice agreeable pair as they glared at each other. If they had been two little street boys they would have sprung at each other and had a rough-and-tumble fight. As it was, they did the next thing to it.
"You are a selfish thing!" cried Colin.
- Họ dám à, ngài tiểu vương! – Mary nói một cách tức giận. – Họ có thể kéo tớ vào, nhưng không thể bắt tớ nói sau khi ép buộc tớ tới đây. Tớ chỉ ngồi im, bịt miệng và không thèm nói với cậu dù chỉ một lời. Thậm chí tớ cũng sẽ không thèm nhìn cậu, mà chỉ nhìn xuống sàn!
Và chúng vẫn cứ là hai đứa trẻ dễ thương khi chúng đưa mắt gườm gườm nhìn nhau. Giả sử là hai thằng nhóc bụi đời ngoài phố thì hẳn chúng đã lao vào và choảng nhau ra trò.
- Cậu là đồ ích kỷ! - Colin gào lên.
"What are you?" said Mary. "Selfish people always say that. Any one is selfish who doesn't do what they want. You're more selfish than I am. You're the most selfish boy I ever saw."
"I'm not!" snapped Colin. "I'm not as selfish as your fine Dickon is! He keeps you playing in the dirt when he knows I am all by myself. He's selfish, if you like!"
- Thế còn cậu? – Mary nói. – Người ích kỷ nào mà chẳng nói vậy. Bất cứ ai cũng thành ích kỷ, nếu không tự mình đi làm những gì họ muốn. Cậu còn ích kỷ hơn tớ. Cậu là thằng nhãi ích kỷ nhất mà tớ từng thấy.
- Tớ không phải thế! – Colin vặc lại. – Tớ không ích kỷ như anh chàng Dickon xinh trai của cậu! Hắn giữ cậu lại mà chơi đùa ở cái nơi bẩn thỉu ấy trong khi hắn thừa biết tớ chỉ có một thân một mình. Hắn quả là ích kỷ, cậu cứ đi mà thích!
Mary's eyes flashed fire.
"He's nicer than any other boy that ever lived!" she said. "He's--he's like an angel!" It might sound rather silly to say that but she did not care.
"A nice angel!" Colin sneered ferociously. "He's a common cottage boy off the moor!"
"He's better than a common Rajah!" retorted Mary. "He's a thousand times better!"
Đôi mắt Mary nảy lửa.
- Anh ấy còn tốt đẹp hơn bất cứ đứa con trai nào trên đời! – Nó nói. – Anh ấy… anh ấy giống như một thiên thần!
– Có lẽ nó thật ngốc khi nói ra điều đó, nhưng nó chẳng quan tâm.
- Một thiên thần xinh đẹp! – Colin mỉa mai một cách dữ tợn. – Đấy là một thằng nhóc bình dân trong túp lều gianh ngoài đồng hoang!
- Anh ấy còn hay hơn một gã tiểu vương tầm thường! – Mary trả miếng. – Anh ấy ngàn lần hay hơn!
Because she was the stronger of the two she was beginning to get the better of him. The truth was that he had never had a fight with any one like himself in his life and, upon the whole, it was rather good for him, though neither he nor Mary knew anything about that. He turned his head on his pillow and shut his eyes and a big tear was squeezed out and ran down his cheek. He was beginning to feel pathetic and sorry for himself--not for any one else.
Bởi vì trong hai đứa, con bé có giọng điệu đanh thép hơn, nên nó bắt đầu thắng thế so với thằng kia. Sự thực là trong đời, thằng Colin chưa bao giờ phải đôi co với bất kỳ đứa trẻ nào giống mình, nhưng tựu chung thì chuyện này cũng tốt cho nó, mặc dù cả nó và Mary đều chẳng hề nhận ra. Nó trở đầu trên gối, nhắm tịt mắt lại, một giọt nước mắt lớn ứa ra chảy trên xuống má nó. Thằng bé bắt đầu cảm thấy đau đớn xót xa cho thân phận mình.
"I'm not as selfish as you, because I'm always ill, and I'm sure there is a lump coming on my back," he said. "And I am going to die besides."
"You're not!" contradicted Mary unsympathetically.
He opened his eyes quite wide with indignation. He had never heard such a thing said before. He was at once furious and slightly pleased, if a person could be both at one time.
"I'm not?" he cried. "I am! You know I am! Everybody says so."
- Tớ không đến nỗi ích kỷ như cậu nói, bởi tớ lúc nào cũng ốm, tớ dám nói chắc rằng có một cục bướu đang hình thành trên lưng tớ. Hơn thế nữa, tớ sắp chết đến nơi rồi.
- Cậu không hề như vậy! – Mary phủ nhận một cách không thương xót.
Thằng bé mở to đôi mắt phẫn nộ. Từ trước tới giờ, nó chưa từng nghe ai nói một câu tương tự. Nó vừa giận dữ vừa thoáng thấy vui mừng, nếu như người ta có thể cùng lúc có cả hai cảm xúc đó trong mình.
- Tớ mà không hề như vậy sao? – Nó kêu to. – Tớ là thế đấy! Cậu cũng thừa biết tớ như thế mà! Ai ai cũng nói thế.
"I don't believe it!" said Mary sourly. "You just say that to make people sorry. I believe you're proud of it. I don't believe it! If you were a nice boy it might be true--but you're too nasty!"
In spite of his invalid back Colin sat up in bed in quite a healthy rage.
"Get out of the room!" he shouted and he caught hold of his pillow and threw it at her. He was not strong enough to throw it far and it only fell at her feet, but Mary's face looked as pinched as a nutcracker.
- Tớ không tin! – Mary gắt gỏng. – Cậu chúa là hay nói vậy để mọi người phải rầu lòng. Tớ chắc cậu tự hào về điều đó lắm. Tớ thì tớ không tin! Nếu cậu là một cậu bé ngoan thì có lẽ đúng vậy, nhưng đằng này cậu quá hư đốn!
Không đếm xỉa tới cái lưng chưa ổn của nó, thằng bé ngồi bật dậy trên giường trong cơn thịnh nộ.
- Cút ngay khỏi phòng! – Nó quát to, đoạn vớ lấy cái gối ném thẳng vào con bé. Nó không đủ sức ném cái gối xa hơn, nên cái gối rớt xuống ngay cạnh chân con bé, nhưng khuôn mặt Mary vẫn rắn đanh như cái kẹp hạt dẻ.
"I'm going," she said. "And I won't come back!" She walked to the door and when she reached it she turned round and spoke again.
"I was going to tell you all sorts of nice things," she said. "Dickon brought his fox and his rook and I was going to tell you all about them. Now I won't tell you a single thing!"
- Tớ về đây. Và sẽ không bao giờ trở lại! Con bé bước thẳng ra cửa, vừa đến đó nó quay lại và mở miệng. - Tớ định bụng sẽ kể cho cậu nghe biết bao chuyện hay. Dickon mang con cáo và con quạ của anh ấy đến, và tớ định kể cho cậu mọi điều về chúng. Bây giờ thì một mẩu chuyện cũng đừng hòng tớ kể!
She marched out of the door and closed it behind her, and there to her great astonishment she found the trained nurse standing as if she had been listening and, more amazing still--she was laughing. She was a big handsome young woman who ought not to have been a trained nurse at all, as she could not bear invalids and she was always making excuses to leave Colin to Martha or any one else who would take her place. Mary had never liked her, and she simply stood and gazed up at her as she stood giggling into her handkerchief.
Con bé chạy vụt ra khỏi phòng rồi khép cánh cửa lại sau lưng, tại đó nó kinh ngạc nhận ra cô bảo mẫu, có vẻ như đã nghe thấy hết câu chuyện và vẫn còn ngạc nhiên, cô cười phá lên. Cô là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc người cao lớn và chẳng có vẻ gì là một bảo mẫu chuyên nghiệp cả. Hơn thế nữa, cô không thể chịu đựng được người tàn tật. Cô luôn kiếm cớ bỏ mặc Colin cho Martha hay bất kỳ ai khác thay chân giúp cô. Mary chưa bao giờ thấy ưa cô nên nó chỉ đứng nhìn cô chằm chằm, trong khi cô cười rúc ríc sau cái khăn tay che miệng.
"What are you laughing at?" she asked her.
"At you two young ones," said the nurse. "It's the best thing that could happen to the sickly pampered thing to have some one to stand up to him that's as spoiled as himself;" and she laughed into her handkerchief again. "If he'd had a young vixen of a sister to fight with it would have been the saving of him."
- Chị cười gì hả? - Nó hỏi cô.
- Cười hai bạn trẻ, - cô bảo mẫu nói. – Đó là điều tốt nhất ta có thể làm cho một kẻ ốm yếu và được nuông chiều thái quá. Hết người nọ đến người kia hầu hạ chỉ tổ làm hỏng cậu ấy mà thôi, - nói đoạn cô lại đưa khăn tay che miệng cười. - Giá mà cậu ấy có một cô em gái đáo để mà choảng nhau, có khi lại cứu được cậu cũng nên.
"Is he going to die?"
"I don't know and I don't care," said the nurse. "Hysterics and temper are half what ails him."
"What are hysterics?" asked Mary.
"You'll find out if you work him into a tantrum after this--but at any rate you've given him something to have hysterics about, and I'm glad of it."
- Cậu ấy sắp chết thật sao?
- Tôi không biết mà cũng chẳng quan tâm, - cô bảo mẫu nói. – Sự nóng nảy kích động là một nửa những gì đã hại cậu ấy.
- Kích động cái gì? – Mary hỏi.
- Rồi cô sẽ thấy nếu cô đẩy cậu ấy vào một cơn điên giận sau chuyện vừa rồi. Nhưng dù thế nào đi nữa, cô đã làm cho cậu ấy một cái cớ để kích động, và tôi lấy làm mừng vì điều đó.
Mary went back to her room not feeling at all as she had felt when she had come in from the garden. She was cross and disappointed but not at all sorry for Colin. She had looked forward to telling him a great many things and she had meant to try to make up her mind whether it would be safe to trust him with the great secret. She had been beginning to think it would be, but now she had changed her mind entirely. She would never tell him and he could stay in his room and never get any fresh air and die if he liked! It would serve him right! She felt so sour and unrelenting that for a few minutes she almost forgot about Dickon and the green veil creeping over the world and the soft wind blowing down from the moor.
Mary trở về phòng mà không hề xao xuyến như cảm giác nó đã từng có lúc từ vườn về nhà.
Nó chỉ hơi bực mình và không hề thấy thương xót gì thằng Colin. Nó đã mong đến lúc kể lại cho thằng nhóc ấy biết bao chuyện lạ, và nó cũng đã tính, sẽ quyết định xem liệu có tin cậy mà thổ lộ với Colin cái điều bí mật to lớn ấy không.
Con bé đã bắt đầu tính đến chuyện đó, nhưng bây giờ thì nó suy nghĩ khác hoàn toàn. Nó sẽ chẳng bao giờ nói cho thằng ấy biết, thằng ấy cứ việc nằm dài trong phòng, không khi nào được tận hưởng bầu không khí trong lành và sẽ chết như nó muốn! Thế cũng đáng đời lắm!
Con bé cảm thấy mình cứng rắn và tàn nhẫn đến mức trong giây lát nó hầu như quên hẳn Dickon cũng tấm màn xanh mơn mởn đang dần bao trùm lên thế giới, cùng với cả làn gió dịu dàng đang từ cánh đồng hoang thổi về.
Martha was waiting for her and the trouble in her face had been temporarily replaced by interest and curiosity. There was a wooden box on the table and its cover had been removed and revealed that it was full of neat packages.
"Mr. Craven sent it to you," said Martha. "It looks as if it had picture-books in it."
Martha đang đợi con bé, nét buồn rầu trên gương mặt chị lúc này tạm thời chuyển sang vẻ quan tâm pha chút tò mò. Một chiếc hộp gỗ để trên bàn, nắp đã mở sẵn, để lộ những gói buộc gọn gang chật ních.
- Ông Craven gửi nó cho cô đấy, - Martha bảo. – Có vẻ là mấy cuốn truyện tranh.
Mary remembered what he had asked her the day she had gone to his room. "Do you want anything--dolls--toys --books?" She opened the package wondering if he had sent a doll, and also wondering what she should do with it if he had. But he had not sent one. There were several beautiful books such as Colin had, and two of them were about gardens and were full of pictures. There were two or three games and there was a beautiful little writing-case with a gold monogram on it and a gold pen and inkstand.
Mary bỗng nhớ lại những gì ông đã nói với nó vào cái hôm nó đến phòng ông.
“ Cháu thích gì nào: búp bê, đồ chơi, sách ?”
Con bé mở gói đồ, tự hỏi không biết ông có gửi cho nó búp bê hay không, và nghĩ bụng nó biết làm gì với con búp bê đây nếu ông gửi.
Nhưng ông không gửi cho nó con búp bê nào cả. Thế vào đó là mấy cuốn sách tuyệt đẹp chẳng kém gì của Colin, hai trong số đó viết và những khu vườn và đầy những tranh minh họa, cùng mấy thứ đồ chơi, một hộp đựng bút bé xinh trên có khắc chữ lồng mạ vàng, cùng một cây bút bằng vàng và cái giá để lọ mực.
Everything was so nice that her pleasure began to crowd her anger out of her mind. She had not expected him to remember her at all and her hard little heart grew quite warm.
"I can write better than I can print," she said, "and the first thing I shall write with that pen will be a letter to tell him I am much obliged."
Tất cả đều đẹp đến nỗi niềm vui bắt đầu đẩy lùi mọi tức tối ra khỏi tâm trí của nó. Nó không dám mong được ông nhớ đến, trái tim bé nhỏ khô cằn của nó trở nên ấm áp lạ thường.
- Tôi viết chữ thường đẹp hơn chữ in, - nó nói, - và việc trước tiên là tôi sẽ viết, bằng chiếc bút này, một bức thư để nói với ông rằng tôi cảm ơn ông.
If she had been friends with Colin she would have run to show him her presents at once, and they would have looked at the pictures and read some of the gardening books and perhaps tried playing the games, and he would have enjoyed himself so much he would never once have thought he was going to die or have put his hand on his spine to see if there was a lump coming.
Giá như còn là bạn bè với Colin, thì chắc hẳn nó sẽ chạy đến khoe món quà với thằng bé ngay tức khắc, rồi chúng sẽ cùng nhau xem các bức vẽ, đọc mấy cuốn sách về vườn tược, và có thể còn mang đồ chơi ra chơi nữa, và thằng Colin chắc sẽ sung sướng đến nỗi từ nay không bao giờ nghĩ rằng nó sắp chết, hay lại đặt tay lên xương sống để xem cục bướu có mọc lên không.
He had a way of doing that which she could not bear. It gave her an uncomfortable frightened feeling because he always looked so frightened himself. He said that if he felt even quite a little lump some day he should know his hunch had begun to grow. Something he had heard Mrs. Medlock whispering to the nurse had given him the idea and he had thought over it in secret until it was quite firmly fixed in his mind. Mrs. Medlock had said his father's back had begun to show its crookedness in that way when he was a child. He had never told any one but Mary that most of his "tantrums" as they called them grew out of his hysterical hidden fear. Mary had been sorry for him when he had told her.
Nó cứ làm vậy thì Mary không chịu nổi. Việc đó gây cho con bé một cảm giác kinh sợ bất an, bởi vì chính thằng bé trông cũng quá sợ hãi. Nó bảo nếu một ngày nào đó nó cảm thấy có một cái bướu nhỏ thôi thì nó hiểu ra rằng cái lưng của mình bắt đầu gù đi. Những gì bà Medlock thầm thì với cô bảo mẫu đã khiến ý nghĩ ấy hình thành. Nó âm thầm nung nấu ý nghĩ đó đến mức ăn sâu vào tâm trí. Bà Medlock cho rằng cái lưng của cha nó đã lộ vẻ méo mó từ khi ông còn bé tí. Nó chưa bao giờ thổ lộ với ai khác ngoài Mary rằng “những cơn tam bành” của nó, như thiên hạ thường gọi thế, đã nảy sinh từ nỗi sợ điên cuồng giấu kín đó. Khi nó kể chuyện đó, Mary cũng động lòng thương cảm.
"He always began to think about it when he was cross or tired," she said to herself. "And he has been cross today. Perhaps--perhaps he has been thinking about it all afternoon."
She stood still, looking down at the carpet and thinking.
“Cậu ấy luôn nghĩ về điều đó mỗi khi tức giận hay mệt mỏi, - nó thầm nhủ. – Hôm nay cậu ấy cũng đang tức giận thì phải. Có lẽ… có lẽ suốt chiều nay cậu ấy sẽ bị ám ảnh về chuyện ấy.”
Con bé đứng lặng người, cúi nhìn tấm thảm và suy nghĩ.
"I said I would never go back again--" she hesitated, knitting her brows--"but perhaps, just perhaps, I will go and see--if he wants me--in the morning. Perhaps he'll try to throw his pillow at me again, but--I think--I'll go."
“ Mình đã bảo sẽ không bao giờ thèm quay lại đấy nữa cơ mà, - con bé lưỡng lự, cau mày, - nhưng có lẽ, chỉ là có lẽ thôi, mình sẽ tới và xem xem … nhỡ cậu ấy sẽ lại ném chiếc gối vào mình cũng nên, nhưng … mình cho rằng mình sẽ tới.”

Translated by nguyen tuan khanh



No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn