MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, February 20, 2012

THE SECRET GARDEN 2- KHU VƯỜN BÍ MẬT 2



CHAPTER 5


Chapter V
THE CRY IN THE CORRIDOR
Chương 5: Tiếng Kêu Trong Hành Lang
At first each day which passed by for Mary Lennox was exactly like the others. Every morning she awoke in her tapestried room and found Martha kneeling upon the hearth building her fire; every morning she ate her breakfast in the nursery which had nothing amusing in it; and after each breakfast she gazed out of the window across to the huge moor which seemed to spread out on all sides and climb up to the sky, and after she had stared for a while she realized that if she did not go out she would have to stay in and do nothing--and so she went out. She did not know that this was the best thing she could have done, and she did not know that, when she began to walk quickly or even run along the paths and down the avenue, she was stirring her slow blood and making herself stronger by fighting with the wind which swept down from the moor. She ran only to make herself warm, and she hated the wind which rushed at her face and roared and held her back as if it were some giant she could not see. But the big breaths of rough fresh air blown over the heather filled her lungs with something which was good for her whole thin body and whipped some red color into her cheeks and brightened her dull eyes when she did not know anything about it.
Thoạt đầu, mỗi ngày trôi qua với Mary Lennox cũng giống như mọi ngày khác. Mỗi sang thức dậy trong căn phòng có tường treo thảm của mình, nó lại thấy Martha đang quỳ trước lò sưởi để nhóm lửa; và sáng nào cũng vậy, nó ngồi ăn bữa sáng trong phòng trẻ chẳng có gì thú vị đó. Sau bữa sáng, nó lại đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn khắp cánh đồng hoang vô tận đang trải rộng tứ bề như dâng tới tận bầu trời. Chỉ sau khi đã nhìn đăm đắm hồi lâu, nó mới nhận ra rằng nếu không ra khỏi nhà thì chỉ còn biết ngồi lì mà chẳng làm gì hết – và thế là nó ra ngoài. Nó không hề biết rằng đó là điều tốt nhất mà nó có thể làm, và rằng mỗi khi nó bước nhanh hay chạy dọc theo những con đường mòn rồi xuôi ra đường cái, thì nó đang làm cho khí huyết lưu thong, cơ thể khỏe mạnh hơn bằng cách chống chọi với ngọn gió đang thổi đến từ cánh đồng hoang. Nó chạy chỉ để cho nóng người lên, nó thấy ghét ngọn gió cứ phả thốc vào mặt, gầm rú và tóm lấy lưng nó tựa hồ một gã khổng lồ vô hình. Nhưng khi hít một hơi thật sâu làn hương tươi mát trong trẻo từ bụi thạch thảo cho đầy hai lá phổi, một điều gì đó thật tốt lành tràn ngập cơ thể gầy gò của nó, khiến hai má nó hồng lên, đôi mắt rầu rĩ của nó trở nên long lanh mà nó không hề hay biết.
But after a few days spent almost entirely out of doors she wakened one morning knowing what it was to be hungry, and when she sat down to her breakfast she did not glance disdainfully at her porridge and push it away, but took up her spoon and began to eat it and went on eating it until her bowl was empty.
"Tha' got on well enough with that this mornin', didn't tha'?" said Martha.
"It tastes nice today," said Mary, feeling a little surprised her self.
"It's th' air of th' moor that's givin' thee stomach for tha' victuals," answered Martha. "It's lucky for thee that tha's got victuals as well as appetite. There's been twelve in our cottage as had th' stomach an' nothin' to put in it. You go on playin' you out o' doors every day an' you'll get some flesh on your bones an' you won't be so yeller."
"I don't play," said Mary. "I have nothing to play with."
"Nothin' to play with!" exclaimed Martha. "Our children plays with sticks and stones. They just runs about an' shouts an' looks at things." Mary did not shout, but she looked at things. There was nothing else to do. She walked round and round the gardens and wandered about the paths in the park. Sometimes she looked for Ben Weatherstaff, but though several times she saw him at work he was too busy to look at her or was too surly. Once when she was walking toward him he picked up his spade and turned away as if he did it on purpose.
Sau mấy ngày hầu như toàn ở ngoài trời, một sáng nọ thức dậy nó mới hiểu thế nào là đói, và khi ngồi bên bữa điểm tâm nó không còn liếc nhìn món cháo với vẻ khinh khi rồi đẩy đi, mà cầm lấy thìa xúc ăn ngay, cho đến khi sạch nhẵn.
- Sáng nay cô ngon miệng đấy chứ, phải không cô? – Martha hỏi
- Hôm nay ăn ngon quá, - Mary đáp, tự nó cũng cảm thấy hơi ngạc nhiên.
- Chính khí trời ngoài đồng làm cô thấy đói bụng đấy,- Martha trả lời. – Thực may mắn khi ta có đồ ăn và thấy thèm ăn. Mười hai người trong túp nhà gianh của chúng tôi chẳng lúc nào được đầy bụng. Hằng ngày cứ chơi đùa chạy nhảy ngoài trời thì rồi cô sẽ có da có thịt lên đấy, và cô sẽ không còn cái kiểu la lối như vậy nữa.
- Tôi đâu có chơi. Tôi chẳng có gì để chơi cả.
- Không có gì để chơi ấy à! – Martha thốt lên. – Bọn trẻ nhà tôi có mỗi gậy gộc và đá để chơi thôi. Chúng chỉ biết chạy nhảy, hò hét và nhìn ngắm mọi thứ nơi đây. Mary không thích hò hét, nhưng nó thích ngăm nhìn cảnh vật. Vả lại cũng chẳng biết làm gì hơn. Nó đi quanh quẩn qua các khu vườn rồi tha thẩn trên những con đường mòn trong vườn. Thảng hoặc có lúc nó đưa mắt tìm lão Ben Weatherstaff, đã mấy lần nó nhìn thấy lão hì hục làm việc đến nỗi không them ngước lên nhìn nó hay lại làm bộ mặt lầm lì. Một lần khi nó đang tiến lại phía lão, lão liền nhặt ngay cái mai lên và quay đi, như thể cố ý làm vậy.
One place she went to oftener than to any other. It was the long walk outside the gardens with the walls round them. There were bare flower-beds on either side of it and against the walls ivy grew thickly. There was one part of the wall where the creeping dark green leaves were more bushy than elsewhere. It seemed as if for a long time that part had been neglected. The rest of it had been clipped and made to look neat, but at this lower end of the walk it had not been trimmed at all.
Có một nơi mà nó thường hay lui tới hơn những nơi khác. Đó là lối đi dạo dài dằng dặc bên ngoài các khu vườn có tường bao quanh. Hai bên đường là những thảm hoa trơ trụi, dây thường xuân bám dày đặc trên mấy bức tường. Có một mảng tường nơi lá cây xanh thẫm rập rạp hơn chỗ khác và dường như bị bỏ quên lâu lắm. Phần còn lại được xén tỉa gọn ghẽ hơn, nhưng ở phía cuối lối đi thì lại không hề được xén tỉa. Sau hôm nói chuyện với lão Ben độ mấy ngày, Mary cũng chẳng buồn để ý tới điều này và tự hỏi không biết tại sao.
A few days after she had talked to Ben Weatherstaff, Mary stopped to notice this and wondered why it was so. She had just paused and was looking up at a long spray of ivy swinging in the wind when she saw a gleam of scarlet and heard a brilliant chirp, and there, on the top of the wall, forward perched Ben Weatherstaff's robin redbreast, tilting forward to look at her with his small head on one side.
Vừa lúc ngừng bước ngước nhìn một nhành thường xuân đang đung đưa trước gió, nó thoáng thấy một ánh đỏ tươi cùng tiếng kêu chiếp chiếp trong trẻo, và kìa, con chim ức đỏ của lão Ben Weatherstaff đang đậu ngay trên bờ tường, nghiêng nghiêng cái đầu bé xíu sang bên nhìn con bé.
"Oh!" she cried out, "is it you--is it you?" And it did not seem at all queer to her that she spoke to him as if she were sure that he would understand and answer her.
- Ô kìa, - Mary kêu to, - mày đấy ư, mày đấy ư?– Đối với con bé việc nó nói chuyện với chim ức đỏ, như thể con chim sẽ hiểu và đáp lại lời nó không còn kì lạ nữa.
He did answer. He twittered and chirped and hopped along the wall as if he were telling her all sorts of things. It seemed to Mistress Mary as if she understood him, too, though he was not speaking in words. It was as if he said:
Con chim đáp lại. Nó kêu líu ríu và nhảy dọc bờ tường như đang kể lể cho con bé đủ thứ chuyện trên đời. Dù không thể cất nên lời nhưng dường như Cô chủ Mary hiểu điều nó đang muốn nói:
"Good morning! Isn't the wind nice? Isn't the sun nice? Isn't everything nice? Let us both chirp and hop and twitter. Come on! Come on!"
- Chào buổi sáng tốt lành! Gió có mát không? Mặt trời có ấm không? Cảnh vật có đẹp không? Cả hai ta hãy cùng hót cùng nhảy và cùng bay liệng. Nào, nào!
Mary began to laugh, and as he hopped and took little flights along the wall she ran after him. Poor little thin, sallow, ugly Mary--she actually looked almost pretty for a moment.
Mary bắt đầu cười, khi con chim nhảy nhót và bay chuyền dọc bức tường thì con bé chạy theo nó. Con bé Mary vàng vọt, bé nhỏ và tội nghiệp ấy – hầu như chỉ trong phút chốc đã trở nên xinh xắn lạ thường.
"I like you! I like you!" she cried out, pattering down the walk; and she chirped and tried to whistle, which last she did not know how to do in the least. But the robin seemed to be quite satisfied and chirped and whistled back at her. At last he spread his wings and made a darting flight to the top of a tree, where he perched and sang loudly. That reminded Mary of the first time she had seen him. He had been swinging on a tree-top then and she had been standing in the orchard. Now she was on the other side of the orchard and standing in the path outside a wall--much lower down--and there was the same tree inside.
- Tao cũng yêu mày! Tao yêu mày!
Con bé kêu lên và rảo bước, nó cũng nói líu lo và cố huýt sáo, nhưng cuối cùng nó không biết huýt ra sao nữa. Hình như con chim ức đỏ đã lấy làm toại nguyện nên nó kêu lên lảnh lót để đáp lời con bé. Cuối cùng, nó xòe rộng đôi cánh, bay vút lên ngọn cây cất tiếng hót vang. Cảnh này khiến Mary nhớ lại buổi đầu nó nhìn thấy con chim, khi nó đang nhún nhảy trên một ngọn cây còn con bé đứng trong vường quả. Bây giờ thì con bé đang ở phía bên kia vườn quả và dừng chân trên con đường mòn phía ngoài bức tường thấp – trong vườn cũng có một cái cây giống hệt như vậy.
"It's in the garden no one can go into," she said to herself. "It's the garden without a door. He lives in there. How I wish I could see what it is like!"
She ran up the walk to the green door she had entered the first morning. Then she ran down the path through the other door and then into the orchard, and when she stood and looked up there was the tree on the other side of the wall, and there was the robin just finishing his song and, beginning to preen his feathers with his beak.
“Nó ở trong khu vườn mà không ai có thể vào.” – Nó thầm nhủ. “Đây chính là khu vườn không có cửa. Con chim sống ở trong đó. Ước gì mình có thể vào trong xem sao!”
Nó chạy ngược lối đi dạo tới cánh cửa màu xanh mà nó đã vào trong buổi sáng đầu tiên. Đoạn nó chạy tới con đường mòn dẫn thong qua cánh cửa phía bên kia tường, vào vườn quả. Vừa dừng chân và ngước nhìn lên, nó bắt gặp cái cây bên kia tường, nơi con chim ức đỏ vừa ngưng tiếng hót và bắt đầu rỉa lông.
"It is the garden," she said. "I am sure it is."
She walked round and looked closely at that side of the orchard wall, but she only found what she had found before--that there was no door in it. Then she ran through the kitchen-gardens again and out into the walk outside the long ivy-covered wall, and she walked to the end of it and looked at it, but there was no door; and then she walked to the other end, looking again, but there was no door.
- Khu vườn này đây. Mình chắc thế.
Nó dạo quanh và quan sát gần hơn phía bên này bức tường khu vườn quả, nhưng chỉ phát hiện ra những điều đã thấy bữa trước: đó là không có cánh cửa nào đế vào trong đó. Nó lại chạy qua vườn rau nhà bếp lần nữa, rồi đi dạo ra bên ngoài bức tường dài phủ đầy cây thường xuân. Nó đến phía cuối tường để quan sát, vẫn không thấy cánh cửa nào hết, nó lại đi về phía cuối một bức tường khác, nhìn ngó, nhưng cũng chẳng gặp một cánh cửa nào.
"It's very queer," she said. "Ben Weatherstaff said there was no door and there is no door. But there must have been one ten years ago, because Mr. Craven buried the key."
- Thật hết sức kỳ quặc, - nó thầm nhủ. – Ông Ben Weatherstaff đã nói là không có cửa và đúng là không có cửa thật. Nhưng mười năm về trước thì có, bởi vì ông Craven đã chon giấu chìa khóa kia mà.
This gave her so much to think of that she began to be quite interested and feel that she was not sorry that she had come to Misselthwaite Manor. In India she had always felt hot and too languid to care much about anything. The fact was that the fresh wind from the moor had begun to blow the cobwebs out of her young brain and to waken her up a little.
Điều đó khiến nó suy nghĩ rất lung, đển độ nó bắt đầu thấy hứng thú và thôi không hối tiếc vì đã đến Trang viên Misselthwaite. Hồi ở Ấn Độ, lúc nòa nó cũng thấy nóng nực và uể oải nên chẳng mất quan tâm đến gì khác. Sự thực là làn gió trong lành ngoài đồng hoang đã bắt đầu thổi tung tấm màng bao phủ bộ não non nớt của nó, làm thức tỉnh con bé đôi chút.
She stayed out of doors nearly all day, and when she sat down to her supper at night she felt hungry and drowsy and comfortable. She did not feel cross when Martha chattered away. She felt as if she rather liked to hear her, and at last she thought she would ask her a question. She asked it after she had finished her supper and had sat down on the hearth-rug before the fire.
Con bé ở ngoài trời gần như cả ngày, nên khi ngồi vào bàn dùng bữa tối thì nó cảm thấy đói ngấu, lơ mơ buồn ngủ và vô cùng dễ chịu. Nó không thấy bực khi Martha tán gẫu, nó còn thích nghe chị nói đằng khác, cuối cùng nó nghĩ cần phải hỏi chị một việc cho ra nhẽ. Sau khi đã ăn uống xong xuôi, lại ngồi trên tấm thảm trải trước lò sưởi, nó mới lên tiếng.
"Why did Mr. Craven hate the garden?" she said.
She had made Martha stay with her and Martha had not objected at all. She was very young, and used to a crowded cottage full of brothers and sisters, and she found it dull in the great servants' hall downstairs where the footman and upper-housemaids made fun of her Yorkshire speech and looked upon her as a common little thing, and sat and whispered among themselves. Martha liked to talk, and the strange child who had lived in India, and been waited upon by "blacks," was novelty enough to attract her.
- Tại sao ông Craven lại ghét khu vườn ấy hả chị?
Nó đã bảo Martha ở lại với nó, Martha cũng không phản đối. Chị còn rất trẻ, đã quen với túp lều gianh chật ních em trai em gái của mình, chị cảm thấy buồn tẻ nơi căn phòng lớn dành cho gia nhân ở tầng trệt, nơi có bọn hầu trai và hầu gái thường xuyên giễu cợt lối nói nặng âm giọng Yorshire của chị, coi chị như một thứ vặt vãnh, tầm thường rồi thì tào đàm tiếu với nhau. Martha hay chuyện, và đứa trẻ kỳ cục từng sống ở Ấn Độ và được những người “da đen” phục dịch kia chính là sự mới lạ đầy cuốn hút với chị.
She sat down on the hearth herself without waiting to be asked.
"Art tha' thinkin' about that garden yet?" she said. "I knew tha' would. That was just the way with me when I first heard about it."
"Why did he hate it?" Mary persisted.
Martha tucked her feet under her and made herself quite comfortable.
Không đợi phải bảo thêm, chị ngồi xuống bên lò sưởi.
- Cô đang suy nghĩ về khu vườn chứ gì? – Chị hỏi. – Tôi biết cô đang nghĩ về nó mà. Lần đầu tiên nghe nói về nó, tôi cũng vậy.
- Tại sao ông ấy lại ghét khu vườn? – Mary gặng hỏi.
Martha thu chân và ngồi lại cho thoải mái.
"Listen to th' wind wutherin' round the house," she said. "You could bare stand up on the moor if you was out on it tonight."
Mary did not know what "wutherin'" meant until she listened, and then she understood. It must mean that hollow shuddering sort of roar which rushed round and round the house as if the giant no one could see were buffeting it and beating at the walls and windows to try to break in. But one knew he could not get in, and somehow it made one feel very safe and warm inside a room with a red coal fire.
- Hãy lắng nghe tiếng gió hú ào ào quanh nhà, - chị nói. – Liệu cô có thể phơi mình ngoài cánh đồng hoang nếu cô ra ngoài đêm nay?
Mary không biết “hú” có nghĩa là gì, cho tới khi nó gỏng tai lên nghe và hiểu ra. Đó nghĩa là một thứ tiếng gầm rú ghê rợn ầm ào cuộn quanh nhà, tưởng như có gã khổng lồ vô hình đang quật mạnh vào ngôi nhà, vào các bức tường và cửa sổ, cố xông vào trong. Nhưng ta thừa biết gã không thể vào được, và điều đó khiến ta cảm thấy an toàn, ấm áp lúc đang ngồi trong phòng bên ngọn lửa hồng.
"But why did he hate it so?" she asked, after she had listened. She intended to know if Martha did.
Then Martha gave up her store of knowledge.
"Mind," she said, "Mrs. Medlock said it's not to be talked about. There's lots o' things in this place that's not to be talked over. That's Mr. Craven's orders. His troubles are none servants' business, he says. But for th' garden he wouldn't be like he is.
- Nhưng tại sao ông ấy lại ghét nó đến thế?
– Con bé hỏi lại sau khi đã lắng nghe. Nó muốn biết nếu Martha chịu nói.
Martha thấy vậy bèn phô luôn cả một mớ hiểu biết.
- Xin cô nhớ cho kỹ, - chị nói, - bà Medlock đã dặn chuyện này không được kể lung tung. Nhiều chuyện ở đây không được bàn tán xì xào. Đó là lệnh của ông Craven. Ông ấy bảo những vấn đề của ông không phải là việc của gia nhân. Còn đối với khu vườn thì ông cũng không ưa nốt.
It was Mrs. Craven's garden that she had made when first they were married an' she just loved it, an' they used to 'tend the flowers themselves. An' none o' th' gardeners was ever let to go in. Him an' her used to go in an' shut th' door an' stay there hours an' hours, readin' and talkin'. An, she was just a bit of a girl an' there was an old tree with a branch bent like a seat on it. An' she made roses grow over it an' she used to sit there. But one day when she was sittin' there th' branch broke an' she fell on th' ground an' was hurt so bad that next day she died. Th' doctors thought he'd go out o' his mind an' die, too. That's why he hates it. No one's never gone in since, an' he won't let any one talk about it."
- Đó là khu vườn của bà Craven mà bà đã gây dựng từ hồi họ mới cưới. Bà yêu nó lắm, và họ thường tự tay chăm sóc hoa trong đó. Vả lại cũng chẳng người làm vườn nào được phép vào đó. Hai ông bà thường đến thăm vườn, họ đóng cửa và ở đó giờ này sang giờ khác, hết đọc sách lại chuyện trò. Bấy giờ bà mới đương tuổi thanh xuân. Sẵn có cái cây già ngả cành nom tựa một chỗ ngồi, bà bèn vắt mấy nhánh hồng cho lo lên cái cành ấy, và thường ngồi ở đấy chơi. Rồi một ngày khi bà đang ngồi thì cành cây gẫy và bà ngã vật xuống đất, bị thương nặng đến nỗi hôm sau thì qua đời. Các bác sĩ dều nghĩ ông sẽ loạn óc và cũng chết theo. Đấy là lý do khiến ông căm ghét khu vườn. Từ bấy đến nay, không một ai bước chân vào đó nữa, và ông cũng không cho phép ai được nói về nó.
Mary did not ask any more questions. She looked at the red fire and listened to the wind "wutherin'." It seemed to be "wutherin'" louder than ever. At that moment a very good thing was happening to her. Four good things had happened to her, in fact, since she came to Misselthwaite Manor. She had felt as if she had understood a robin and that he had understood her; she had run in the wind until her blood had grown warm; she had been healthily hungry for the first time in her life; and she had found out what it was to be sorry for someone.
Mary không hỏi gì thêm. Nó nhìn ngọn lửa cháy rừng rực, lắng nghe tiếng gió “hú”. Hình như gió đang “hú” to hơn bao giờ hết. Chính lúc đó, một điều tuyệt vời xảy đến với nó. Sự thực, từ ngày nó đặt chân đến Trang viên Misselthwaite, có bốn điều làm nó thấy dễ chịu: nó cảm thấy nó rất hiểu con chim ức đỏ và con vật cũng hiểu nó; nó được chạy nhảy giữa làn gió lộng, khi huyết lưu thông, thân thể khỏe mạnh; lần đầu tiên trong đời nó biết thế nào là đói; và rồi nó còn khám phá ra cái cảm giác thương cảm cho một người khác là như thế nào.
But as she was listening to the wind she began to listen to something else. She did not know what it was, because at first she could scarcely distinguish it from the wind itself. It was a curious sound--it seemed almost as if a child were crying somewhere. Sometimes the wind sounded rather like a child crying, but presently Mistress Mary felt quite sure this sound was inside the house, not outside it. It was far away, but it was inside. She turned round and looked at Martha.
Cứ đà này thì nó sẽ còn khá hơn nữa. Giữa tiếng gió gào rít, con bé chợt nghe thấy một tiếng gì khác lạ. Nó không biết đó là cái gì, bởi lẽ thoạt đầu khó lòng phân biệt được âm thanh đó với chính tiếng gió. Quả là một thứ âm thanh khác thường, nghe như tiếng một đứa trẻ đang khóc đâu đây. Đôi lúc tiếng gió nổi lên tựa như tiếng trẻ khóc, nhưng chính lúc ấy Cô chủ Mary cảm thấy hoàn toàn chắc chắn âm thanh này phát ra từ bên trong chứ không phải bên ngoài ngôi nhà. Lúc xa, lúc gần. Nó nhớn nhác rồi nhìn thẳng vào Martha.
"Do you hear any one crying?" she said.
Martha suddenly looked confused.
"No," she answered. "It's th' wind. Sometimes it sounds like as if some one was lost on th' moor an' wailin'. It's got all sorts o' sounds."
"But listen," said Mary. "It's in the house--down one of those long corridors."
- Chị có nghe tiếng ai khóc không? – Nó hỏi.
Đột nhiên, Martha bối rối.
- Không, - chị đáp. – Chẳng qua là tiếng gió. Thỉnh thoảng nghe như tiếng ai bị lạc trên cánh đồng hoang đang kêu gào, than khóc. Chính gió tạo ra những âm thanh ấy đấy.
- Nhưng nghe này, - Mary bảo, - âm thanh phát ra từ trong nhà kia, chỉ một trong các hành lang này thôi.
And at that very moment a door must have been opened somewhere downstairs; for a great rushing draft blew along the passage and the door of the room they sat in was blown open with a crash, and as they both jumped to their feet the light was blown out and the crying sound was swept down the far corridor so that it was to be heard more plainly than ever.
"There!" said Mary. "I told you so! It is some one crying--and it isn't a grown-up person."
Và ngay lúc đó, có tiếng cánh cửa bật tung đâu đó nơi tầng dưới, một luồng gió lùa ào vào thốc dọc lối đi. Cánh cửa căn phòng họ đang ngồi bật mở phát ra một tiếng khô khốc, cả hai đều bật dậy. Đèn vụ tắt, tiếng than khóc vang lên từ cuối hành lang nghe còn rõ hơn cả ban đầu.
- Đấy! – Mary thốt lên. – Tôi đã bảo chị mà! Rõ rang có ai đang khóc, và đó không phải tiếng của người lớn.
Martha ran and shut the door and turned the key, but before she did it they both heard the sound of a door in some far passage shutting with a bang, and then everything was quiet, for even the wind ceased "wutherin'" for a few moments.
"It was th' wind," said Martha stubbornly. "An' if it wasn't, it was little Betty Butterworth, th' scullery-maid. She's had th' toothache all day."
But something troubled and awkward in her manner made Mistress Mary stare very hard at her. She did not believe she was speaking the truth.
Martha chạy ù ra đóng cửa rồi xoay chìa khóa, nhưng trước lúc chị kịp làm việc đó thì cả hai lại nghe thấy tiếng cánh cửa ở một lối đi đầu đằng kia sập lại đánh rầm, rồi tất cả trở nên yên ắng, thậm chí tiếng gió cũng ngừng “hú” trong giây lát.
- Tiếng gió đấy mà, - Martha vẫn nói vẻ ương ngạnh. – Và nếu không phải thế thì hẳn là con bé Betty Butterworth hầu gái ở phòng rửa bát thôi. Con bé kêu đau răng cả ngày hôm nay.
Nhưng vẻ mặt lo lắng và bộ dạng lung túng của chị khiến Cô chủ Mary nhìn chị chằm chằm. Nó không tin chị nói thật.



CHAPTER 6

Chapter VI
"THERE WAS SOME ONE CRYING -THERE WAS!"
Chương 6: “Ai đó đang than khóc, ai đó…”
The next day the rain poured down in torrents again, and when Mary looked out of her window the moor was almost hidden by gray mist and cloud. There could be no going out today.
"What do you do in your cottage when it rains like this?" she asked Martha.
Ngày hôm sau, mưa lại tuôn như thác đổ. Lúc Mary nhìn qua cửa sổ buồng nó, cả cánh đồng hoang hầu như chìm trong màn sương và bầu trời đầy mây xám xịt. Vậy là không thể ra ngoài hôm nay.
- Chị làm gì trong túp nhà gianh của chị vào những ngày mưa như thế này? – Nó hỏi Martha.
"Try to keep from under each other's feet mostly," Martha answered. "Eh! there does seem a lot of us then. Mother's a good-tempered woman but she gets fair moithered. The biggest ones goes out in th' cow-shed and plays there. Dickon he doesn't mind th' wet. He goes out just th' same as if th' sun was shinin'. He says he sees things on rainy days as doesn't show when it's fair weather. He once found a little fox cub half drowned in its hole and he brought it home in th' bosom of his shirt to keep it warm. Its mother had been killed nearby an' th' hole was swum out an' th' rest o' th' litter was dead. He's got it at home now. He found a half-drowned young crow another time an' he brought it home, too, an' tamed it. It's named Soot because it's so black, an' it hops an' flies about with him everywhere."
- Hầu như phải giữ chân hết đứa nọ đến đứa kia, cô ạ. – Martha đáp. - Ầy, bọn nhóc đông thế cơ mà. Mẹ tôi là người đôn hậu, và cũng rất công bằng. Những đứa lớn sẽ ra bãi chăn và chơi ngoài đó. Thằng Dickon thì chẳng bao giờ sợ mưa ướt. Nó vẫn chạy nhởn nhơ như thể trời đang nắng. Nó bảo nó thích ngắm nhìn cảnh vật vào những ngày mưa, nhìn những gì không thể thấy được khi thời tiết tốt. Có hôm, nó phát hiện ra một con cáo non sắp chết đuối trong hang, nó bèn ủ con vật trong ngực áo sơ mi cho ấm rồi mang về nhà. Mẹ của nó bị chết ngay gần đấy, cái hố thì ngập nước, mấy con sinh cùng lứa thì chết sạch. Nó đã mang con cáo ấy về nhà nuôi. Vào dịp khác, nó còn tìm được một chú quạ non ướt sũng nước mưa và cũng rước về nhà, dạy dỗ nó. Tên nó là Bồ hóng. Con vật đen như than cứ nhảy nhót, bay liệng theo thằng bé khắp nơi.
The time had come when Mary had forgotten to resent Martha's familiar talk. She had even begun to find it interesting and to be sorry when she stopped or went away. The stories she had been told by her Ayah when she lived in India had been quite unlike those Martha had to tell about the moorland cottage which held fourteen people who lived in four little rooms and never had quite enough to eat. The children seemed to tumble about and amuse themselves like a litter of rough, good-natured collie puppies. Mary was most attracted by the mother and Dickon. When Martha told stories of what "mother" said or did they always sounded comfortable.
Thời gian trôi đi, Mary cũng quên cả bực mình trước lối ăn nói quê mùa của Martha. Thậm chí nó bắt đầu nhận thấy lối nói đó thú vị, lại còn lấy làm tiếc khi chị ngưng kể hoặc ra ngoài. Mấy chuyện ngắn ngủi nó được nghe từ Ayah hồi ở Ấn Độ hoàn toàn không giống những gì Martha đã kể về nếp nhà gianh trên cánh đồng hoang, với mười bốn con người chen chúc trong bốn gian phòng bé xíu và chẳng bao giờ đủ ăn. Bọn trẻ dường như chỉ biết có chạy nhảy và tự nô đùa, như một bầy chó con vừa thân thiện, vừa hoang dã. Mary hầu như bị cuốn hút bởi câu chuyện về người mẹ và Dickon. Chuyện Martha kể về những gì mẹ chị nói hoặc làm luôn mang lại cảm giác dễ chịu.
"If I had a raven or a fox cub I could play with it," said Mary. "But I have nothing."
Martha looked perplexed.
"Can tha' knit?" she asked.
"No," answered Mary.
"Can tha'sew?"
"No."
"Can tha' read?"
"Yes."
"Then why doesn't tha, read somethin', or learn a bit o' spellin'? Tha'st old enough to be learnin' thy book a good bit now."
"I haven't any books," said Mary. "Those I had were left in India."
"That's a pity," said Martha. "If Mrs. Medlock'd let thee go into th' library, there's thousands o' books there."
- Nếu tôi có một con quạ, hoặc một con cáo non, tôi cũng chơi với nó, - Mary bảo. – Nhưng tôi chẳng có gì hết.
Martha tỏ ra bối rối.
- Cô có biết đan lát không?
- Không. – Mary đáp.
- Cô biết khâu vá chứ?
- Không.
- Cô biết đọc.
- Có. - Vậy tại sao cô không đọc một cái gì đó, hoặc học viết chính tả? Cô cũng đến tuổi có thể đọc sách trôi chảy rồi còn gì.
- Tôi chẳng có cuốn sách nào cả, - Mary đáp. – Sách vở tôi để lại Ấn Độ cả rồi.
- Tiếc quá, - Martha bảo. – Nếu bà Medlock chịu để cô vào thư viện, thì trong ấy cơ man là sách.
Mary did not ask where the library was, because she was suddenly inspired by a new idea. She made up her mind to go and find it herself. She was not troubled about Mrs. Medlock. Mrs. Medlock seemed always to be in her comfortable housekeeper's sitting-room downstairs. In this queer place one scarcely ever saw any one at all. In fact, there was no one to see but the servants, and when their master was away they lived a luxurious life below stairs, where there was a huge kitchen hung about with shining brass and pewter, and a large servants' hall where there were four or five abundant meals eaten every day, and where a great deal of lively romping went on when Mrs. Medlock was out of the way.
Mary không hỏi thư viện ở đâu, nó chợt thấy hứng thú bởi một ý nghĩ mới lạ. Nó quyết định tự đi tìm. Nó không mảy may bận tâm về bà Medlock. Hình như bà ta luôn yên vị trong căn phòng dành cho quản gia đầy tiện nghi của mình ở tầng dưới. Trong cái nơi kỳ dị này, người này khó lòng nhìn thấy người khác. Thực tế, cũng chẳng có ai để gặp ngoài đám gia nhân mà cứ hễ chủ đi vắng lại thoải mái tung tẩy ở tầng dưới, nơi có cả một nhà bếp khổng lồ treo đầy những đồ đồng và hợp kim thiếc bóng, cùng một gian sảnh dành cho gia nhân rộng thênh thang, và hàng ngày dễ có đến bốn năm bữa ăn với các món ngon ê hề được dọn cho bọn họ, với vô vàn trận đùa náo nhiệt diễn ra mỗi khi bà Medlock đi vắng.
Mary's meals were served regularly, and Martha waited on her, but no one troubled themselves about her in the least. Mrs. Medlock came and looked at her every day or two, but no one inquired what she did or told her what to do. She supposed that perhaps this was the English way of treating children. In India she had always been attended by her Ayah, who had followed her about and waited on her, hand and foot. She had often been tired of her company. Now she was followed by nobody and was learning to dress herself because Martha looked as though she thought she was silly and stupid when she wanted to have things handed to her and put on.
Các bữa ăn của Mary vẫn được phục vụ đều đặn, Martha vẫn hầu hạ nó, nhưng không ai mảy may bận tâm tới nó. Cứ một hoặc hai ngày, bà Medlock lại ghé thăm nó, nhưng chẳng ai buồn hỏi xem nó đã làm được những gì hay bảo nó cần làm việc gì. Con bé cho rằng có lẽ đây là cung cách người Anh dạy con trẻ. Ở Ấn Độ, nó luôn được Ahay của nó để mắt tới, họ thường bám theo từng bước chân để phục dịch nó. Nó từng chán ngấy những kẻ bám gót ấy. Giờ đây, nó chẳng bị ai lẵng nhẵng theo sau, được tự mình mặc lấy quần áo, bởi vì chỉ nhìn Martha là đủ biết chị sẽ cho rằng nó lười biếng và ngốc nghếch nếu nó cứ muốn mọi thứ phải được đưa tận tay hoặc đặt ngay trước mặt.
"Hasn't tha' got good sense?" she said once, when Mary had stood waiting for her to put on her gloves for her. "Our Susan Ann is twice as sharp as thee an' she's only four year' old. Sometimes tha' looks fair soft in th' head."
Mary had worn her contrary scowl for an hour after that, but it made her think several entirely new things.
- Cô cảm thấy thế nào?
– Có lần chị lên tiếng lúc Mary đang đứng đợi chị xỏ găng cho nó.
– Con bé Sunsan Ann nhà chúng tôi còn lanh lẹ gấp đôi cô mặc dù nó mới lên bốn. Trông cô nhiều khi ẻo lả quá đấy.
Mary lại xị mặt cau có hàng giờ đồng hồ, nhưng chính chuyện đó khiến con bé nghĩ đến một vài điều hoàn toàn mới mẻ.
She stood at the window for about ten minutes this morning after Martha had swept up the hearth for the last time and gone downstairs. She was thinking over the new idea which had come to her when she heard of the library. She did not care very much about the library itself, because she had read very few books; but to hear of it brought back to her mind the hundred rooms with closed doors. She wondered if they were all really locked and what she would find if she could get into any of them. Were there a hundred really? Why shouldn't she go and see how many doors she could count? It would be something to do on this morning when she could not go out. She had never been taught to ask permission to do things, and she knew nothing at all about authority, so she would not have thought it necessary to ask Mrs. Medlock if she might walk about the house, even if she had seen her.
Sáng hôm đó, Mary đứng lì bên cửa sổ chừng mươi phút, sau khi Martha quét dọn chỗ lò sưởi lần cuối cùng và đi xuống dưới gác. Nó đang nhớ lại cảm giác mới lạ mà nó từng có khi ở trong thư viện. Nó không quan tâm nhiều đến thư viện bởi nó vốn đọc rất ít sách, nhưng hễ nhắc tới thư viện thì hàng trăm căn phòng với những cánh cửa khép chặt lại lởn vởn trong không khí. Nó tự hỏi nếu tất cả đều khóa chặt thì nó sẽ tìm thấy gì bên trong khi bước vào căn phòng bất kỳ trong số đó. Có tới cả trăm phòng thật không? Tại sao nó không được phép đi lại để đếm xem có bao nhiêu cửa ra vào? Và thế là có việc để làm sáng nay, khi nó không thể ra khỏi nhà. Nó chưa bao giờ được dạy là phải xin phép trước khi làm việc gì, mà nó cũng chẳng biết gì về mọi thứ phép tắc, bởi thế nó không nghĩ nhất thiết phải hỏi bà Medlock nếu muốn lai vãng chỗ này chỗ nọ trong nhà, kể cả nếu bà ta có bắt gặp nó đi chăng nữa.
She opened the door of the room and went into the corridor, and then she began her wanderings. It was a long corridor and it branched into other corridors and it led her up short flights of steps which mounted to others again. There were doors and doors, and there were pictures on the walls. Sometimes they were pictures of dark, curious landscapes, but oftenest they were portraits of men and women in queer, grand costumes made of satin and velvet. She found herself in one long gallery whose walls were covered with these portraits. She had never thought there could be so many in any house. She walked slowly down this place and stared at the faces which also seemed to stare at her. She felt as if they were wondering what a little girl from India was doing in their house. Some were pictures of children--little girls in thick satin frocks which reached to their feet and stood out about them, and boys with puffed sleeves and lace collars and long hair, or with big ruffs around their necks. She always stopped to look at the children, and wonder what their names were, and where they had gone, and why they wore such odd clothes. There was a stiff, plain little girl rather like herself. She wore a green brocade dress and held a green parrot on her finger. Her eyes had a sharp, curious look.
Nó bèn mở cửa phòng, đi ra hành lang, tha thẩn. Đó là một hành lang dài dằng dặc, từ đây có các nhánh rẽ sang các hành lang khác, đưa con bé lên mấy đoạn cầu thang ngắn và những cầu thang này lại đưa tới các cầu thang khác. Hết cánh cửa này đến cánh cửa khác, và cơ man là tranh trên các bức tường. Đôi khi là những bức phong cảnh u ám, nhưng phần lớn là chân dung các quý ông, quý bà trong những bộ y phục trang trọng, lạ lẫm bằng sa tanh hay nhung. Nó chợt nhận ra mình đang đứng trong một phòng tranh sâu hun hút, trên tường đều phủ kín những bức chân dung kiểu đó. Nó quả không thể tưởng tượng nổi sao lại có nhiều tranh đến thế, dù ở bất cứ ngôi nhà nào. Đến đây nó chầm chậm bước, đăm đắm nhìn các khuôn mặt, và họ dường như cũng đăm đắm nhìn lại nó. Nó cảm thấy như thể họ vô cùng ngạc nhiên trước những gì một đứa bé gái từ Ấn Độ trở về đang làm trong nhà họ. Một số là tranh trẻ con, chỗ này túm tụm mấy đứa bé gái mặc những chiếc áo sa tanh dày dài chấm gót, chỗ kia là dăm ba cậu bé tóc dài, tay áo phồng lên, cổ cồn thêu đăng ten, có đứa còn đeo những chiếc cổ áo xếp nếp. Con bé luôn dừng chân ngắm bọn trẻ con trong tranh, thầm hỏi không rõ tên chúng là gì, chúng đã đi đâu và tại sao chúng lại ăn vận thứ quần áo cổ lỗ như thế. Có chân dung một con bé trông không được ưa nhìn cho lắm, cứng nhắc, nom khá giống nó. Con bé mặc cái áo gấm thêu kim tuyến xanh, đang nâng một con vẹt màu xanh trên ngón tay của nó. Đôi mắt nó ánh lên cái nhìn tò mò, sắc sảo.
"Where do you live now?" said Mary aloud to her. "I wish you were here."
Surely no other little girl ever spent such a queer morning. It seemed as if there was no one in all the huge rambling house but her own small self, wandering about upstairs and down, through narrow passages and wide ones, where it seemed to her that no one but herself had ever walked. Since so many rooms had been built, people must have lived in them, but it all seemed so empty that she could not quite believe it true.
- Giờ này cậu sống nơi đâu? – Mary nói khá to với con bé nọ. – Tớ ước gì có cậu ở đây.
Từ trước tới giờ, chắc hẳn chưa đứa bé gái nào trải qua một buổi sáng lạ lùng đến vậy. Tưởng chừng chẳng một bóng người nào trong ngôi nhà khổng lồ ngoài hình hài bé nhỏ của nó, lang thang hết lên gác lại xuống nhà, qua các hành lang rộng rồi hẹp, những chỗ xưa nay có lẽ chưa hề có ai lui tới, ngoài nó. Kể từ ngày dựng lên từng ấy căn phòng, hẳn đã có nhiều người sống nơi đây, nhưng tất cả trống trải đến nỗi con bé không thể nào tin đó là sự thực.
It was not until she climbed to the second floor that she thought of turning the handle of a door. All the doors were shut, as Mrs. Medlock had said they were, but at last she put her hand on the handle of one of them and turned it. She was almost frightened for a moment when she felt that it turned without difficulty and that when she pushed upon the door itself it slowly and heavily opened. It was a massive door and opened into a big bedroom. There were embroidered hangings on the wall, and inlaid furniture such as she had seen in India stood about the room. A broad window with leaded panes looked out upon the moor; and over the mantel was another portrait of the stiff, plain little girl who seemed to stare at her more curiously than ever.
Chỉ tới khi leo lên tầng hai, nó mới nghĩ tới việc mở một cánh cửa nào đó. Tất cả các cánh cửa đều khóa chặt, đúng như lời bà Medlock nói. Nhưng cuối cùng, nó đặt tay lên tay nắm một trong các cánh cửa ấy và xoay. Nó chợt thoáng cảm giác kinh sợ trong giây lát khi thấy tay nắm cửa xoay thật trơn tru, và cánh cửa nặng từ từ mở ra. Đó là một cánh cửa đồ sộ, mở thông vào một phòng ngủ lớn. Mầy bức rèm thêu trên tường, đồ nội thất chạm khảm như nó đã thấy ở Ấn Độ bày la liệt trong phòng. Một cửa sổ rộng với những ô kính trong khung chỉ trông ra cánh đồng hoang; và trên mặt lò sưởi lại là bức chân dung khác của con bé khó ưa và cứng nhắc nọ đang đăm đắm nhìn nó với vẻ tò mò hết sức.
"Perhaps she slept here once," said Mary. "She stares at me so that she makes me feel queer."
After that she opened more doors and more. She saw so many rooms that she became quite tired and began to think that there must be a hundred, though she had not counted them. In all of them there were old pictures or old tapestries with strange scenes worked on them. There were curious pieces of furniture and curious ornaments in nearly all of them.
“Có một dạo cô ấy đã sống ở đây – Mary thầm thì, - Cô ấy cứ nhìn mình chòng chọc đến nỗi chính mình cũng cảm thấy kỳ quặc.”
Từ lúc đó nó mở thêm được nhiều cánh cửa nữa. Nó nhìn thấy nhiều phòng đến nỗi mệt lử và bắt đầu tin rằng đúng là phải có tới cả trăm căn phòng, dù nó không hề đếm. Hầu như căn phòng nào cũng treo tranh cổ, thảm cổ với những cảnh trí lạ lẫm. Và hầu như tất cả các phòng đều bày biện những món đồ tranh trí và nội thất đáng ngạc nhiên.
In one room, which looked like a lady's sitting-room, the hangings were all embroidered velvet, and in a cabinet were about a hundred little elephants made of ivory. They were of different sizes, and some had their mahouts or palanquins on their backs. Some were much bigger than the others and some were so tiny that they seemed only babies. Mary had seen carved ivory in India and she knew all about elephants. She opened the door of the cabinet and stood on a footstool and played with these for quite a long time. When she got tired she set the elephants in order and shut the door of the cabinet. In all her wanderings through the long corridors and the empty rooms, she had seen nothing alive; but in this room she saw something.
Có một căn phòng nom tựa phòng khách của một quý bà nào đó; tất cả rèm cửa đều bằng nhung thêu; trong một chiếc tủ kính bày la liệt hàng trăm con voi nhỏ xinh được làm bằng ngà voi, một số con còn có quản tượng cưỡi hay đỡ kiệu trên lưng. Con to, con nhỏ, có con bé tí hin như vừa lọt lòng. Mary đã được xem nhiều đồ chạm ngà voi ở Ấn Độ và nó biết khá nhiều về voi. Nó mở cửa tủ và đứng trên một chiếc ghế đẩu chơi đùa với đàn voi hồi lâu. Đến lúc cảm thấy mệt, nó bèn sắp xếp lũ voi theo thứ tự rồi đóng cửa tủ lại. Trong lúc lang thang dọc các hành lang dài dằng dặc hoặc giữa các căn phòng trống trải, nó không gặp một sinh vật nào, nhưng nó nhận thấy có cái gì đó ở chính giữa phòng này.
Just after she had closed the cabinet door she heard a tiny rustling sound. It made her jump and look around at the sofa by the fireplace, from which it seemed to come. In the corner of the sofa there was a cushion, and in the velvet which covered it there was a hole, and out of the hole peeped a tiny head with a pair of tightened eyes in it. Mary crept softly across the room to look. The bright eyes belonged to a little gray mouse, and the mouse had eaten a hole into the cushion and made a comfortable nest there. Six baby mice were cuddled up asleep near her. If there was no one else alive in the hundred rooms there were seven mice who did not look lonely at all.
"If they wouldn't be so frightened I would take them back with me," said Mary.
Ngay khi đóng cửa tủ lại nó nghe tiếng sột soạt khe khẽ. Âm thanh ấy khiến nó giật nảy mình và ngó quanh bộ sofa bên lò sưởi: dường như tiếng động phát ra từ đó. Ở góc bộ sofa có một tấm đệm, và trên tấm nhung phủ ngoài mặt đệm thấy có một lỗ nhỏ, từ bên trong ló ra một cái đầu bé xíu với cặp mắt hoảng hốt. Mary rón rén đi ngang qua căn phòng để nhìn cho rõ, thì ra đôi mắt sợ sệt kia là của một chú chuột xám be bé, và chuột mẹ đã cắn thành cái hốc trên tấm đệm để tạo nên một cái tổ êm ái. Sáu con chuột con đang cuộn tròn ngủ bên nó. Nếu không còn ai trong hàng trăm căn phòng này thì bảy con chuột trông cũng chẳng cô đơn. “Nếu tụi mày không sợ, tao sẽ đem tụi mày về ở với tao,” – Mary thì thào bảo.
She had wandered about long enough to feel too tired to wander any farther, and she turned back. Two or three times she lost her way by turning down the wrong corridor and was obliged to ramble up and down until she found the right one; but at last she reached her own floor again, though she was some distance from her own room and did not know exactly where she was.
Con bé còn lang thang thêm một lúc nữa cho tới khi mệt rã rời và không muốn đi xa hơn, nó liền quay về. Nó lạc lối vài lần bởi nhầm hành lang, và bắt buộc leo lên leo xuống cho tới khi tìm ra lối cũ; nhưng cuối cùng khi về đến chính tầng cũ của mình, dù chỉ còn cách phòng riêng có một quãng, nó lại không biết chính xác chỗ mình đang đứng.
"I believe I have taken a wrong turning again," she said, standing still at what seemed the end of a short passage with tapestry on the wall. "I don't know which way to go. How still everything is!"
It was while she was standing here and just after she had said this that the stillness was broken by a sound. It was another cry, but not quite like the one she had heard last night; it was only a short one, a fretful childish whine muffled by passing through walls.
“Chắc mình lại nhầm lối rồi” – nó nói và đứng sững tại một điểm dường như là cuối một hành lang ngắn, nơi cũng có những tấm thảm thêu trên tường.
– “Mình không hiểu lối này dẫn đi đâu. Sao tất cả im lìm thế!” Giữa lúc nó đang đứng đó, và ngay khi nói thế xong, một âm thanh bỗng vang lên phá tan cảnh tĩnh lặng. Một tiếng khóc nào đó, không hẳn đã giống tiếng khóc nó nghe thấy đêm qua, một âm thanh ngắn ngủi, cáu kỉnh, tiếng rên rỉ của một đứa trẻ con, nghèn nghẹt xuyên qua mấy bức tường.
"It's nearer than it was," said Mary, her heart beating rather faster. "And it is crying."
She put her hand accidentally upon the tapestry near her, and then sprang back, feeling quite startled. The tapestry was the covering of a door which fell open and showed her that there was another part of the corridor behind it, and Mrs. Medlock was coming up it with her bunch of keys in her hand and a very cross look on her face.
"What are you doing here?" she said, and she took Mary by the arm and pulled her away. "What did I tell you?"
“Nghe còn gần hơn trước,” – Mary bảo, tim con bé mỗi lúc một dập dồn. “Nó đang khóc kìa.”
Con bé vô tình đặt tay lên một tấm thảm thêu gần đó, bỗng nó nhảy lùi ngay lại, cảm thấy vô cùng hoảng hốt. Tấm thảm thêu vừa rớt xuống lại chính là vật che chắn như một cánh cửa ra vào để ngỏ và cho thấy một phần của hành lang khác đằng sau nó. Vừa lúc đó bà Medlock bước vào, tay cầm chùm chìa khóa to tướng với vẻ mặt vô cùng giận dữ.
- Cô làm gì ở đây? – Bà vừa nói vừa tóm lấy Mary, lôi nó đi xềnh xệch. – Tôi đã bảo cô những gì?
"I turned round the wrong corner," explained Mary. "I didn't know which way to go and I heard some one crying." She quite hated Mrs. Medlock at the moment, but she hated her more the next.
"You didn't hear anything of the sort," said the housekeeper. "You come along back to your own nursery or I'll box your ears."
And she took her by the arm and half pushed, half pulled her up one passage and down another until she pushed her in at the door of her own room.
- Tôi đã nhầm lối rẽ, - Mary giải thích. – Tôi không biết đường, đang lúc đó thì nghe thấy tiếng ai khóc.
Nó vốn đã ghét bà Medlock lắm rồi, nhưng sau đấy nó còn thấy căm ghét bà ta.
- Cô chẳng nghe thấy gì như thế sất, - bà quản gia nói. – Hãy đi theo dọc lối này mà về phòng trẻ của cô đi, hoặc là tôi sẽ cho cô một bạt tai.
Nói đoạn, bà lại đưa tay tóm lấy con bé, nửa kéo nửa đẩy hết lên lối này lại xuống lối khác cho tới khi tống được nó vào phòng trẻ.
"Now," she said, "you stay where you're told to stay or you'll find yourself locked up. The master had better get you a governess, same as he said he would. You're one that needs some one to look sharp after you. I've got enough to do."
She went out of the room and slammed the door after her, and Mary went and sat on the hearth-rug, pale with rage. She did not cry, but ground her teeth.
"There was some one crying--there was--there was!" she said to herself.
- Bây giờ, cô phải ở đúng nơi cô được phép ở hoặc cô sẽ bị khóa trái ở trong phòng. Ông chủ nên kiếm cho cô một nữ gia sư, đúng như ông đã định. Cô là cái thứ cần phải có ai đó để mắt sát sao. Tôi đã có đủ chuyện phải lo rồi.
Dứt lời bà bước ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa lại sau lưng lại, còn Mary bước lại ngồi bên thềm lò sưởi, tái mặt vì giận dữ. Nó không khóc mà chỉ nghiến răng.
“Có ai đó đang kêu khóc… có ai đang kêu khóc… có ai đang…!” Mary thì thầm với chính nó.
She had heard it twice now, and sometime she would find out. She had found out a great deal this morning. She felt as if she had been on a long journey, and at any rate she had had something to amuse her all the time, and she had played with the ivory elephants and had seen the gray mouse and its babies in their nest in the velvet cushion.
Nó đã nghe thấy âm thanh đó hai lần, rồi có lúc nó sẽ khám phá ra. Riêng sáng nay nó biết được nhiều chuyện nhất. Nó có cảm giác như vừa trải qua một cuộc hành trình dài, và dù gì đi chăng nữa thì có một điều làm nó thấy vô cùng dễ chịu, đó là được chơi với bọn voi bằng ngà, được thấy chuột xám cùng bầy con của nó trong cái tổ giữa tấm đệm nhung.


CHAPTER 7

Chapter VII
THE KEY TO THE GARDEN
CHƯƠNG 7: CHÌA KHÓA MỞ CỬA KHU VƯỜN
Two days after this, when Mary opened her eyes she sat upright in bed immediately, and called to Martha.
"Look at the moor! Look at the moor!"
Hai ngày sau đó, Mary vừa tỉnh giấc đã ngồi bật dậy trên giường và gọi Martha.
- Nhìn trên cánh đồng hoang kia! Nhìn mà xem!
The rainstorm had ended and the gray mist and clouds had been swept away in the night by the wind. The wind itself had ceased and a brilliant, deep blue sky arched high over the moorland. Never, never had Mary dreamed of a sky so blue. In India skies were hot and blazing; this was of a deep cool blue which almost seemed to sparkle like the waters of some lovely bottomless lake, and here and there, high, high in the arched blueness floated small clouds of snow-white fleece. The far-reaching world of the moor itself looked softly blue instead of gloomy purple-black or awful dreary gray.
Mưa giông đã tạnh, những đám mây cùng sương mù xám xịt đã bị gió cuốn băng đi từ hồi đêm. Ngay cả gió cũng ngưng thổi và chỉ còn thấy vòm trời xanh thẫm, rực rỡ, cao vời vợi trên khắp miền đồng hoang. Chưa bao giờ, chưa bao giờ Mary mơ đến một bầu trời xanh ngăn ngắt đến vậy. Ở Ấn Độ, không gian nóng hầm hập và chói chang; còn ngự trị nơi đây là một màu xanh mát mẻ, sâu thẳm, lấp lánh tựa làn nước của một cái hồ không đáy đáng yêu, và đây đó, cao tít trên vòm trời xanh là mấy đám mây trắng mịn như lông cừu đang lững lờ trôi. Cái thế giới vươn dài tít tắp của đồng hoang chỉ còn một màu xanh dìu dịu, thay cho màu đen pha tía ảm đạm hay màu xánh khủng khiếp.
"Aye," said Martha with a cheerful grin. "Th' storm's over for a bit. It does like this at this time o' th' year. It goes off in a night like it was pretendin' it had never been here an' never meant to come again. That's because th' springtime's on its way. It's a long way off yet, but it's comin'."
"I thought perhaps it always rained or looked dark in England," Mary said.
"Eh! no!" said Martha, sitting up on her heels among her black lead brushes. "Nowt o' th' soart!"
"What does that mean?" asked Mary seriously.
- Ái chà! – Martha nói với nụ cười hớn hở. – Cơn bão tan hẳn rồi. Dịp này năm ngoái cũng có bão như thế. Nó tràn qua mỗi một đêm thôi, như thể nó chưa từng đến và không còn trở lại. Bởi vì mùa xuân đã về. Mùa xuân xa vắng quá lâu, nhưng rồi đã trở lại.
- Tôi cứ ngỡ ở nước Anh, trời lúc nào cũng mưa mù và tối tăm kia đấy, - Mary bảo.
- Ồ, không. – Martha vừa nói, vừa ngồi xổm giữa đống bàn chải đen sì. – Hoan toan không phai vây!
- Câu ấy có nghĩa là gì thế? – Mary hỏi một cách nghiêm trang.
In India the natives spoke different dialects which only a few people understood, so she was not surprised when Martha used words she did not know. Martha laughed as she had done the first morning.
"There now," she said. "I've talked broad Yorkshire again like Mrs. Medlock said I mustn't. `Nowt o' th' soart' means `nothin'-of-the-sort,'" slowly and carefully,
"but it takes so long to say it. Yorkshire's th' sunniest place on earth when it is sunny. I told thee tha'd like th' moor after a bit. Just you wait till you see th' gold-colored gorse blossoms an' th' blossoms o' th' broom, an' th' heather flowerin', all purple bells, an' hundreds o' butterflies flutterin' an' bees hummin' an' skylarks soarin' up an' singin'. You'll want to get out on it as sunrise an' live out on it all day like Dickon does."
Ở Ấn Độ, đám gia nhân cũng hay nói nhiều thứ tiếng địa phương khác nhau mà chỉ ít người hiểu nổi, bởi thế con bé không khỏi ngạc nhiên khi Martha dùng những từ mà nó không biết. Martha bật cười như lần trong buổi sáng đầu tiên đó. Chị bảo:
- Vậy đấy, tôi lại dùng cái giọng Yorkshire nặng nề rồi, bà Medlock đã được tôi không được nói thế. “Hoan toan không phai vay” có nghĩa là “Hoàn toàn không phải vậy” cô ạ. Chị nói một cách chậm rãi, cẩn thận,
- Nhưng nói kiểu ấy mất thì giờ quá. Cứ hễ khi nào nắng thì Yorkshire là một nơi nhiều nắng nhất trên trái đất. Tôi chẳng bảo rằng cô sẽ thấy thích cánh đồng hoang sau khi ở đây ít lâu đó thôi. Cứ chờ cho tới khi cô tận mắt được thấy kim tước đơm hoa vàng rực, thấy mùa hoa đậu chổi, cùng với thạch thảo trổ ra toàn bông chuông tím, rồi thì hàng trăm con bướm rập rờn bay lượn, và ong vo vo khắp nơi, còn đàn chiền chiện thì bay vút lên ca hót. Rồi cô sẽ chỉ muốn ra khỏi nhà ngay lúc mặt trời mọc, sống ngoài trời cả ngày như thằng Dickon cho mà xem.
"Could I ever get there?" asked Mary wistfully, looking through her window at the far-off blue. It was so new and big and wonderful and such a heavenly color.
- Bao giờ tôi có thể ra đó? – Mary hỏi với vẻ bâng khuâng và đưa mắt qua cửa sổ nhìn về phía màu xanh tít tắp. Đó quả là một màu sắc mới mẻ, rộng lớn, kỳ diệu như thể trên thiên đường.
"I don't know," answered Martha. "Tha's never used tha' legs since tha' was born, it seems to me. Tha' couldn't walk five mile. It's five mile to our cottage."
"I should like to see your cottage."
- Tôi không rõ, - Martha đáp, - Có lẽ từ khi sinh ra trên đời, cô chẳng bao giờ dùng đến đôi chân của cô. Cô không đủ sức cuốc bộ trong vòng năm dặm. Từ đây đến túp nhà gianh của chúng tôi cũng phải đến năm dặm.
- Tôi thích được đến túp nhà gianh của chị.
Martha stared at her a moment curiously before she took up her polishing brush and began to rub the grate again. She was thinking that the small plain face did not look quite as sour at this moment as it had done the first morning she saw it. It looked just a trifle like little Susan Ann's when she wanted something very much.
Trong giây lát, Martha đăm đăm nhìn con bé với vẻ ngờ vực, trước khi cầm chiếc bàn chải cọ đi cọ lại cái ghì một lần nữa. Chị đang nghĩ về khuôn mặt nhỏ nhắn kém xinh của Mary, lúc này nom không còn cau có như chị thấy vào buổi sáng đầu tiên. Nó hơi giống khuôn mặt của bé Susan Ann khi đang thèm khát một cái gì đó.
"I'll ask my mother about it," she said. "She's one o' them that nearly always sees a way to do things. It's my day out today an' I'm goin' home. Eh! I am glad. Mrs. Medlock thinks a lot o' mother. Perhaps she could talk to her."
"I like your mother," said Mary.
"I should think tha' did," agreed Martha, polishing away.
"I've never seen her," said Mary.
"No, tha' hasn't," replied Martha.
She sat up on her heels again and rubbed the end of her nose with the back of her hand as if puzzled for a moment, but she ended quite positively.
- Tôi sẽ hỏi mẹ tôi về chuyện này, - chị nói. – Bà là người gần như lúc nào cũng nghĩ ra cách gì đó cho mọi chuyện. Hôm nay là ngày tôi được nghỉ và tôi sắp về đây. Ôi, tôi mừng lắm. Bà Medlock cũng là người quan tâm đến mẹ tôi. Có thể mẹ tôi sẽ nói với bà ấy.
- Tôi thích mẹ chị. – Mary bảo.
- Tôi có thể hiểu điều đó, - Martha đồng ý, tiếp tục đánh bóng ghì lò.
- Tôi chưa bao giờ được gặp bà. – Mary bảo.
- Chưa, cô chưa gặp. – Mary đáp. Chị lại ngồi xổm, khẽ giụi giụi mũi bằng mu bàn tay, chị có vẻ bối rồi một chút rồi nhận định cả quyết.
"Well, she's that sensible an' hard workin' an' goodnatured an' clean that no one could help likin' her whether they'd seen her or not. When I'm goin' home to her on my day out I just jump for joy when I'm crossin' the moor."
"I like Dickon," added Mary. "And I've never seen him."
- Vậy đấy, bà là người biết điều, chăm chỉ, tốt bụng và sạch sẽ, khiến cho không ai là không quý mến, dù họ đã gặp bà hay chưa. Mỗi dịp sắp về nhà thăm mẹ và ngày nghỉ, tôi thật chỉ muốn nhảy lên vì sung sướng vào cái lúc băng qua cánh đồng hoang.
- Tôi thích cả Dickon nữa, - Mary nói thêm, - và cũng chưa gặp cậu ấy lần nào.
"Well," said Martha stoutly, "I've told thee that th' very birds likes him an' th' rabbits an' wild sheep an' ponies, an' th' foxes themselves. I wonder," staring at her reflectively, "what Dickon would think of thee?"
"He wouldn't like me," said Mary in her stiff, cold little way. "No one does."
- Chà, - Mary đáp lại một cách chắc nịch. – Tôi đã bảo cô rằng các loài chim chóc đều quý nó, cả thỏ, cừu hoang, ngựa hoang, và bọn cáo nữa chứ. Tôi đang tự hỏi, - Martha chằm chằm nhìn con bé với vẻ suy nghĩ, - không hiểu thằng Dickon sẽ nghĩ gì về cô nhỉ?
- Cậu ấy không thích tôi đâu, - Mary trả lời chị theo cái lối lạnh lùng và không được thân mật của nó.– Chẳng ai thích tôi hết.
Martha looked reflective again.
"How does tha' like thysel'?" she inquired, really quite as if she were curious to know.
Mary hesitated a moment and thought it over.
"Not at all--really," she answered. "But I never thought of that before."
Martha grinned a little as if at some homely recollection.
Martha lại nhìn sang, vẻ suy nghĩ.
- Cô có thích bản thân mình không? – Martha hỏi với vẻ hoàn toàn thành thực, như thể chị tò mò muốn biết.
Mary lưỡng lự giây lát rồi nghĩ ra.
- Không hề, thực đấy. – Nó đáp. – Nhưng trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó cả.
Martha toét miệng ra cười như thể nhớ lại vài kỷ niệm chất phác về mẹ của chị.
"Mother said that to me once," she said. "She was at her wash- tub an' I was in a bad temper an' talkin' ill of folk, an' she turns round on me an' says: `Tha' young vixen, tha'! There tha' stands sayin' tha' doesn't like this one an' tha' doesn't like that one. How does tha' like thysel'?' It made me laugh an' it brought me to my senses in a minute."
- Có lần mẹ tôi bảo với tôi thế này. Bà ngồi bên chậu giặt, còn tôi thì đang cáu kỉnh và chỉ trích người khác. Bà quay sang tôi và bảo: “Này, con là đứa xấu nết, lại còn hay gây gổ! Con chỉ biết đứng đấy mà kêu không thích người này người kia. Vậy con có thích chính bản thân con không?” Câu nói ấy khiến tôi bật cười và tỉnh ngộ ra trong giây lát.
She went away in high spirits as soon as she had given Mary her breakfast. She was going to walk five miles across the moor to the cottage, and she was going to help her mother with the washing and do the week's baking and enjoy herself thoroughly.
Ngay sau khi mang cho Mary bữa điểm tâm, chị ra về với tâm trạng vô cùng phấn chấn. Chị sắp phải cuốc bộ năm dặm đường qua cánh đồng hoang để về ngôi nhà gianh, giúp mẹ giặt giũ, làm món bánh nướng cuối tuần, và hưởng một niềm vui trọn vẹn.
Mary felt lonelier than ever when she knew she was no longer in the house. She went out into the garden as quickly as possible, and the first thing she did was to run round and round the fountain flower garden ten times. She counted the times carefully and when she had finished she felt in better spirits. The sunshine made the whole place look different. The high, deep, blue sky arched over Misselthwaite as well as over the moor, and she kept lifting her face and looking up into it, trying to imagine what it would be like to lie down on one of the little snow-white clouds and float about. She went into the first kitchen-garden and found Ben Weatherstaff working there with two other gardeners. The change in the weather seemed to have done him good. He spoke to her of his own accord. "Springtime's comin,'" he said. "Cannot tha' smell it?"
Mary cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết khi biết chị sẽ không còn ở trong nhà một thời gian. Nó rảo bước ra ngoài vườn, và việc đầu tiên là nó chạy vòng quanh đài phun nước trong vườn hoa mười vòng liền. Nó cẩn thận đếm số vòng chạy, lúc dừng chân nó thấy tâm trạng phấn khích hơn. Ánh mặt trời khiến quang cảnh trở nên khác hẳn.
Vòm trời xanh thẳm cao vời vợi bao trùm lên Miselthwaite và cả cánh đồng hoang mênh mông. Con bé ngẩng mặt ngước nhìn trời, nó cố tưởng tượng xem nếu được nằm trên một trong những đám mây trắng xốp như tuyết kia thì sẽ như thế nào và chúng đang trôi về đâu. Nó vừa tiến vào mảnh vườn đầu tiên dành cho nhà bếp thì gặp lão Ben Weatherstaff đang làm việc với hai người làm vườn khác. Dường như thời tiết đổi thay làm lão thấy dễ chịu hơn. Lão vồn vã nói với con bé.


Mary sniffed and thought she could.
"I smell something nice and fresh and damp," she said.
"That's th' good rich earth," he answered, digging away. "It's in a good humor makin' ready to grow things. It's glad when plantin' time comes. It's dull in th' winter when it's got nowt to do. In th' flower gardens out there things will be stirrin' down below in th' dark. Th' sun's warmin' 'em. You'll see bits o' green spikes stickin' out o' th' black earth after a bit."
"What will they be?" asked Mary.
"Crocuses an' snowdrops an' daffydowndillys. Has tha' never seen them?"
"No. Everything is hot, and wet, and green after the rains in India," said Mary. "And I think things grow up in a night."
"These won't grow up in a night," said Weatherstaff. "Tha'll have to wait for 'em. They'll poke up a bit higher here, an' push out a spike more there, an' uncurl a leaf this day an' another that. You watch 'em."
"I am going to," answered Mary.
- Tiết xuân đã về. Cô cảm thấy nó chứ?
Mary hít hà và nghĩ rằng nó cũng cảm nhận được hương vị đó.
- Tôi ngửi thấy một mùi gì đó rất tuyệt, vừa mát vừa ẩm.
- Đó chính là hương của đất màu, - lão vừa đáp vừa xới đất. – Nhờ chất bổ phì nhiêu trong đó mà cây cối đâm chồi nảy lộc. Thật mừng vì mùa trồng trọt đã tới. Mùa đông thì buồn tẻ quá chẳng có gì để làm. Trong những vườn hoa ngoài kia, mọi thứ đang cựa mình dưới đất đen. Mặt trời sưởi ấm cho chúng. Chỉ ít ngày nữa thôi, cô sẽ thấy những mầm xanh dần nảy nở bên trên mặt đất đen sẫm.
- Chúng là những loại nào? – Mary hỏi.
- Nghệ tây và hoa giọt tuyết và hoa thủy tiên vàng. Chẳng lẽ cô chưa bao giờ thấy chúng sao?
- Chưa. Ở Ấn Độ sau cơn mưa, mọi thứ đều nóng, ẩm và xanh tốt. – Mary đáp. – Tôi nghĩ cây cối chỉ mọc trong một đêm thì phải.
- Ở đây chúng không thể mọc trong một đêm được, - lão Weatherstaff đáp. – Cô sẽ phải chờ chúng. Chúng sẽ nhú ra một chút ở đây và nảy ra một chút ở kia, rồi ngày một ngày hai chiếc lá mới dần mở ra. Cô quan sát chúng mà xem.
- Tôi cũng định thế, - Mary trả lời lão.
Very soon she heard the soft rustling flight of wings again and she knew at once that the robin had come again. He was very pert and lively, and hopped about so close to her feet, and put his head on one side and looked at her so slyly that she asked Ben Weatherstaff a question.
"Do you think he remembers me?" she said.
"Remembers thee!" said Weatherstaff indignantly. "He knows every cabbage stump in th' gardens, let alone th' people. He's never seen a little wench here before, an' he's bent on findin' out all about thee. Tha's no need to try to hide anything from him."
Vừa dứt lời, nó nghe thấy tiếng vỗ cánh nhè nhẹ, và ngay tức khắc nó hiểu rằng con chim ức đỏ đã quay lại. Con chim thật ngộ nghĩnh và nhanh nhẹn, nó nhảy nhót ngay sát chân Mary, đầu nghiêng nghiêng ngước nhìn con bé với vẻ ranh mãnh đến mức Mary phải cất tiếng hỏi lão Ben Weatherstaff.
- Ông có cho rằng nó còn nhớ tôi không?
- Nhớ cô ư! – Lão Weatherstaff nói với vẻ cáu kỉnh. – Nó biết rõ từng gốc cải bắp trong các khu vườn, huống hồ là con người. Trước kia nó chưa từng thấy một cô nàng trẻ tuổi nào ở đây, nên nó mới có ý tìm hiểu mọi sự về cô. Cô không cần phải giấu diếm nó điều gì cả.
"Are things stirring down below in the dark in that garden where he lives?" Mary inquired.
"What garden?" grunted Weatherstaff, becoming surly again.
"The one where the old rose-trees are." She could not help asking, because she wanted so much to know. "Are all the flowers dead, or do some of them come again in the summer? Are there ever any roses?"
"Ask him," said Ben Weatherstaff, hunching his shoulders toward the robin. "He's the only one as knows. No one else has seen inside it for ten year'."
- Có phải mọi thứ đang cựa mình dưới đất đen trong khu vườn nó sống không? – Mary căn vặn.
- Khu vườn nào?
Lão Weatherstaff nhăn mặt, thái độ lại trở nên gắt gỏng.
- Khu vườn có mấy khóm hồng già ấy, - Nó không thể không hỏi, bởi vì nó đang muốn biết thật nhiều, - tại sao tất cả các cây hoa đều héo khô, hay là một số sẽ mọc lại vào mùa hè? Ở đó còn có bông hồng nào không?
- Cô hỏi nó mà xem, - lão Ben Weatherstaff nhìn về phía con chim ức đỏ rồi nhún vai, - nó là kẻ duy nhất biết rõ. Suốt mười năm qua không một ai ngó ngàng bên trong khu vườn đó.
Ten years was a long time, Mary thought. She had been born ten years ago. She walked away, slowly thinking. She had begun to like the garden just as she had begun to like the robin and Dickon and Martha's mother. She was beginning to like Martha, too. That seemed a good many people to like--when you were not used to liking. She thought of the robin as one of the people. She went to her walk outside the long, ivy-covered wall over which she could see the tree-tops; and the second time she walked up and down the most interesting and exciting thing happened to her, and it was all through Ben Weatherstaff's robin.
Mười năm quả là một thời gian dài, Mary nghĩ. Nó cũng đã sinh ra mười năm về trước. Nó bước đi, chậm rãi suy nghĩ. Nó bắt đầu thấy yêu mến khu vườn, con chim ức đỏ, thằng Dickon và bà mẹ của Martha. Nó thấy quý mến cả Martha nữa. Dường như có rất nhiều người tốt để yêu quý – ngay cả khi ta không có thói quen yêu quý kẻ khác. Nó coi con chim ức đỏ là một trong số ấy. Mary bước theo lối đi dạo bên ngoài bức tường dài phủ đầy dây thường xuân, thấy rõ mấy ngọn cây lấp ló trên bờ tường: đây là lần thứ hai nó bước tới bước lui bên cái nơi thú vị hồi hộp này và tất cả đều từ con chim ức đỏ của lão Ben Weatherstaff mà ra. Nó nghe thấy một hồi líu ríu.
She heard a chirp and a twitter, and when she looked at the bare flower-bed at her left side there he was hopping about and pretending to peck things out of the earth to persuade her that he had not followed her. But she knew he had followed her and the surprise so filled her with delight that she almost trembled a little.
"You do remember me!" she cried out. "You do! You are prettier than anything else in the world!"
Đưa mắt nhìn luống hoa trơ trụi bên trái, nó nhận ra con chim đang nhảy nhót, làm bộ đang mổ vật gì trên mặt đất như bảo rằng nó không có ý bám theo con bé. Nhưng thừa biết con chim nhỏ vẫn theo sát mình, con bé vừa sửng sốt vừa sung sướng đến nỗi gần như run lên.
- Mày vẫn còn nhớ tao? – Nó gào to lên. – Mày còn nhớ tao. Mày xinh đẹp hơn bất kể thứ gì trên thế gian này.
She chirped, and talked, and coaxed and he hopped, and flirted his tail and twittered. It was as if he were talking. His red waistcoat was like satin and he puffed his tiny breast out and was so fine and so grand and so pretty that it was really as if he were showing her how important and like a human person a robin could be. Mistress Mary forgot that she had ever been contrary in her life when he allowed her to draw closer and closer to him, and bend down and talk and try to make something like robin sounds.
Con bé cũng kêu lên ríu rít, chuyện trò, dỗ dành con chim, còn con chim ức đỏ thì nhảy nhót lia lịa, ngoáy ngoáy mất cái lông đuôi và kêu lên rầm rĩ. Như thể nó cũng đang đáp lại lời Mary. Đám lông đỏ rực của nó mịn màng như sa tanh. Rồi nó phồng cái ức tí hon đó lên, thật đường bệ và xinh xắn, như thể muốn phô bày cho con bé thấy một con chim ức đỏ có thể trông giống con người và quan trọng đến độ nào.
Oh! to think that he should actually let her come as near to him as that! He knew nothing in the world would make her put out her hand toward him or startle him in the least tiniest way. He knew it because he was a real person--only nicer than any other person in the world. She was so happy that she scarcely dared to breathe.
Cô chủ Mary quên khuấy rằng nó từng là một đứa ngang ngược biết bao. Lúc này, nó khẽ nhích lại gần con chim hơn nữa, rồi quỳ xuống mà thì thầm, cố gắng bắt chước bằng được tiếng kêu của chim. Ôi! Khó mà tin được nó lại để Mary tới gần đến thế. Nó biết không đời nào con bé giơ tay chộp nó hay làm nó mảy may hoảng sợ. Nó hiểu điều đó vì nó cứ như một con người thực sự - thậm chí còn tuyệt hơn bất kỳ con người nào khác trên thế gian này.
The flower-bed was not quite bare. It was bare of flowers because the perennial plants had been cut down for their winter rest, but there were tall shrubs and low ones which grew together at the back of the bed, and as the robin hopped about under them she saw him hop over a small pile of freshly turned up earth. He stopped on it to look for a worm. The earth had been turned up because a dog had been trying to dig up a mole and he had scratched quite a deep hole.
Con bé hạnh phúc tới độ không dám thở. Luống hoa thực ra không hoàn toàn trơ trụi. Nó không ra hoa bởi các cây lâu năm đã bị đốn bớt cành để nghỉ đông, nhưng vẫn còn nhiều cây bụi cao thấp mọc san sát phía sau luống. Khi con chim ức đỏ nhảy nhót dưới các lùm cây ấy, con bé trông thấy nó nhảy qua một đống đất mới đào mùi ngai ngái và dừng lại đó để tìm côn trùng. Đống đất ấy bị đào lên bởi có con chó đang muốn đào một cái hố sâu để tìm chuột chũi. Mary nhìn cái hố. Nó thật sự không hiểu tại sao lại có cái hố ở đấy.
Mary looked at it, not really knowing why the hole was there, and as she looked she saw something almost buried in the newly-turned soil. It was something like a ring of rusty iron or brass and when the robin flew up into a tree nearby she put out her hand and picked the ring up. It was more than a ring, however; it was an old key which looked as if it had been buried a long time.
Đúng lúc mải nhìn nó chợt nhận thấy có một cái gì được vùi giấu trong nền đất mới lật, trông tựa như một cái vòng bằng sắt hoặc đồng thau đã hoen gỉ. Khi con chim bay vút lên cái cây gần đó, con bé thò tay nhặt cái vòng lên. Còn hơn cả một cái vòng, đó là một chiếc chìa khóa cũ kỹ trông như đã được chôn từ lâu lắm.
Mistress Mary stood up and looked at it with an almost frightened face as it hung from her finger.
"Perhaps it has been buried for ten years," she said in a whisper. "Perhaps it is the key to the garden!"
Cô chủ Mary đứng dậy, và với vẻ gần như hoảng sợ, nó nhìn chiếc chìa khóa đang lủng lẳng nơi ngón tay mình.
“Có lẽ nó đã bị chôn vùi gần mười năm nay”. Nó thì thầm. “Có lẽ đó là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa khu vườn!”


CHAPTER 8

Chapter VIII
THE ROBIN WHO SHOWED THE WAY
CHƯƠNG 8: CHIM ứC Đỏ, Kẻ DẫN ĐƯờNG
She looked at the key quite a long time. She turned it over and over, and thought about it. As I have said before, she was not a child who had been trained to ask permission or consult her elders about things. All she thought about the key was that if it was the key to the closed garden, and she could find out where the door was, she could perhaps open it and see what was inside the walls, and what had happened to the old rose-trees. It was because it had been shut up so long that she wanted to see it. It seemed as if it must be different from other places and that something strange must have happened to it during ten years. Besides that, if she liked it she could go into it every day and shut the door behind her, and she could make up some play of her own and play it quite alone, because nobody would ever know where she was, but would think the door was still locked and the key buried in the earth. The thought of that pleased her very much. Living as it were, all by herself in a house with a hundred mysteriously closed rooms and having nothing whatever to do to amuse herself, had set her inactive brain to working and was actually awakening her imagination.
Con bé ngắm nghía chiếc chìa khoá hồi lâu. Nó lật đi lật lại và suy nghĩ. Như đã nói ở trên, nó không phải một đứa trẻ được dạy bảo rằng phải xin phép hay hỏi ý kiến người lớn về mọi chuyện. Tất cả những gì nó đang nghĩ lúc này là nếu đó đúng là chiếc chìa khoá của khu vườn đóng kín và nếu nó có thể khám phá ra cánh cửa ở đâu, nó sẽ mở cửa để xem có gì đằng sau mấy bức tường, và điều gì đã xảy ra với những cây hồng già. Khu vườn bị khoá chặt quá lâu nên con bé càng thèm muốn nhìn thấy nó. Đó dường như là một nơi khác hẳn những nơi khác, và trong suốt mười năm qua ắt phải có điều gì đó kỳ lạ xảy ra ở đó. Ngoài ra, nếu con bé thích thì hàng ngày nó có thể vào trong, khép cửa lại, tự bày trò mà chơi một mình, bởi vì sẽ không ai hay nó ở trong vườn, họ sẽ tưởng cánh cửa vẫn khoá còn chiếc chìa khoá thì bị vùi đâu đó. Ý nghĩ này khiến Mary vô cùng thích thú. Cuộc sống thui thủi trong ngôi nhà có hàng trăm căn phòng bí ẩn khép kín, cùng với việc bản thân chẳng có gì để làm cho khuây khoả đã khiến bộ óc biếng nhác của nó phải làm việc, và trí tưởng tượng của nó được đánh thức.
There is no doubt that the fresh, strong, pure air from the moor had a great deal to do with it. Just as it had given her an appetite, and fighting with the wind had stirred her blood, so the same things had stirred her mind. In India she had always been too hot and languid and weak to care much about anything, but in this place she was beginning to care and to want to do new things. Already she felt less "contrary," though she did not know why.
Không nghi ngờ gì nữa, làn không khí mạnh mẽ, tinh khiết và tươi mát nơi cánh đồng hoang cũng góp phần lớn làm nên điều đó. Cũng giống như làn không khí đã khiến nó ăn ngon miệng và sự chống chọi với những cơn gió lớn khiến cho khí huyết nó được lưu thông, những thứ như vậy đã kích thích trí não của nó hoạt động. Ở Ấn Độ, nó quá nóng bức, uể oải, yếu ớt, và chẳng mấy quan tâm đến gì khác. Nhưng ở nơi đây, nó bắt đầu để ý tới mọi việc và muốn làm điều gì mới mẻ. Nó còn nhận thấy mình bớt “ngang ngược” hơn trước mà chính nó cũng chẳng hiểu tại sao.
She put the key in her pocket and walked up and down her walk. No one but herself ever seemed to come there, so she could walk slowly and look at the wall, or, rather, at the ivy growing on it. The ivy was the baffling thing. Howsoever carefully she looked she could see nothing but thickly growing, glossy, dark green leaves. She was very much disappointed. Something of her contrariness came back to her as she paced the walk and looked over it at the tree-tops inside. It seemed so silly, she said to herself, to be near it and not be able to get in. She took the key in her pocket when she went back to the house, and she made up her mind that she would always carry it with her when she went out, so that if she ever should find the hidden door she would be ready.
Nó đút chiếc chìa khoá vào túi áo rồi bước tới bước lui trên đường. Hình như chưa một ai ngoài nó đặt chân tới chốn này, bởi vậy con bé có thể thong thả bước đi và ngước lên nhìn bức tường, đúng hơn là nhìn đám thường xuân đang leo lên đó. Dám thường xuân này quả là thứ cản trở tầm nhìn. Dù Mary xem xét kỹ lưỡng đến mức nào, nó vẫn chẳng thấy gì ngoài lớp cành cây lan dày đặc cùng những chiếc là xanh bóng. Nó vô cùng thất vọng. Nhưng cái tính bướng bỉnh ngang ngạnh của nó lại thôi thúc, khi con bé đi tới đi lui dọc chân tường và ngước nhìn qua bờ tường lên mấy ngọn cây bên trong. "Thật ngớ ngẩn" – Mary thầm nhủ - nó ở ngay bên mình mà không sao vào nổi. Nó siết chặt chiếc chìa khoá trong túi áo; trên đường trở về nhà nó quyết định từ nay sẽ luôn mang chiếc chìa khoá bên mình mỗi khi ra ngoài, hễ tìm ra cánh cửa giấu kín đó thì nó sẽ mở ngay.


Mrs. Medlock had allowed Martha to sleep all night at the cottage, but she was back at her work in the morning with cheeks redder than ever and in the best of spirits.
"I got up at four o'clock," she said. "Eh! it was pretty on th' moor with th' birds gettin' up an' th' rabbits scamperin' about an' th' sun risin'. I didn't walk all th' way. A man gave me a ride in his cart an' I did enjoy myself."
Bà Medlock đã cho phép Martha ngủ lại qua đêm tại túp lều gianh, nhưng chị vẫn đã trở về làm việc ngay từ sáng sớm, hai má hồng hào như thường lệ cùng với một tâm trạng vô cùng sảng khoái.
- Tôi dậy từ lúc bốn giờ sáng - chị kể - Ầy, đồng hoang mới đẹp làm sao, chim chóc líu lo, lũ thỏ thì nhởn nhơ đây đó, và cảnh mặt trời mọc nữa. Tôi không phải đi bộ cả quáng đường. Một ông đã cho tôi đi nhờ xe ngựa của ông ấy. Tôi muốn nói với cô rằng tôi vô cùng mãn nguyện.
She was full of stories of the delights of her day out. Her mother had been glad to see her and they had got the baking and washing all out of the way. She had even made each of the children a doughcake with a bit of brown sugar in it.
"I had 'em all pipin' hot when they came in from playin' on th' moor. An' th' cottage all smelt o' nice, clean hot bakin' an' there was a good fire, an' they just shouted for joy. Our Dickon he said our cottage was good enough for a king."
Rồi chị kể hàng lô chuyện vui trong ngày về nhà. Mẹ đã tỏ ra vo cùng mừng rỡ khi thấy chị trở về, rồi hai mẹ con cùng giặt giũ nấu nướng. Chị còn làm cho bọn nhóc mỗi đứa một chiếc bánh bột nhào trộn với chút đường đỏ.
- Tôi đã dọn cho chúng những món nóng sốt sau khi chúng chơi đùa từ ngoài đồng trở về. Và khắp gian nhà gianh chỗ nào cũng sực nức mùi thơm tho, sạch sẽ và mùi của những món ăn nóng hổi trên bếp lửa hồng, còn bọn trẻ thì hò reo vui sướng. Thằng Dickon nhà tôi ấy, nó bảo rằng cái nhà gianh của chúng tôi để cho một ông vua ở cũng còn tốt chán.
In the evening they had all sat round the fire, and Martha and her mother had sewed patches on torn clothes and mended stockings and Martha had told them about the little girl who had come from India and who had been waited on all her life by what Martha called "blacks" until she didn't know how to put on her own stockings.
"Eh! they did like to hear about you," said Martha. "They wanted to know all about th' blacks an' about th' ship you came in. I couldn't tell 'em enough."
Buổi tối cả nhà quây quần quanh bếp lửa, Martha cùng bà mẹ vá quần áo rách và mạng bít tất. Tiện thể Martha kể cho họ nghe về cô bé gái vừa từ Ấn Độ trở về, chuyện cô ta cả đời được hầu hạ bởi những người mà Martha gọi là dân “da đen”, rồi đến chuyện cô ta thậm chí không biết tự mình đi tất.
- Ầy, mọi người đều thích nghe kể về cô, - Martha bảo. - Họ muốn biết mọi thứ về những người da đen và về con tàu chở cô. Tôi không thể kể cho họ nghe đủ hết mọi chuyện được.
Mary reflected a little.
"I'll tell you a great deal more before your next day out," she said, "so that you will have more to talk about. I dare say they would like to hear about riding on elephants and camels, and about the officers going to hunt tigers."
"My word!" cried delighted Martha. "It would set 'em clean off their heads. Would tha' really do that, Miss? It would be same as a wild beast show like we heard they had in York once."
Mary ngẫm nghĩ giây lát.
- Trước hôm về nhà sắp tới của chị, tôi sẽ kể thêm cho chị kỹ hơn nữa. Rồi chị tha hồ mà thuật lại. Tôi dám cược rằng họ sẽ thích nghe chuyện cưỡi voi và lạc đà cho mà xem. vả chuyện các sĩ quan đi săn hổ nữa.
- Đấy, tôi bảo mà, - Martha kêu lên vui sướng. - Chắc chắn có chuyện đó sẽ mở mang trí óc cho mọi người. Có thật là cô sẽ kể chứ, thưa cô. Có lẽ cũng giống chuyện một con thú hoang mà chúng tôi nghe rằng đã từng có ở York.
"India is quite different from Yorkshire," Mary said slowly, as she thought the matter over. "I never thought of that. Did Dickon and your mother like to hear you talk about me?"
"Why, our Dickon's eyes nearly started out o' his head, they got that round," answered Martha. "But mother, she was put out about your seemin' to be all by yourself like. She said, 'Hasn't Mr. Craven got no governess for her, nor no nurse?' and I said, 'No, he hasn't, though Mrs. Medlock says he will when he thinks of it, but she says he mayn't think of it for two or three years.'"
- Ấn Độ hoàn toàn khác với Yorkshire, - Mary chậm rãi nói, như thể đã suy nghĩ kỹ về vấn đề này.– Tôi chưa vào giờ nghĩ về chuyện đó. Có đúng là Dickon và mẹ chị thích nghe chị kể chuyện về tôi chứ?
- Sao kia? Thằng Dickon nhà tôi thì ruột để ngoài da, nó chỉ thích chạy nhởn thôi, - Martha trả lời. – Nhưng mẹ tôi, bà cứ lo lắng vì việc cô chỉ có một mình. Bà bảo “Ông Craven không tìm một nữ gia sư hay một bảo mẫu cho cô ấy à?”, tôi bèn đáp: “Không ạ, ông ấy chẳng tìm gì cả, mặc dầu bà Medlock có nói rằng ông ấy sẽ làm vậy khi nào ông nghĩ đến điều đó, nhưng bà cũng bảo ông ấy vẫn chưa nghĩ đến đâu trong vài ba năm tới.”
"I don't want a governess," said Mary sharply.
"But mother says you ought to be learnin' your book by this time an'
you ought to have a woman to look after you, an' she says: `Now, Martha, you just think how you'd feel yourself, in a big place like that, wanderin' about all alone, an' no mother. You do your best to cheer her up,' she says, an' I said I would."
Mary gave her a long, steady look.
"You do cheer me up," she said. "I like to hear you talk."
Presently Martha went out of the room and came back with something held in her hands under her apron.
"What does tha' think," she said, with a cheerful grin. "I've brought thee a present."
"A present!" exclaimed Mistress Mary. How could a cottage full of fourteen hungry people give any one a present!
- Tôi không muốn có một cô gia sư nào hết, - Mary nói một cách gay gắt.
- Mẹ tôi khuyên cô lúc này nên học hành sách vở đi là vừa, và cô cũng nên có một phụ nữ để chăm sóc cho cô, bà còn bảo: “Nào, Martha, con cứ thử hình dung con sẽ cảm thấy như thế nào khi phải sống trong một toà nhà đồ sộ như thế, một thân một mình lang thang đó đây, lại không còn mẹ. Con phải gắng sức để cô ấy được vui vẻ.”
Bà dặn dò như thế và tôi đáp rằng tôi sẽ cố gắng.
Mary đưa mắt nhìn chị hồi lâu, vẻ điềm tĩnh.
- Chị đã làm cho tôi vui rồi đấy thôi. Tôi thích nghe chị nói.
Ngay lập tức, Martha chạy ra khỏi phòng rồi trở lại với vật gì giấu trong hai bàn tay dưới cái tạp dề của chị.
- Đố cô biết cái gì đây? - Chị nói với nụ cười vui vẻ. – Tôi mang đến cho cô một món quà.
- Một món quà! – Cô chủ Mary thốt lên. Một mái nhà gianh với mười bốn con người đói kém, làm sao có thể tặng nổi ai một món quà.
"A man was drivin' across the moor peddlin'," Martha explained. "An' he stopped his cart at our door. He had pots an' pans an' odds an' ends, but mother had no money to buy anythin'. Just as he was goin' away our 'Lizabeth Ellen called out, `Mother, he's got skippin'-ropes with red an' blue handles.' An' mother she calls out quite sudden, `Here, stop, mister! How much are they?' An' he says `Tuppence', an' mother she began fumblin' in her pocket an' she says to me, `Martha, tha's brought me thy wages like a good lass, an' I've got four places to put every penny, but I'm just goin' to take tuppence out of it to buy that child a skippin'-rope,' an' she bought one an' here it is."
- Có ông bán hàng rong đánh xe qua đồng cỏ. Ông ta dừng xe trước cửa nhà chúng tôi. Ông ta có nào là nồi, ấm làm bằng đất nung, nào là xoong, chảo cùng các thứ hàng linh tinh lặt vặt khác, nhưng mẹ tôi không có tiền để mua bất cứ thứ gì hết. Đúng lúc ông ta định đi thì con Lizbeth Ellen nhà tôi gọi to: “Mẹ ơi, ông ấy có sợi dây nhảy với hai tay cầm màu xanh đỏ kìa.” Thấy vậy mẹ tôi đột nhiên gọi: “Này ông, gượm đã! Ông định bán thứ này bao nhiêu?” Ông ấy đáp: “Chỉ đáng một xu.” Mẹ tôi vội lục lọi túi áo bà, rồi quay sang bảo tôi: “Martha, con đã mang về cho mẹ tiền công của con như một cô gái ngoan, còn mẹ có tới bốn chỗ để giấu từng đồng tiền xu, và mẹ định lấy một xu trong số tiền ấy để mua sợi dây nhảy này.” Thế là bà đã mua nó, đây này.
She brought it out from under her apron and exhibited it quite proudly. It was a strong, slender rope with a striped red and blue handle at each end, but Mary Lennox had never seen a skipping-rope before. She gazed at it with a mystified expression.
"What is it for?" she asked curiously.
"For!" cried out Martha. "Does tha' mean that they've not got skippin'-ropes in India, for all they've got elephants and tigers and camels! No wonder most of 'em's black. This is what it's for; just watch me."
Chị lấy nó ra từ dưới chiếc tạp dề rồi giơ cho Mary thấy với vẻ vô cùng hãnh diện. Đó là một sợi dây mảnh nhưng chắc chắn, ở đầu dây là một tay cầm có sọc đỏ và xanh. Mary Lennox chưa từng thấy một cuộn dây nhảy nào trước đó. Con bé ngó trân trân cuộn dây với vẻ lúng túng.
- Cái đó để làm gì? – Nó tò mò hỏi.
- Để làm gì ư? – Martha kêu lên.– Có phải ý cô là ở Ấn Độ mọi người chẳng hề chơi nhảy dây mà chỉ thích săn hổ, cưỡi voi và lạc đà đấy chứ? Thảo nào ai ai cũng đen nhẻm. Cái này để làm gì ư, nhìn tôi đây.
And she ran into the middle of the room and, taking a handle in each hand, began to skip, and skip, and skip, while Mary turned in her chair to stare at her, and the queer faces in the old portraits seemed to stare at her, too, and wonder what on earth this common little cottager had the impudence to be doing under their very noses. But Martha did not even see them. The interest and curiosity in Mistress Mary's face delighted her, and she went on skipping and counted as she skipped until she had reached a hundred.
Nói đoạn chị chạy ra giữa phòng, mỗi tay cầm một đầu dây rồi bắt đầu nhảy, nhảy, nhảy, trong khi Mary xoay người lại trên ghế đôi theo chị. Những khuôn mặt kỳ dị trên các bức chân dung cổ dường như cũng chằm chằm nhìn Martha, có lẽ các vị ấy đang tự hỏi không biết cái kẻ sống trong túp nhà gianh tầm thường kia đang làm già ngay dưới mũi mình.
Nhưng Martha chẳng nhìn họ. Vẻ quan tâm và tò mò hiển hiện trên khuôn mặt Cô chủ Mary khiến chị càng thấy thích. Chị tiếp tục nhảy và đếm theo bước nhảy cho tới khi được một trăm.
"I could skip longer than that," she said when she stopped. "I've skipped as much as five hundred when I was twelve, but I wasn't as fat then as I am now, an' I was in practice."
Mary got up from her chair beginning to feel excited herself.
"It looks nice," she said. "Your mother is a kind woman. Do you think I could ever skip like that?"
- Tôi còn có thể nhảy lâu hơn thế, - chị nói lúc dừng chân. – Tôi từng nhảy được năm trăm cái hồi tôi mười hai tuổi, hồi đó tôi không béo như bây giờ và luyện tập chăm chỉ lắm.
Mary nhổm dậy khỏi ghế, trong người bắt đầu thấy phấn chấn.
- Sợi dây đẹp quá. Mẹ chị thật tốt bụng. Chị có nghĩ tôi có thể nhảy được như thế không?
"You just try it," urged Martha, handing her the skipping- rope. "You can't skip a hundred at first, but if you practice you'll mount up. That's what mother said. She says, `Nothin' will do her more good than skippin' rope. It's th' sensiblest toy a child can have. Let her play out in th' fresh air skippin' an' it'll stretch her legs an' arms an' give her some strength in 'em.'"
- Cô hãy thử xem – Martha thuyết phục và đưa cuộn dây cho nó. - Thoạt đầu cô chưa thể nhảy một trăm vòng ngay đâu, nhưng nếu chịu khó tập thì cô sẽ nâng dần số vòng lên. Mẹ tôi nói vậy đấy. Bà bảo: “Không có gì làm cô ấy khoẻ hơn nhảy dây. Đây là thứ đồ chơi thích hợp nhất mà trẻ con nên có. Cứ để cô ấy nhảy dây thoả thích ngoài không khí trong lành, có thể chân tay mới dài ra và cứng cáp thêm lên.
It was plain that there was not a great deal of strength in Mistress Mary's arms and legs when she first began to skip. She was not very clever at it, but she liked it so much that she did not want to stop.
"Put on tha' things and run an' skip out o' doors," said Martha. "Mother said I must tell you to keep out o' doors as much as you could, even when it rains a bit, so as tha' wrap up warm."
Một điều đáng buồn là hai cánh tay và hai cẳng chân của Mary chẳng có bao sức lực vào lần đầu tiên nó tập nhảy. Nó cũng chẳng phải đứa nhanh nhẹn trong trò này, nhưng tỏ ra thích thú đến nỗi không muốn dừng chân.
- Cô hãy mặc quần áo rồi mang dây ra ngoài mà nhảy, - Martha nói, - Mẹ dặn tôi phải nhắc cô rằng nên chơi bên ngoài càng nhiều càng tốt, ngay cả khi trời mưa lất phất, cô sẽ thấy ấm người lên cho mà xem.
Mary put on her coat and hat and took her skipping-rope over her arm. She opened the door to go out, and then suddenly thought of something and turned back rather slowly.
"Martha," she said, "they were your wages. It was your two-pence really. Thank you." She said it stiffly because she was not used to thanking people or noticing that they did things for her. "Thank you," she said, and held out her hand because she did not know what else to do.
Martha gave her hand a clumsy little shake, as if she was not accustomed to this sort of thing either. Then she laughed.
"Eh! th' art a queer, old-womanish thing," she said. "If tha'd been our 'Lizabeth Ellen tha'd have given me a kiss."
Mary mặc áo choàng, đội mũ rồi mang theo sợi dây nhảy trên tay. Nó mở cửa bước ra ngoài, bỗng nghĩ ra điều gì nó chậm rãi quay lại.
- Chị Martha, - nó nói, - cuộn dây được mua từ tiền công của chị. Cũng phải mất tới hai xu của chị ấy chứ. Cảm ơn chị.
Con bé nói câu ấy một cách khó nhọc, bởi vì chị không quen cảm ơn mọi người hoặc để ý tới những việc họ làm cho nó.
- Cảm ơn, - nó nói và chìa tay ra, bởi vì không biết làm gì hơn.
Martha nắm lấy tay con bé và khẽ lắc một cách vụng về, có vẻ chị không quen với những việc như thế này lắm. Chợt chị phá lên cười.
- Eo ôi, cô kì quá, thế này chỉ hợp với bà già thôi. Nếu cô là con bé Lizabeth Ellen nhà chúng tôi thì cô đã tặng tôi một cái hôn rồi.
Mary looked stiffer than ever.
"Do you want me to kiss you?"
Martha laughed again.
"Nay, not me," she answered. "If tha' was different, p'raps tha'd want to thysel'. But tha' isn't. Run off outside an' play with thy rope."
Nom Mary càng gượng gạo hơn bao giờ hết.
- Chị muốn tôi hôn chị ư?
Martha lại bật cười.
- Ôi, không, không phải đâu. Nếu cô là người khác, có lẽ chính cô cũng muốn. Đằng này lại không phải vậy. Thôi chạy ra ngoài kia mà chơi với sợi dây của cô đi.
Mistress Mary felt a little awkward as she went out of the room. Yorkshire people seemed strange, and Martha was always rather a puzzle to her. At first she had disliked her very much, but now she did not. The skipping-rope was a wonderful thing. She counted and skipped, and skipped and counted, until her cheeks were quite red, and she was more interested than she had ever been since she was born. The sun was shining and a little wind was blowing--not a rough wind, but one which came in delightful little gusts and brought a fresh scent of newly turned earth with it. She skipped round the fountain garden, and up one walk and down another. She skipped at last into the kitchen-garden and saw Ben Weatherstaff digging and talking to his robin, which was hopping about him. She skipped down the walk toward him and he lifted his head and looked at her with a curious expression. She had wondered if he would notice her. She wanted him to see her skip.
Marry cảm thấy hơi lúng túng lúc nó rời khỏi phòng. Người xứ Yorkshire thật kì lạ, còn Martha thì luôn là một bí ẩn đối với nó. Thoạt đầu nó rất ghét chị, nhưng bây giờ thì không. Sợi dây nhảy quả là một điều kỳ diệu. Nó vừa nhảy vừa đếm, cho tới khi hai má nó ửng hồng, từ thủa sinh ra đến giờ chưa khi nào nó thích thú đến thế. Mặt trời đang toả sáng, một cơn gió thoảng qua, không phải cơn gió mạnh mà là làn gió thoang thoảng ngắn ngủi mang theo niềm vui và mùi hương tươi mát của đất vừa lật xới. Nó nhảy vòng quanh khu vườn có đài phun nước, hết vòng lên rồi lại vòng xuốn. Cuối cùng, khi nhảy lùi dần vào khu vườn dành cho nhà bếp, nó nhìn thấy lão Ben Wêathrstaff đang xới đất, vừa trò chuyện với con chim ức đỏ đang nhảy nhót quanh lão. Con bé nhảy dây trên lối đi dạo dẫn đến chỗ lão. Lão ngẩng đầu nhìn nó, vẻ tò mò. Con bé tự nhủ không biết lão có để ý tới nó không. Nó thực sự muốn lão nhìn thấy nó nhảy dây.
"Well!" he exclaimed. "Upon my word. P'raps tha' art a young 'un, after all, an' p'raps tha's got child's blood in thy veins instead of sour buttermilk. Tha's skipped red into thy cheeks as sure as my name's Ben Weatherstaff. I wouldn't have believed tha' could do it."
- Chà! – Lão thốt lên. - Lạ chưa kìa! Có vẻ như cô đang trở thành một thiếu nữ, đang dồi dào sinh lực mà chẳng cần bơ sữa gì sất. Cô nhảy dây khiến hai má đỏ ửng, trông rõ ràng rành rành như tên tôi là Ben Weatherstaff vậy. Tôi thật khó tin cô cũng có thể làm được điều đó.
"I never skipped before," Mary said. "I'm just beginning. I can only go up to twenty."
"Tha' keep on," said Ben. "Tha' shapes well enough at it for a young 'un that's lived with heathen. Just see how he's watchin' thee," jerking his head toward the robin. "He followed after thee yesterday. He'll be at it again today. He'll be bound to find out what th' skippin'-rope is. He's never seen one. Eh!" shaking his head at the bird, "tha' curiosity will be th' death of thee sometime if tha' doesn't look sharp."
- Trước đây tôi chưa từng bao giờ nhảy dây, - Marry đáp. – Tôi mới chỉ bắt đầu, chỉ đủ sức nhảy hai mươi vòng thôi.
- Cô cứ tiếp tục đi, - Lão Ben bảo. - Nếu tập đều cô sẽ có thân hình cân đối khoẻ mạnh của một thiếu nữ, không như hồi còn ở với bọn mông muội. Cứ nhìn nó ngắm cô thì rõ,- vừa nói, lão vừa hất đầu về phía con chim ức đỏ. – Nó theo cô suốt từ hôm qua đến giờ. Nó sẽ ở lì đây cả ngày hôm nay cho mà xem. Chắc chắn nó sẽ khám phá xem nhảy dây là gì, nó chưa bao giờ thấy ai làm thế.
Mary skipped round all the gardens and round the orchard, resting every few minutes. At length she went to her own special walk and made up her mind to try if she could skip the whole length of it. It was a good long skip and she began slowly, but before she had gone half-way down the path she was so hot and breathless that she was obliged to stop. She did not mind much, because she had already counted up to thirty. She stopped with a little laugh of pleasure, and there, lo and behold, was the robin swaying on a long branch of ivy. He had followed her and he greeted her with a chirp. As Mary had skipped toward him she felt something heavy in her pocket strike against her at each jump, and when she saw the robin she laughed again.
– Ê! - lão lắc đầu với con chim. – Mày tò mò thế thì sẽ có bữa chết, nếu mày không nhìn cho kỹ. Mary nhảy dây vòng qua tất cả các vườn hoa rồi lại vườn quả, cứ vài phút lại nghỉ một chút. Cuối cùng nó đi xuống lối dạo chơi quen thuộc và quyết định xem mình có đủ sức nhảy suốt dọc lối đó không. Đó là một đường nhảy dây khá dài. Nó bắt đầu một cách chậm rãi, nhưng trước khi nhảy được nửa đoạn đường, nó cảm thấy nóng bừng cả người và hụt hơi đến nỗi phải dừng lại. Nó cũng không phiền lòng lắm bởi nó đã đếm được tới ba mươi vòng. Nó ngừng lại, và đang mỉm cười vì sung sướng thì kìa, thật lạ lùng, vẫn là con chim ức đỏ đang đu đưa trên một nhành thường xuân dài. Thì ra nãy giờ nó vẫn theo con bé, và còn cất cao giọng chào mừng Mary bằng tiếng hót líu lo.
"You showed me where the key was yesterday," she said. "You ought to show me the door today; but I don't believe you know!"
The robin flew from his swinging spray of ivy on to the top of the wall and he opened his beak and sang a loud, lovely trill, merely to show off. Nothing in the world is quite as adorably lovely as a robin when he shows off--and they are nearly always doing it.
Mary Lennox had heard a great deal about Magic in her Ayah's stories, and she always said that what happened almost at that moment was Magic.
Nhảy về phía con chim, Marry cảm thấy một vật gì nằng nặng trong túi áo cứ thúc vào sườn theo mỗi bước chân, nó nhìn con chim ức đỏ bật cười:
- Hôm qua mày đã chỉ tao chỗ giấu chiếc chìa khoá rồi thì hôm nay mày hãy chỉ cho tao cánh cửa ấy đi; nhưng tao không tin mày biết nó ở đâu.
Con chim ức đỏ đang nhún nhảy trên nhành thường xuân liền bay vút lên bờ tường, nó há mỏ và cất tiếng hót lanh lảnh hết sức đáng yêu – đơn giản là nó đang muốn trình diễn. Trên đời này chẳng có gì thú vị và đáng yêu bằng con chim ức đỏ khi nó phô trương giọng hót của nó, và loài chim này hầu như lúc nào cũng thích làm thế.
Marry Lenox từng được nghe vô khối chuyện về Phép thuật theo lời kể của các Ayah. Nó tự nhủ hầu hết những gì vừa xảy ra cũng đều là Phép thuật.
One of the nice little gusts of wind rushed down the walk, and it was a stronger one than the rest. It was strong enough to wave the branches of the trees, and it was more than strong enough to sway the trailing sprays of untrimmed ivy hanging from the wall. Mary had stepped close to the robin, and suddenly the gust of wind swung aside some loose ivy trails, and more suddenly still she jumped toward it and caught it in her hand. This she did because she had seen something under it--a round knob which had been covered by the leaves hanging over it. It was the knob of a door.
Một cơn gió nhẹ và dễ chịu ào qua lối đi dạo, nhưng nó mạnh hơn những cơn gió khác.Gió đủ mạnh để lay động mấy cành cây, làm lung lay những nhành thường xuân nhỏ đang bò ngổn ngang trên bờ tường. Marry rón rén tới gần bên com chim. Bỗng đâu một cơn gió thổi bạt đám thường xuân dạt sang một phía, và con bé đột ngột nhảy tới nắm chặt đám cành lá đó trong tay. Nó làm vậy nó vừa thấy một cái gì đó ở phía dưới - một nắm tay tròn triạ bị che phủ dưới lớp lá rủ xuống từ trên tường. Chính là tay nắm của một cánh cửa.
She put her hands under the leaves and began to pull and push them aside. Thick as the ivy hung, it nearly all was a loose and swinging curtain, though some had crept over wood and iron. Mary's heart began to thump and her hands to shake a little in her delight and excitement. The robin kept singing and twittering away and tilting his head on one side, as if he were as excited as she was. What was this under her hands which was square and made of iron and which her fingers found a hole in? It was the lock of the door which had been closed ten years and she put her hand in her pocket, drew out the key and found it fitted the keyhole. She put the key in and turned it. It took two hands to do it, but it did turn.
Con bé quơ cả hai bàn tay vào lớp lá dày và bắt đầu gạt chúng sang bên. Dây thường xuân bám dày, như một tấm màn buông rủ đung đưa,và đôi chỗ cành lá còn len lỏi qua lớp gỗ và sắt. Trống ngực Marry đập thình thịch, còn hai bàn tay khẽ run lên vì sung sướng và phấn khích. Con chim ức đỏ vẫn vừa hót vừa ríu rít liên hồi. Nó nghiêng cái đầu sang một bên, có vẻ cũng háo hức chẳng kém gì con bé. Cái vật vuông vuông bằng sắt nằm dưới tay Marry mà con bé còn đang dò dẫm tìm một cái lỗ trên nó làm cái gì vậy? Đó chính là cái ổ khoá của cái cánh cửa đã đóng chặt suốt mười năm qua. Con bé thọc tay vào túi rút chiếc chìa khoá ra, nó nhận thấy chìa khoá vừa khít vào ổ. Nó ấn sâu chiếc chìa vào ổ rồi vặn chìa. Nó phải dùng cả hai tay để vặn, nhưng ổ khoá đã xoay.
And then she took a long breath and looked behind her up the long walk to see if any one was coming. No one was coming. No one ever did come, it seemed, and she took another long breath, because she could not help it, and she held back the swinging curtain of ivy and pushed back the door which opened slowly--slowly.
Then she slipped through it, and shut it behind her, and stood with her back against it, looking about her and breathing quite fast with excitement, and wonder, and delight.
She was standing inside the secret garden.
Đoạn con bé hít một hơi dài, ngoái lại phía con đường dài hút tầm mắt xem có ai đang tiến lại gần không. Không thấy một ai, và dường như chưa từng có ai thì phải.
Nó không nén được, hít thêm một hơi thật sâu, rồi vén tấm mành thường xuân đang đung đưa, tay đẩy cánh cửa đang mở ra từ từ, chậm rãi. Nó lách mình vào bên trong, khép cánh cửa lại sau lưng, và đứng đó sững sờ tựa lưng vào cửa. Nó lướt nhìn khắp xung quanh, hơi thở dồn dập vì phấn khích, vì sửng sốt và vì sung sướng nữa.
Nó đang đứng bên trong một khu vườn bí mật.



No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn