MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, February 20, 2012

THE SECRET GARDEN 3- KHU VƯỜN BÍ MẬT 3




CHAPTER 9

Chapter IX THE STRANGEST HOUSE ANY ONE EVER LIVED IN
Chương 9: Ngôi nhà kỳ lại nhất chưa ai từng thấy.
It was the sweetest, most mysterious-looking place any one could imagine. The high walls which shut it in were covered with the leafless stems of climbing roses which were so thick that they were matted together. Mary Lennox knew they were roses because she had seen a great many roses in India. All the ground was covered with grass of a wintry brown and out of it grew clumps of bushes which were surely rosebushes if they were alive. There were numbers of standard roses which had so spread their branches that they were like little trees. There were other trees in the garden, and one of the things which made the place look strangest and loveliest was that climbing roses had run all over them and swung down long tendrils which made light swaying curtains, and here and there they had caught at each other or at a far-reaching branch and had crept from one tree to another and made lovely bridges of themselves. There were neither leaves nor roses on them now and Mary did not know whether they were dead or alive, but their thin gray or brown branches and sprays looked like a sort of hazy mantle spreading over everything, walls, and trees, and even brown grass, where they had fallen from their fastenings and run along the ground. It was this hazy tangle from tree to tree which made it all look so mysterious. Mary had thought it must be different from other gardens which had not been left all by themselves so long; and indeed it was different from any other place she had ever seen in her life.
Đó quả là nơi ngọt ngào, huyền bí nhất chưa ai có thể tưởng tượng nên. Mấy bức tường cao ngăn cánh với bên ngoài phủ đầy những cánh hồng leo trụi lá đang mọc dày đến mức quyện chặt cào nhau. Marry Lennox biết chúng là hoa hồng bởi nó đã từng thấy rất nhiều loại hoa hồng hồi ở Ấn Độ. Khắp mặt đất mọc đầy thứ cỏ mang màu nâu úa của mùa đông, phía bên ngoài nó mọc lên những búi cành hẳn sẽ là những khóm hồng nếu chúng còn sống. Có một vài loài hoa hồng thông thường đàng toả ra như những cái cây nhỏ. Trong vườn còn nhiều loại cây khác, thế nhưng một trong nhưnngx điều khiến nơi đây trở nên khác lạ và đáng yêu chính là đám hồng leo đang vươn cành toả nhánh khắp nơi, để rồi rủ xuống những tua dài kết thành những bức mành nhẹ đung đưa trước gió; đây đó chúng gặp nhau, khóm này đan cành vào khóm kia cho tới lúc tự chúng kết thành những chiếc cầu vòng vô cùng duyên dáng. Giờ này trên thân chúng không có cả lá lẫn hoa, Marry cũng không rõ liệu chúng còn sống hay đã chết, chỉ thâý những cành và nhánh mảnh dẻ màu nâu xám tựa một chiếc khăn choàng đang mơ hồ trải rộng bao trùm mọi vật, từ các bức tường, cây cối và ngay cả mặt cỏ úa vàng, nơi chúng quyện chặt lấy nhau và bò lan trên khắp mặt đất. Cái mớ dây mơ hồ này giăng mắc từ cây nọ sang cây kia càng khiến cho cảnh vật trở nên bí ẩn. Marry nghĩ thầm, nơi này không giống với những khu vườn bỏ quên đã lâu, và quả thực, đó là nơi khác hẳn với bất kì nơi nào mà nó từng thấy trong đời.
"How still it is!" she whispered. "How still!"
Then she waited a moment and listened at the stillness. The robin, who had flown to his treetop, was still as all the rest. He did not even flutter his wings; he sat without stirring, and looked at Mary.
"No wonder it is still," she whispered again. "I am the first person who has spoken in here for ten years."
- Yên tĩnh quá! – Nó thì thào. – Yên tĩnh quá!
Con bé chờ đợi giây lát và yên lặng lắng nghe. Con chim ức đỏ nãy giờ đậu trên ngọn cây, cũng lặng thinh như cảnh vật bao quanh nó. Nó thậm chí còn không dám vỗ cánh, cứ đậu ở đó mà nhìn Marry.
- "Yên tĩnh là phải, - nó lại thì thầm. – Mình là người đầu tiên lên tiếng ở đây trong suốt mười năm qua".
She moved away from the door, stepping as softly as if she were afraid of awakening some one. She was glad that there was grass under her feet and that her steps made no sounds. She walked under one of the fairy-like gray arches between the trees and looked up at the sprays and tendrils which formed them. "I wonder if they are all quite dead," she said. "Is it all a quite dead garden? I wish it wasn't."
Nó bước khỏi cánh cổng, rón rén thật khẽ như sợ làm ai thức giấc. Nó mừng vì dưới chân mình là cỏ, vì như vậy bước chân của nó sẽ không phát ra tiếng động. Nó đi dưới một trong những vòm cây như trong truyện cổ tích, mắt ngước nhìn lên các nhánh cây và dây leo đã kết nên chúng.
- Mình băn khoăn liệu chúng đã chết cả chưa. Chẳng lẽ đây là khu vườn đã hoàn toàn chết ư? Ước gì không phải vậy.
If she had been Ben Weatherstaff she could have told whether the wood was alive by looking at it, but she could only see that there were only gray or brown sprays and branches and none showed any signs of even a tiny leaf-bud anywhere.
But she was inside the wonderful garden and she could come through the door under the ivy any time and she felt as if she had found a world all her own.
Nếu là lão Ben Weatherstaff thì nhìn qua là có thể nói được một cái cây còn sống hay không, nhưng Marry chỉ có thể thấy đó là những nhánh có màu nâu hay xám, và chẳng hề có dấu hiệu nào của những chồi lá tí hon ở bất kì đâu.
Nhưng dù sao nó cũng đang ở trong khu vườn kỳ diệu, và có thể bước qua cánh cửa dưới giàn thường xuân bất cứ lúc nào – con bé tự mình vừa khám phá ra cả một thế giới.
The sun was shining inside the four walls and the high arch of blue sky over this particular piece of Misselthwaite seemed even more brilliant and soft than it was over the moor. The robin flew down from his tree-top and hopped about or flew after her from one bush to another. He chirped a good deal and had a very busy air, as if he were showing her things. Everything was strange and silent and she seemed to be hundreds of miles away from any one, but somehow she did not feel lonely at all. All that troubled her was her wish that she knew whether all the roses were dead, or if perhaps some of them had lived and might put out leaves and buds as the weather got warmer.
Mặt trời toả sáng bên trong bốn bức tường, vòm trời cao xanh phía trên mảnh đất đặc biệt này của Misselthwaite thậm chí còn rực rỡ và dịu dàng hơn khi bao trùm trên cánh đồng hoang. Từ ngọn cây nơi nó đang đậu, con chim ức đỏ sà xuống đất nhảy nhót và bay theo con bé từ bụi cây này sang bụi cây khác. Nó líu lo một tràng dài và có vẻ hêt sức bận rộn, như thể đang chỉ cho con bé những thứ xung quanh. Mọi thứ thật kỳ lạ và yên tĩnh, và con bé có cảm tưởng mình đang cách biệt với mọi người dễ tới hàng trăm dặm nhưng nó chẳng hề thấy cô đơn chút nào. Điều nó bận tâm lúc này là mong ước được biết các khóm hồng đã chết chưa, và những cây nào còn sống thì có thể đâm chồi nảy nộc khi thời tiết trở nên ấm áp không.
She did not want it to be a quite dead garden. If it were a quite alive garden, how wonderful it would be, and what thousands of roses would grow on every side! Her skipping-rope had hung over her arm when she came in and after she had walked about for a while she thought she would skip round the whole garden, stopping when she wanted to look at things. There seemed to have been grass paths here and there, and in one or two corners there were alcoves of evergreen with stone seats or tall moss-covered flower urns in them.
Nó không muốn nơi này là một khu vườn chết. Nếu còn sống thì nơi này sẽ là một chốn tuyệt vời biết bao, với hàng ngàn, hàng ngàn cây hồng đua nhau trỗi dậy ở khắp mọi nơi! Sợi dây nhảy vẫn ở trên cánh tay Marry khi nó bước vào, và sau khi lang thang một hồi, nó nảy ra ý nghĩ thử nhảy vòng dây quanh khắp vườn xem sao, mỗi khi muốn quan sát điều gì thì mới dừng chân. Đây đó có vẻ đã từng có vài con đường mòn cỏ mọc. Ở đôi chỗ trong góc vườn, có mấy vòm cây thường xuân cùng vài chiếc ghế đá hay chậu hoa rêu phong phủ kín.
As she came near the second of these alcoves she stopped skipping. There had once been a flowerbed in it, and she thought she saw something sticking out of the black earth- -some sharp little pale green points. She remembered what Ben Weatherstaff had said and she knelt down to look at them.
"Yes, they are tiny growing things and they might be crocuses or snowdrops or daffodils," she whispered.
She bent very close to them and sniffed the fresh scent of the damp earth. She liked it very much.
"Perhaps there are some other ones coming up in other places," she said. "I will go all over the garden and look."
Nó thôi nhảy khi tới gần vòm cây kế tiếp. Trước kia, chỗ này từng có một luống hoa, nó nghĩ vậy khi vừa nhìn thấy những gì đang nhú lên khỏi lớp đất đen - mấy cái chấm xanh nhạt nhọn nhọn và nhỏ xíu.
Nhớ lại những gì lão Ben Weatherstaff đã nói, nó bèn quỳ xuống nhìn chúng.
- Phải, chúng đang nhú lên từng tí một, có lẽ là nghệ tây, hoa giột tuyết hay thuỷ tiên hoa vàng đây, - con bé thì thào. Con bé cúi gần hơn nữa, hít sâu vào ngực làn hưng thơm mát của đất ẩm. Nó thấy thích thú cái mùi đó vô cùng.
- Có lẽ còn nhiều loài khác đang nảy mầm quanh đây. Mình phải đi khắp vườn này xem sao.
She did not skip, but walked. She went slowly and kept her eyes on the ground. She looked in the old border beds and among the grass, and after she had gone round, trying to miss nothing, she had found ever so many more sharp, pale green points, and she had become quite excited again.
"It isn't a quite dead garden," she cried out softly to herself. "Even if the roses are dead, there are other things alive."
Nó không nhảy dây nữa mà đi bộ, chân bước chậm rãi, mắt dán xuống mặt đất. Nó nhìn xuống những luống hoa cũ, vào giữa những vạt cỏ, và sau khi đã bước vòng vèo, cố không để sót một cái gì, con bé phát hiện ra rất nhiều những mầm xanh lá xanh nhạt, nhọn sắc. Một lần nữa, nó cảm thấy vô cùng phấn khích.
- Đây hoàn toàn không phải là khu vườn chết, - nó kêu khẽ. – Dù những đám hồng kia đã chết thì những cây khác vẫn còn sống.
She did not know anything about gardening, but the grass seemed so thick in some of the places where the green points were pushing their way through that she thought they did not seem to have room enough to grow. She searched about until she found a rather sharp piece of wood and knelt down and dug and weeded out the weeds and grass until she made nice little clear places around them.
Con bé chẳng biết gì về việc làm vườn, nhưng cỏ mọc dày ở nơi những chiếc mầm xanh đag nhú lên, đến nỗi nó thấy lo lắng về việc rồi sẽ không đủ chỗ cho chúng phát triển. Nó tìm kiếm khắp nơi cho tới khi nhặt được một mảnh gỗ có đầu khá nhọn, nó liền quỳ xuống hì hục xới đất, rãy cỏ dại cho tới khi đám đất chỗ đó đã gọn gàng đâu vào đấy.
"Now they look as if they could breathe," she said, after she had finished with the first ones. "I am going to do ever so many more. I'll do all I can see. If I haven't time today I can come tomorrow."
- Bây giờ có vẻ như chúng đã dễ thở hơn, - con bé nói sau khi đã làm xong những việc đầu tiên. – Mình còn tiếp tục làm nữa. Mình sẽ làm tất cả những chỗ mình thấy. Nếu hôm hay không đủ thời gian thì ngày mai mình lại tới.
She went from place to place, and dug and weeded, and enjoyed herself so immensely that she was led on from bed to bed and into the grass under the trees. The exercise made her so warm that she first threw her coat off, and then her hat, and without knowing it she was smiling down on to the grass and the pale green points all the time.
Nó đi hết chỗ này tới chỗ khác, xới đất và rãy cỏ, trong lòng vui sướng tràn trề đến nỗi nó cứ làm hết luống nọ tới luống kia, tới cả đám cỏ dưới các hàng cây. Hoạt động làm nó nóng người lên đến độ phải quẳng cả áo khoác, rồi mũ xuống đất, và không hiểu sao miệng cứ mỉm cười cúi nhìn những vạt cỏ cùng những nụ mầm xanh nhạt mãi không thôi.
The robin was tremendously busy. He was very much pleased to see gardening begun on his own estate. He had often wondered at Ben Weatherstaff. Where gardening is done all sorts of delightful things to eat are turned up with the soil. Now here was this new kind of creature who was not half Ben's size and yet had had the sense to come into his garden and begin at once.
Con chim ức đỏ cũng bận rộn không kém. Nó hài lòng lắm khi thấy việc làm vườn được bắt đầu ngay từ lãnh địa của nó. Nó thường sửng sốt về công việc của lão Ben Waetherstaff. Hễ nơi nào đất được lật xới lên là có đủ các thức ăn ngon lành đi kèm. Giờ đây lại có một sinh vật to không bằng phân nửa lão mà đã biết cách vào được khu vườn.
Mistress Mary worked in her garden until it was time to go to her midday dinner. In fact, she was rather late in remembering, and when she put on her coat and hat, and picked up her skipping-rope, she could not believe that she had been working two or three hours. She had been actually happy all the time; and dozens and dozens of the tiny, pale green points were to be seen in cleared places, looking twice as cheerful as they had looked before when the grass and weeds had been smothering them.
Cô chủ Marry làm việc trong khu vườn của cô cho tới giờ phải về nhà ăn trưa.Thực ra, lúc con bé nhớ ra giờ giấc thì đã khá muộn. Mặc xong áo khoác, đội mũ và vơ lấy cuộn dây nhảy, nó không ngờ rằng mình đã làm việc liền tù tì hai ba tiếng đồng hồ. Tất nhiên rồi, đó là quãng thời gian hạnh phúc của nó; và giờ đây, có thể nhìn thấy hàng tá, hàng tá những chấm nhỏ xanh nhạt đang nhoi lên từ những khoảnh đất thoáng đãng, trông hào hứng bội phần so với lúc trước, lúc cỏ dại còn làm chúng ngạt thở.
"I shall come back this afternoon," she said, looking all round at her new kingdom, and speaking to the trees and the rose-bushes as if they heard her.
- Buổi chiều mình sẽ quay lại nơi này, - nó vừa nói vừa đưa mắt ngắm nhìn khắp vương quốc mới mẻ của mình, miệng thầm thì với đám cây cối, bụi hồng, như thể chúng hiểu lời nó.
Then she ran lightly across the grass, pushed open the slow old door and slipped through it under the ivy. She had such red cheeks and such bright eyes and ate such a dinner that Martha was delighted.
"Two pieces o' meat an' two helps o' rice puddin'!" she said. "Eh! mother will be pleased when I tell her what th' skippin'-rope's done for thee."
Đoạn nó chạy như bay qua bãi cỏ, hé cánh cửa cũ kỹ, rệu rạo ra rồi lách mình qua các nhánh thường xuân. Bữa trưa hôm đó, vó ngồi ăn cơm một cách ngon lành với hai má đỏ hồng cùng với đôi mắt long lanh khiến Martha vui hẳn kên.
- Hai miếng thịt và hai chiếc bánh put đing! - Chị kêu lên. – Ôi,mẹ sẽ mừng lắm nếu tôi kể bà hay những gì mà sợi dây nhảy đã mang lại cho cô.
In the course of her digging with her pointed stick Mistress Mary had found herself digging up a sort of white root rather like an onion. She had put it back in its place and patted the earth carefully down on it and just now she wondered if Martha could tell her what it was.
"Martha," she said, "what are those white roots that look like onions?"
"They're bulbs," answered Martha. "Lots o' spring flowers grow from 'em. Th' very little ones are snowdrops an' crocuses an' th' big ones are narcissuses an' jonquils and daffydowndillys. Th' biggest of all is lilies an' purple flags. Eh! they are nice. Dickon's got a whole lot of 'em planted in our bit o' garden."
Trong lúc đào xới bằng miếng gỗ nhọn, Marry tìm được một nhánh rễ trắng trông khá giống củ hành. Nó đã đặt trả vật ấy vào chỗ cũ và cẩn thận vùi đất lên. Lúc này, nó tự nhủ không biết Martha có biết đó là cái gì không vườn của nó và bắt tay ngay vào việc.
- Chị Martha này, các đoạn rẽ trăng trắng trông khá giống củ hành là gì thế?
- Chúng là các loại củ, - Martha đáp. - Rất nhiều hoa xuân từ chúng mà ra. Số rất ít là hoa giọt tuyết và nghệ tây, còn phần nhiều hơn là thuỷ tiên, trường thọ và thuỷ tiên hoa vàng. Nhiều nhất là hoa ly ly và cờ tía. Chà! Chúng mới đẹp làm sao. Thằng Dickon đã sưu tầm đủ các loài rồi đem trồng trong mảnh vườn nhà chúng tôi.
"Does Dickon know all about them?" asked Mary, a new idea taking possession of her.
"Our Dickon can make a flower grow out of a brick walk. Mother says he just whispers things out o' th' ground."
"Do bulbs live a long time? Would they live years and years if no one helped them?" inquired Mary anxiously.
"They're things as helps themselves," said Martha. "That's why poor folk can afford to have 'em. If you don't trouble 'em, most of 'em'll work away underground for a lifetime an' spread out an' have little 'uns. There's a place in th' park woods here where there's snowdrops by thousands. They're the prettiest sight in Yorkshire when th' spring comes. No one knows when they was first planted."
- Dickon biết tất cả về chúng chứ? – Marry hỏi, một ý tưởng mới mẻ choán lấy toàn bộ suy nghĩ của nó.
- Dickon nhà chúng tôi có thể khiến một bông hoa mọc ngay cả trên tường gạch. Mẹ bảo nó chỉ cần cầu nguyện là mọi thứ liền nhú khỏi mặt đất.
- Các loại củ sống lâu lắm phải không? Liệu chúng có sống năm này qua năm khác mà không cần ai chăm sóc không? – Marry căn vặn với vẻ sốt ruột.
- Chúng đều là những loại tự lo cho mình được, cô ạ, - Martha đáp. – Đó là lý do tại sao mà những người nghèo đều có thể có chúng. Nếu cô không làm phiền chúng, thì hầu hết bọn chúng vẫn nảy nở dưới mặt đất trong vòng sinh trưởng để rồi vươn lên, sống đời vui vẻ. Có một chỗ trong khu rừng công viên, khi vào mùa chỉ tính riêng hoa giọt tuyết cũng phải tới hàng ngàn bông. Chúng là cảnh tượng đẹp mắt nhất ở Yorkshire lúc xuân về. Chẳng ai rõ người ta trồng chúng từ khi nào.
"I wish the spring was here now," said Mary. "I want to see all the things that grow in England."
She had finished her dinner and gone to her favorite seat on the hearth-rug.
"I wish--I wish I had a little spade," she said. "Whatever does tha' want a spade for?" asked Martha, laughing. "Art tha' goin' to take to diggin'? I must tell mother that, too."
- Tôi ước sao màu xuân về đây ngay bây giờ, - Marry nói. – Tôi muốn được nhìn thấy mọi thứ mọc lên ở nước Anh.
Con bé đã dùng xong bữa ăn trưa và tới ngồi chỗ ưa thích của nó trên tấm thảm trước lò sưởi.
- Tôi ước…tôi ước mình có được một cái mai nhỏ, - nó bảo.
- Cô cần tới mai để làm gì? – Martha bật cười hỏi, - cô đang muốn đào xới gì đó phải không? Tôi phải nói với mẹ việc này.
Mary looked at the fire and pondered a little. She must be careful if she meant to keep her secret kingdom. She wasn't doing any harm, but if Mr. Craven found out about the open door he would be fearfully angry and get a new key and lock it up forevermore. She really could not bear that.
Marry nhìn ngọn lửa hồng và cân nhắc một chút. Nó phải thận trọng nếu muốn giấu kĩ lưỡng vương quốc bí mật của mình. Nó không định làm bất kì điều gì có hại , nhưng nếu ông Craven phát hiện ra cánh cửa đã bị mở, chắc ông ấy giận giữ ghê gớm và kiếm ngay ra một chiếc chìa mới và khoá chặt khu vườn mãi mãi. Nó thực sự không chịu nổi ý nghĩ đó.
"This is such a big lonely place," she said slowly, as if she were turning matters over in her mind. "The house is lonely, and the park is lonely, and the gardens are lonely. So many places seem shut up. I never did many things in India, but there were more people to look at--natives and soldiers marching by--and sometimes bands playing, and my Ayah told me stories. There is no one to talk to here except you and Ben Weatherstaff. And you have to do your work and Ben Weatherstaff won't speak to me often. I thought if I had a little spade I could dig somewhere as he does, and I might make a little garden if he would give me some seeds."
- Đây quả là một toà nhà to lớn đơn độc, - nó chậm rãi nói, có vẻ như muốn trở lại những vấn đề vẫn còn lởn vởn trong tâm trí, - toà nhà đơn độc, khu vườn lớn đơn độc, các khu vườn nhỏ cũng đơn độc nốt. Chỗ nào cũng đều khoá chặt. Hồi ở Ấn Độ tôi không phải làm gì nhiều, vì có khối người lo cho tôi, người hầu rồi lính tráng, rồi thỉnh thoảng còn có các ban nhạc dân gian biểu diễn nữa, Aya của tôi cũng kể cho tôi vô khối chuyện. Còn ở đây, tôi chẳng có ai để chuyện trò, ngoài chị và ông Ben Weathrestaff. Chị phải làm việc của chị, còn ông Ben chẳng mấy khi nói chuyện với tôi. Tôi nghĩ nếu mình có một cái mai thì tôi sẽ tìm chỗ nào để đào xới giống như ông ấy vẫn làm, biết đâu tôi chẳng gây được một cái vườn nho nhỏ, nếu như ông ấy chịu cho tôi hạt giống.
Martha's face quite lighted up.
"There now!" she exclaimed, "if that wasn't one of th' things mother said. She says, `There's such a lot o' room in that big place, why don't they give her a bit for herself, even if she doesn't plant nothin' but parsley an' radishes? She'd dig an' rake away an' be right down happy over it.' Them was the very words she said."
"Were they?" said Mary. "How many things she knows, doesn't she?"
"Eh!" said Martha. "It's like she says: `A woman as brings up twelve children learns something besides her A B C. Children's as good as 'rithmetic to set you findin' out things.'"
Cả khuôn mặt Martha bừng sáng.
- Đó, - Chị thốt lên – Đó chẳng phải là một trong những điều mẹ đã sai bảo sao. Bà nói: “Còn bao nhiêu đất còn thừa trong cái toà nhà khổng lồ ấy, tai sao họ không cho cô ấy riêng một khoảnh, ngay cả khi cô ấy không trồng gì khác ngoài mùi tây và củ cải. Cứ để cho cô ấy đào đất, san luống, có thế cô ấy mới thấy hạnh phúc vì được làm việc”. Đấy, bà đã nói vậy đấy.
- Bà biết bao nhiêu là chuyện, chị nhỉ.
- Âỳ! Như bà vẫn nói: Người đàn bà một nách nuôi đủ mười hai đứa con, ngoài việc học mấy chữ cái ra thì cũng phải học lấy một cái gì chứ. Trẻ con cũng tựa như môn số học, giúp chúng ta giải đáp được rất nhiều điều”.
"How much would a spade cost--a little one?" Mary asked.
"Well," was Martha's reflective answer, "at Thwaite village there's a shop or so an' I saw little garden sets with a spade an' a rake an' a fork all tied together for two shillings. An' they was stout enough to work with, too."
"I've got more than that in my purse," said Mary. "Mrs. Morrison gave me five shillings and Mrs. Medlock gave me some money from Mr. Craven."
- Một cái mai nhỏ giá bao nhiêu, một cái nhỏ thôi? - Mary hỏi.
- Ừ thì, - Martha đáp, - bên làng Thwaite có một cửa hàng, đại khái cứ tạm gọi thế, tôi thấy ở đó có một bộ làm vườn cỡ nhỏ gồm có mai, cào và xiên - cả bộ hết có hai siling. Và chúng cũng khá chắc chắn để ta có thể sử dụng.
- Trong túi đựng tiền của tôi còn nhiều hơn thế, - Mary bảo. – Bà Morrison tặng tôi năm đồng siling, và bà Medlock cũng chuyển cho tôi một ít tiền từ chỗ ông Craven.
"Did he remember thee that much?" exclaimed Martha.
"Mrs. Medlock said I was to have a shilling a week to spend. She gives me one every Saturday. I didn't know what to spend it on."
"My word! that's riches," said Martha. "Tha' can buy anything in th' world tha' wants. Th' rent of our cottage is only one an' threepence an' it's like pullin' eye-teeth to get it. Now I've just thought of somethin'," putting her hands on her hips.
- Ông ấy nghĩ tới cô nhiều đến vậy sao? – Martha thốt lên.
- Bà Medlock bảo cứ mỗi tuần tôi sẽ được một siling để tiêu vặt. Bà ấy đưa tôi một đồng vào thứ Bảy hàng tuần. Quả thực tôi không biết tiêu nó vào việc gì.
- Đã bảo mà, cô giàu đến thế là cùng, - Martha bảo. Cô có thể mua bất cứ thứ gì trên đời mà cô muốn. Tiền thuê túp lều tranh của chúng tôi cũng chỉ đáng một siling và ba penny, vậy mà để kiếm được chỗ đó cũng phải vặn răng ra ấy chứ. Nào, tôi vừa mới nghĩ đến một thứ, - chị chống hai tay vào hai bên hông.
"What?" said Mary eagerly.
"In the shop at Thwaite they sell packages o' flower-seeds for a penny each, and our Dickon he knows which is th' prettiest ones an, how to make 'em grow. He walks over to Thwaite many a day just for th' fun of it. Does tha' know how to print letters?" suddenly.
- Cái gì cơ? – Mary hỏi chị đầy vẻ háo hức. - Trong cửa hàng bên Thwaite, họ bán những gói hạt giống hoa, mỗi gói một penny. Thằng Dickon nhà chúng tôi biết rõ đâu là những giống hoa đẹp nhất và biết cách chăm cho chúng mọc lên. Nó thường cuốc bộ sang Thwaite ngày mấy lần chỉ bởi chuyện đó. Cô có biết cách in chữ không?
"I know how to write," Mary answered.
Martha shook her head.
"Our Dickon can only read printin'. If tha' could print we could write a letter to him an' ask him to go an' buy th' garden tools an' th' seeds at th' same time."
"Oh! you're a good girl!" Mary cried. "You are, really! I didn't know you were so nice. I know I can print letters if I try. Let's ask Mrs. Medlock for a pen and ink and some paper."
Martha đột ngột hỏi.
- Tôi chỉ biết viết, - Mary đáp.
Martha lắc đầu.- Thằng Dickon chỉ có thể đọc được chữ in. Nếu cô viết chữ in thì ta sẽ viết một bức thư cho nó, bảo nó đi mua giúp dụng cụ làm vườn và cả hạt giống luôn một thể.
- Ôi! Chị là một cô gái tử tế! – Mary kêu lên. - Chị đúng là như vậy. Tôi không ngờ chị lại tốt đến thế. Tôi biết nếu cố gắng thì tôi có thể viết được chữ in. Chị đi hỏi bà Medlock cho tôi một cây bút, lọ mực và ít giấy.
"I've got some of my own," said Martha. "I bought 'em so I could print a bit of a letter to mother of a Sunday. I'll go and get it." She ran out of the room, and Mary stood by the fire and twisted her thin little hands together with sheer pleasure.
"If I have a spade," she whispered, "I can make the earth nice and soft and dig up weeds. If I have seeds and can make flowers grow the garden won't be dead at all--it will come alive."
- Tôi cũng có riêng mấy thứ đó. Tôi mang vào phòng khi muốn viết một bức thư gửi cho mẹ vào Chủ nhật. Để tôi đi lấy cho.
Chị chạy ra khỏi phòng. Mary đứng bên lò sưởi, hai bàn tay nhỏ gầy guộc của nó đan siết vào nhau với niềm vui sướng vô bờ.
- "Nếu mình có một cái mai, - nó thì thầm, - mình sẽ làm cho đất tơi xốp rồi nhổ hết cỏ dại. Khi có hạt giống mình sẽ chăm cho nó đơm hoa kết nụ, khu vườn không còn là vườn chết nữa, nó sẽ sống mãi mãi".
She did not go out again that afternoon because when Martha returned with her pen and ink and paper she was obliged to clear the table and carry the plates and dishes downstairs and when she got into the kitchen Mrs. Medlock was there and told her to do something, so Mary waited for what seemed to her a long time before she came back. Then it was a serious piece of work to write to Dickon. Mary had been taught very little because her governesses had disliked her too much to stay with her. She could not spell particularly well but she found that she could print letters when she tried. This was the letter Martha dictated to her: "My Dear Dickon:
Con bé không ra ngoài vườn chiều hôm đó, bởi khi Martha quay lại với đám bút, mực và giấy thì chị còn phải dọn bàn và bưng mấy cái đĩa xuống nhà. Vừa vào đến nhà bếp thì bà Medlock đã có mặt ở đó, bà lại sai chị mấy việc vặt, bởi vậy nên Mary phải đợi mãi. Nó có cảm tưởng thời gian cứ dài đằng đẵng trước khi chị quay lại. Rồi còn chuyện viết thư cho Dickon cũng là một việc hệ trọng. Mary được dạy dỗ rất ít bởi vì các cô gia sư đều không ưa nó nên không ở lại với nó được lâu.Nhất là nó đánh vần không chuẩn, nhưng nó nhận thấy có thể viết được chữ in khi cố gắng. Đây là bức thư mà Martha đọc cho con bé viết.
This comes hoping to find you well as it leaves me at present. Miss Mary has plenty of money and will you go to Thwaite and buy her some flower seeds and a set of garden tools to make a flower-bed. Pick the prettiest ones and easy to grow because she has never done it before and lived in India which is different. Give my love to mother and every one of you. Miss Mary is going to tell me a lot more so that on my next day out you can hear about elephants and camels and gentlemen going hunting lions and tigers.
"Your loving sister, Martha Phoebe Sowerby."
Dickon thân mến!
Bức thư này gửi đến với hy vọng em cũng được khoẻ như chị lúc này. Cô Mary có rất nhiều tiền, vậy liệu em có thể sang bên Thwaite mua giúp cô ấy một số hạt giống hoa và một bộ dụng cụ làm vườn để trồng một luống hoa được không. Hãy chọn những hạt giống hoa của những loài đẹp nhất và dễ nảy mầm, bởi vì cô ấy chưa làm việc đó bao giờ, vả lại trước đó sống ở Ấn Độ là nơi khác hẳn đây. Cho chị gửi tình thương yêu tới mẹ và từng đứa trong các em. Cô chủ Mary đang kể cho chị nghe vô khối chuyện lạ, bởi thế vào ngày nghỉ ngơi của chị, các em sẽ được nghe về các chú voi, lạc đà và chuyện các quý ông đi săn hổ và sư tử.
Chị yêu quý các em.
Martha Phoebe Sowerby.
"We'll put the money in th' envelope an' I'll get th' butcher boy to take it in his cart. He's a great friend o' Dickon's," said Martha.
"How shall I get the things when Dickon buys them?"
"He'll bring 'em to you himself. He'll like to walk over this way."
"Oh!" exclaimed Mary, "then I shall see him! I never thought I should see Dickon."
"Does tha' want to see him?" asked Martha suddenly, for Mary had looked so pleased.
"Yes, I do. I never saw a boy foxes and crows loved. I want to see him very much."
- Chúng ta cho tiền vào phong bì rồi tôi đi tìm con trai người bán thịt nhờ cậu ta chuyển nó bằng xe ngựa. Cậu ta là bạn thân của thằng Dickon đấy, - Martha bảo.
- Làm cách nào tôi được đồ sau khi Dickon mua chúng?- Mary hỏi.
- Nó sẽ tự tay mang đến cho cô. Nó thích đi bộ như thế mà.
- Ôi, - Mary thốt lên, - rồi tôi sẽ được gặp cậu ấy! Tôi không thể ngờ lại gặp được Dickon.
- Thế ra cô muốn gặp nó? – Martha đột nhiên hỏi, nom chị hể hả ra mặt.
- Vâng. Tôi chưa bao giờ gặp một cậu bé nào mà đến cả lũ cáo, lũ quạ cũng quý mến. Tôi muốn trông thấy cậu ấy lắm lắm.
Martha gave a little startle as if she remembered something. "Now to think," she broke out, "to think o' me forgettin' that there; an' I thought I was goin' to tell you first thing this mornin'. I asked mother--and she said she'd ask Mrs. Medlock her own self."
"Do you mean--" Mary began.
"What I said Tuesday. Ask her if you might be driven over to our cottage some day and have a bit o' mother's hot oat cake, an' butter, an' a glass o' milk."
It seemed as if all the interesting things were happening in one day. To think of going over the moor in the daylight and when the sky was blue! To think of going into the cottage which held twelve children!
Martha hơi giật mình, như thể vừa chợt nhớ ra điều gì. - Bây giờ mới sực nhớ, - chị buột miệng, - rằng tôi đã quên khuấy việc ấy; tôi định bụng sẽ kể cho cô điều đó trước tiên vào sáng nay. Tôi đã hỏi mẹ, bà bảo sẽ đích thân đến xin phép bà Medlock.
- Ý chị là… - Mary bắt đầu.
- Là việc tôi đã nói hôm thứ Ba vừa rồi. Tôi muốn hỏi bà xem liệu một hôm nào đó cô có thể thăm gian nhà gianh của chúng tôi và dùng thử một chút bánh yến mạch nóng hổi mẹ tôi làm, ăn cùng với bơ và sữa không. Dường như tất cả những điều thú vị đều đến trong cùng một ngày. Thử tưởng tượng xem ta sắp được đến thăm túp lều gianh có mười hai đứa trẻ sống trong đó!
"Does she think Mrs. Medlock would let me go?" she asked, quite anxiously.
"Aye, she thinks she would. She knows what a tidy woman mother is and how clean she keeps the cottage."
"If I went I should see your mother as well as Dickon," said Mary, thinking it over and liking the idea very much. "She doesn't seem to be like the mothers in India."
- Bà cho rằng bà Medlock bằng lòng để tôi đi à? – nó hỏi vẻ đầy lo lắng.
- Chà, mẹ tôi nghĩ bà ấy sẽ bằng lòng. Bà ấy biết mẹ tôi là một người phụ nữ ngăn nắp và luôn giữ cho nhà cửa được tinh tươm biết chừng nào.
- Nếu tôi được đi, tôi nên đến thăm mẹ chị cũng như Dickon, - Mary nói sau một hồi suy nghĩ và cảm thấy thích ý tưởng đó vô cùng. – Bà dường như chẳng giống bà mẹ nào ở Ấn Độ.
Her work in the garden and the excitement of the afternoon ended by making her feel quiet and thoughtful. Martha stayed with her until tea-time, but they sat in comfortable quiet and talked very little. But just before Martha went downstairs for the tea-tray, Mary asked a question.
Việc làm lụng ngoài vườn và nỗi phấn chấn buổi chiều rốt cuộc khiến nó đâm ra lặng lẽ trầm ngâm. Martha còn nán lại với nó cho tới bữa dùng trà, nhưng họ chỉ ngồi trong yên lặng với tâm trạng dễ chịu và nói chuyện rất ít. Nhưng ngay trước khi Martha xuống tầng dưới để lấy khay trà, Mary hỏi chị một câu.
"Martha," she said, "has the scullery-maid had the toothache again today?"
Martha certainly started slightly.
"What makes thee ask that?" she said.
- Chị Martha, cô giúp việc ở phòng rửa bát hôm nay lại bị đau răng sao?
Martha khẽ giật mình.
- Điều gì khiến cô hỏi thế?
"Because when I waited so long for you to come back I opened the door and walked down the corridor to see if you were coming. And I heard that far-off crying again, just as we heard it the other night. There isn't a wind today, so you see it couldn't have been the wind."
- Bởi vì lúc đợi chị quay trở lại lâu quá, tôi bèn mở cửa bước ra hành lang để xem chị có quay lại không. Tôi lại nghe thấy tiếng than khóc vẳng đến, hệt như đêm nọ. Mà hôm nay thì làm gì có gió, chị thấy đấy, vậy nên đêm hôm nọ chẳng phải gió hú gì đâu.
"Eh!" said Martha restlessly. "Tha' mustn't go walkin' about in corridors an' listenin'. Mr. Craven would be that there angry there's no knowin' what he'd do."
"I wasn't listening," said Mary. "I was just waiting for you--and I heard it. That's three times."
"My word! There's Mrs. Medlock's bell," said Martha, and she almost ran out of the room.
"It's the strangest house any one ever lived in," said Mary drowsily, as she dropped her head on the cushioned seat of the armchair near her. Fresh air, and digging, and skipping-rope had made her feel so comfortably tired that she fell asleep.
- Ôi! – Martha nói với vẻ bồn chồn. – Cô tuyệt nhiên không được đi lang thang ngoài hành lang và nghe ngóng gì hết. Ông Craven chắc chắn sẽ nổi giận dùng đùng, chẳng ai biết rồi ông ấy sẽ làm gì.
- Nào tôi có nghe ngóng gì đâu, - Mary đáp. - Đang chờ chị thì tôi bỗng nghe thấy. Ba lần cả thẩy.
- Tôi nói rồi đấy! Có tiếng chuông của bà Medlock kìa, - Martha nói và gần như chạy ra khỏi phòng. Đúng là ngôi nhà kỳ dị nhất mà người ta đã từng sống, - Mary nói với vẻ uể oải khi nó ngả đầu xuống chiếc ghế bọc đệm gần đó.
Bầu không khí trong lành, việc rãy cỏ xới đất rồi cả nhảy dây khiến nó cảm thấy mệt mọi một cách dễ chịu và chìm vào giấc ngủ.


CHAPTER 10

Chapter: X DICKON
Chương 10: Dickon
The sun shone down for nearly a week on the secret garden. The Secret Garden was what Mary called it when she was thinking of it. She liked the name, and she liked still more the feeling that when its beautiful old walls shut her in no one knew where she was. It seemed almost like being shut out of the world in some fairy place. The few books she had read and liked had been fairy-story books, and she had read of secret gardens in some of the stories. Sometimes people went to sleep in them for a hundred years, which she had thought must be rather stupid. She had no intention of going to sleep, and, in fact, she was becoming wider awake every day which passed at Misselthwaite. She was beginning to like to be out of doors; she no longer hated the wind, but enjoyed it. She could run faster, and longer, and she could skip up to a hundred. The bulbs in the secret garden must have been much astonished. Such nice clear places were made round them that they had all the breathing space they wanted, and really, if Mistress Mary had known it, they began to cheer up under the dark earth and work tremendously. The sun could get at them and warm them, and when the rain came down it could reach them at once, so they began to feel very much alive.
Ánh nắng chan hòa gần 1 tuần trên khu vườn bí mật. Khu vườn bí mật là cái tên Mary vẫn thầm gọi mỗi khi nghĩ về nơi đó. Con bé thích cái tên ấy lắm. Thích hơn nữa là cái cảm giác khi các bức tường cũ kỹ tuyệt đẹp vây kín nó bên trong khiến cho không ai còn biết nó đang ở đâu nữa. Điều đó giống như khi người ta được sống ở một xứ sở thần tiên nào đó, hoàn toàn tách biệt với thế gian này. Mấy cuốn sách nó đã đọc và yêu thích đều là mấy cuốn truyện thần tiên, và nó được biết về những khu vườn bí mật qua một số truyện. Đôi khi người ta đến vườn để ngủ suốt cả trăm năm, là điều con bé cho rằng khá ngốc nghếch. Nó không hề có ý định chìm trong giấc ngủ, và thực tế, cứ mỗi ngày trôi qua ở Misselthwaite, nó càng nhận ra nhiều thứ. Nó bắt đầu thích sống ngoài trời; nó không còn căm ghét các ngọn gió lớn mà muốn tận hưởng chúng. Nó không những có thể chạy nhanh hơn, xa hơn mà còn có thể nhảy dây liên tục một trăm vòng. Các giống cây trong khu vườn bí mật chắc cũng phải kinh ngạc lắm. Phần đất quanh chúng được phát quang sạch sẽ, giúp cho chúng có chỗ để thở, và giá mà Mary biết được rằng dưới lớp đất đen thẫm kia, chúng đang hân hoan vui sướng và ra sức nảy nở thì hay biết mấy. Ánh mặt trời ùa đến chỗ chúng, sưởi ấm cho chúng, và khi cơn mưa ào xuống thì nước mưa tìm đến chúng dễ dàng hơn, cho nên giờ đây chúng cảm nhận trong mình một sức sống tràn trề.
Mary was an odd, determined little person, and now she had something interesting to be determined about, she was very much absorbed, indeed. She worked and dug and pulled up weeds steadily, only becoming more pleased with her work every hour instead of tiring of it. It seemed to her like a fascinating sort of play. She found many more of the sprouting pale green points than she had ever hoped to find. They seemed to be starting up everywhere and each day she was sure she found tiny new ones, some so tiny that they barely peeped above the earth. There were so many that she remembered what Martha had said about the "snowdrops by the thousands," and about bulbs spreading and making new ones.
Mary vốn là một con bé cả quyết khác thường. Bây giờ lại có một điều thật thú vị để mà cả quyết nên nó mê mải vô cùng. Nó hì hục đào xới, đều đặn nhổ cỏ dại, và thay vì trở nên chán nản thì càng ngày nó càng say mê công việc. Làm lụng đối với nó cũng giống như một trò chơi hấp dẫn. Nó phát hiện được thêm những chấm xanh nhạt đang bắt đầu lộ ra, nhiều hơn nó từng hy vọng. Chúng nhú lên như thể có ở khắp mọi nơi. Ngày nòa nó cũng chắc mẩm vừa phát hiện ra những mầm cây mới, một số nhỏ li ti như mới chỉ lấp ló khỏi mặt đất. Chúng nhiều đến nỗi con bé chợt nhớ lại những gì Martha đã nói về “hàng ngàn hoa giọt tuyết”, về những thân củ đang lan tỏa khắp nơi và làm nảy nở thêm vô số thân củ mới.
These had been left to themselves for ten years and perhaps they had spread, like the snowdrops, into thousands. She wondered how long it would be before they showed that they were flowers. Sometimes she stopped digging to look at the garden and try to imagine what it would be like when it was covered with thousands of lovely things in bloom. During that week of sunshine, she became more intimate with Ben Weatherstaff. She surprised him several times by seeming to start up beside him as if she sprang out of the earth. The truth was that she was afraid that he would pick up his tools and go away if he saw her coming, so she always walked toward him as silently as possible. But, in fact, he did not object to her as strongly as he had at first. Perhaps he was secretly rather flattered by her evident desire for his elderly company. Then, also, she was more civil than she had been. He did not know that when she first saw him she spoke to him as she would have spoken to a native, and had not known that a cross, sturdy old Yorkshire man was not accustomed to salaam to his masters, and be merely commanded by them to do things.
Suốt mười năm qua, chúng chẳng được ngó ngàng đến, và có lẽ chúng đã nảy nở thành hàng nghìn cây mới, như bọn hoa giọt tuyết. Con bé tự hỏi không biết còn bao lâu nữa chúng mới trổ hoa. Thỉnh thoảng nó lại ngừng tay đào, đưa mắt ngắm nhìn khu vườn và cố mường tượng tới cái ngày nơi đây được bao trùm bởi hàng ngàn hàng vạn bông hoa. Chính trong cái tuần lễ toàn những ngày nắng ấm ấy, con bé trở nên gần gũi với lão Ben Weatherstaff hơn. Mấy bận nó làm lão ngạc nhiên, khi bỗng dưng xuất hiện cạnh lão như từ dưới đất chui lên. Quả thực con bé rất sợ lão sẽ vác dụng cụ bỏ đi khi thấy nó tới, vì thế nó luôn khẽ khàng tiến lại phía lão. Nhưng thực tình lão không còn “găng” với nó như hồi đầu. Có thể lão thầm cảm thấy hãnh diện trước mong ước coi lão như người bạn lớn tuổi của nó. Và nữa, giờ Mary cũng đã lễ độ hơn trước rồi. Lão đâu biết rằng lần đầu gặp lão, con bé nói năng với lão như thể với đám gia nhân người địa phương, chẳng cần hay rằng một lão già Yorkshire tráng kiện và cáu kỉnh có bao giờ lại quen cúi đầu trước ông chủ hay nhẫn nhục để người ta sai khiến công kia việc nọ.
"Tha'rt like th' robin," he said to her one morning when he lifted his head and saw her standing by him. "I never knows when I shall see thee or which side tha'll come from."
"He's friends with me now," said Mary.
"That's like him," snapped Ben Weatherstaff. "Makin' up to th' women folk just for vanity an' flightiness. There's nothin' he wouldn't do for th' sake o' showin' off an' flirtin' his tail-feathers. He's as full o' pride as an egg's full o' meat."
- Cô thật giống với con chim ức đỏ, - một buổi sáng lão nói với con bé khi vừa ngẩng đầu đã thấy nó đứng ngay bên cạnh. “Tôi chẳng bao giờ biết khi nào tôi sẽ thấy cô hay là cô từ phía nào đến”.
- Bây giờ nó là bạn tôi rồi, - Mary đáp.
- Nó là thế đấy. Kết bạn với phụ nữ thì cũng như đánh bạn với sự phù phiếm, đong đưa. Nó chẳng từ việc gì, chỉ cốt được khoe mã và nghí ngoáy mấy cái lông đuôi. – lão Ben nói giọng gắt gỏng. – Nó lúc nào cũng ra vẻ hãnh diện lắm.
He very seldom talked much and sometimes did not even answer Mary's questions except by a grunt, but this morning he said more than usual. He stood up and rested one hobnailed boot on the top of his spade while he looked her over.
"How long has tha' been here?" he jerked out.
"I think it's about a month," she answered.
Lão hiếm khi nói nhiều, có lúc lão còn chẳng đáp lại những câu hỏi của Mary, ngoài mấy lời càu nhàu. Nhưng sáng nay lão nhiều lời hơn thường lệ. Lão đứng dậy, ghếch chiếc giày cao cổ tán toàn đinh đầu to lên cán mai trong khi nhìn con bé.
- Cô đã về đây dược bao lâu rồi, - lão nói dằn từng tiếng.
- Tôi nghĩ cũng phải được một tháng.
"Tha's beginnin' to do Misselthwaite credit," he said. "Tha's a bit fatter than tha' was an' tha's not quite so yeller. Tha' looked like a young plucked crow when tha' first came into this garden. Thinks I to myself I never set eyes on an uglier, sourer faced young 'un."
Mary was not vain and as she had never thought much of her looks she was not greatly disturbed.
"I know I'm fatter," she said. "My stockings are getting tighter. They used to make wrinkles. There's the robin, Ben Weatherstaff."
- Cô đang bắt đầu làm cho Misselthwaite được vẻ vang đấy, - lão nói. – Nom cô có da có thịt hơn trước, và không còn hay quát lác nữa. Hôm đầu bước vào khu vườn này trông cô khác nào con quạ non bị vặt trụi lông. Tôi thì bụng bảo dạ, rằng tôi không khi nào thèm để mắt tới mấy đứa trẻ ranh mặt mày cau có ngốc nghếch. Mary chẳng phải đứa tự phụ, nó vốn không quan tâm nhiều đến vẻ ngoài của mình, và nó cũng không lấy làm phiền lòng.
- Tôi biết tôi có béo lên. Mấy đôi tất tôi đi càng ngày càng chật, để lại cả nếp hằn trên da. Con chim ức đỏ kìa, ông Ben Weatherstaff!
There, indeed, was the robin, and she thought he looked nicer than ever. His red waistcoat was as glossy as satin and he flirted his wings and tail and tilted his head and hopped about with all sorts of lively graces. He seemed determined to make Ben Weatherstaff admire him. But Ben was sarcastic.
Quả nhiên là con chim ức đỏ. Con bé cho rằng chưa bao giờ trông nó đẹp mã đến vậy. Bộ lông ức đỏ rực của nó lóng lánh như sa tanh. Nó vỗ cánh, xòe đuôi, nghiêng ngó cái đầu và nhảy nhót với tất cả vẻ duyên dáng sinh động. Có vẻ nó quyết tâm làm ông lão Ben Weatherstaff phải thán phục. Nhưng lão chỉ châm chọc nó.
"Aye, there tha' art!" he said. "Tha' can put up with me for a bit sometimes when tha's got no one better. Tha's been reddenin' up thy waistcoat an' polishin' thy feathers this two weeks. I know what tha's up to. Tha's courtin' some bold young madam somewhere tellin' thy lies to her about bein' th' finest cock robin on Missel Moor an' ready to fight all th' rest of 'em."
- Úi cha, ra là máy đấy! – Lão bảo. – Thỉnh thoảng mày hãy gắng chịu đựng tao tí chút, nhất là khi mày không kiếm được ai tốt hơn để bầu bạn. Chỉ mới hai tuần thôi mà cái áo chẽn của mày đã thắm hẳn lên, rồi lông tóc cũng óng ả ra trò. Tao biết mày đang định làm gì rồi. Mày đang theo đuổi một cô ả táo tợn đâu đó quanh đây và xạo rằng mày là con ức đỏ trống đẹp nhất trên đồng hoang Missel này và đang sẵn lòng chảng nhau với tất cả những con trống khác nữa kìa.
"Oh! look at him!" exclaimed Mary.
The robin was evidently in a fascinating, bold mood. He hopped closer and closer and looked at Ben Weatherstaff more and more engagingly. He flew on to the nearest currant bush and tilted his head and sang a little song right at him.
- Ôi! Nhìn nó kìa! – Mary thốt lên Con chim ức đỏ rõ ràng đang cao hứng.
Nó nhảy lại gần hơn, gần hơn nữa và ngước nhìn lão Ben Weatherstaff với vẻ mỗi lúc một háo hức. Rồi nó bay vụt lên bụi cây lý chua gần đó, nghí ngoáy cái đầu rồi cất tiếng khe khẽ hót ngay cạnh lão.
"Tha' thinks tha'll get over me by doin' that," said Ben, wrinkling his face up in such a way that Mary felt sure he was trying not to look pleased. "Tha' thinks no one can stand out against thee--that's what tha' thinks."
- Mày nghĩ mày sẽ gạt được tao bằng cái trò đấy sao? – Lão Ben nói, làm bộ nhăn mặt khiến Mary chắc mẩm lão đang cố tỏ ra không hài lòng. – Mày nghĩ không một ai có thể cự nự mày đúng không? Mày đang nghĩ thế chứ gì?
The robin spread his wings--Mary could scarcely believe her eyes. He flew right up to the handle of Ben Weatherstaff's spade and alighted on the top of it. Then the old man's face wrinkled itself slowly into a new expression. He stood still as if he were afraid to breathe--as if he would not have stirred for the world, lest his robin should start away. He spoke quite in a whisper.
Con chim ức đỏ giang rộng đôi cánh. Mary khó có thể tin vào mắt mình. Nó liệng mình phía trên cán mai của lão Ben Weatherstaff rồi đậu xuống đầu cán. Khuôn mặt nhăn nhó già nua của lão từ từ giãn ra. Lão đứng lặng người, dường như không dám thở nữa, như thể lão không dám làm kinh đông, sợ rằng chim ức đỏ của lão sẽ bay đi mất. Lão nó gần như thì thầm.
"Well, I'm danged!" he said as softly as if he were saying something quite different. "Tha' does know how to get at a chap--tha' does! Tha's fair unearthly, tha's so knowin'."
And he stood without stirring--almost without drawing his breath--until the robin gave another flirt to his wings and flew away. Then he stood looking at the handle of the spade as if there might be Magic in it, and then he began to dig again and said nothing for several minutes.
- Chà, tao thật tệ! – Lão nói dịu dàng như thể đang nói về một chuyện hoàn toàn khác. – Mày hiểu để kiếm được một người bạn thì phải thế nào chứ, phải không! Mày thật phi thường, nên mày mới hiểu.
Nói đoạn lão đứng lặng không nhúc nhích, hầu như không cả thở, cho tới khi con chim vỗ cánh bay đi. Lão đứng đó ngắm nghía cán mai, nghĩ rằng chắc hẳn phải có phép lạ nào trong đó, rồi mới lại bắt tay vào xới đất và không nói gì trong mấy phút liền.
But because he kept breaking into a slow grin now and then, Mary was not afraid to talk to him.
"Have you a garden of your own?" she asked.
"No. I'm bachelder an' lodge with Martin at th' gate."
"If you had one," said Mary, "what would you plant?"
"Cabbages an' 'taters an' onions."
"But if you wanted to make a flower garden," persisted Mary, "what would you plant?"
"Bulbs an' sweet-smellin' things--but mostly roses."
Mary's face lighted up.
"Do you like roses?" she said.
Ben Weatherstaff rooted up a weed and threw it aside before he answered.
Bởi vì chốc chốc lão lại điềm đạm nở một nụ cười rạng rỡ nên Mary không ngại bắt chuyện tiếp với lão.
- Ông có một khu vườn riêng nào không? – Nó hỏi
- Không. Tôi là người độc thân, ở cùng với Martin ngay túp lều ngoài cổng Trang viên.
- Nếu ông có một khu vườn, ông sẽ trồng cây gì?
- Cải bắp, cần tây và hành củ.
- Nhưng nếu ông muốn tạo ra một vườn hoa thì ông sẽ trồng cây gì, - Mary khăng khăng hỏi gặng.
- Các loại củ và các loại cây có hương thơm ngào ngạt, nhưng nhiều nhất phải là hồng. Cả gương mặt Mary bừng sáng.
- Ông cũng thích hoa hồng sao?
Lão Ben Weatherstaff cúi nhặt một cọng cỏ, vứt nó sang một bên, trước khi trả lời.
"Well, yes, I do. I was learned that by a young lady I was gardener to. She had a lot in a place she was fond of, an' she loved 'em like they was children--or robins. I've seen her bend over an' kiss 'em." He dragged out another weed and scowled at it. "That were as much as ten year' ago."
- Ồ, thích chứ. Tôi đã học được điều đó từ một phu nhân trẻ mà tôi từng là người làm vườn cho bà. Bà có một khoảnh vườn ở nơi mà bà yêu thích nhất, và bà yêu thương cây cối như thể chúng là những đứa trẻ, hay như những con chim ức đỏ vậy. Tôi đã từng tận mắt thấy bà cúi xuống mà hôn chúng.– Lão nhổ những nhánh cỏ dại khác, nhìn chúng vẻ cáu kỉnh. – Cũng phải mười năm về trước rồi.
"Where is she now?" asked Mary, much interested.
"Heaven," he answered, and drove his spade deep into the soil, "'cording to what parson says."
"What happened to the roses?" Mary asked again, more interested than ever.
"They was left to themselves."
Mary was becoming quite excited.
"Did they quite die? Do roses quite die when they are left to themselves?" she ventured.
- Trên trời, - lão vừa đáp, vừa xắn mạnh lưỡi mai sâu xuống đất, - như người ta vẫn nói.
- Còn những bông hồng? – Mary nhắc lại, nó tỏ ra quan tâm hơn bao giờ hết.
- Chúng bị bỏ mặc hoàn toàn.
Mary trở nên kích động ghê gớm.
- Chúng chết sạch rồi sao? Chẳng lẽ các khóm hồng đều chết sạch khi bị người ta bỏ mặc? – Con bé đánh bạo hỏi.
"Well, I'd got to like 'em--an' I liked her--an' she liked 'em," Ben Weatherstaff admitted reluctantly. "Once or twice a year I'd go an' work at 'em a bit--prune 'em an' dig about th' roots. They run wild, but they was in rich soil, so some of 'em lived."
- Chà, tôi đã yêu chúng xiết bao, mà tôi cũng quý bà ấy nữa, còn bà ấy thì yêu chúng vô cùng, - lão Ben miễn cưỡng thú nhận. – Mỗi năm một hai lần tôi lại đến đó chăm sóc chúng tí chút. Tỉa, xén, sửa sang cho chúng, và cũng phải trốc bớt rễ đi nữa. Chúng sống hoang dại, nhưng vì mọc trên đất tốt nên một số trong đó vẫn sống.
"When they have no leaves and look gray and brown and dry, how can you tell whether they are dead or alive?" inquired Mary.
"Wait till th' spring gets at 'em--wait till th' sun shines on th' rain and th' rain falls on th' sunshine an' then tha'll find out."
"How--how?" cried Mary, forgetting to be careful.
- Còn khi chúng đã rụng sạch lá, cành xám nâu khô úa, ông có thể nói liệu chúng đã chết rồi hay còn sống? – Con bé ra sức cật vấn.
- Hãy đợi đến lúc xuân sang, hãy đợi tới khi có nắng chiếu giữa cơn mưa và mưa rơi vào mùa nắng, bấy giờ cô sẽ nhận ra.
- Thế nào, thế nào kia? – Mary kêu lên, quên mất là phải thận trọng.
"Look along th' twigs an' branches an' if tha' see a bit of a brown lump swelling here an' there, watch it after th' warm rain an' see what happens." He stopped suddenly and looked curiously at her eager face. "Why does tha' care so much about roses an' such, all of a sudden?" he demanded. Mistress Mary felt her face grow red. She was almost afraid to answer.
- Cứ nhìn khắp các nhánh này thì rõ ngay, và nếu cô chịu nhìn kỹ một chút vào cái bướu nâu sậm đang phình lên ở đây và kia nữa, sau cơn mưa ấm áp cô sẽ nhìn thấy điều gì đang xảy ra. – Lão đột ngột dừng lại và liếc nhìn vẻ đầy ngờ vực lên khuôn mặt háo hức của con bé.
– Tại sao cô bỗng chốc lại quan tâm đến những cây hồng như vậy? – Lão gặng hỏi. Cô chủ Mary cảm thấy mặt mũi đỏ bừng. Nó rất sợ phải trả lời.
"I--I want to play that--that I have a garden of my own," she stammered. "I--there is nothing for me to do. I have nothing--and no one."
"Well," said Ben Weatherstaff slowly, as he watched her, "that's true. Tha' hasn't."
- Tôi … tôi muốn thử xem … tôi có thể có một khu vườn riêng được không … - con bé lắp bắp. – Tôi… chẳng có gì để làm cả. Tôi chẳng có gì, cũng không có một ai.
- Chà, chà… - lão Ben chậm rãi nói khi nhìn con bé. Đó là sự thật. Cô chẳng có gì cả.
He said it in such an odd way that Mary wondered if he was actually a little sorry for her. She had never felt sorry for herself; she had only felt tired and cross, because she disliked people and things so much. But now the world seemed to be changing and getting nicer. If no one found out about the secret garden, she should enjoy herself always.
Lão nói câu ấy với một vẻ kỳ quặc đến nỗi Mary tự nhủ có lẽ lão cũng có đôi chút xót thương đối với nó. Con bé chưa bao giờ cảm thấy thương xót hay ngậm ngùi cho bản thân; nó chỉ thấy mệt mỏi và bực bội, bởi vì nó vô cùng chán ghét cả con người lẫn cảnh vật. Nhưng cái thế giới này đây dường như đang thay đổi và trở nên thú vị hơn. Nếu không một ai phát hiện ra khu vườn bí mật ấy thì nó sẽ được một mình tận hưởng mãi mãi.
She stayed with him for ten or fifteen minutes longer and asked him as many questions as she dared. He answered every one of them in his queer grunting way and he did not seem really cross and did not pick up his spade and leave her. He said something about roses just as she was going away and it reminded her of the ones he had said he had been fond of.
Con bé nán lại chỗ lão chừng mươi mười lăm phút nữa, chỉ hỏi lão vài câu trong chừng mực nó dám hỏi. Lão đáp lời nó từng câu một với cái vẻ cộc cằn kỳ quặc của lão, không có vẻ bực bội hay lại xách mai lên bỏ mặc nó. Vào lúc Mary sắp sửa ra về, lão nói thêm vài điều về những khóm hồng, khiến nó nhớ tới những gì mà lão bảo lão yêu quý.
"Do you go and see those other roses now?" she asked.
"Not been this year. My rheumatics has made me too stiff in th' joints."
He said it in his grumbling voice, and then quite suddenly he seemed to get angry with her, though she did not see why he should.
"Now look here!" he said sharply. "Don't tha' ask so many questions. Tha'rt th' worst wench for askin' questions I've ever come a cross. Get thee gone an' play thee. I've done talkin' for today."
- Bây giờ bác có thể đến thăm những khóm hồng đó không ? – Con bé hỏi.
- Không phải năm nay. Bệnh thấp khớp khiến các khớp xương của tôi trở nên cứng ngắc. Lão càu nhàu nói, và rồi bất chợt đâm nổi cáu với con bé, mặc cho nó không hiểu nguyên cớ tại sao.
- Trông đây này ! – Lão nói một cách gay găt. – Cô đừng có hỏi lắm nữa ! Cô là cô nàng tệ nhất trong những trò lục vấn mà tôi từng gặp đấy. Cô kiếm chỗ nào khác mà chơi đi. Hôm nay tôi nói thế đủ rồi.
And he said it so crossly that she knew there was not the least use in staying another minute. She went skipping slowly down the outside walk, thinking him over and saying to herself that, queer as it was, here was another person whom she liked in spite of his crossness. She liked old Ben Weatherstaff. Yes, she did like him. She always wanted to try to make him talk to her. Also she began to believe that he knew everything in the world about flowers.
Lão nói câu ây bực tức đến độ con bé hiểu ngay ràng không thể nán lại thêm phút nào nữa. Nó bèn nhảy chầm chậm xuống lại thêm phút nào nữa. Nó bèn nhảy chầm chậm xuống lối đi dạo, luẩn quẩn nghĩ ngợi về lão, trong bụng lại thầm nghĩ chuyện vừa rồi mới kỳ quặc làm sao: lại có thêm một người nữa mà nó thấy quý mến, bất kể cái tính cáu bẳn của lão. Nó quý lão Ben Weatherstaff. Phải, nó đã thấy quý mến lão. Nó lúc nào cũng muốn lão chuyện trò cùng nó, và bắt đầu tin rằng lão biết đủ mọi chuyện trên đời về các loài hoa.
There was a laurel-hedged walk which curved round the secret garden and ended at a gate which opened into a wood, in the park. She thought she would slip round this walk and look into the wood and see if there were any rabbits hopping about. She enjoyed the skipping very much and when she reached the little gate she opened it and went through because she heard a low, peculiar whistling sound and wanted to find out what it was.
Có một lối đi dạo có hàng nguyệt quế lượn vòng quanh khu vườn bí mật và dừng lại trước một cái cổng, từ đấy dẫn thẳng ra rừng cây trong công viên. Con bé đang tính chuyện nhảy dây vòng quanh lối đó và nhìn vào rừng cây để xem có thấy con thỏ nào đang nhảy quanh đấy không. Nó khoái trò nhảy dây này vô cùng, và khi vừa tới bên cánh cổng nhỏ, chợt nghe thấy một tiếng sáo trầm trầm kỳ lạ nó mở cửa ra rồi đi thẳng vào trong. Nó muốn tìm hiểu xem đó là tiếng gì.
It was a very strange thing indeed. She quite caught her breath as she stopped to look at it. A boy was sitting under a tree, with his back against it, playing on a rough wooden pipe. He was a funny looking boy about twelve. He looked very clean and his nose turned up and his cheeks were as red as poppies and never had Mistress Mary seen such round and such blue eyes in any boy's face. And on the trunk of the tree he leaned against, a brown squirrel was clinging and watching him, and from behind a bush nearby a cock pheasant was delicately stretching his neck to peep out, and quite near him were two rabbits sitting up and sniffing with tremulous noses--and actually it appeared as if they were all drawing near to watch him and listen to the strange low little call his pipe seemed to make.
Đó quả là một điều lạ. Con bé nín thở khi ngừng lại trước cảnh tượng đó. Một thằng bé đang ngồi tựa lưng vào gốc cây, thổi sáo gỗ đơn sơ của nó. Thằng bé nom khá ngộ nghĩnh, tuổi khoảng mười hai, trông rất sạch sẽ, với cái mũi hếch và đôi mà đỏ ửng như đóa hoa anh túc. Cô chủ nhỏ Mary chưa bao giờ bắt gặp đôi mắt nào trong xanh và to tròn đến thế trên gương mặt bất kỳ thằng con trai nào. Một con sóc nâu đang bấu vào thân cây thằng bé đang tựa vào và ngước nhìn nó, và từ sau bụi cây gần đấy là con gà lôi đực đang vươn cổ ra một cách duyên dáng mà kêu líu ríu, rồi ngay bên cạnh nó, đôi thỏ đang ngồi trên hai chân sau nhíu nhíu cánh mũi phập phồng – như thể tất cả bọn chúng đang xúm lại để nhìn ngắm thằng bé và lắng nghê âm thanh trầm trầm, kì lạ phát ra từ cây sáo.
When he saw Mary he held up his hand and spoke to her in a voice almost as low as and rather like his piping.
"Don't tha' move," he said. "It'd flight 'em." Mary remained motionless. He stopped playing his pipe and began to rise from the ground. He moved so slowly that it scarcely seemed as though he were moving at all, but at last he stood on his feet and then the squirrel scampered back up into the branches of his tree, the pheasant withdrew his head and the rabbits dropped on all fours and began to hop away, though not at all as if they were frightened.
"I'm Dickon," the boy said. "I know tha'rt Miss Mary."
Vừa nhìn thấy Mary, thằng bé liền ngừng lại và nói với cô bằng một giọng khẽ khàng, giống như tiếng sáo của nó.
- Cô đừng cử động, - nó bảo, - kẻo chúng sợ.
Mary vẫn đứng im phắc. Thằng bé ngừng thổi và đứng dậy. Nó di chuyển chậm đến nỗi khó mà nhận ra được nó đang chuyển động, cuối cùng nó dừng lại, bấy giờ con sóc nâu mới vội lủi vào nấp sau đám cành lá của cái cây nó leo khi nãy, con gà lôi vội rụt cổ lại, đôi thỏ thì hạ hai chân trước xuống và nháy đi chỗ khác, mặc dù chúng chẳng tỏ vẻ gì sợ hãi.
- Tôi là Dickon. – Thằng bé nói. – Tôi biết cô là Cô chủ Mary.
Then Mary realized that somehow she had known at first that he was Dickon. Who else could have been charming rabbits and pheasants as the natives charm snakes in India? He had a wide, red, curving mouth and his smile spread all over his face.
Bấy giờ Mary mới nhận ra, không rõ bằng cách nào; thoạt nhìn nó cũng đoán ra đó là Dickon. Thì còn ai khác có thể thôi miên những con thỏ dễ thương cùng con gà lôi ây nữa, giống như người bản xứ Ấn độ mê hoặc những con rắn của họ? Thằng bé có cái miệng rộng, đôi môi đỏ hơi cong cong, còn nụ cười thì như bừng lên trên gương mặt.
"I got up slow," he explained, "because if tha' makes a quick move it startles 'em. A body 'as to move gentle an' speak low when wild things is about."
He did not speak to her as if they had never seen each other before but as if he knew her quite well. Mary knew nothing about boys and she spoke to him a little stiffly because she felt rather shy.
- Tôi phải đứng dậy từ từ, - thằng Dickon giải thích, - bởi nếu cử động mạnh thì chúng sẽ giật mình. Người ta phải đi nhẹ nói khẽ khi có động vật hoang dã xung quanh mình. Dickon không nói chuyện như thể hai đứa chưa hề gặp nhau, mà như thể nó đã biết khá rõ về con bé. Mary thì chẳng biết gì về bọn con trai, nó nói với thằng Dickon kia với giọng không được thân mật cho lắm bởi nó cảm thấy hơi xấu hổ.
"Did you get Martha's letter?" she asked.
He nodded his curly, rust-colored head. "That's why I come."
He stooped to pick up something which had been lying on the ground beside him when he piped.
"I've got th' garden tools. There's a little spade an' rake an' a fork an' hoe. Eh! they are good 'uns. There's a trowel, too. An' th' woman in th' shop threw in a packet o' white poppy an' one o' blue larkspur when I bought th' other seeds."
"Will you show the seeds to me?" Mary said.
- Anh đã nhận được bức thư của chị Martha chưa? – Nó hỏi Thằng bé gật cái đầu có mái tóc quăn màu nâu nhạt.
- Vì vậy tôi mới tới đây. Dickon cúi xuống nhặt mấy thứ vẫn đặt trên mặt đất trong lúc thổi sáo.
- Tôi đã kiếm được dụng cụ làm vườn. Đây là mai nhỏ, cào, xiên và cuốc. Hì, chúng đều là thứ tốt cả. Lại thêm một cái xẻng bứng cây nữa chứ. Người phụ nữ trong cửa hàng còn cho thêm một gói hạt hoa anh túc trắng và một gói la lết xanh khi tôi mua các loại hạt giống khác.
- Anh cho tôi xem chỗ hạt giống ấy chứ? – Mary bảo.
She wished she could talk as he did. His speech was so quick and easy. It sounded as if he liked her and was not the least afraid she would not like him, though he was only a common moor boy, in patched clothes and with a funny face and a rough, rusty-red head. As she came closer to him she noticed that there was a clean fresh scent of heather and grass and leaves about him, almost as if he were made of them. She liked it very much and when she looked into his funny face with the red cheeks and round blue eyes she forgot that she had felt shy.
Con bé ao ước có thể nói năng như thằng Dickon. Lời lẽ của thằng bé vừa nhanh vừa thoải mái. Âm điệu của giọng nói cho thấy nó quý mến Mary và không mảy may ngại rằng con bé không quý lại nó, dù nó chỉ là một cậu bé nhà nghèo tầm thường nơi cánh đồng hoang, trong bộ quần áo vá víu, với gương mặt ngộ nghĩnh và mái tóc hung bù xù. Tiến lại gần Dickon, con bé nhận ra mùi thơm tươi mát và thanh khiết của thạch thảo, của cỏ và lá tỏa ra từ thân thể nó, như thể nó bước ra từ hoa cỏ vậy. Mary thích mùi hương ấy lắm, nên khi ngước nhìn khuôn mặt ngồ ngộ có đôi má ửng hồng và đôi mắt xanh to của thằng bé thì nó quên khuấy đi cơn xấu hổ ban nãy của nó.
"Let us sit down on this log and look at them," she said.
They sat down and he took a clumsy little brown paper package out of his coat pocket. He untied the string and inside there were ever so many neater and smaller packages with a picture of a flower on each one.
"There's a lot o' mignonette an' poppies," he said. "Mignonette's th' sweetest smellin' thing as grows, an' it'll grow wherever you cast it, same as poppies will. Them as'll come up an' bloom if you just whistle to 'em, them's th' nicest of all." He stopped and turned his head quickly, his poppy-cheeked face lighting up.
- Ta hãy ngồi xuống khúc cây đổ này mà xem đi, - con bé nói.
Hai đứa ngồi xuống, thằng bé lấy từ túi áo khoác ra một bọc giấy nho nhỏ màu nâu được gói vụng về. Nó cởi dây buộc, và bên trong là vô số những gói nhỏ gon gàng hơn, mỗi gói đều có hình một bông hoa. Có vô khối lưu ly, anh túc và thạch thảo.
- Thạch thảo có mùi thơm ngọt ngào dễ chịu nhất, chúng có thể mọc ở bất cứ nơi nào cô muốn trồng. Hoa anh túc cũng vậy. Chúng sẽ chóng mọc và đơm hoa nếu cô chịu khó huýt sáo thúc dục chúng. Chúng là thứ đẹp nhất trong các loài hoa. Dickon ngừng lại, ngoái nhanh về phía sau, khuôn mặt có đôi má như hoa anh túc của nó bừng sáng lên.
"Where's that robin as is callin' us?" he said.
The chirp came from a thick holly bush, bright with scarlet berries, and Mary thought she knew whose it was.
"Is it really calling us?" she asked.
"Aye," said Dickon, as if it was the most natural thing in the world, "he's callin' some one he's friends with. That's same as sayin' `Here I am. Look at me. I wants a bit of a chat.' There he is in the bush. Whose is he?"
- Đâu đây như có con chim ức đỏ đang gọi chúng ta ấy nhỉ? – Thằng bé nói. Tiếng hót vọng ra từ một bụi cây ô rô rậm rạp, Mary thừa biết là tiếng hót của ai.
- Nó đang gọi chúng ta thật sao? – Con bé hỏi.
- Ừ, - Dickon đáp như thể đó là điều tự nhiên nhất đời, - nó chỉ gọi những ai mà nó kết bạn thôi. Tiếng hót ấy như muôn nói: “Tôi đây. Nhìn tôi này. Tôi muốn chuyện gẫu một tí”. Kìa nó đang ở trong bụi cây. Nó là của ai đấy?
"He's Ben Weatherstaff's, but I think he knows me a little," answered Mary.
"Aye, he knows thee," said Dickon in his low voice again. "An' he likes thee. He's took thee on. He'll tell me all about thee in a minute."
He moved quite close to the bush with the slow movement Mary had noticed before, and then he made a sound almost like the robin's own twitter. The robin listened a few seconds, intently, and then answered quite as if he were replying to a question.
"Aye, he's a friend o' yours," chuckled Dickon.
"Do you think he is?" cried Mary eagerly. She did so want to know. "Do you think he really likes me?"
- Của ông Ben Weatherstaff , nhưng tôi cho rằng nó cũng biết về tôi một chút. – Mary đáp.
- Ấy, nó biết cô đấy chứ, - Dickon đáp, giọng khẽ khàng, - nó cũng mến cô nữa. Nó đã nhận ra cô. Chỉ ít phút nữa nó sẽ kể tôi nghe tất cả về cô. Thằng bé tiến sát tới bụi cây với những cử động chậm rãi mà Mary đã thấy lúc trước, rồi Dickon phát ra một âm thanh gần như tiếng hót của chim. Con chim lắng nghe chăm chú mấy giây, nó đáp lại như thể muốn trả lời một câu hỏi.
- Đó, nó bảo nó là bạn cô. - Dickon cười khẽ. - Anh nghĩ thế sao? – Mary kêu lên náo nức. Con bé muốn biết thật tường tận. – Anh cho rằng nó thực sự thích tôi?
"He wouldn't come near thee if he didn't," answered Dickon. "Birds is rare choosers an' a robin can flout a body worse than a man. See, he's making up to thee now. `Cannot tha' see a chap?' he's sayin'."
And it really seemed as if it must be true. He so sidled and twittered and tilted as he hopped on his bush.
"Do you understand everything birds say?" said Mary.
Dickon's grin spread until he seemed all wide, red, curving mouth, and he rubbed his rough head.
- Nó sẽ không tới gần cô nếu nó không muốn. – Dickon đáp. – Chim chóc là loài kỹ tính hiếm có, và một con ức đỏ có thể coi thường một người còn hơn cả con người. Nhìn kìa, giờ thì nó đang nịnh cô đấy. Nó bảo: “Cô không thể ngắm gã này một lát sao?”
Và điều đó gần như là sự thực. Con chim ức đỏ rón rén, kêu líu ríu và ngọ nguậy cái cổ trong khi nhảy lên nhảy xuống trên bụi cây của nó.
- Anh hiểu được mọi điều loài chim nói à? – Mary hỏi.
Dickon ngoác đôi môi cong và đỏ của nó ra cười hết cỡ, rồi xoa mái đầu bù xù của mình.
"I think I do, and they think I do," he said. "I've lived on th' moor with 'em so long. I've watched 'em break shell an' come out an' fledge an' learn to fly an' begin to sing, till I think I'm one of 'em. Sometimes I think p'raps I'm a bird, or a fox, or a rabbit, or a squirrel, or even a beetle, an' I don't know it."
- Tôi nghĩ rằng tôi hiểu, và chúng nghĩ rằng tôi hiểu chúng. Tôi đã sống trên đồng hoang với chúng bao năm nay. Tôi đã nhìn chúng mổ vỡ trứng mà chui ra, cho đến khi đủ lông đủ cánh, học bay học hót, cho tời ngày tôi có cảm tưởng mình là một con trong bọn chúng. Có lúc tôi nghĩ biết đâu mình cũng là một con chim trời, một con cáo, một con thỏ hay một con sóc, thậm chí một con bọ cánh cứng. Tôi không rõ có phải vậy không.
He laughed and came back to the log and began to talk about the flower seeds again. He told her what they looked like when they were flowers; he told her how to plant them, and watch them, and feed and water them.
"See here," he said suddenly, turning round to look at her. "I'll plant them for thee myself. Where is tha' garden?"
Thằng bé cười phá lên, bước về chỗ thân cây đổ và lại nói chuyện về hạt giống của các loài hoa. Nó giảng giải cho Mary cách gieo trồng, quan sát và cả cách chăm sóc, tười tắm cho chúng.
- Đây nhé, - đột nhiên nó bảo và ngoái sang nhìn Mary,- tự tay tôi sẽ trồng chúng cho cô xem. Vườn của cô ở đâu?
Mary's thin hands clutched each other as they lay on her lap. She did not know what to say, so for a whole minute she said nothing. She had never thought of this. She felt miserable. And she felt as if she went red and then pale.
"Tha's got a bit o' garden, hasn't tha'?" Dickon said.
It was true that she had turned red and then pale. Dickon saw her do it, and as she still said nothing, he began to be puzzled.
"Wouldn't they give thee a bit?" he asked. "Hasn't tha' got any yet?"
She held her hands tighter and turned her eyes toward him.
Đôi bàn tay mảnh dẻ của Mary đan siết vào nhau, đặt trên lòng nó. Nó không biết phải nói thể nào, vì thể cả một phút trôi qua mà nó chẳng nói gì hết. Nó chưa bao giờ ngờ tới chuyện này. Nó cảm thấy mình thật khốn khổ. Mặt nó hết đỏ bừng lên rồi lại tái đi.
- Cô có mảnh vườn nhỏ, phải không? – Dickon nói.
Quả thực mặt nó đang đỏ lại tái ngắt. Dickon nhận ra điều đó. Khi nó vẫn không nói gì thì thằng bé bắt đầu thấy bối rối.
- Chẳng lẽ họ không dành đất cho cô, dù chỉ một mảnh nhỏ thôi sao? – Thằng bé hỏi. – Cô không có khoảnh vườn nào à?
Nó siết chặt hai bàn tay hơn trước, ngước nhìn Dickon.
"I don't know anything about boys," she said slowly. "Could you keep a secret, if I told you one? It's a great secret. I don't know what I should do if any one found it out. I believe I should die!" She said the last sentence quite fiercely. Dickon looked more puzzled than ever and even rubbed his hand over his rough head again, but he answered quite good-humoredly. "I'm keepin' secrets all th' time," he said. "If I couldn't keep secrets from th' other lads, secrets about foxes' cubs, an' birds' nests, an' wild things' holes, there'd be naught safe on th' moor. Aye, I can keep secrets."
- Tôi chẳng biết gì về đám con trai. – Con bé nói chậm rãi. – Anh có thể giữ kín bí mật không, nếu tôi kể cho anh một câu chuyện? Đấy là cả một bí mật lớn. Tôi không biết phải làm gì nếu ai đó phát hiện ra nó. Tôi nghĩ tôi sẽ chết mất! – Con bé nói câu cuối với vẻ vô cùng dữ dội. Dickon trông càng bối rối hơn bao giờ hết, đưa tay lên vò vò cái đầu bù xù và rồi nó đáp lại một cách vui vẻ. - Tôi xin thề sẽ giữ bí mật mãi mãi. Nếu tôi không giữ bí mật khỏi “bọn nhóc”, bí mật về các hang cáo, tổ chim và hang ổ của các loài thú hoang thì còn gì là an toàn ngoài cánh đồng hoang. Đó, tôi có thể giữ bí mật được mà.
Mistress Mary did not mean to put out her hand and clutch his sleeve but she did it.
"I've stolen a garden," she said very fast. "It isn't mine. It isn't anybody's. Nobody wants it, nobody cares for it, nobody ever goes into it. Perhaps everything is dead in it already. I don't know."
She began to feel hot and as contrary as she had ever felt in her life.
Cô chủ Mary không có ý đưa tay ra nắm tay áo thằng bé, thế nhưng nó đã làm điều đó.
- Tôi đã đánh cắp cả một khu vườn, - con bé nói nhanh. – Nó không phải của tôi. Nó cũng chẳng phải của ai. Không một ai muốn có nó, chẳng người nào chăm sóc cho nó, chưa từng có người nào bước vào trong đó. Mà có lẽ mọi thứ trong ấy đều tàn lụi cả rồi; tôi không biết nữa.
Con bé bắt đầu nóng mắt và trở nên ương ngạnh như nó vẫn từng như vậy trong đời.
"I don't care, I don't care! Nobody has any right to take it from me when I care about it and they don't. They're letting it die, all shut in by itself," she ended passionately, and she threw her arms over her face and burst out crying-poor little Mistress Mary.
- Tôi không cần biết, tôi không cần biết! Không ai có quyền tước đoạt nó khỏi tôi, chừng nào tôi còn quan tâm tới nó thì họ không được phép. Họ đang bỏ mặc cho nó chết và khóa kín nó lại. – Và nó ngừng lại vẻ đấy xúc cảm, đưa hai bàn tay bưng mặt và khóc nức nở.
Dickon's curious blue eyes grew rounder and rounder. "Eh-h-h!" he said, drawing his exclamation out slowly, and the way he did it meant both wonder and sympathy.
"I've nothing to do," said Mary. "Nothing belongs to me. I found it myself and I got into it myself. I was only just like the robin, and they wouldn't take it from the robin." "Where is it?" asked Dickon in a dropped voice.
Mistress Mary got up from the log at once. She knew she felt contrary again, and obstinate, and she did not care at all. She was imperious and Indian, and at the same time hot and sorrowful.
Thật tội nghiệp cho Cô chủ Mary bé bỏng. Đôi mắt xanh trong tò mò của Dickon mỗi lúc một tròn xoe.
- Ôi… ôi… ôi! – Nó kêu lên, kéo dài sự kinh ngạc của mình, nó biểu lộ nỗi ngạc nhiên pha lẫn cảm thông.
- Tôi không có việc gì để làm, - Mary nói. – Không có gì là của tôi cả. Chính tôi đã tìm ra nó và chính tôi lọt được vào trong đó. Tôi thì cũng chỉ như con chim ức đỏ, và họ không thể tước đoạt khu vườn khỏi con chim ấy.
- Khu vườn ở đâu? – Dickon dịu giọng hỏi.
Cô chủ Mary lập tức đứng bật dậy khỏi thân cây đổ. Nó biết nó lại tỏ ra ương ngạnh và khó lay chuyển nổi, nhưng nó chẳng bận tâm. Con bé vừa ngạo mạn theo cái kiểu của nó hồi ở Ấn Độ, vừa nóng nảy vừa rầu rĩ.
"Come with me and I'll show you," she said.
She led him round the laurel path and to the walk where the ivy grew so thickly. Dickon followed her with a queer, almost pitying, look on his face. He felt as if he were being led to look at some strange bird's nest and must move softly. When she stepped to the wall and lifted the hanging ivy he started. There was a door and Mary pushed it slowly open and they passed in together, and then Mary stood and waved her hand round defiantly.
- Đi theo tôi, tôi sẽ chỉ cho anh. Nó dẫn thằng bé vòng theo con đường mòn trồng nguyệt quế rồi đặt chân lên loois đi dạo nơi có đám thường xuân đang mọc ken dày. Dickon bước theo nó với vẻ mặt vừa kinh ngạc, vừa thương tình. Nó cảm thấy như đang được đưa tới xem tổ một loài chim lạ và buộc phải đi thật khẽ. Tới khi con bé dừng bước trước bức tường, đưa tay vén các nhánh thường xuân đang đung đưa sang bên thì nó giật nảy mình. Đằng sau đó là một cánh cửa, Mary đẩy cho cửa từ từ mở ra, hai đứa cùng bước vào trong và rồi Mary ngừng lại, khoát tay vẻ ngang ngạnh.
"It's this," she said. "It's a secret garden, and I'm the only one in the world who wants it to be alive."
Dickon looked round and round about it, and round and round again.
"Eh!" he almost whispered, "it is a queer, pretty place! It's like as if a body was in a dream."
- Nó đây, - con bé nói, - khu vườn bí mật ấy đây, và tôi là người duy nhất trên đời muốn nó sống lại.
Dickon đưa mắt ngắm quanh khu vườn, ngoảnh đầu nhìn hết lần này tới lượt khác.
- Ầy! – Thằng bé nói gần như thì thầm.
– Đây quả là một chốn lạ lùng, xinh đẹp. Như một người đẹp đang say giấc mộng.


CHAPTER 11

Chapter XI: THE NEST OF THE MISSEL THRUSH
Chương 11: CHIếC Tổ CHIM HÉT.


For two or three minutes he stood looking round him, while Mary watched him, and then he began to walk about softly, even more lightly than Mary had walked the first time she had found herself inside the four walls. His eyes seemed to be taking in everything--the gray trees with the gray creepers climbing over them and hanging from their branches, the tangle on the walls and among the grass, the evergreen alcoves with the stone seats and tall flower urns standing in them.
Trong khoảng hai ba phút, thằng bé cứ đứng nhìn quanh, còn Mary thì nhìn nó. Rồi Dickon bắt đầu bước thật nhẹ nhàng, nhẹ nhàng hơn cả Mary vào cái lần đầu tiên ở trong bốn bức tường. Đôi mắt thằng bé dường như gắn chặt lấy mọi thứ - đám cây cối xám màu có dây leo xám xịt quấn quýt khắp thân mình và lòa xòa rủ xuống từ trên cành, mở cành rối bám trên tường rồi lan xuống cỏ, những góc vườn có thường xuân mọc, cùng các ghế đá và chậu hoa cao cao ở giữa.
"I never thought I'd see this place," he said at last, in a whisper.
"Did you know about it?" asked Mary.
She had spoken aloud and he made a sign to her.
"We must talk low," he said, "or some one'll hear us an' wonder what's to do in here."
"Oh! I forgot!" said Mary, feeling frightened and putting her hand quickly against her mouth. "Did you know about the garden?" she asked again when she had recovered herself. Dickon nodded.
- Tôi không bao giờ nghĩ mình lại thấy một chỗ như thế này, - cuối cùng thằng bé thì thầm bảo.
- Anh có nghe nói gì về nơi này không? – Mary hỏi. Con bé nói khá to nên Dickon phải ra hiệu cho nó.
- Chúng ta nói khẽ thôi, - thằng bé bảo, - nhỡ có người nghe thấy lại thắc mắc mình đang làm gì ở đây.
- Ồ, tôi quên mất! – Mary bảo, nó chợt thấy lo sợ và vội đưa tay lên bịt miệng.
– Anh có biết gì về khu vườn này không? – Nó hỏi lại khi đã trấn tĩnh. Dickon gật đầu.
"Martha told me there was one as no one ever went inside," he answered. "Us used to wonder what it was like."
He stopped and looked round at the lovely gray tangle about him, and his round eyes looked queerly happy.
"Eh! the nests as'll be here come springtime," he said. "It'd be th' safest nestin' place in England. No one never comin' near an' tangles o' trees an' roses to build in. I wonder all th' birds on th' moor don't build here."
Mistress Mary put her hand on his arm again without knowing it.
- Chị Martha bảo với tôi rằng có một nơi mà chưa từng có ai vào được bên trong. Chúng tôi thường tự hỏi không hiểu nơi đó thế nào.
Dickon ngừng lại, nhìn một lượt đám dây leo màu xám quanh vườn, đôi mắt to của nó ánh lên vẻ hạnh phúc lạ lùng.
- Chà, khi xuân sang thì quanh đây sẽ đầy ắp tổ chim, - thằng bé bảo. – Đây là chốn làm tổ an toàn nhất trên nước Anh này. Chẳng có loài nào chưa từng tới gần đám dây leo và bụi hồng kia làm tổ. Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao tất cả các loài chim trên cánh đồng hoang lại không làm tổ ở đây.
Cô chủ Mary lần nữa bất giác đặt tay lên cánh tay nó.
"Will there be roses?" she whispered. "Can you tell? I thought perhaps they were all dead."
"Eh! No! Not them--not all of 'em!" he answered. "Look here!"
He stepped over to the nearest tree--an old, old one with gray lichen all over its bark, but upholding a curtain of tangled sprays and branches. He took a thick knife out of his Pocket and opened one of its blades.
- Chúng có nở thành những bông hồng không, - con bé thì thào. – Anh có thể cho tôi hay chứ? Tôi cho rằng có lẽ chúng đã chết cả rồi.
- Ấy! Không đâu! Chúng không chết. Chẳng có cây nào chết cả! – Dickon đáp. – Cô trông đây! Thằng bé dấn bước tới cái cây gần nhất – một cái cây nom già cỗi, trên thân bám đầy địa y màu xám và từ trên ngọn rủ xuống cả một bức mành được kết bởi những nhánh dây leo. Nó lấy từ túi quần ra một con dao dày và mở một lưỡi dao.
"There's lots o' dead wood as ought to be cut out," he said. "An' there's a lot o' old wood, but it made some new last year. This here's a new bit," and he touched a shoot which looked brownish green instead of hard, dry gray. Mary touched it herself in an eager, reverent way.
"That one?" she said. "Is that one quite alive quite?"
Dickon curved his wide smiling mouth.
- Có quá nhiều cành chết cần cắt bỏ, - Dickon nói, - cùng với khá nhiều bụi cây già nữa. Nhưng năm vừa rồi chúng cũng đâm ra được một số cành mới. Đây là một cành mới, - nó chạm tay vào một cành cây màu xanh xám thay vì màu nâu khô khốc.
Mary cũng tự tay chạm vào cành cây với vẻ háo hức, long trọng.
- Cành này sao? – Con bé nói. – Có phải cành này vẫn hoàn toàn sống? Dickon toét miệng cười.
"It's as wick as you or me," he said; and Mary remembered that Martha had told her that "wick" meant "alive" or "lively."
"I'm glad it's wick!" she cried out in her whisper. "I want them all to be wick.
Let us go round the garden and count how many wick ones there are." She quite panted with eagerness, and Dickon was as eager as she was. They went from tree to tree and from bush to bush. Dickon carried his knife in his hand and showed her things which she thought wonderful.
- Nó còn sống mệt nghỉ như cô và tôi vậy, - thằng bé nói; và Mary vẫn còn nhớ Martha bảo nó rằng “sống mệt nghỉ” có nghĩa là “vẫn sống” hoặc “đầy sức sống”.
- Tôi lấy làm mừng vì nó còn sống mệt nghỉ! – Con bé kêu lên khe khẽ. – Tôi muốn bọn chúng cứ sống mãi.
Bây giờ chúng ta thử đi vòng quanh vườn này và đếm xem bao nhiêu cây còn sống đi. Con bé thở hổn hển vì háo hức, Dickon cũng phấn khích chẳng kém gì nó. Chúng đi hết cây này sang cây khác, bụi này sang bụi khác. Dickon cầm sẵn con dao trong tay và chỉ cho Mary những thứ mà con bé cho rằng vô cùng tuyệt vời.
"They've run wild," he said, "but th' strongest ones has fair thrived on it. The delicatest ones has died out, but th' others has growed an' growed, an' spread an' spread, till they's a wonder. See here!" and he pulled down a thick gray, dry-looking branch. "A body might think this was dead wood, but I don't believe it is--down to th' root. I'll cut it low down an' see."
He knelt and with his knife cut the lifeless-looking branch through, not far above the earth.
- Chúng sống hoang dại, nhưng những cây khỏe thì vô cùng phát triển. Cây nào yếu thì tàn lụi, nhưng bọn còn lại cứ thế mà lớn lên và vươn xa đến độ làm ta phải kinh ngạc.
- Nhìn này! – Dickon kéo xuống một cành cây xám nâu khô khốc. – Có thể người ta bảo đây là cành chết, nhưng tôi không nghĩ vậy. Nhìn xuống gốc này, tôi sẽ rạch thử xem. Nó quỳ xuống, dùng dao cắt ngọt qua một nhánh cây khô tưởng như không còn sự sống, chỗ không xa mặt đất là mấy.
"There!" he said exultantly. "I told thee so. There's green in that wood yet. Look at it."
Mary was down on her knees before he spoke, gazing with all her might.
"When it looks a bit greenish an' juicy like that, it's wick," he explained. "When th' inside is dry an' breaks easy, like this here piece I've cut off, it's done for. There's a big root here as all this live wood sprung out of, an' if th' old wood's cut off an' it's dug round, and took care of there'll be--" he stopped and lifted his face to look up at the climbing and hanging sprays above him--"there'll be a fountain o' roses here this summer."
- Đó, thấy chưa! – Nó nói, vẻ mặt phấn khởi. – Tôi đã bảo cô mà. Có màu xanh bên trong thân gỗ. Cô nhìn vào đây này.
Mary đã quỳ trên hai đầu gối trước khi Dickon bảo, căng mắt ra nhìn.
- Chừng nào còn chút màu xanh và nhựa ứa ra thế này thì còn sống mệt nghỉ, - thằng bé giải thích. – Còn khi nào bên trong khô đét và dễ dàng bẻ gãy được như cái cành tôi vừa bẻ đay thì gay rồi. Nhìn bộ rễ này là ta biết cây còn phát triển, - nó ngừng nói, ngẩng mặt nhìn những nhánh cây đang đung đưa trên đầu, - vào mùa hè nơi đây sẽ là cả một đài phun nước kết bằng hoa hồng.
They went from bush to bush and from tree to tree. He was very strong and clever with his knife and knew how to cut the dry and dead wood away, and could tell when an unpromising bough or twig had still green life in it. In the course of half an hour Mary thought she could tell too, and when he cut through a lifeless-looking branch she would cry out joyfully under her breath when she caught sight of the least shade of moist green. The spade, and hoe, and fork were very useful. He showed her how to use the fork while he dug about roots with the spade and stirred the earth and let the air in. They were working industriously round one of the biggest standard roses when he caught sight of something which made him utter an exclamation of surprise.
Chúng tiếp tục đi từ bụi này sang bụi khác, từ cây này sang cây khác. Thằng bé tỏ ra mạnh mẽ và linh lợi với con dao trong tay, nó biết cách cắt bỏ đi những cành khô nhánh chết, và có thể chỉ cho Mary rõ cành nào tưởng chừng chẳng mấy hy vọng mà vẫn còn sự sống xanh rờn bên trong. Mới chưa đầy nửa giờ mà Mary thấy chính nó cũng tự biết được điều đó. Mỗi khi Dickon cắt ngang một nhành cây trông như đã chết, nó lại cố kìm một tiếng kêu vui sướng khi bắt gặp dấu hiệu nhỏ nhoi thoáng qua của màu xanh ẩm ướt. Mai, cuốc và chĩa tỏ ra rất có ích. Dickon chỉ cho con bé cách dùng chĩa, trong khi nó dùng mai để xén bớt rễ cây và xới đất cho thoáng khí. Hai đứa miệt mài cắt tỉa quanh một trong những khóm hồng thường lớn nhất, bỗng Dickon nhìn thấy vật gì đó khiến nó kinh ngạc thốt lên.
"Why!" he cried, pointing to the grass a few feet away. "Who did that there?"
It was one of Mary's own little clearings round the pale green points.
"I did it," said Mary.
"Why, I thought tha' didn't know nothin' about gardenin'," he exclaimed.
"I don't," she answered, "but they were so little, and the grass was so thick and strong, and they looked as if they had no room to breathe. So I made a place for them. I don't even know what they are."
- Tại sao thế nhỉ! – Thằng bé kêu khẽ và đưa tay chỉ vào vạt cỏ cách đó vài bước chân – Ai đã làm việc ấy?
Thì ra đó là một trong mấy khoảng đất quanh những chấm xanh đã được Mary dọn quang.
- Tôi làm đấy. – Mary bảo. - Sao, tôi cứ ngỡ cô không biết gì việc làm vườn cơ mà, - Dickon kêu lên.
- Tôi không biết, - Mary đáp, - nhưng chúng thì bé tẹo teo, mà cỏ dại thì dày đặc và mọc khỏe quá, tưởng chừng chúng không còn chỗ để thở nữa. Bởi thể tôi dọn chỗ cho chúng. Tôi thậm chí cũng không biết chúng là giống cây gì nữa.
Dickon went and knelt down by them, smiling his wide smile.
"Tha' was right," he said. "A gardener couldn't have told thee better. They'll grow now like Jack's bean-stalk. They're crocuses an' snowdrops, an' these here is narcissuses," turning to another patch, "an here's daffydowndillys. Eh! they will be a sight."
He ran from one clearing to another.
Dickon bước tời quỳ xuông bên đám mầm cây, rộng miệng cười.
- Cô hoàn toàn đúng, - thằng bé bảo. – Một người làm vườn cũng không thể nói đúng hơn cô. Giờ đây chúng sẽ mọc nhanh như thổi. Toàn là nghệ tây, hoa giọt tuyết. Còn đây là thủy tiên, - quay sang khoảnh đất nhỏ khác, nó bảo – và kia là thủy tiên hoa vàng. Hây chúng đều đã nhú lên rồi!
Thằng bé chạy từ khoảnh đất đã dọn sạch này sang khoảnh đất khác.
"Tha' has done a lot o' work for such a little wench," he said, looking her over.
"I'm growing fatter," said Mary, "and I'm growing stronger. I used always to be tired. When I dig I'm not tired at all. I like to smell the earth when it's turned up."
- Cô làm được bao nhiêu là việc, thật chẳng kém gì một cô gái trưởng thành, - thằng Dickon vừa nói, vừa đưa mắt nhìn Mary từ đầu đến chân.
- Tôi đang béo lên, - Mary bảo – và cũng thấy khỏe lên. Tôi vốn hay mệt mỏi, vậy mà khi đào xới thì chẳng thấy mệt gì hết. Tôi thích được ngửi mùi đất mới lật lên.
"It's rare good for thee," he said, nodding his head wisely. "There's naught as nice as th' smell o' good clean earth, except th' smell o' fresh growin' things when th' rain falls on 'em. I get out on th' moor many a day when it's rainin' an' I lie under a bush an' listen to th' soft swish o' drops on th' heather an, I just sniff an, sniff. My nose end fair quivers like a rabbit's, mother says."
- Điều đó có lợi cho cô đấy, - vừa nói, Dickon vừa gật gù ra vẻ hiểu biết. – Đó là mùi của đất sạch, và còn mùi của cây cối đang đâm chồi nảy lộc sau khi được tưới tắm dưới những trận mưa nữa. Nhiều bận đang lang thang trên cánh đồng hoang thì cơn mưa ập xuống, tôi liền nằm trú dưới một bụi cây, lắng nghe tiếng mưa rơi rả rích trên lá thạch thảo và cứ hít hà mãi. Mẹ tôi thường bảo cái mũi của tôi lúc nào cũng run run chẳng khác nào mũi một con chó.
"Do you never catch cold?" inquired Mary, gazing at him wonderingly. She had never seen such a funny boy, or such a nice one.
"Not me," he said, grinning. "I never ketched cold since I was born. I wasn't brought up nesh enough. I've chased about th' moor in all weathers same as th' rabbits does. Mother says I've sniffed up too much fresh air for twelve year' to ever get to sniffin' with cold. I'm as tough as a white-thorn knobstick."
He was working all the time he was talking and Mary was following him and helping him with her fork or the trowel.
- Anh không bao giờ bị cảm lạnh à? – Mary hỏi, chằm chằm nhìn thằng bé với vẻ hết sức ngạc nhiên. Con bé chưa từng gặp một đứa con trai nào lại ngộ nghĩnh và cũng dễ thương đến thế.
- Chưa, - Dieckon nhe răng cười. – Tôi chưa bao giờ bị cảm lạnh từ khi ra đời, dù tôi chẳng được nuôi dưỡng đầy đủ. Tôi chạy băng băng trên khắp cánh đồng hoang, trong mọi thời tiết, như là bọn thỏ vậy. Mẹ bảo tôi đã hít quá nhiều không khí trong lành trong suốt mười hai năm qua nên một chút khí lạnh cũng chẳng thể làm tôi khụt khịt nổi. Tôi dẻo dai như một sợi dây kết bằng đay trắng. Thằng bé vẫn làm việc không ngơi tay trong lúc trò chuyện, còn Mary lẽo đẽo theo sau và giúp Dickon khi thì bằng chiếc chĩa ba, khi thì bằng xẻng của nó.
"There's a lot of work to do here!" he said once, looking about quite exultantly.
"Will you come again and help me to do it?" Mary begged. "I'm sure I can help, too. I can dig and pull up weeds, and do whatever you tell me. Oh! do come, Dickon!"
"I'll come every day if tha' wants me, rain or shine," he answered stoutly. "It's the best fun I ever had in my life-- shut in here an' wakenin' up a garden."
"If you will come," said Mary, "if you will help me to make it alive I'll--I don't know what I'll do," she ended helplessly. What could you do for a boy like that?
"I'll tell thee what tha'll do," said Dickon, with his happy grin. "Tha'll get fat an' tha'll get as hungry as a young fox an' tha'll learn how to talk to th' robin same as I do. Eh! we'll have a lot o' fun."
- Còn rất nhiều việc phải làm ở đây!- Dickon nói và nhìn quan, vẻ hân hoan.
- Liệu anh có quay lại cùng làm giúp tôi không? – Mary khẩn khoản
– Tôi dám chắc tôi có thể giúp anh. Tôi có thể xới đất, nhặt cỏ và làm bất kỳ việc gì anh bảo. Ôi! Hãy đến nhé, Dickon!
- Tôi sẽ đến đây hàng ngày, nếu cô muốn, dù mưa hay nắng. – Dickon đáp lại chắc nịch. – Đây quả là chuyện vui nhất mà tôi từng có trong đời: bị nhốt lại đây và đánh thức cả một khu vườn.
- Nếu anh tới, - Mary nói, - nếu anh giúp tôi làm cho nó sống lại thì tôi sẽ … tôi quả không biết sẽ phải làm gì nữa! - Con bé dừng lại một cách tuyệt vọng. Bạn có thể làm gì nữa với một cậu bé như vậy?
- Tôi sẽ bảo cho cô những việc cô phải làm, - Dickon đáp, nhe răng cười vui vẻ. – Rồi cô sẽ béo tốt lên, sẽ thấy đói ngấu nghiến như một con cáo non, và rồi cô sẽ học được cách nói chuyện với chim ức đỏ chẳng kém gì tôi. Ôi! Chúng ta sẽ có biết bao trò vui.
He began to walk about, looking up in the trees and at the walls and bushes with a thoughtful expression.
"I wouldn't want to make it look like a gardener's garden, all clipped an' spick an' span, would you?" he said. "It's nicer like this with things runnin' wild, an' swingin' an' catchin' hold of each other."
"Don't let us make it tidy," said Mary anxiously. "It wouldn't seem like a secret garden if it was tidy."
Thằng bé bắt đầu đi loăng quăng, hết ngước trông các ngọn cây lại nhìn những bức tường và khóm cây với vẻ suy nghĩ.
- Tôi không muốn biến nó thành như vườn của người làm vườn, chỗ nào cũng được xén tỉa gọn ghẽ ngăn nắp, thế còn cô? – nó nói. – Cứ như thế này có khi lại đẹp, cứ để các cành các nhánh bò lan hoang dại, đu đưa rồi xoắn quyện lấy nhau.
- Đừng làm chúng ngăn nắp quá, - Mary nói vẻ lo âu. – Nếu chúng ngay ngắn đâu ra đấy thì còn gì là một khu vườn bí mật.
Dickon stood rubbing his rusty-red head with a rather puzzled look. "It's a secret garden sure enough," he said, "but seems like some one besides th' robin must have been in it since it was shut up ten year' ago."
"But the door was locked and the key was buried," said Mary. "No one could get in."
"That's true," he answered. "It's a queer place. Seems to me as if there'd been a bit o' prunin' done here an' there, later than ten year' ago."
"But how could it have been done?" said Mary.
He was examining a branch of a standard rose and he shook his head.
"Aye! how could it!" he murmured. "With th' door locked an' th' key buried."
Dickon đứng vò vò mái tóc nâu bù xù của nó, nom khá bối rối.
- Cứ như thế này trông cũng đủ là một khu vườn bí mật rồi, - nó bảo - nhưng hình như ngoài con chim ức đỏ ra, phải còn ai nữa sống ở đây kể từ ngày nó bị đóng kín cách đây mười năm.
- Nhưng cánh cửa thì bị khóa, còn chìa thì bị vùi kỹ, - Mary bảo. – Không ai có thể vào trong được.
- Sự thật là thế, - Dickon đáp. – Đây quả là một chốn kỳ dị. Tôi thấy hình như sau mười năm thì gần đây có ai đã tỉa xén bớt cây đi thì phải.
-Nhưng làm việc ấy bằng cách nào? – Mary hỏi.
Sau khi xem xét một nhánh hồng bình thường, Dickon lắc đầu.
- Phải rồi! Làm sao có thể làm việc đó được nhỉ? – Thằng bé thì thầm. – Với cánh cửa bị khóa, còn chìa thì bị vùi kín.
Mistress Mary always felt that however many years she lived she should never forget that first morning when her garden began to grow. Of course, it did seem to begin to grow for her that morning. When Dickon began to clear places to plant seeds, she remembered what Basil had sung at her when he wanted to tease her.
Mary luôn cảm thấy rằng dù con bé có sống bao nhiêu năm, nhưng nó sẽ không bao giờ quên cái buổi sáng đầu tiên khi khu vườn của nó bắt đầu sống dậy. Dĩ nhiên rồi, nơi ấy dường như đã bắt đầu sống dậy vì nó kể từ buổi sáng đó. Khi Dickon bắt tay vào dọn chỗ để gieo hạt, con bé nhớ lại những lời thằng Basil đã hát để chọc tức nó.
"Are there any flowers that look like bells?" she inquired.
"Lilies o' th' valley does," he answered, digging away with the trowel, "an' there's Canterbury bells, an' campanulas."
"Let's plant some," said Mary. "There's lilies o' th, valley here already; I saw 'em. They'll have growed too close an' we'll have to separate 'em, but there's plenty. Th' other ones takes two years to bloom from seed, but I can bring you some bits o' plants from our cottage garden. Why does tha' want 'em?"
- Có giống hoa nào nom giống những quả chuông không? – Con bé hỏi.
- Hoa lan chuông, - Dickon đáp, tay vẫn đang cầm xẻng xới đất, - và cả hoa chuông vùng Canterbury.
- Chúng ta trồng thử một ít đi, - Mary bảo.
- Hoa lan chuông thì ta có sẵn ở đây rồi; tôi đã thấy chúng. Chúng sẽ mọc quá gần nhau, ta sẽ phải tách chúng ra. Còn giống kia phải mất tới hai năm mới nở hoa kể từ lúc gieo hạt, nhưng tôi có thể mang cho cô một số cây có sẵn từ vườn nhà chúng tôi. Nhưng tại sao cô lại muốn chúng?
Then Mary told him about Basil and his brothers and sisters in India and of how she had hated them and of their calling her "Mistress Mary Quite Contrary."
"They used to dance round and sing at me. They sang--
`Mistress Mary, quite contrary, How does your garden grow? With silver bells, and cockle shells, And marigolds all in a row.'
I just remembered it and it made me wonder if there were really flowers like silver bells."
She frowned a little and gave her trowel a rather spiteful dig into the earth.
"I wasn't as contrary as they were."
But Dickon laughed.
Mary bèn thuật lại cho Dickon nghe về Basil cùng đám anh chị em của nó ở Ấn độ, và con bé đã ghét chúng ra sao, cả việc chúng gọi nó là “Cô chủ Mary quá ư ngang ngược”.
- Chúng thường nhảy nhót quanh tôi, nhìn tôi mà hát. Chúng hát rằng: Cô chủ Mary này, thật quá ư ngang ngược Làm sao vườn cô mọc nổi đây? Khi chuông bạc rồi vỏ sò tạp nhạp, Cùng cúc vạn thọ lẫn lộn cả một nơi. - Tôi vừa chợt nhớ tới bài hát đó và tự hỏi không biết có đúng là có những bông hoa trông như những chiếc chuông bạc không. Con bé khẽ cau mày rồi ấn chiếc xẻng của nó cuống đất khá là hằn học.
- Tôi không hề ngang ngược như lời chúng hát. Dickon bật cười.
"Eh!" he said, and as he crumbled the rich black soil she saw he was sniffing up the scent of it. "There doesn't seem to be no need for no one to be contrary when there's flowers an' such like, an' such lots o' friendly wild things runnin' about makin' homes for themselves, or buildin' nests an' singin' an' whistlin', does there?"
Mary, kneeling by him holding the seeds, looked at him and stopped frowning.
"Dickon," she said, "you are as nice as Martha said you were. I like you, and you make the fifth person. I never thought I should like five people."
- Ồ! – Thằng bé tiếp lời, và trong lúc làm cho tơi lớp đất đen màu mỡ, nó hit hà hương thơm của đất, - dường như chẳng ai có thể ngang ngược được nữa khi hoa lá đua nở, muông thú thân thiện, ríu rít đào hang xây tổ và hót ca, phải không nào?
Mary đang quỳ bên Dickon, tay cầm hạt giống, nó nhìn sang thằng Dickon và thôi cau mày.
- Dickon, anh thật tốt, đúng như lời Martha đã nói về anh. Tôi rất thích anh, và anh trở thành người thứ năm rồi đấy. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại có thể thích những năm người.
Dickon sat up on his heels as Martha did when she was polishing the grate. He did look funny and delightful, Mary thought, with his round blue eyes and red cheeks and happy looking turned-up nose.
"Only five folk as tha' likes?" he said. "Who is th' other four?"
"Your mother and Martha," Mary checked them off on her fingers, "and the robin and Ben Weatherstaff."
Dickon laughed so that he was obliged to stifle the sound by putting his arm over his mouth.
Dickon ngồi tì lên gót chân, giống cách Martha vẫn ngồi trong khi đánh bóng chiếc ghi lò. Cậu ấy trông thật ngộ và vui tính, Mary nghĩ bụng, với đôi mắt to xanh biết, hai má đỏ hồng và chiếc mũi hếch đầy mãn nguyện của cậu.
- Cô chỉ yêu quý có năm người thôi sao? Bốn người kia là những ai vậy?
- Mẹ anh và Martha, - Mary đếm họ trên các ngón tay của nó, - rồi chim ức đỏ và ông Ben Weatherstaff.
Dickon cười ngặt nghẽo đến nỗi nó phải vội đưa tay bịt miệng để ngăn tiếng cười lại.
"I know tha' thinks I'm a queer lad," he said, "but I think tha' art th' queerest little lass I ever saw."
Then Mary did a strange thing. She leaned forward and asked him a question she had never dreamed of asking any one before. And she tried to ask it in Yorkshire because that was his lan- guage, and in India a native was always pleased if you knew his speech.
"Does tha' like me?" she said.
"Eh!" he answered heartily, "that I does. I likes thee wonderful, an' so does th' robin, I do believe!"
"That's two, then," said Mary. "That's two for me."
And then they began to work harder than ever and more joyfully. Mary was startled and sorry when she heard the big clock in the courtyard strike the hour of her midday dinner.
"I shall have to go," she said mournfully. "And you will have to go too, won't you?"
- Tôi biết cô nghĩ tôi là một đứa kỳ quặc, nhưng tôi cho rằng cô mới là cô nàng bé nhỏ kỳ quặc nhất mà tôi từng thấy.
Lúc ấy, Mary đã làm một việc lạ lùng. Nó ngả người về phía trước, hỏi thằng bé một câu mà nó không bao giờ tưởng tượng nó sẽ hỏi ai đó từ trước tới giờ. Nó cố gắng hỏi câu đó bằng giọng Yorkshire bởi đó là ngôn ngữ của thằng bé, và ở Ấn độ một người địa phương thường tỏ ra hài lòng nếu bạn thạo lối nói của anh ta.
- Anh có thích tôi không?
- Ôi! – Thằng bé thành thật đáp. – Tôi thích chứ. Tôi thích cô lắm, và chim ức đỏ cũng thế, tôi tin thế.
- Vậy là có hai. – Mary bảo. – Có tới hai người bạn dành cho tôi.
Từ lúc ấy trở đi, chúng làm việc chăm hơn và cũng vui hơn. Mary giật mình và tiếc nuối khi nghe tiếng chuông đồng hồ lớn trong sân điểm giờ ăn trưa của nó.
- Tôi phải về rồi, - nó buồn rầu nói. – Và anh cũng phải về, đúng không?
Dickon grinned.
"My dinner's easy to carry about with me," he said. "Mother always lets me put a bit o' somethin' in my pocket."
He picked up his coat from the grass and brought out of a pocket a lumpy little bundle tied up in a quite clean, coarse, blue and white handkerchief. It held two thick pieces of bread with a slice of something laid between them.
"It's oftenest naught but bread," he said, "but I've got a fine slice o' fat bacon with it today."
Mary thought it looked a queer dinner, but he seemed ready to enjoy it.
"Run on an' get thy victuals," he said. "I'll be done with mine first. I'll get some more work done before I start back home."
He sat down with his back against a tree.
Dickon nhoẻn cười.
- Tôi mang theo bên mình bữa trưa của tôi một cách dễ dàng. Mẹ luôn cho phép tôi được nhét một thứ gì đó trong túi áo.
Nó nhặt chiếc áo khoác dưới bãi cỏ rồi lấy từ đó ra cái túi nhỏ, trong đó một vật được bọc giữa chiếc khăn tay màu trắng và xanh rất sạch sẽ. Chiếc khăn gói hai lát bánh mì đầy đặn cùng miếng gì đó kẹp ở giữ.
- Thường là chẳng có gì ngoài bánh mì, - nó nói- nhưng hôm nay tôi lại được thêm một chút thịt lợn xông khói béo ngậy ngon lành.
Mary thấy bữa ăn mới kỳ dị làm sao, nhưng có vẻ như thằng bé sẵn sàng thưởng thức nó.
- Cô về nhà mà ăn trưa đi. Tôi sẽ dùng bữa của tôi trước. Tôi sẽ nán lại thêm một chút trước khi về.
Nó ngồi xuống, tựa lưng vào một gốc cây.
"I'll call th' robin up," he said, "and give him th' rind o' th' bacon to peck at. They likes a bit o' fat wonderful."
Mary could scarcely bear to leave him. Suddenly it seemed as if he might be a sort of wood fairy who might be gone when she came into the garden again. He seemed too good to be true. She went slowly half-way to the door in the wall and then she stopped and went back.
"Whatever happens, you--you never would tell?" she said.
His poppy-colored cheeks were distended with his first big bite of bread and bacon, but he managed to smile encouragingly.
"If tha' was a missel thrush an' showed me where thy nest was, does tha' think I'd tell any one? Not me," he said. "Tha' art as safe as a missel thrush."
And she was quite sure she was.
- Tôi sẽ gọi con chim ức đỏ đến, cho nó chút thịt xông khói. Bọn chúng rất thích món ăn béo ngậy tuyệt vời này.
Mary không muốn để thằng bé ở lại. Đột nhiên, nó cảm thấy Dickon như một cậu tiên rừng sẽ biến mất khi nó trở lại khu vườn. Dickon là cậu bé tốt đến không thể tin được. Nó đã đi được nửa đường ra tới chỗ cánh cửa ẩn trong bức tường, nhưng rồi nó liền trở lại.
- Dù bất kể chuyện gì xảy ra, anh … anh cũng không bao giờ nói ra chứ? – Nó nói.
Đôi má ửng màu hoa anh túc của thằng bé lúc này đang phồng lên vì miếng bánh to tướng cùng với thịt xông khói, nhưng nó vẫn cố mỉm cười động viên Mary:
- Nếu cô là một con chim hét tầm gửi và chỉ cho tôi biết tổ ở đâu, cô có nghĩ tôi sẽ kể với ai không? Không đời nào. Cô thì cũng sẽ được an toàn không khác gì một con chim hét.
Và con bé cũng khá chắc chắn là nó sẽ được an toàn như thế.




CHAPTER 12

Chapter XII: "MIGHT I HAVE A BIT OF EARTH?"
Chương 12: Cháu có thể có một mảnh đất được không?
Mary ran so fast that she was rather out of breath when she reached her room. Her hair was ruffled on her forehead and her cheeks were bright pink. Her dinner was waiting on the table, and Martha was waiting near it.
"Tha's a bit late," she said. "Where has tha' been?"
"I've seen Dickon!" said Mary. "I've seen Dickon!"
"I knew he'd come," said Martha exultantly. "How does tha' like him?"
"I think--I think he's beautiful!" said Mary in a determined voice.
Martha looked rather taken aback but she looked pleased, too.
"Well," she said, "he's th' best lad as ever was born, but us never thought he was handsome. His nose turns up too much."
Mary chạy nhanh đến nỗi tưởng chừng đứt cả hơi khi về tới phòng riêng. Tóc nó xõa ra trên trán, còn hai má lại đỏ hây hây. Bữa trưa của nó đã dọn sẵn trên bàn, Martha đang ngồi ăn gần đó.
- Cô về hơi muộn, - chị nói - Cô ở đâu thế?
- Tôi vừa gặp Dickon! Tôi vừa gặp Dickon!
- Tôi cũng biết nó đến, - Martha nói với vẻ hân hoan - Cô thấy nó thế nào?
- Tôi nghĩ, tôi nghĩ…anh ấy rất đẹp! – Mary nói bằng một giọng cả quyết.
Martha sửng sốt, nhưng vẻ mặt đầy vẻ thích thú. - Chà, - Chị nói, - nó là đứa khá nhất trong những đứa trẻ nhà tôi được sinh ra, nhưng chúng tôi chưa bao giờ cho rằng nó đẹp trai. Mũi nó hếch quá.
"I like it to turn up," said Mary.
"An' his eyes is so round," said Martha, a trifle doubtful. "Though they're a nice color." "I like them round," said Mary. "And they are exactly the color of the sky over the moor."
Martha beamed with satisfaction.
"Mother says he made 'em that color with always lookin' up at th' birds an' th' clouds. But he has got a big mouth, hasn't he, now?"
- Tôi thì lại thích cái mũi hếch như thế, - Mary đáp.
- Mà đôi mắt nó thì cứ tròn như hai hòn bi, - Martha nói với đôi chút ngờ vực, - mặc dù chúng có màu khá đẹp.
- Tôi lại thích chúng tròn như thế, - Mary bảo, chúng có màu như màu của bầu trời trên cánh đồng hoang.
Martha tươi cười mãn nguyện. - Mẹ vẫn bảo nói có màu mắt ấy bởi cứ luôn ngước nhìn chim chóc và mây bay. Nhưng còn cái miệng rộng ngoác nữa chứ?
"I love his big mouth," said Mary obstinately. "I wish mine were just like it."
Martha chuckled delightedly.
"It'd look rare an' funny in thy bit of a face," she said. "But I knowed it would be that way when tha' saw him. How did tha' like th' seeds an' th' garden tools?"
"How did you know he brought them?" asked Mary.
"Eh! I never thought of him not bringin' 'em. He'd be sure to bring 'em if they was in Yorkshire. He's such a trusty lad."
Mary was afraid that she might begin to ask difficult questions, but she did not. She was very much interested in the seeds and gardening tools, and there was only one moment when Mary was frightened. This was when she began to ask where the flowers were to be planted.
- Tôi thì tôi yêu cái miệng rộng của anh ấy, - Mary đáp một cách ngoan cố - Tôi ước miệng của tôi cũng giống hệt như thế.
Martha tủm tỉm vẻ sung sướng.
- Nếu thế thì cô sẽ có một bộ mặt khá ngộ đấy. Nhưng tôi đã biết sự thể sẽ như thế khi cô gặp nó. Thế cô có thích các hạt giống và dụng cụ làm vườn không?
- Làm sao chị biết anh ấy mang chúng cho tôi? – Mary hỏi.
- Ồ! Tôi không bao giờ nghĩ nó không mang cho cô. Có thể tin chắc rằng nó sẽ mang chúng đến, miễn là chúng có ở Yorkshine. Nó là một đứa thật đáng tin cậy.
Mary đang lo sợ chị sẽ hỏi sang những câu mà nó sẽ khó bề trả lời, nhưng Martha đã không làm vậy. Chị quá quan tâm đến chuyện giống má và dụng cụ làm vườn. Vậy mà vẫn có lúc Mary thấy khinh hãi, là khi Martha bắt đầu hỏi nó trồng hoa ở đâu.
"Who did tha' ask about it?" she inquired.
"I haven't asked anybody yet," said Mary, hesitating. "Well, I wouldn't ask th' head gardener. He's too grand, Mr. Roach is."
"I've never seen him," said Mary. "I've only seen undergardeners and Ben Weatherstaff."
"If I was you, I'd ask Ben Weatherstaff," advised Martha. "He's not half as bad as he looks, for all he's so crabbed. Mr. Craven lets him do what he likes because he was here when Mrs. Craven was alive, an' he used to make her laugh. She liked him. Perhaps he'd find you a corner somewhere out o' the way."
"If it was out of the way and no one wanted it, no one could mind my having it, could they?" Mary said anxiously.
"There wouldn't be no reason," answered Martha. "You wouldn't do no harm."
- Cô đã xin phép ai chưa đấy? – Chị hỏi.
- Tôi chưa hỏi bất kỳ ai hết. – Mary lưỡng lự trả lời.
- Ừm, tôi sẽ không hỏi người quản vườn đâu. Lúc nào ông ta cũng ra vẻ ta đây, ông Roach ấy mà.
- Tôi chưa bao giờ gặp ông ta. Tôi chỉ gặp những người giúp việc làm vườn và ông Ben Weatherstaff.
- Nếu là cô, tôi sẽ hỏi bác Ben Weatherstaff,- Martha khuyên con bé,- Bác ấy không đến nỗi tệ như vẻ bề ngoài đâu, mặc dầu bác ấy rất hay gắt gỏng. Ông Craven để mặc bác ấy muốn làm gì thì làm, bởi vì bác ấy đã ở đây từ hồi bà Craven còn sống và là người khiến bà ấy vui vẻ bật cười nhiều phen. Bà quý bác ấy lắm. Biết đâu bác ấy chẳng tìm cho cô một góc vườn ở chỗ nào đó hẻo lánh cũng nên.
- Nếu nó làm một nơi xó xỉnh hẻo lánh không ai màng tới thì sẽ không có ai phiền lòng nếu tôi sỡ hữu nó phải không? – Con bé hỏi, giọng đầy lo lắng.
- Chẳng có lý gì mà không cho. Cô có gây thiệt hại gì đâu.
Mary ate her dinner as quickly as she could and when she rose from the table she was going to run to her room to put on her hat again, but Martha stopped her.
"I've got somethin' to tell you," she said. "I thought I'd let you eat your dinner first. Mr. Craven came back this mornin' and I think he wants to see you."
Mary turned quite pale.
Mary ăn qua quýt cho xong, khi nó vừa rời khỏi bàn ăn và định chạy về phòng riêng lấy mũ đội thì Martha ngăn nó lại.
- Tôi có mấy việc muốn nhắc cô,- chị nói,- tôi nghĩ cứ để cô ăn uống xong xuôi đã. Ông Craven đã trở về sáng nay, và tôi cho rằng ông ấy muốn gặp cô.
Mặt Mary tái nhợt.
"Oh!" she said. "Why! Why! He didn't want to see me when I came. I heard Pitcher say he didn't." "Well," explained Martha, "Mrs. Medlock says it's because o' mother. She was walkin' to Thwaite village an' she met him. She'd never spoke to him before, but Mrs. Craven had been to our cottage two or three times. He'd forgot, but mother hadn't an' she made bold to stop him. I don't know what she said to him about you but she said somethin' as put him in th' mind to see you before he goes away again, tomorrow."
- Ôi! – nó thốt lên – Tại sao? Tại sao? Ông ấy đã không muốn gặp tôi hôm tôi tới đây cơ mà. Tôi nghe rõ ông Pitcher nói rằng ông ấy không muốn.
- Chà,- Martha giải thích – Bà Medlock bảo cũng chỉ tại mẹ tôi thôi. Bữa trước mẹ tôi sang bên làng Thwaite và bà đã gặp ông ấy. Trước đây bà chưa bao giờ được trò chuyện với ông ấy, nhưng bà Craven đã từng ghé thăm gian nhà gianh của chúng tôi đôi bà bận. Ông ấy quên rồi, nhưng mẹ tôi thì không, và bà đã đánh bạo cản bước ông ấy. Tôi không rõ bà đã nói gì với ông về cô, nhưng đại loại bà đã nhắc ông để tâm tới việc gặp cô trước khi ông ấy lại lên đường vào ngày mai.
"Oh!" cried Mary, "is he going away tomorrow? I am so glad!"
"He's goin' for a long time. He mayn't come back till autumn or winter. He's goin' to travel in foreign places. He's always doin' it."
"Oh! I'm so glad--so glad!" said Mary thankfully.
If he did not come back until winter, or even autumn, there would be time to watch the secret garden come alive. Even if he found out then and took it away from her she would have had that much at least.
"When do you think he will want to see--"
- Ôi! – Mary kêu to,- Ông ấy sẽ đi vào ngày mai sao? Tôi mừng quá.
- Lần này ông đi lâu lắm đấy. Có lẽ mùa thu hoặc đông tới ông ấy mới trở về. Ông sẽ đi du lịch ở nước ngoài. Ông ấy luôn luôn làm vậy.
- Ôi! Tôi mừng quá! Tôi mừng quá! – Mary nói với vẻ biết ơn.
Cho đến mùa đông tới hoặc thậm chí chỉ cần đến mùa thu thôi mà ông ấy chưa trở về thì nó sẽ có đủ thời gian ngắm khu vườn bí mật của mình hồi sinh. Cho dù lúc bấy giờ ông ấy có phát hiện và tước đoạt khu vườn khỏi nó thì ít ra nó cũng đã được ngắm nhìn cảnh tượng ấy.
- Chị nghĩ khi nào ông ấy muốn gặp…
She did not finish the sentence, because the door opened, and Mrs. Medlock walked in. She had on her best black dress and cap, and her collar was fastened with a large brooch with a picture of a man's face on it. It was a colored photograph of Mr. Medlock who had died years ago, and she always wore it when she was dressed up. She looked nervous and excited.
Mary chưa kịp nói hết câu thì cửa mở, bà Medlock bước vào. Bà vận chiếc váy đen đẹp nhất của mình, đội mũ mềm không vành, trên cổ áo có gài chiếc ghim lớn có hình khuôn mặt một người đàn ông. Đấy là bức ảnh màu của ông Medlock đã qua đời mấy năm trước, bà luôn đeo nó mỗi khi ăn diện. Trông bà có vẻ bồn chồn, lo lắng.
"Your hair's rough," she said quickly. "Go and brush it. Martha, help her to slip on her best dress. Mr. Craven sent me to bring her to him in his study."
- Tóc cô rối quá,- Bà nói vội – Đi chải lại đi. Martha, chị hãy giúp cô đây thay bộ đồ đẹp nhất. Ông Craven bảo tôi đưa cô ấy tới phòng làm việc.
All the pink left Mary's cheeks. Her heart began to thump and she felt herself changing into a stiff, plain, silent child again. She did not even answer Mrs. Medlock, but turned and walked into her bedroom, followed by Martha. She said nothing while her dress was changed, and her hair brushed, and after she was quite tidy she followed Mrs. Medlock down the corridors, in silence. What was there for her to say? She was obliged to go and see Mr. Craven and he would not like her, and she would not like him. She knew what he would think of her. She was taken to a part of the house she had not been into before. At last Mrs. Medlock knocked at a door, and when some one said, "Come in," they entered the room together. A man was sitting in an armchair before the fire, and Mrs. Medlock spoke to him.
Tất cả vẻ hồng hào vụt biến khỏi hai má Mary. Tim nó đập thình thịch và nó cảm thấy mình lại trở về nguyên trạng một đứa trẻ câm lặng, khó ưa, cứng nhắc. Nó thậm chí không buồn trả lời bà Medlock mà quay bước về phòng riêng, Martha theo sau. Trong lúc thay quần áo và chải tóc, nó chẳng nói chẳng rằng. Sau khi đã hoàn toàn chỉnh tề, nó im lặng theo bà Medlock xuống hành lang. Mà nó còn biết nói gì đây? Nó buộc phải đi gặp ông Craven, ông ấy sẽ không ưa nó, và nó cũng sẽ chẳng ưa ông. Nó thừa hiểu ông ấy sẽ nghĩ gì về nó. Con bé được đưa tới phần tòa nhà mà trước đó nó chưa hề đặt chân tới. Cuối cùng bà Medlock đưa tay gõ một cánh cửa, và khi có tiếng ai đó bảo “Mời vào”, cả hai cùng tiến vào trong phòng. Một người đàn ông đang ngồi trong chiếc ghế bành kê trước lò sưởi, bà Medlock lên tiếng.
"This is Miss Mary, sir," she said.
"You can go and leave her here. I will ring for you when I want you to take her away," said Mr. Craven.
When she went out and closed the door, Mary could only stand waiting, a plain little thing, twisting her thin hands together. She could see that the man in the chair was not so much a hunchback as a man with high, rather crooked shoulders, and he had black hair streaked with white. He turned his head over his high shoulders and spoke to her.
"Come here!" he said.
Mary went to him.
- Đây là cô Mary, thưa ngài.
- Bà có thể đi và để cô bé ở lại. Tôi sẽ rung chuông báo cho bà khi tôi muốn bà đến đưa cô bé đi, - Ông Craven bảo.
Lúc bà ta ra khỏi phòng và khép cửa, Mary chỉ còn biết đứng đợi. Đứa con gái bé nhỏ không mấy ưa nhìn đó đứng vặn xoắn hai bàn tay vào nhau. Nó nhận thấy người đàn ông ở trên ghế cũng chẳng đến nỗi gù lắm, với đôi vai cao và không cân đối, và mái tóc đen của ông đã điểm bạc. Ông ngoái nhìn qua bờ vai cao và bảo nó.
- Hãy lại gần đây!
He was not ugly. His face would have been handsome if it had not been so miserable. He looked as if the sight of her worried and fretted him and as if he did not know what in the world to do with her.
Mary tiến đến gần ông. Ông ấy không hề xấu xí. Khuôn mặt ông hẳn cũng tuấn tú nếu nó không đượm vẻ đau khổ đến vậy. Hình như vẻ ngoài của con bé khiến ông băn khoăn và ông không biết nên làm gì với nó.
"Are you well?" he asked.
"Yes," answered Mary.
"Do they take good care of you?"
"Yes."
He rubbed his forehead fretfully as he looked her over.
"You are very thin," he said.
"I am getting fatter," Mary answered in what she knew was her stiffest way.
- Cháu khỏe chứ? – ông hỏi.
- Vâng. – Mary đáp.
Họ đối xử với cháu có tử tế không?
- Có ạ.
Ông đưa tay xoa vầng trán vẻ đầy lo lắng khi nhìn ngắm nó từ đầu đến chân.
- Cháu gầy quá! – ông bảo.
- Cháu đang béo lên, - Mary trả lời, nó thừa biết vẻ cứng nhắc trong cách nói năng của nó.
What an unhappy face he had! His black eyes seemed as if they scarcely saw her, as if they were seeing something else, and he could hardly keep his thoughts upon her.
"I forgot you," he said. "How could I remember you? I intended to send you a governess or a nurse, or some one of that sort, but I forgot."
"Please," began Mary. "Please--" and then the lump in her throat choked her.
"What do you want to say?" he inquired.
Ông có khuôn mặt mới buồn rầu làm sao! Đôi mắt đen của ông như thể không nhìn vào nó mà nhìn vào một cái gì khác, và ông ấy khó mà có thể nghe nhiều về nó.
- Ta quên khuấy mất cháu,- ông nói – Làm sao ta có thể nhớ ra cháu cơ chứ? Ta đã tính đưa tới chỗ cháu một cô gia sư, một bảo mẫu hoặc ai đó đại loại như vậy, thế mà ta lại quên khuấy đi.
- Bác làm ơn, - Mary mở đầu- làm ơn…- Nó cảm thấy cổ họng nghẹn lại.
- Cháu muốn nói gì? – ông hỏi ân cần.
"I am--I am too big for a nurse," said Mary. "And please--please don't make me have a governess yet."
He rubbed his forehead again and stared at her.
"That was what the Sowerby woman said," he muttered absentmindedly.
Then Mary gathered a scrap of courage.
"Is she--is she Martha's mother?" she stammered.
"Yes, I think so," he replied.
"She knows about children," said Mary. "She has twelve. She knows."
- Cháu…cháu đã quá lớn để cần đến bảo mẫu,- Mary đáp- Và xin bác…xin bác đừng bắt cháu phải có thêm một cô gia sư bên cạnh nữa.
Ông lại xoa trán và chằm chằm nhìn nó.
- Đó là những gì mà người phụ nữ nhà Sowerby đã nói mà, - ông lẩm bẩm.
Mary thu hết can đảm.
- Có phải bà…bà là mẹ của chị Martha không ạ?- Mary lắp bắp.
- Phải, ta cho rằng thế,- ông đáp.
- Bà ấy rất hiểu trẻ con, - Mary bảo – Bà có tới mười hai người con, nên bà hiểu.
He seemed to rouse himself.
"What do you want to do?"
"I want to play out of doors," Mary answered, hoping that her voice did not tremble. "I never liked it in India. It makes me hungry here, and I am getting fatter."
He was watching her.
"Mrs. Sowerby said it would do you good. Perhaps it will," he said. "She thought you had better get stronger before you had a governess."
"It makes me feel strong when I play and the wind comes over the moor," argued Mary.
"Where do you play?" he asked next.
Ông như choàng tỉnh. - Thế cháu muốn gì ?
- Cháu muốn được chơi ngoài trời,- Mary đáp, nó hy vọng giọng mình không đến nỗi run, - Cháu chưa bao giờ thích điều đó khi ở Ấn Độ. Còn ở đây, làm thế khiến cháu thấy đói bụng, và cháu đang béo lên.
Ông nhìn con bé. - Bà Sowerby bảo điều ấy sẽ làm cháu khỏe hẳn ra. Có lẽ đúng thế thật. Bà ấy cho rằng tốt hơn hết cháu hãy khỏe lên đã rồi mới cần một gia sư kèm cặp.
- Cháu cảm thấy rất khỏe mỗi khi được chơi đùa, cùng với nắng gió ngoài cánh đồng hoang,- Mary lý sự.
- Cháu thường chơi ở đâu ?
"Everywhere," gasped Mary. "Martha's mother sent me a skipping-rope. I skip and run--and I look about to see if things are beginning to stick up out of the earth. I don't do any harm."
"Don't look so frightened," he said in a worried voice. "You could not do any harm, a child like you! You may do what you like."
Mary put her hand up to her throat because she was afraid he might see the excited lump which she felt jump into it. She came a step nearer to him.
"May I?" she said tremulously.
Her anxious little face seemed to worry him more than ever.
- Ở khắp mọi nơi,- Mary hổn hển đáp, - Mẹ chị Martha gửi cho cháu một sợi dây nhảy. Cháu nhảy dây khắp nơi…và cháu còn ngó quanh xem liệu có gì sắp trời lên khỏi mặt đất không. Cháu chẳng hề làm gì có hại.
- Đừng sợ hãi thế,- ông Craven nói giọng lo lắng – Một đứa trẻ như cháu thì chẳng thể làm gì có hại hết. Cháu có thể làm những gì cháu muốn.
Mary vội đưa tay lên che cổ, nó sợ ông nhìn thấy cái sự nghẹn ngào đầy kích động mà nó sắp rơi vào. Nó bước lại gần ông hơn.
- Cháu có thể, phải không ạ? – Nó nói với vẻ rụt rè.
Khuôn mặt bé nhỏ đầy khắc khoải của nó càng khiến ông lo lắng hơn bao giờ hết.
"Don't look so frightened," he exclaimed. "Of course you may. I am your guardian, though I am a poor one for any child. I cannot give you time or attention. I am too ill, and wretched and distracted; but I wish you to be happy and comfortable. I don't know anything about children, but Mrs. Medlock is to see that you have all you need. I sent for you to-day because Mrs. Sowerby said I ought to see you. Her daughter had talked about you. She thought you needed fresh air and freedom and running about."
- Đừng có căng thẳng đến vậy,- ông thốt lên,- Dĩ nhiên là cháu có thể. Ta là người bảo hộ của cháu, vậy nhưng ta lại chẳng viết gì về trẻ con. Ta không thể dành cho cháu thời gian hoặc sự chăm sóc. Ta quá ốm yếu, lại không thể tập trung làm việc gì cho ra hồn, nhưng ta mong cháu được hạnh phúc và thoải mái. Ta quả không hiểu gì về trẻ nhỏ, nhưng bà Medlock được giao phó trách nhiệm phải lo cho cháu tất cả những gì cháu cần. Ta cho gọi cháu tới hôm nay bởi vì và Sowerby bảo ta nên gặp cháu. Bà ấy cho rằng cháu cần không khí trong lành, tự do và được chạy nhảy đây đó.
"She knows all about children," Mary said again in spite of herself.
"She ought to," said Mr. Craven. "I thought her rather bold to stop me on the moor, but she said--Mrs. Craven had been kind to her." It seemed hard for him to speak his dead wife's name. "She is a respectable woman. Now I have seen you I think she said sensible things. Play out of doors as much as you like. It's a big place and you may go where you like and amuse yourself as you like. Is there anything you want?" as if a sudden thought had struck him. "Do you want toys, books, dolls?"
- Bà ấy hiểu tường tận về trẻ con,- Mary nhắc lại, mặc dù nó không hề có ý làm vậy.
- Hẳn là thế,- ông Craven bảo,- Ta nghĩ bà ấy khá là táo tợn lúc ngăn bước ta giữa cánh đồng, nhưng bà ấy chỉ nói : “Bà Craven đã từng đối xử tốt với tôi.»- Nhắc đến cái tên của người vợ quá cố dường như là điều quá khó khăn với ông,- “ Bà nhà là một phụ nữ rất đáng kính.» Bây giờ gặp cháu, ta nghĩ bà ấy đã nói ra những điều có lý. Cháu cứ việc chơi ngoài trời bao lâu tùy thích. Đây là một tòa nhà đồ sộ, cháu có thể vào chỗ nào cháu thích, cứ vui vẻ đùa nghịch nếu cháu muốn. Cháu còn cần gì nữa không? – Và một ý nghĩ tình cờ chợt nảy trong óc ông – Cháu có muốn đồ chơi, sách vở hay búp bê không?
"Might I," quavered Mary, "might I have a bit of earth?"
In her eagerness she did not realize how queer the words would sound and that they were not the ones she had meant to say. Mr. Craven looked quite startled.
"Earth!" he repeated. "What do you mean?"
"To plant seeds in--to make things grow--to see them come alive," Mary faltered.
He gazed at her a moment and then passed his hand quickly over his eyes.
"Do you--care about gardens so much," he said slowly.
- Liệu cháu có thể,- Mary rụt rè,- cháu có thể có một ít đất không ạ?
Trong lúc đang háo hức, con bé không nhận ra mấy từ ấy nghe mới kỳ dị làm sao và chúng không phải là những lời mà con bé định nói. Ông Craven giật mình.
- Đất! – ông nhắc lại. – Ý cháu là gì?
- Để gieo hạt…để làm cho chúng sinh sôi nảy nở…để nhìn chúng được sống. – Mary ấp úng.
Ông nhìn chòng chọc vào con bé hồi lâu, rồi đưa tay dụi mắt.
- Cháu…quan tâm chuyện vườn tược đến thế kia à? – Ông nói chậm rãi.
"I didn't know about them in India," said Mary. "I was always ill and tired and it was too hot. I sometimes made littlebeds in the sand and stuck flowers in them. But here it is different."
Mr. Craven got up and began to walk slowly across the room.
"A bit of earth," he said to himself, and Mary thought that somehow she must have reminded him of something. When he stopped and spoke to her his dark eyes looked almost soft and kind.
"You can have as much earth as you want," he said. "You remind me of some one else who loved the earth and things that grow. When you see a bit of earth you want," with something like a smile, "take it, child, and make it come alive."
- Hồi ở Ấn Độ thì cháu chẳng biết gì,- Mary đáp,- Cháu lúc nào cũng ốm đau và mệt mỏi, và thời tiết lại quá nóng bức. Đôi khi cháu cũng vun những luống hoa trong cát rồi cắm mấy bông hoa lên đấy. Nhưng ở đây thì lại khác hẳn.
Ông Craven đứng dậy, chậm chạp bước ngang qua gian phòng.
- Một miếng đất,- ông như nói với chính mình. Mary nghĩ nó đã vô tình nhắc ông nhớ lại chuyện gì thì phải. Khi ông dừng bước để nói với nó, đôi mắt đen của ông trông hết sức dịu dàng, hiền hậu.
- Cháu muốn bao nhiêu đất thì cứ tùy thích. Cháu làm ta nhớ đến một người rất yêu quý đất đai và những gì mọc lên từ đấy. Khi cháu thấy mảnh đất mà cháu muốn,- miệng ông thoáng vẻ gì đó tựa như một nụ cười,- thì hãy nhận lấy nó, con gái ạ, và hãy làm cho nó sinh sôi nảy nở.
"May I take it from anywhere--if it's not wanted?"
"Anywhere," he answered. "There! You must go now, I am tired." He touched the bell to call Mrs. Medlock. "Good-by. I shall be away all summer."
Mrs. Medlock came so quickly that Mary thought she must have been waiting in the corridor.
"Mrs. Medlock," Mr. Craven said to her, "now I have seen the child I understand what Mrs. Sowerby meant. She must be less delicate before she begins lessons. Give her simple, healthy food. Let her run wild in the garden. Don't look after her too much. She needs liberty and fresh air and romping about. Mrs. Sowerby is to come and see her now and then and she may sometimes go to the cottage."
- Cháu có thể nhận bất kể chỗ nào không có ai dùng tới?
- Bất kể chỗ nào,- ông trả lời.- Thôi! Bây giờ thì cháu đi đi, ta thấy mệt rồi.- Ông rung chuông gọi bà Medlock – Tạm biệt cháu. Ta sẽ phải xa nhà suốt mùa hè này.
Bà Medlock bước vào phòng nhanh đến nỗi Mary có cảm tưởng nãy giờ bà vẫn chực sẵn ngoài hành lang.
- Bà Medlock này,- ông Craven bảo bà,- bây giờ gặp con bé tôi mới hiểu những gì bà Sowerby muốn nói. Cô bé cần khỏe khoắn hơn trước khi bắt tay vào học tập. Hãy dọn cho con bé những món ăn nhẹ nhàng có lợi cho sức khỏe. Cứ mặc nó được chạy thỏa thích trong vườn. Đừng trông nom gò bó con bé quá mức. Mary cần tự do, không khí trong lành Sowerby sẽ tới thăm con bé, đôi khi cô bé cũng được phép tới chơi nhà họ.
Mrs. Medlock looked pleased. She was relieved to hear that she need not "look after" Mary too much. She had felt her a tiresome charge and had indeed seen as little of her as she dared. In addition to this she was fond of Martha's mother.
"Thank you, sir," she said. "Susan Sowerby and me went to school together and she's as sensible and good-hearted a woman as you'd find in a day's walk. I never had any children myself and she's had twelve, and there never was healthier or better ones. Miss Mary can get no harm from them. I'd always take Susan Sowerby's advice about children myself. She's what you might call healthy-minded--if you understand me."
"I understand," Mr. Craven answered. "Take Miss Mary away now and send Pitcher to me."
Bà Medlock hể hả ra mặt. Bà thầm nhủ trong lòng rằng thể là từ này bà đỡ phải “chăm nom” Mary nhiều cho mệt xác. Bà vẫn cảm thấy con bé là một bổn phận phiền toái và cũng chẳng gặp con bé mấy. Vả lại, bà mẹ Martha là người mà bà vẫn quý mến từ lâu.
- Cám ơn ngài,- bà nói.- Bà Sowerby và tôi đã cùng đến trường với nhau, bà ấy quả là một phụ nữ hiểu biết và nhân hậu, như ngài đã nhận thấy vào hôm đi dạo. Bản thân tôi chẳng có đứa con nào, nhưng bà ấy lại có những mười hai đứa, không đứa nào lại không khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Cô Mary có thể tới chơi mà không sợ bị chúng làm hư. Chính tôi đã luôn suy ngẫm những lời khuyên nhủ về con trẻ của bà Sowerby. Bà ấy chính là người ta vẫn gọi là người có cái đầu sáng láng, nếu ngài hiểu ý tôi.
- Tôi hiểu,- ông Craven đáp,- Bà hãy đưa cô Mary đi và bảo ông Pitcher đến gặp tôi.
When Mrs. Medlock left her at the end of her own corridor Mary flew back to her room. She found Martha waiting there. Martha had, in fact, hurried back after she had removed the dinner service.
"I can have my garden!" cried Mary. "I may have it where I like! I am not going to have a governess for a long time! Your mother is coming to see me and I may go to your cottage! He says a little girl like me could not do any harm and I may do what I like--anywhere!"
Khi bà Medlock rời con bé ở cuối hành lang, Mary chạy như bay về phòng. Nó thấy Martha đang đợi sẵn ở đó. Quả thật, Martha cũng đã vội vã trở lại sau khi dọn bàn xong.
- Tôi có thể có một khu vườn riêng! – Mary reo to,- Tôi có thể có nó ở bất cứ đâu tôi muốn! Tôi cũng sẽ chưa bị gia sư kèm cặp một thời gian dài nữa! Mẹ chị sắp tới đây thăm tôi, và có thể tôi cũng được tới thăm nhà chị. Ông ấy còn bảo một đứa con gái bé bỏng như tôi thì chẳng thể làm điều gì có hại hết, ngoài ra tôi có thể làm bất cứ điều gì tôi thích, ở bất kỳ đâu!
"Eh!" said Martha delightedly, "that was nice of him wasn't it?"
"Martha," said Mary solemnly, "he is really a nice man, only his face is so miserable and his forehead is all drawn together."
- Ôi! – Martha sung sướng nói,- Ông ấy dễ chịu đấy chứ phải không cô?
- Chị Martha này,- Mary nói vẻ trịnh trọng,- ông ấy quả thực là một người tử tế, chỉ có điều sao mặt ông buồn đến thế, và chân thì lúc nào cũng nhíu lại.
She ran as quickly as she could to the garden. She had been away so much longer than she had thought she should and she knew Dickon would have to set out early on his five-mile walk. When she slipped through the door under the ivy, she saw he was not working where she had left him. The gardening tools were laid together under a tree. She ran to them, looking all round the place, but there was no Dickon to be seen. He had gone away and the secret garden was empty--except for the robin who had just flown across the wall and sat on a standard rose-bush watching her. "He's gone," she said woefully. "Oh! was he--was he--was he only a wood fairy?"
Con bé phóng như bay ra ngoài vườn. Nó đã vắng mặt lâu hơn nó tưởng, nó biết Dickon phải cuốc bộ những năm dặm và hẳn cậu ấy đã lên đường từ sớm tinh mơ. Lúc con bé lách qua cánh cửa dưới đám cành thường xuân để vào trong, nó không thấy thằng bé làm việc ở chỗ chúng chia tay lúc trước. Dụng cụ làm vườn được xếp gọn gàng dưới một gốc cây. Nó chạy tới chỗ ấy, đưa mắt nhìn khắp xung quanh, nhưng không thấy Dickon. Thằng bé đã đi, khu vườn bí mật vắng tanh, ngoài con chim ức đỏ vừa bay qua bờ tường và đang đậu trên một khóm hồng liếc nhìn con bé.
- Anh ấy đi rồi,- con bé nói một cách buồn rầu,- Ôi! Liệu anh ấy…liệu anh ấy…liệu có phải anh ấy chỉ lả một nhân vật tưởng tượng?
Something white fastened to the standard rose-bush caught her eye. It was a piece of paper, in fact, it was a piece of the letter she had printed for Martha to send to Dickon. It was fastened on the bush with a long thorn, and in a minute she knew Dickon had left it there. There were some roughly printed letters on it and a sort of picture. At first she could not tell what it was. Then she saw it was meant for a nest with a bird sitting on it. Underneath were the printed letters and they said:
"I will cum bak."
Ánh mắt nó bắt gặp một vật gì trăng trắng đính trên khóm hồng. Đó là một mẩu giấy, đúng vậy, đó là mẩu giấy con bé đã in chữ nhờ Martha chuyển cho Dickon. Mẩu giấy được cài áo vào một chiếc gai dài, và trong phút chốc con bé hiểu Dickon đã để nó ở đó. Có mấy nét chữ thô kệch in rời rạc trên đó cùng một hình vẽ ngệch ngoạc.
Thoạt tiên con bé không hiểu đó là cái gì. Rồi nó nhận ra đó là hình vẽ chiếc tổ với một con chim nằm ở bên trong. Bên dưới là mấy chữ in, rằng: “Tôi sẽ trở lại.”

MOVIE: 00:29:00 - 00:34:00

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn