MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, January 23, 2012

Walter Isaacson - Steve Jobs 9





CHAPTER THIRTY-FOUR

Chương 34

TWENTY-FIRST-CENTURY MACS

Setting Apple Apart With the iBook, 1999

Clams, Ice Cubes, and Sunflowers

THẾ HỆ MAC ĐẦU THẾ KỶ XXI

Tạo sự khác biệt cho Apple

Vỏ sò, Khối nước đá lập phương và Hoa hướng dương

Ever since the introduction of the iMac in 1998, Jobs and Jony Ive had made beguiling design a signature of Apple’s computers. There was a consumer laptop that looked like a tangerine clam, and a professional desktop computer that suggested a Zen ice cube. Like bell-bottoms that turn up in the back of a closet, some of these models looked better at the time than they do in retrospect, and they show a love of design that was, on occasion, a bit too exuberant. But they set Apple apart and provided the publicity bursts it needed to survive in a Windows world.

Từ khi giới thiệu chiếc máy iMac vào năm 1998, Jobs và Jony Ive đã tạo ra phong cách thiết kế lôi cuốn đặc trưng cho dòng máy tính của Apple. Đó là một chiếc máy tính xách tay cá nhân với kiểu dáng vỏ sò màu cam và một máy tính chuyên dụng để bàn trông như một khối nước đá lập phương trong suốt như tinh thần của Thiền (máy Mac Cube) . Giống như những chiếc quần ống loe giấu ở đáy tủ quần áo, khi đó một vài mẫu thiết kế trông đẹp hơn lúc hồi tưởng về chúng sau này, ở chúng thể hiện một tình yêu thiết kế thái quá. Nhưng họ đã tạo ra sự khác biệt cho Apple và mang đến cho công chúng những cuộc bứt phá cần thiết để tồn tại trong một thế giới tràn ngập Windows.



IMac năm 1999

The Power Mac G4 Cube, released in 2000, was so alluring that one ended up on display in New York’s Museum of Modern Art. An eight-inch perfect cube the size of a Kleenex box, it was the pure expression of Jobs’s aesthetic. The sophistication came from minimalism. No buttons marred the surface. There was no CD tray, just a subtle slot. And as with the original Macintosh, there was no fan. Pure Zen. “When you see something that’s so thoughtful on the outside you say, ‘Oh, wow, it must be really thoughtful on the inside,’” he told Newsweek.

Vẻ quyến rũ của The Power Mac G4 Cube, phát hành vào năm 2000, ấn tượng đến mức người ta đã trưng bày một chiếc tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York. Một khối lập phương với cạnh dài 20cm hoàn hảo, kích cỡ bằng một chiếc hộp khăn giấy Kleenex, là dấu ấn rõ nét về khiếu thẩm mỹ của Jobs. Sự tinh tế của nghệ thuật tối giản. Không có bất cứ nút bấm nào làm mặt phẳng tỳ vết. Không có khay đĩa, chỉ một rãnh nhỏ tinh tế. Và cũng như chiếc Macintosh nguyên thủy, chiếc mày này không có quạt làm mát. Một tinh thần Thiền thuần khiết. “Khi bạn trông thấy một thứ có vẻ ngoài tinh tế, bạn thốt lên, „ồ, tuyệt, có lẽ phần bên trong cũng rất sâu sắc,ông nói với tờ Newsweek.


The Power Mac G4 Cube

“We make progress by eliminating things, by removing the superfluous.” The G4 Cube was almost ostentatious in its lack of ostentation, and it was powerful. But it was not a success. It had been designed as a high-end desktop, but Jobs wanted to turn it, as he did almost every product, into something that could be mass-marketed to consumers. The Cube ended up not serving either market well.

Chúng tôi phát triển bằng cách loại bỏ những thứ vô dụng.” Vẻ ngoài không phô trương của G4 Cube lại khiến nó thật nổi trội và ấn tượng. Nhưng trái lại nó đã không thành công. Nó được thiết kế như một máy vi tính để bàn cao cấp, nhưng Jobs muốn chuyển đổi nó, việc ông thường xuyên thực hiện với mọi sản phẩm, thành một chiếc máy có thể tiếp cận đến đại trà người tiêu dùng. Cuối cùng Cube không thể thỏa mãn tốt cả hai thị trường.

Workaday professionals weren’t seeking a jewel-like sculpture for their desks, and mass-market consumers were not eager to spend twice what they’d pay for a plain vanilla desktop. Jobs predicted that Apple would sell 200,000 Cubes per quarter. In its first quarter it sold half that. The next quarter it sold fewer than thirty thousand units. Jobs later admitted that he had overdesigned and overpriced the Cube, just as he had the NeXT computer. But gradually he was learning his lesson. In building devices like the iPod, he would control costs and make the trade-offs necessary to get them launched on time and on budget.

Những nhà chuyên môn thời bấy giờ không cần một tác phẩm điêu khắc đẹp như trang sức, còn người tiêu dùng của thị trường đại chúng lại không sẵn sàng chi trả gấp đôi số tiền của một máy vi tính để bàn giản dị thông thường. Jobs dự đoán Apple sẽ bán 200 ngàn chiêc Cube mỗi quý. Trong quý đầu tiên, họ đã bán được phân nửa số đó. Quý thứ hai, họ bán chưa đến 30 ngàn chiếc. Sau đó, Jobs thừa nhận rằng ông đã thiết kế Cube quá cầu kỳ và đặt giá quá cao, cũng như với máy tính NeXT. Nhưng ông dần rút ra bài học. Khi xây dựng những sản phẩm như iPod, ông kiểm soát chi phí và tiến hành những thay thế cần thiết để nó có thể phát hành đúng thời hạn và hợp túi tiền.

Partly because of the poor sales of the Cube, Apple produced disappointing revenue numbers in September 2000. That was just when the tech bubble was deflating and Apple’s education market was declining. The company’s stock price, which had been above $60, fell 50% in one day, and by early December it was below $15.

Một phần vì việc kinh doanh ế ẩm của Cube, doanh thu của Apple vào tháng 9 năm 2000 khá thảm hại. Đó là ngay sau khi bong bóng công nghệ xì hơi và thị trường của Apple trong lĩnh vực giáo dục bị thu hẹp. Giá cổ phiếu công ty, từng lên trên mức 60 đô-la, trong một ngày đã mất tới 50% giá trị, vào đầu tháng mười năm đó, giá cổ phiếu đã rớt xuống còn dưới 15 đô-la.

None of this deterred Jobs from continuing to push for distinctive, even distracting, new design. When flat-screen displays became commercially viable, he decided it was time to replace the iMac, the translucent consumer desktop computer that looked as if it were from a Jetsons cartoon. Ive came up with a model that was somewhat conventional, with the guts of the computer attached to the back of the flat screen. Jobs didn’t like it. As he often did, both at Pixar and at Apple, he slammed on the brakes to rethink things. There was something about the design that lacked purity, he felt. “Why have this flat display if you’re going to glom all this stuff on its back?” he asked Ive. “We should let each element be true to itself.” Jobs went home early that day to mull over the problem, then called Ive to come by. They wandered into the garden, which Jobs’s wife had planted with a profusion of sunflowers. “Every year I do something wild with the garden, and that time it involved masses of sunflowers, with a sunflower house for the kids,” she recalled. “Jony and Steve were riffing on their design problem, then Jony asked, ‘What if the screen was separated from the base like a sunflower?’ He got excited and started sketching.” Ive liked his designs to suggest a narrative, and he realized that a sunflower shape would convey that the flat screen was so fluid and responsive that it could reach for the sun.

Nhưng những điều đó không ngăn cản Jobs tiếp tục cố gắng sáng tạo thiết kế mới, đặc biệt dù chúng có thể kém sinh động. Khi màn hình phẳng trở nên khả thi về mặt thương mại, ông quyết định đã đến lúc thay thế iMac, một máy vi tính để bàn cá nhân có hình dáng như trong phim hoạt hình Jetsons. Ive đưa ra một mẫu thiết kế theo lối cổ điển, với những thiết bị bên trong máy vi tính gắn vào mặt sau màn hình phẳng. Jobs không thích mẫu này. Như ông vẫn thường làm, ở cả Pixar và Apple, ông tạm ngừng mọi việc để suy nghĩ sâu thêm vấn đề. ông cảm thấy một phần trong mẫu thiết kế thiếu đi tính thuần khiết. “Tại sao phải dùng màn hình phẳng rồi lại gắn tất cả mọi thứ vào phía sau?” ông hỏi Ive. “Chúng ta nên để mỗi thành phần là chính bản thân chúng.” Hôm đó, Jobs về nhà sớm hơn để nghiền ngẫm vấn đề, rồi ông gọi Ive đến. Họ đi vòng quanh khu vườn nơi vợ Jobs trồng rất nhiều hoa hướng dương. “Mỗi năm tôi đều thực hiện một việc ngông cuồng trong khu vườn, lần này là một rừng hoa hướng dương, một ngôi nhà hoa hướng dương cho bọn trẻ,” bà nhớ lại. “Jony và Steve đang tập trung suy nghĩ về vấn đề thiết kế, rồi Jony hỏi, „Nếu màn hình tách rời khỏi bệ giống một bông hoa hướng dương thì sao? ông ấy hào hứng và bắt đầu phác thảo.” Ive luôn muốn thiết kế của mình ẩn chứa một thông điệp, ông nhận thấy hình dạng của bông hoa hướng dương sẽ truyền đạt ý tưởng về một màn hình phẳng linh hoạt và nhanh nhạy đến mức nó có thể hướng đến mặt trời.

In Ive’s new design, the Mac’s screen was attached to a movable chrome neck, so that it looked not only like a sunflower but also like a cheeky Luxo lamp. Indeed it evoked the playful personality of Luxo Jr. in the first short film that John Lasseter had made at Pixar. Apple took out many patents for the design, most crediting Ive, but on one of them, for “a computer system having a movable assembly attached to a flat panel display,” Jobs listed himself as the primary inventor.

Trong thiết kế mới của Ive, màn hình máy Mac được gắn vào một cổ di động làm bằng crom, vì thế nó không chỉ trông giống một hoa hướng dương mà còn giống một chiếc đèn bàn luxo xấc xược. Thực tế, nó gợi lên vẻ tinh nghịch của Luxo Jr. trong bộ phim ngắn đầu tiên do John Lasseter thực hiện tại Pixar. Apple đã nhận được nhiều bằng thiết kế, hầu hết đều do công của Ive, nhưng trên một trong số đó, trên bằng sáng chế dành cho “hệ thống máy vi tính có một bộ phận di động gắn với màn hình phẳng,” Jobs đã tự ghi tên mình vào vị trí nhà sáng tạo đầu tiên.


Model iMac G4 giới thiệu tháng Giêng năm 2002

In hindsight, some of Apple’s Macintosh designs may seem a bit too cute. But other computer makers were at the other extreme. It was an industry that you’d expect to be innovative, but instead it was dominated by cheaply designed generic boxes. After a few ill-conceived stabs at painting on blue colors and trying new shapes, companies such as Dell, Compaq, and HP commoditized computers by outsourcing manufacturing and competing on price. With its spunky designs and its pathbreaking applications like iTunes and iMovie, Apple was about the only place innovating.

Ngẫm lại, một vài thiết kế Macintosh của Apple có vẻ quá xinh xắn, trong khi những hãng sản xuất máy vi tính khác lại theo thái cực đối lập. Lẽ ra đó là ngành công nghiệp đòi hỏi sự sáng tạo, thế nhưng nó lại bị thao túng bởi những thiết kế hình hộp rập khuôn rẻ tiền. Sau một số thất bại với màu sơn xanh và vài kiểu dáng mới, những công ty như Dell, Compaq và HP đã sản xuất máy vi tính đại trà thông qua thuê ngoài và cạnh tranh bằng giá. Với những thiết kế can đảm và trình ứng dụng đột phá như iTunes và iMovie, Apple dường như là nơi duy nhất còn sáng tạo.

Intel Inside

Apple’s innovations were more than skin-deep. Since 1994 it had been using a microprocessor, called the PowerPC, that was made by a partnership of IBM and Motorola. For a few years it was faster than Intel’s chips, an advantage that Apple touted in humorous commercials.

Bên trong là Intel

Sự sáng tạo của Apple còn sâu sắc ngoài sức tưởng tượng. Từ năm 1994, họ đã sử dụng bộ vi xử lý, gọi là PowerPC, do IBM và Motorola hợp tác sản xuất. Trong vài năm, nó nhanh hơn cả chip của Intel, một lợi thế luôn được Apple khai thác triệt để trong những mẩu quảng cáo hài hước.

By the time of Jobs’s return, however, Motorola had fallen behind in producing new versions of the chip. This provoked a fight between Jobs and Motorola’s CEO Chris Galvin. When Jobs decided to stop licensing the Macintosh operating system to clone makers, right after his return to Apple in 1997, he suggested to Galvin that he might consider making an exception for Motorola’s clone, the StarMax Mac, but only if Motorola sped up development of new PowerPC chips for laptops. The call got heated. Jobs offered his opinion that Motorola chips sucked. Galvin, who also had a temper, pushed back. Jobs hung up on him. The Motorola StarMax was canceled, and Jobs secretly began planning to move Apple off the Motorola-IBM PowerPC chip and to adopt, instead, Intel’s. This would not be a simple task. It was akin to writing a new operating system.

Tuy nhiên, khi Job trở về, Motorola đã tụt hậu trong việc sản xuất ra những phiên bản chip mới. Điều này làm nảy sinh cuộc chiến giữa Jobs và CEO của Motorola, Chris Galvin. Khi Jobs quyết định dừng cấp phép hệ thống điều hành Macintosh cho những nhà sản xuất bản sao, ngay khi ông trở về Apple vào năm 1997, ông đề nghị với Galvin rằng ông có thể xem xét dành một ngoại lệ cho bản sao của Motorola, StarMax Mac, nhưng chỉ khi Motorola tăng tốc phát triển chip PowerPC mới cho máy vi tính xách tay. Cuộc điện đàm trở nên căng thẳng. Jobs cho rằng chip của Motorola thật tệ hại. Galvin, vốn nóng tính, phản pháo. Jobs dập máy. Dự án Motorola StarMax bị hủy, Jobs âm thầm lên kế hoạch tách chip PowerPC của Motorola và IBM ra khỏi Apple và thay bằng chip Intel. Đó là một nhiệm vụ không đơn giản. Việc lập trình lại một hệ thống điều hành cũng phức tạp không kém.

Jobs did not cede any real power to his board, but he did use its meetings to kick around ideas and think through strategies in confidence, while he stood at a whiteboard and led freewheeling discussions. For eighteen months the directors discussed whether to move to an Intel architecture. “We debated it, we asked a lot of questions, and finally we all decided it needed to be done,” board member Art Levinson recalled.

Jobs không nhượng lại bất kỳ quyền lực thật sự nào cho ban giám đốc, nhưng ông vẫn sử dụng các buổi họp để phát triển ý tưởng và suy nghĩ thông qua những chiến lược bí mật, trong khi ông đứng trước bảng và tổ chức thảo luận tự do. Ban giám đốc thảo luận trong mười tám tháng ròng rã, cân nhắc liệu họ có nên chuyển sang sử dụng cấu trúc của Intel. “Chúng tôi bàn luận, đặt ra một loạt câu hỏi và cuối cùng tất cả chúng tôi quyết định điều này là cần thiết,” Art Levinson, một thành viên trong ban giám đốc nhớ lại.

Paul Otellini, who was then president and later became CEO of Intel, began huddling with Jobs. They had gotten to know each other when Jobs was struggling to keep NeXT alive and, as Otellini later put it, “his arrogance had been temporarily tempered.” Otellini has a calm and wry take on people, and he was amused rather than put off when he discovered, upon dealing with Jobs at Apple in the early 2000s, “that his juices were going again, and he wasn’t nearly as humble anymore.” Intel had deals with other computer makers, and Jobs wanted a better price than they had. “We had to find creative ways to bridge the numbers,” said Otellini.

Paul otellini, khi đó đang nhậm chức chủ tịch, sau này trở thành CEO của Intel, bắt đầu hội ý riêng với Jobs. Họ đã biết nhau khi Jobs còn đấu tranh để duy trì NeXT, sau này otellini kể thêm, “tính kiêu ngạo của ông ấy tạm thời bộc phát.” otellini có cách nhìn nhận điềm tĩnh và mỉa mai về mọi người, trong một lần trao đổi với Jobs tại Apple vào đầu những năm 2000, ông có vẻ thích thú hơn là khó chịu khi phát hiện ra, “phần tinh túy của Jobs lại sắp ra đi, ông ấy dường như không thể khiêm tốn được nữa.” Intel đã giao dịch với những nhà sản xuất máy vi tính khác, và Jobs muốn có được giá tốt hơn giá của họ. “Chúng tôi phải vận dụng khả năng sáng tạo để kết nối các con số,” otellini nói.

Most of the negotiating was done, as Jobs preferred, on long walks, sometimes on the trails up to the radio telescope known as the Dish above the Stanford campus. Jobs would start the walk by telling a story and explaining how he saw the history of computers evolving. By the end he would be haggling over price.

Phần lớn nội dung đàm phán được thông qua, đúng như Jobs mong muốn, trong những chuyến bách bộ dài, đôi khi trên con đường mòn dẫn lên Kính viễn vọng vô tuyến Dish bên trên trường đại học Stanford. Jobs thường sẽ bắt đầu chuyến đi bộ bằng một câu chuyện rồi giải thích làm thế nào ông nhìn thấy sự tiến hóa của lịch sử máy vi tính. Vào cuối buổi ông sẽ mặc cả về giá.

“Intel had a reputation for being a tough partner, coming out of the days when it was run by Andy Grove and Craig Barrett,” Otellini said. “I wanted to show that Intel was a company you could work with.” So a crack team from Intel worked with Apple, and they were able to beat the conversion deadline by six months. Jobs invited Otellini to Apple’s Top 100 management retreat, where he donned one of the famous Intel lab coats that looked like a bunny suit and gave Jobs a big hug. At the public announcement in 2005, the usually reserved Otellini repeated the act. “Apple and Intel, together at last,” flashed on the big screen.

“Intel đã nổi tiếng là một đối tác khó chịu từ những ngày mà Andy Grove và Craig Barrett còn điều hành công ty,” otellini nói. “Tôi muốn cho mọi người thấy rằng Intel là một công ty bạn có thể cộng tác.” Vì thế một đội xuất sắc của Intel đã qua làm việc cùng Apple, họ đã có thể đánh bại kỳ hạn chuyển đổi trong sáu tháng. Jobs mời otellini đến cơ sở của hội đồng quân sư cấp cao “top 100” của Apple, ở đó otellini, khoác lên người bộ áo choàng phòng thí nghiệm Intel nổi tiếng, trông giống một bộ trang phục thỏ, và trao cho Jobs một cái ôm thật chặt. Tại lễ ra mắt công chúng vào năm 2005, otellini, vốn là người dè dặt, lặp lại hành động ấy. Dòng chữ “Apple và Intel, cuối cùng cũng bên nhau,” chạy thoáng qua trên màn hình lớn.

Bill Gates was amazed. Designing crazycolored cases did not impress him, but a secret program to switch the CPU in a computer, completed seamlessly and on time, was a feat he truly admired. “If you’d said, ‘Okay, we’re going to change our microprocessor chip, and we’re not going to lose a beat,’ that sounds impossible,” he told me years later, when I asked him about Jobs’s accomplishments. “They basically did that.”

Bill Gates rất kinh ngạc. Việc thiết kế những chiếc vỏ máy tính màu sắc sặc sỡ không khiến ông ngạc nhiên, nhưng một chương trình chuyển đổi CPU máy vi tính bí mật, hoàn thành suôn sẻ và đúng hạn quả là một chiến công đáng ngưỡng mộ thật sự. Nhiều năm sau, khi tôi hỏi ông về những thành công của Jobs, ông nói với tôi “Nếu bạn nói, Thôi được, chúng tôi sẽ thay đổi chip vi xử lý và quyết không để lỡ một nhịp nào, điều đó nghe thật bất khả thi. “Nhưng họ đã làm được.”

Options

Among Jobs’s quirks was his attitude toward money. When he returned to Apple in 1997, he portrayed himself as a person working for $1 a year, doing it for the benefit of the company rather than himself. Nevertheless he embraced the idea of option megagrants—granting huge bundles of options to buy Apple stock at a preset price—that were not subject to the usual good compensation practices of board committee reviews and performance criteria.

Những quyền chọn

Một trong những tật xấu của Jobs là thái độ đối với tiền. Khi ông trở lại Apple vào năm 1997, ông tự hình dung mình như người cả năm chỉ kiếm được một đô-la, ông làm việc vì lợi ích của công ty hơn là vì cá nhân. Tuy nhiên, ông kiên trì với ý tưởng gói quyền chọn khổng lồ - quyền chọn mua cổ phiếu Apple tại mức giá ấn định - không tùy thuộc vào thủ tục đền bù hàng hóa thông thường của những bản đánh giá và chỉ tiêu thực hiện của ban giám đốc.

When he dropped the “interim” in his title and officially became CEO, he was offered (in addition to the airplane) a megagrant by Ed Woolard and the board at the beginning of 2000; defying the image he cultivated of not being interested in money, he had stunned Woolard by asking for even more options than the board had proposed. But soon after he got them, it turned out that it was for naught. Apple stock cratered in September 2000—due to disappointing sales of the Cube plus the bursting of the Internet bubble—which made the options worthless.

Khi ông loại bỏ từ “tạm thời” trong chức vụ của mình và chính thức trở thành CEO, (ngoài một chiếc chuyên cơ) ông còn được Ed Woolard và ban giám đốc đề nghị cấp cho một gói quyền chọn khổng lò vào đầu năm 2000; bất chấp hình tượng không màng tiền bạc được xây dựng lâu nay, ông đã khiến Woolard kinh ngạc khi yêu cầu nhiều quyền chọn hơn số lượng ban giám đốc đề nghị. Nhưng ngay khi ông nhận được chúng, hóa ra chúng lại chẳng có giá trị. cổ phiếu Apple rớt thảm hại vào tháng chín năm 2000 - vì doanh thu đáng thất vọng của Cube và vì bong bóng Internet vỡ tan - đã khiến quyền chọn trở nên vô dụng.

Making matters worse was a June 2001 cover story in Fortune about overcompensated CEOs, “The Great CEO Pay Heist.” A mug of Jobs, smiling smugly, filled the cover. Even though his options were underwater at the time, the technical method of

valuing them when granted (known as a Black-Scholes valuation) set their worth at $872 million.

Mọi việc trở nên tồi tệ hơn vào tháng sáu năm 2001, khi tạp chí Fortune đăng loạt bài The Great CEO Pay Heist (những CEO được bồi thường quá mức), làm đề tài trang bìa. Một bức chân dung Jobs đang tự mãn cười khẩy, chiếm trọn trang bìa. Mặc dù lúc bấy giờ ưu đãi quyền chọn mua của ông vẫn chưa được công khai, theo tính toán của mô hình Black-Scholes định giá Quyền chọn mua/bán cổ phiếu cho thấy, giá trị của gói quyền chọn mà Steve nhận được là 872 triệu đô-la.

Fortune proclaimed it “by far” the largest compensation package ever granted a CEO. It was the worst of all worlds: Jobs had almost no money that he could put in his pocket for his four years of hard and successful turnaround work at Apple, yet he had become the poster child of greedy CEOs, making him look hypocritical and undermining his self-image. He wrote a scathing letter to the editor, declaring that his options actually “are worth zero” and offering to sell them to Fortune for half of the supposed $872 million the magazine had reported.

Fortune tuyên bố “cho đến lúc này” đó là gói đền bù lớn nhất từng được cấp cho một CEO. Đó là điều tệ hại nhất trên đời: Jobs gần như không một xu dính túi sau bốn năm làm việc tận tụy và thành công thay đổi cục diện tại Apple, thế mà ông lại trở thành áp phích đại diện cho những CEO tham lam, điều này khiến ông trông giả nhân giả nghĩa và hủy hoại hình tượng của ông. Ông viết một bức thư phản đối gay gắt gửi cho biên tập viên của tòa báo, tuyên bố rằng số quyền chọn của ông thực ra “không đáng một xu” và đề nghị bán chúng cho Fortune với giá bằng một nửa số tiền 872 triệu đô-la mà tạp chí này đăng tải.

In the meantime Jobs wanted the board to give him another big grant of options, since his old ones seemed worthless. He insisted, both to the board and probably to himself, that it was more about getting proper recognition than getting rich. “It wasn’t so much about the money,” he later said in a deposition in an SEC lawsuit over the options.

Trong khi đó, Jobs muốn ban giám đốc cấp một gói quyền chọn lớn khác, vì quyền chọn cũ có vẻ vô dụng, ông nhấn mạnh, với ban giám đốc và dĩ nhiên là cả bản thân mình, yêu cầu này chủ yếu để chứng minh năng lực của ông được thừa nhận một cách đúng đắng hơn là vì tiền bạc. Sau này, khi trả lời trong vụ kiện của ủy ban chứng khoán (SEC) về những quyền chọn đó, ông nói “việc này không liên quan nhiều đến tiền.

“Everybody likes to be recognized by his peers… I felt that the board wasn’t really doing the same with me.” He felt that the board should have come to him offering a new grant, without his having to suggest it. “I thought I was doing a pretty good job. It would have made me feel better at the time.”

Mọi người đều muốn được các cộng sự thừa nhận năng lực... Tôi cảm thấy ban giám đốc không thật sự tôn trọng tôi.” ông cảm thấy lẽ ra ban giám đốc nên đề nghị cấp một gói quyền chọn mới mà không cần ông lên tiếng. “Tôi nghĩ mình làm việc khá tốt. Và việc cấp một gói quyền chọn mới sẽ khiến tôi thấy khá hơn vào lúc đó.”

His handpicked board in fact doted on him. So they decided to give him another huge grant in August 2001, when the stock price was just under $18. The problem was that he worried about his image, especially after the Fortune article. He did not want to accept the new grant unless the board canceled his old options at the same time. But to do so would have adverse accounting implications, because it would be effectively repricing the old options. That would require taking a charge against current earnings. The only way to avoid this “variable accounting” problem was to cancel his old options at least six months after his new options were granted. In addition, Jobs started haggling with the board over how quickly the new options would vest.

Thực tế ban giám đốc do chính ông tuyển chọn đã rất nương theo ý ông. Vì thế họ quyết định cấp cho ông một gói quyền chọn khổng lồ khác vào tháng tám năm 2001, khi giá cổ phiếu dưới 18 đô-la. Vấn đề là ông đang lo lắng về hình ảnh của mình, đặc biệt sau bài viết trên tạp chí Fortune, ông không muốn nhận ưu đãi mới trừ khi ban giám đốc cùng lúc hủy bỏ những quyền chọn cũ. Nhưng làm như vậy sẽ gây khó khăn về nghiệp vụ kế toán, vì nó sẽ tác động đến giá của những quyền chọn cũ. Điều này đòi hỏi một khoản bù đắp đối với thu nhập hiện tại. Cách duy nhất ngăn cản vấn đề “biến kế toán” là hủy bỏ những quyền chọn cũ của ông ít nhất sáu tháng sau khi quyền chọn mới được cấp. Ngoài ra, Jobs bắt đầu thảo luận với ban giám đốc về thời hạn thụ hưởng việc trao quyền chọn mới nên nhanh như thế nào.

It was not until mid-December 2001 that Jobs finally agreed to take the new options and, braving the optics, wait six months before his old ones were canceled. But by then the stock price (adjusting for a split) had gone up $3, to about $21. If the strike price of the new options was set at that new level, each would have thus been $3 less valuable.

Đến giữa tháng mười hai năm 2001, Jobs mới đồng ý nhận những quyền chọn mới, bất chấp dư luận dị nghị và chấp nhận chờ đợi sáu tháng trước khi quyền chọn cũ bị hủy. Nhưng đến khi đó giá cổ phiếu (vừa điều chỉnh được một phần) tăng thêm 3 đô- la, đạt mức giá 21 đô-la. Nếu giá thực hiện quyền chọn mới được xác lập ở mức mới thì mỗi quyền chọn sẽ giảm giá trị 3 đô-la.

So Apple’s legal counsel, Nancy Heinen, looked over the recent stock prices and helped to choose an October date, when the stock was $18.30. She also approved a set of minutes that purported to show that the board had approved the grant on that date. The backdating was potentially worth $20 million to Jobs.

Vì thế luật sư pháp lý của Apple, Nancy Heinen, xem xét giá chứng khoán gần đây và giúp chọn một ngày trong tháng mười, khi giá chứng khoán đạt 18,30 đô-la. Bà cũng phê chuẩn một loạt biên bản với hàm ý rằng ban giám đốc đã chấp thuận chuyển nhượng vào ngày đó. Việc ghi lùi ngày quyền chọn mua cổ phiếu có khả năng mang về 20 triệu đô-la cho Jobs.

Once again Jobs would end up suffering bad publicity without making a penny. Apple’s stock price kept dropping, and by March 2003 even the new options were so low that Jobs traded in all of them for an outright grant of $75 million worth of shares, which amounted to about $8.3 million for each year he had worked since coming back in 1997 through the end of the vesting in 2006.

Một lần nữa, Jobs lại phải gánh chịu tiếng xấu mà không kiếm được một xu. cổ phiếu Apple tiếp tục rớt giá, vào tháng ba năm 2003, thậm chí giá của quyền chọn mới thấp đến mức Jobs phải đổi tất cả để lấy một chuyển nhượng cổ phiếu toàn phần trị giá 75 triệu đô-la, số cổ phiếu này tương đương khoảng 8,3 triệu đô-la cho mỗi năm làm việc của ông kể từ khi quay lại vào năm 1997 cho đến cuối thời gian thụ quyền năm 2006.

None of this would have mattered much if the Wall Street Journal had not run a powerful series in 2006 about backdated stock options. Apple wasn’t mentioned, but its board appointed a committee of three members—Al Gore, Eric Schmidt of Google, and Jerry York, formerly of IBM and Chrysler—to investigate its own practices. “We decided at the outset that if Steve was at fault we would let the chips fall where they may,” Gore recalled. The committee uncovered some irregularities with Jobs’s grants and those of other top officers, and it immediately turned the findings over to the SEC. Jobs was aware of the backdating, the report said, but he ended up not benefiting financially. (A board committee at Disney also found that similar backdating had occurred at Pixar when Jobs was in charge.)

Những việc này lẽ ra sẽ không gặp trở ngại gì nếu vào năm 2006 tờ Wall Street Journal không đăng loạt bài về những quyền chọn cổ phiếu ghi lùi ngày. Apple không bị nhắc tên, nhưng ban giám đốc công ty cử một hội đồng gồm ba thành viên - AI Gore, Eric Schmidt từ Google và Jerry York, trước đây cộng tác với IBM và Chrysler - để điều tra quy trình của chính họ. “Ngay từ đầu, chúng tôi đã quyết định nếu Steve có sai sót, chúng tôi sẽ để giá cổ phiếu rớt xuống theo khả năng thực tế,” Gore nhớ lại. Hội đồng phát hiện một số điều trái quy tắc trong vụ chuyển nhượng cho Jobs và cho những viên chức cao cấp khác, và họ lập tức chuyển những phát hiện này đến ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC). Bản báo cáo cho thấy Jobs biết về việc ghi lùi ngày, nhưng ông lại không được hưởng lợi về mặt tài chính. (Hội đồng tại Disney cũng phát hiện ra việc ghi lùi ngày tương tự từng xảy ra ở Pixar khi Jobs còn nắm quyền.)

The laws governing such backdating practices were murky, especially since no one at Apple ended up benefiting from the dubiously dated grants. The SEC took eight months to do its own investigation, and in April 2007 it announced that it would not bring action against Apple “based in part on its swift, extensive, and extraordinary cooperation in the Commission’s investigation [and its] prompt self-reporting.” Although the SEC found that Jobs had been aware of the backdating, it cleared him of any misconduct because he “was unaware of the accounting implications.” The SEC did file complaints against Apple’s former chief financial officer Fred Anderson, who was on the board, and general counsel Nancy Heinen. Anderson, a retired Air Force captain with a square jaw and deep integrity, had been a wise and calming influence at Apple, where he was known for his ability to control Jobs’s tantrums. He was cited by the SEC only for “negligence” regarding the paperwork for one set of the grants (not the ones that went to Jobs), and the SEC allowed him to continue to serve on corporate boards. Nevertheless he ended up resigning from the Apple board.

Những luật lệ kiểm soát nghiệp vụ ghi lùi ngày rất mù mờ, đặc biệt khi không ai tại Apple hưởng lợi từ những vụ chuyển nhượng được ghi ngày thiếu minh bạch. SEC mất tám tháng để thực hiện việc điều tra của riêng họ, vào tháng tư năm 2007, họ tuyên bố sẽ không truy tố Apple “một phần vì sự hợp tác nhanh chóng và nhiệt tình của họ trong cuộc điều tra của ủy ban và việc tự kiểm điểm nhanh chóng [của họ].” Mặc dù SEC phát hiện ra Jobs biết việc ghi lùi ngày quyền chọn cổ phiếu, nhưng họ không buộc tội ông vì ông “không biết về sự liên can kế toán.” SEC đệ trình đơn kiện chống lại cựu giám đốc tài chính của Apple, Fred Anderson, lúc bấy giờ là thành viên của ban giám đốc và Nancy Heinen, người đứng đầu ban luật sư. Anderson, một đại úy Không quân về hưu với chiếc cằm vuông, là người chính trực sâu sắc, một nhân vật thông thái và điềm tĩnh tại Apple, ông nổi tiếng về khả năng kiểm soát các cơn thịnh nộ của Jobs, ông bị SEC gọi ra hầu tòa chỉ vì “sự cẩu thả” liên quan đến giấy tờ trong một vụ chuyển nhượng (không phải vụ chuyển nhượng cho Jobs) và SEC đã cho phép ông tiếp tục ở lại ban điều hành. Tuy nhiên, cuối cùng ông quyết định từ chức khỏi ban giám đốc Apple.

Anderson thought he had been made a scapegoat. When he settled with the SEC, his lawyer issued a statement that cast some of the blame on Jobs. It said that Anderson had “cautioned Mr. Jobs that the executive team grant would have to be priced on the date of the actual board agreement or there could be an accounting charge,” and that Jobs replied “that the board had given its prior approval.”

Anderson nghĩ ông đã tạo nên một nhóm giơ đầu chịu báng. Khi ông hòa giải với SEC, luật sư của ông đưa ra một bản tuyên bố cho rằng Jobs cũng có lỗi. Họ nói Anderson đã báo trước với Jobs việc chuyển nhượng của ban lãnh đạo sẽ được định giá vào ngày mà ban giám đốc thực sự ký nếu không sẽ xuất hiện trách nhiệm tài chính,” và Jobs trả lời “ban giám đốc đã đưa ra chấp thuận ưu tiên.”

Heinen, who initially fought the charges against her, ended up settling and paying a $2.2 million fine, without admitting or denying any wrongdoing. Likewise the company itself settled a shareholders’ lawsuit by agreeing to pay $14 million in damages.

Heinen, người đầu tiên biết được mình phải chịu trách nhiệm, quyết định hòa giải và trả 2,2 triệu đô-la tiền phạt nhưng không thừa nhận hay phủ nhận bất kỳ lỗi lầm nào. Trong khi đó công ty lại hòa giải với một vụ kiện với cổ đông bằng cách đồng ý trả 14 triệu đô-la thiệt hại.

“Rarely have so many avoidable problems been created by one man’s obsession with his own image,” Joe Nocera wrote in the New York Times. “Then again, this is Steve Jobs we’re talking about.” Contemptuous of rules and regulations, he created a climate that made it hard for someone like Heinen to buck his wishes. At times, great creativity occurred. But people around him could pay a price. On compensation issues in particular, the difficulty of defying his whims drove some good people to make some bad mistakes.

“Hiếm khi nhiều vấn đề có thể tránh khỏi lại được tạo ra vì một người quá ám ảnh bởi hình tượng của mình như thế,” Joe Nocera viết trên tờ New York Times. “Một lần nữa, chúng tôi đang nói đến Steve Jobs.” Với những nguyên tắc và luật lệ ngạo mạn của mình, Jobs đã tạo ra một môi trường khó khăn cho những người như Heinen thực hiện yêu cầu của ông. Đôi khi, sự sáng tạo vĩ đại xuất hiện. Nhưng những người xung quanh ông phải trả giá. Chỉ nói riêng về những vấn đề đền bù, sự khó khăn trong việc bất chấp ý tưởng của ông đã khiến những người tốt phải ra những quyết định tồi.

The compensation issue in some ways echoed Jobs’s parking quirk. He refused such trappings as having a “Reserved for CEO” spot, but he assumed for himself the right to park in the handicapped spaces. He wanted to be seen (both by himself and by others) as someone willing to work for $1 a year, but he also wanted to have huge stock grants bestowed upon him. Jangling inside him were the contradictions of a counterculture rebel turned business entrepreneur, someone who wanted to believe that he had turned on and tuned in without having sold out and cashed in.

Vấn đề bồi thường có đôi nét giống với thói đậu xe của Jobs, ông từ chối những ưu đãi như chỗ “Đậu xe riêng cho CEO”, nhưng ông lại lờ đi và cho rằng bản thân mình có quyền đậu vào chỗ người khuyết tật. ông muốn được nhìn nhận (bởi chính ông và những người khác) như một người sẵn lòng làm việc vì một đô-la một năm, nhưng ông vẫn muốn những gói cổ phiếu khổng lồ dành riêng cho mình. Sự xung đột bên trong ông là những mâu thuẫn của một người xuất thân từ phong trào phản văn hóa nổi loạn trở thành một nhà doanh nghiệp, một người luôn muốn tin rằng ông ta có thể tự do, tùy hứng mà không bị bán đứng và lợi dụng.



CHAPTER THIRTY-FIVE

Chương 35

At fifty (in center), with Eve and Laurene (behind cake), Eddy Cue (by window), John Lasseter (with camera), and Lee Clow (with beard)

Jobs ở tuổi 50 (trung tâm bức ảnh), với Eve và Laurene (đằng sau chiếc bánh), Eddy Cue (cạnh cửa sổ), John Lasseter (đang cầm máy quay) và Lee Clow (người có râu)



ROUND ONE

Memento Mori

Cancer

VÒNG MỘT

Memento Mori

Ung thư

Jobs would later speculate that his cancer was caused by the grueling year that he spent, starting in 1997, running both Apple and Pixar. As he drove back and forth, he had developed kidney stones and other ailments, and he would come home so exhausted that he could barely speak. “That’s probably when this cancer started growing, because my immune system was pretty weak at that time,” he said.

Sau này, Jobs tự biện bạch rằng bệnh ung thư phát sinh vào khoảng thời gian làm việc kiệt sức của ông, bắt đầu từ năm 1997, khi điều hành cả Apple và Pixar. Trong gian đoạn đi đi về về giữa hai bên, ông đã phát bệnh sỏi thận và vài bệnh vặt khác, ông về nhà trong trạng thái kiệt sức đến độ không thể cất tiếng. “Có lẽ đó là lúc căn bệnh ung thư bắt đầu âm thầm tiến triển, vì khi đó hệ thống miễn dịch của tôi quá yếu,” ông nói.

There is no evidence that exhaustion or a weak immune system causes cancer. However, his kidney problems did indirectly lead to the detection of his cancer.

Không bằng chứng khoa học nào cho thấy sự kiệt sức hay hệ thống miễn dịch yếu ớt sẽ gây ra ung thư. Tuy nhiên, những vấn đề về thận của Jobs đã gián tiếp dẫn đến việc phát hiện ung thư.

In October 2003 he happened to run into the urologist who had treated him, and she asked him to get a CAT scan of his kidneys and ureter. It had been five years since his last scan. The new scan revealed nothing wrong with his kidneys, but it did show a shadow on his pancreas, so she asked him to schedule a pancreatic study. He didn’t. As usual, he was good at willfully ignoring inputs that he did not want to process. But she persisted. “Steve, this is really important,” she said a few days later. “You need to do this.” Her tone of voice was urgent enough that he complied. He went in early one morning, and after studying the scan, the doctors met with him to deliver the bad news that it was a tumor. One of them even suggested that he should make sure his affairs were in order, a polite way of saying that he might have only months to live. That evening they performed a biopsy by sticking an endoscope down his throat and into his intestines so they could put a needle into his pancreas and get a few cells from the tumor.

Vào tháng mười năm 2003, ông tình cờ gặp một bác sỹ tiết niệu từng chữa trị cho ông trước đó, bà yêu cầu Jobs đi chụp cắt lớp thận và niệu quản. Lần cuối ông chụp đã cách đấy đã năm năm. Lần chụp mới cho thấy thận của Jobs không có vấn đề gì, nhưng lá lách xuất hiện một dấu vết, vì vậy bà yêu cầu ông sắp xếp thời gian kiểm tra lá lách, ông đã không đi. Như thường lệ, ông rất giỏi trong việc cố ý phớt lờ những thông tin mà ông không muốn xử lý. Nhưng bà vẫn kiên trì. Vài ngày sau, bà nói “Steve, điều này thật sự rất quan trọng. Ông phải kiểm tra.” Giọng điệu khẩn cấp của bà khiến ông chấp nhận, ông đến khám vào sáng sớm, sau khi nghiên cứu bản chụp, các bác sỹ gặp ông để thông báo tin xấu rằng đó là một khối u. Một trong số họ còn đề nghị ông nên thu xếp công việc cẩn thận, như một cách tử tế để thông báo rằng ông có lẽ chỉ còn sống được vài tháng. Tối đó, họ tiến hành sinh thiết bằng cách đưa dụng cụ nội soi xuống cổ họng, qua đường ruột, rồi đâm một chiếc kim vào lá lách của ông và lấy một vài tế bào khối u.

Powell remembers her husband’s doctors tearing up with joy. It turned out to be an islet cell or pancreatic neuroendocrine tumor, which is rare but slower growing and thus more likely to be treated successfully. He was lucky that it was detected so early—as the by-product of a routine kidney screening—and thus could be surgically removed before it had definitely spread.

Powell còn nhớ các bác sỹ của chồng cô đã rất vui mừng. Hóa ra đó chỉ là tế bào đảo hoặc các u tụy nội tiết thần kinh hiếm khi xuất hiện nhưng phát triển chậm vì thế có thể chữa trị thành công, ông may mắn vì phát hiện bệnh sớm - nhờ vào lợi ích phụ của quy trình kiểm tra thận - vì thế có thể phẫu thuật cắt bỏ trước khi nó lan rộng.

One of his first calls was to Larry Brilliant, whom he first met at the ashram in India. “Do you still believe in God?” Jobs asked him. Brilliant said that he did, and they discussed the many paths to God that had been taught by the Hindu guru Neem Karoli Baba. Then Brilliant asked Jobs what was wrong. “I have cancer,” Jobs replied.

Một trong những cuộc gọi đầu tiên của ông là cho Larry Brilliant, lần đầu tiên họ gặp nhau là tại một ngôi đền ashram ở Ấn Độ. “Ông còn tin vào Thượng Đế không?” Jobs hỏi ông. Brillant trả lời có, ròi họ thảo luận về những con đường đến với Thượng Đế do trưởng lão người Hindu, Neem Karoli Baba, truyền dạy. Brillant hỏi Jobs có vấn đề gì. “Tôi mắc bệnh ung thư,” Jobs đáp.

Art Levinson, who was on Apple’s board, was chairing the board meeting of his own company, Genentech, when his cell phone rang and Jobs’s name appeared on the screen. As soon as there was a break, Levinson called him back and heard the news of the tumor. He had a background in cancer biology, and his firm made cancer treatment drugs, so he became an advisor. So did Andy Grove of Intel, who had fought and beaten prostate cancer. Jobs called him that Sunday, and he drove right over to Jobs’s house and stayed for two hours.

Khi Art Levinson, một thành viên ban giám đốc Apple, đang chủ trì cuộc gặp giữa ban giám đốc và công ty riêng của mình, Genentech, thì điện thoại di động của ông reo lên và tên của Jobs xuất hiện trên màn hình. Ngay khi có thời gian giải lao, Levinson gọi lại cho Jobs và được biết tin về khối u. Levinson có kinh nghiệm trong lĩnh vực sinh học ung thư, đồng thời công ty ông còn sản xuất thuốc chữa ung thư, vì thế ông trở thành một nhà cố vấn. Andy Grove ở Intel cũng vậy, ông đã được phát hiện và chữa khỏi ung thư tiền liệt tuyến. Thứ bảy đó Jobs gọi điện cho ông, Grove lái xe ngay đến nhà Jobs và ở lại hai giờ đồng hồ.

To the horror of his friends and wife, Jobs decided not to have surgery to remove the tumor, which was the only accepted medical approach. “I really didn’t want them to open up my body, so I tried to see if a few other things would work,” he told me years later with a hint of regret. Specifically, he kept to a strict vegan diet, with large quantities of fresh carrot and fruit juices. To that regimen he added acupuncture, a variety of herbal remedies, and occasionally a few other treatments he found on the Internet or by consulting people around the country, including a psychic. For a while he was under the sway of a doctor who operated a natural healing clinic in southern California that stressed the use of organic herbs, juice fasts, frequent bowel cleansings, hydrotherapy, and the expression of all negative feelings.

Jobs quyết định không phẫu thuật cắt bỏ khối u, cách chữa trị duy nhất được chấp nhận về mặt y học, điều này khiến bạn bè và vợ ông hết sức lo lắng. “Tôi thật sự không muốn họ mổ phanh cơ thể mình, vì thế tôi cố gắng tìm những giải pháp khác,” vài năm sau ông nói với tôi, trong giọng nói có thoáng chút tiếc nuối. Đặc biệt, ông vẫn giữ chế độ ăn chay nghiêm ngặt, nhiều cà rốt sống và nước trái cây. Ngoài chế độ dinh dưỡng đó, ông còn tiến hành châm cứu, một vài liệu pháp thảo dược, đôi khi là một số phương pháp khác mà ông tìm được trên internet hoặc do một vài người trong nước tư vấn, bao gồm cả thầy lên đồng. Có một thời gian ông bị ảnh hưởng từ một bác sỹ điều hành phòng chữa bệnh theo liệu pháp tự nhiên ở miền nam California, vị bác sỹ này đề cao công dụng của dược thảo hữu cơ, chế độ dinh dưỡng chỉ gồm trái cây và nước trái cây, việc tẩy ruột thường xuyên, thủy liệu pháp và phương pháp diễn đạt tất cả cảm giác tiêu cực.

“The big thing was that he really was not ready to open his body,” Powell recalled. “It’s hard to push someone to do that.” She did try, however. “The body exists to serve the spirit,” she argued. His friends repeatedly urged him to have surgery and chemotherapy. “Steve talked to me when he was trying to cure himself by eating horseshit and horseshit roots, and I told him he was crazy,” Grove recalled. Levinson said that he “pleaded every day” with Jobs and found it “enormously frustrating that I just couldn’t connect with him.” The fights almost ruined their friendship. “That’s not how cancer works,” Levinson insisted when Jobs discussed his diet treatments. “You cannot solve this without surgery and blasting it with toxic chemicals.” Even the diet doctor Dean Ornish, a pioneer in alternative and nutritional methods of treating diseases, took a long walk with Jobs and insisted that sometimes traditional methods were the right option. “You really need surgery,” Ornish told him. Jobs’s obstinacy lasted for nine months after his October 2003 diagnosis. Part of it was the product of the dark side of his reality distortion field. “I think Steve has such a strong desire for the world to be a certain way that he wills it to be that way,” Levinson speculated. “Sometimes it doesn’t work. Reality is unforgiving.” The flip side of his wondrous ability to focus was his fearsome willingness to filter out things he did not wish to deal with. This led to many of his great breakthroughs, but it could also backfire. “He has that ability to ignore stuff he doesn’t want to confront,” Powell explained. “It’s just the way he’s wired.” Whether it involved personal topics relating to his family and marriage, or professional issues relating to engineering or business challenges, or health and cancer issues, Jobs sometimes simply didn’t engage.

“Vấn đề lớn là ông ấy thật sự không sẵn sàng cho ca phẫu thuật,” Powell nhớ lại. “Rất khó bắt buộc một người phải phẫu thuật.” Tuy nhiên, bà vẫn thử. “Cơ thể tồn tại để phục vụ linh hồn,” bà biện luận. Bạn bè không ngừng thúc giục ông tiến hành phẫu thuật và hóa trị. “Steve nói với tôi rằng ông đang cố tự chữa bằng cách ăn những thứ lá lẩu vớ vẩn nào đó, tôi nói ông điên rồi,” Grove hòi tưởng. Levinson kể rằng ông “mỗi ngày đều năn nỉ” Jobs và vô cùng chán nản vì không thể liên lạc được với Jobs. Những cuộc tranh cãi gần như đã hủy hoại tình bạn giữa họ. “Đó không phải cách thức để điều trị ung thư,” Levinson nhấn mạnh khi Jobs bàn luận về các phương pháp ăn kiêng của mình. “Ông không thể giải quyết vấn đề này nếu không phẫu thuật và tiêu diệt nó bằng hóa chất.” Thậm chí bác sỹ dinh dưỡng Dean Ornish, người tiên phong trong những phương pháp chữa bệnh dinh dưỡng thay thế, cùng Jobs đi bộ một chặn đường dài và nhấn mạnh rằng đôi khi những biện pháp truyền thống vẫn là lựa chọn đúng đắn. “ông vẫn phải phẫu thuật,” Ornish nói với Jobs.

Sau chuẩn đoán tháng mười năm 2003, tính ương ngạnh bướng bỉnh của Jobs kéo dài được chín tháng. Một phần là vì mặt trái của khả năng bóp méo sự thật của ông. “Tôi nghĩ Steve luôn cho rằng thế giới sẽ vận hành theo cách mà ông ấy mong muốn,” Levinson nhận xét. “Đôi khi điều này không hiệu quả. Thực tế không biết khoan dung.” Mỉa mai thay, khả năng tập trung tuyệt vời cũng giúp ông thẳng thừng loại bỏ những thứ mình không muốn giải quyết. Điều này đã tạo ra nhiều cú đột phá vĩ đại của ông, nhưng nó cũng mang lại kết quả trái ngược. “Ông có khả năng phớt lờ những vấn đề không muốn đối mặt,” Powell giải thích. “Đó chỉ là cách ông ấy giải quyết vấn đề.” Dù là việc tư liên quan đến gia đình, hôn nhân hay việc công liên quan đến kỹ thuật hoặc thách thức kinh doanh, hay sức khỏe và bệnh ung thư, thỉnh thoảng Jobs chỉ đơn giản không đoái hoài gì đến chúng.

In the past he had been rewarded for what his wife called his “magical thinking”—his assumption that he could will things to be as he wanted. But cancer does not work that way. Powell enlisted everyone close to him, including his sister Mona Simpson, to try to bring him around. In July 2004 a CAT scan showed that the tumor had grown and possibly spread. It forced him to face reality. Jobs underwent surgery on Saturday, July 31, 2004, at Stanford University Medical Center.

Trong quá khứ, ông đã được tưởng thưởng vì thứ mà vợ ông gọi là “suy nghĩ thần kỳ”- ông giả định rằng mình có thể bắt buộc mọi thứ diễn ra theo ý muốn. Nhưng ung thư không giống như thế. Powell lập danh sách tất cả những người thân cận với ông, bao gồm cả cô em gái, Mona Simpson, nhằm cố gắng thuyết phục ông. Vào tháng bảy năm 2004, một lần chụp cắt lớp cho thấy khối u đã phát triển và có thể lan rộng. Và kết quả xấu này đã buộc ông phải đối mặt với thực tế.

Ca phẫu thuật của Jobs được tiến hành vào ngày thứ bảy, ngày 31 tháng bảy năm 2004 tại Trung tâm Y tế Đại học standford.

He did not have a full “Whipple procedure,” which removes a large part of the stomach and intestine as well as the pancreas. The doctors considered it, but decided instead on a less radical approach, a modified Whipple that removed only part of the pancreas. Jobs sent employees an email the next day, using his PowerBook hooked up to an AirPort Express in his hospital room, announcing his surgery. He assured them that the type of pancreatic cancer he had “represents about 1% of the total cases of pancreatic cancer diagnosed each year, and can be cured by surgical removal if diagnosed in time (mine was).” He said he would not require chemotherapy or radiation treatment, and he planned to return to work in September. “While I’m out, I’ve asked Tim Cook to be responsible for Apple’s day to day operations, so we shouldn’t miss a beat. I’m sure I’ll be calling some of you way too much in August, and I look forward to seeing you in September.”

Ông đã không trải qua “quy trình phẫu thuật Whipple(34) “ hoàn chỉnh, vốn phải cắt bỏ phần lớn dạ dày, ruột và lá lách. Các bác sỹ nghiên cứu vấn đề, nhưng họ quyết định thay thế bằng một biện pháp ít tổn thương hơn, một quy trình Whipple có sửa đổi, chỉ cắt bỏ một phần lá lách. Ngay hôm sau, Jobs đã gửi email cho nhân viên bằng chiếc PowerBook nối với một bộ Airport Express trong phòng bệnh của mình, ông cam đoan với họ rằng loại ung thư tuyến tụy mà ông mắc phải “chiếm khoảng 1% tổng số chẩn đoán ung thư tuyến tụy mỗi năm, và có thể chữa trị bằng phẫu thuật cắt bỏ nếu chẩn đoán kịp thời (đó là trường hợp của tôi).” ông nói mình sẽ không yêu cầu hóa trị hoặc xạ trị và lên kế hoạch trở lại làm việc vào tháng chín. “Khi tôi vắng mặt, tôi đã nhờ Tim Cook chịu trách nhiệm về việc điều hành mỗi ngày ở Apple, vì thế chúng ta sẽ không lỡ một nhịp nào. Tôi chắc chắn sẽ gọi thật nhiều cho vài người trong số các bạn vào tháng tám và tôi trông mong gặp lại mọi người vào tháng chín.”

One side effect of the operation would become a problem for Jobs because of his obsessive diets and the weird routines of purging and fasting that he had practiced since he was a teenager. Because the pancreas provides the enzymes that allow the stomach to digest food and absorb nutrients, removing part of the organ makes it hard to get enough protein. Patients are advised to make sure that they eat frequent meals and maintain a nutritious diet, with a wide variety of meat and fish proteins as well as full-fat milk products. Jobs had never done this, and he never would.

Một tác dụng phụ của cuộc phẫu thuật trở thành vấn đề cho Jobs vì nỗi ám ảnh ăn kiêng, thói quen tẩy ruột và ăn chay kỳ lạ từ khi còn là thiếu niên của ông. Vì lá lách cung cấp enzim giúp dạ dày tiêu hóa thức ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng, nên khi cắt bỏ một phần bộ phận này sẽ khiến việc hấp thu đạm gặp khó khăn. Bệnh nhân nên ăn uống điều độ và duy trì chế độ ăn dinh dưỡng, với nhiều loại đạm thịt và đạm cá cũng như các sản phẩm sữa nguyên kem. Jobs chưa từng thực hiện việc này và sẽ không bao giờ muốn làm thế.

He stayed in the hospital for two weeks and then struggled to regain his strength. “I remember coming back and sitting in that rocking chair,” he told me, pointing to one in his living room. “I didn’t have the energy to walk. It took me a week before I could walk around the block. I pushed myself to walk to the gardens a few blocks away, then further, and within six months I had my energy almost back.”

Ông lưu lại bệnh viện hai tuần đồng thời cố gắng lấy lại sức khỏe. “Tôi nhớ cảm giác về nhà và ngồi lên chiếc ghế bập bênh,” ông kể với tôi và chỉ vào chiếc ghế trong phòng khách của ông. “Tôi không đủ sức bước đi. Phải mất một tuần tôi mới có thể đi vòng quanh tòa nhà. Tôi buộc mình phải đi đến khu vườn cách xa vài tòa nhà, rồi đi xa hơn, trong vòng sáu tháng năng lượng của tôi gần như phục hồi.”

Unfortunately the cancer had spread. During the operation the doctors found three liver metastases. Had they operated nine months earlier, they might have caught it before it spread, though they would never know for sure. Jobs began chemotherapy treatments, which further complicated his eating challenges.

Tiếc thay ung thư đã di căn. Trong cuộc phẫu thuật, các bác sỹ phát hiện ra ba chỗ di căn trên gan. Nếu họ phẫu thuật sớm hơn chín tháng, có lẽ họ đã ngăn chặn trước khi nó lan rộng, mặc dù họ cũng không chắc. Jobs bắt đầu tiếp nhận hóa trị, việc này khiến thử thách ăn uống của ông càng phức tạp hơn.

The Stanford Commencement

Jobs kept his continuing battle with the cancer secret—he told everyone that he had been “cured”—just as he had kept quiet about his diagnosis in October 2003. Such secrecy was not surprising; it was part of his nature. What was more surprising was his decision to speak very personally and publicly about his cancer diagnosis. Although he rarely gave speeches other than his staged product demonstrations, he accepted Stanford’s invitation to give its June 2005 commencement address. He was in a reflective mood after his health scare and turning fifty.

Lễ phát bằng tốt nghiệp trường standford

Jobs tiếp tục đấu tranh với bí mật ung thư - ông nói với mọi người rằng mình đã được chữa khỏi - cũng như khi giữ im lặng về chẩn đoán của ông vào tháng mười năm 2003. Bí mật như thế này không có gì đáng ngạc nhiên, đó là một phần bản chất của ông. Điều đáng kinh ngạc hơn chính là quyết định tâm sự riêng và công khai về việc chẩn đoán ung thư của ông. Mặc dù ông hiếm khi diễn thuyết, ngoại trừ những bài giới thiệu sản phẩm trên sân khấu, ông đã nhận lời mời phát biểu tại lễ phát bằng tốt nghiệp của trường standford vào tháng sáu năm 2005. Ông đang trong tâm trạng suy tư sau vấn đề sức khỏe và việc bước sang tuổi năm mươi.

For help with the speech, he called the brilliant scriptwriter Aaron Sorkin (A Few Good Men, The West Wing). Jobs sent him some thoughts. “That was in February, and I heard nothing, so I ping him again in April, and he says, ‘Oh, yeah,’ and I send him a few more thoughts,” Jobs recounted. “I finally get him on the phone, and he keeps saying ‘Yeah,’ but finally it’s the beginning of June, and he never sent me anything.” Jobs got panicky. He had always written his own presentations, but he had never done a commencement address. One night he sat down and wrote the speech himself, with no help other than bouncing ideas off his wife. As a result, it turned out to be a very intimate and simple talk, with the unadorned and personal feel of a perfect Steve Jobs product.

Ông gọi điện cho nhà biên kịch xuất sắc Aaron Sorkin (tác giả của những vở kịch nổi tiếng như: Vài người tốt - A Few Good Men, Cánh tây - The West Wing) nhờ giúp đỡ về bài diễn văn. Jobs gửi cho ông ấy một vài ý tưởng. “Đó là vào tháng hai và tôi không nhận được phản hồi nào cả, vì thế tôi gọi lại cho ông ấy vào tháng tư, ông ấy nói “ồ, được,” và tôi gửi cho ông một vài gợi ý,” Jobs thuật lại. “Cuối cùng tôi cũng tiếp chuyện được với ông ấy trên điện thoại, và ông ấy luôn miệng nói, “Được nhưng cuối cùng đã là đầu tháng sáu mà ông ấy chẳng hề gửi cho tôi chút gì.” Jobs hoang mang, ông vẫn luôn tự viết những bài thuyết trình sản phẩm nhưng ông chưa bao giờ soạn diễn văn tốt nghiệp. Một hôm, ông ngồi xuống và tự viết diễn văn, không có sự giúp đỡ nào khác ngoại trừ một vài ý tưởng của vợ ông. Kết quả, nó trở thành bài nói chuyện đơn giản và rất thân tình, mang dấu ấn mộc mạc và cá nhân như một sản phẩm hoàn hảo của Steve Jobs.

Alex Haley once said that the best way to begin a speech is “Let me tell you a story.” Nobody is eager for a lecture, but everybody loves a story. And that was the approach Jobs chose. “Today, I want to tell you three stories from my life,” he began. “That’s it. No big deal. Just three stories.” The first was about dropping out of Reed College. “I could stop taking the required classes that didn’t interest me, and begin dropping in on the ones that looked far more interesting.” The second was about how getting fired from Apple turned out to be good for him. “The heaviness of being successful was replaced by the lightness of being a beginner again, less sure about everything.” The students were unusually attentive, despite a plane circling overhead with a banner that exhorted “recycle all e-waste,” and it was his third tale that enthralled them. It was about being diagnosed with cancer and the awareness it brought:

Alex Haley đã từng nói cách tốt nhất để mở đầu diễn thuyết là “Hãy để tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện.” Không ai hào hứng với bài giảng, nhưng mọi người đều thích câu chuyện. Và đó là cách Jobs đã chọn. “Hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn ba câu chuyện trong đời tôi,” ông bắt đầu. “Chỉ thế thôi. Không có gì to tát. Chỉ ba câu chuyện.” Câu chuyện đầu tiên là việc bỏ học trường Reed College. “Tôi có thể không cần học những lớp mà tôi không hứng thú và bắt đầu tập trung vào những thứ hấp dẫn hơn nhiều.” Chuyện thứ hai kể rằng việc bị sa thải khỏi Apple lại là cơ may của ông. “Gánh nặng thành công được thay bằng sự nhẹ nhõm khi lại trở thành người mới bắt đầu, không biết gì về mọi thứ.” Các sinh viên tập trung cao độ, mặc cho chiếc máy bay lượn lờ trên đầu với băng rôn hô hào “tái chế tất cả rác điện tử,” và chính câu chuyện thứ ba đã khiến họ mê mẩn. Đó là việc được chẩn đoán mắc ung thư và những nhận thức do trải nghiệm đó mang lại:

Remembering that I’ll be dead soon is the most important tool I’ve ever encountered to help me make the big choices in life. Because almost everything—all external expectations, all pride, all fear of embarrassment or failure—these things just fall away in the face of death, leaving only what is truly important. Remembering that you are going to die is the best way I know to avoid the trap of thinking you have something to lose. You are already naked. There is no reason not to follow your heart.

Việc nhớ rằng mình sắp chết là công cụ quan trọng nhất mà tôi từng sở hữu để giúp bản thân ra những quyết định lớn trong đời. Vì hầu hết mọi thứ - mọi kỳ vọng bên ngoài, mọi sự kiêu hãnh, mọi nỗi sợ xấu hổ hoặc thất bại - đều gục ngã khi đối mặt với cái chết, chỉ còn lại những thứ thật sự quan trọng. Việc nhớ rằng mình sắp chết là cách tốt nhất tôi từng biết để tránh rơi vào chiếc bẫy suy nghĩ rằng bạn sẽ đánh mất thứ gì đó. Bạn đã trần trụi. Không còn lý do nào ngăn cản bạn lắng nghe con tim mình.

The artful minimalism of the speech gave it simplicity, purity, and charm. Search where you will, from anthologies to YouTube, and you won’t find a better commencement address. Others may have been more important, such as George Marshall’s at Harvard in 1947 announcing a plan to rebuild Europe, but none has had more grace.

Sự tinh tế của bài diễn văn khiến nó trở nên đơn giản, thuần khiết và duyên dáng. Hãy tra cứu ở mọi nơi, từ các tuyển tập đến Youtube, bạn sẽ không tìm thấy một bài diễn văn tốt nghiệp nào hay hơn thế. Những bài khác có thể quan trọng hơn, như bài của George Marshall tại Đại học Harvard vào năm 1947 tuyên bố kế hoạch tái xây dựng châu Âu, nhưng không bài diễn văn nào có thể hấp dẫn hơn.

A Lion at Fifty

For his thirtieth and fortieth birthdays, Jobs had celebrated with the stars of Silicon Valley and other assorted celebrities. But when he turned fifty in 2005, after coming back from his cancer surgery, the surprise party that his wife arranged featured mainly his closest friends and professional colleagues. It was at the comfortable San Francisco home of some friends, and the great chef Alice Waters prepared salmon from Scotland along with couscous and a variety of garden-raised vegetables. “It was beautifully warm and intimate, with everyone and the kids all able to sit in one room,” Waters recalled. The entertainment was comedy improvisation done by the cast of Whose Line Is It Anyway? Jobs’s close friend Mike Slade was there, along with colleagues from Apple and Pixar, including Lasseter, Cook, Schiller, Clow, Rubinstein, and Tevanian.

Mãnh sư tuổi năm mươi

Jobs kỷ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi và bốn mươi của mình cùng với các ngôi sao của Thung lũng Silicon và những nhân vật nổi tiếng khác. Nhưng khi bước sang tuổi năm mươi vào năm 2005, sau khi trở về từ ca phẫu thuật ung thư, trong buổi tiệc bất ngờ mà vợ ông tổ chức, chỉ có mặt những người bạn và cộng sự thân nhất. Buổi tiệc diễn ra tại ngôi nhà ấm cúng tại San Francisco cùng vài người bạn và vị đầu bếp tài ba Alice Waters chuẩn bị món cá hồi từ Scotland cùng với món couscous (một món ăn châu Phi có bột mì hầm với thịt) và những rau củ tự trồng.

“Nó thật ấm áp và thân tình, mọi người và bọn trẻ có thể ngồi chung trong một phòng,” Waters nhớ lại. Giải trí là bộ phim hài ngẫu hứng Whose Line Is It Anyway? Mike Slade, bạn thân của Jobs, cũng góp mặt cùng với các đồng nghiệp ở Apple và Pixar, gồm Lasseter, Cook, Schiller, Clow, Rubinstein và Tevanian.

Cook had done a good job running the company during Jobs’s absence. He kept Apple’s temperamental actors performing well, and he avoided stepping into the limelight. Jobs liked strong personalities, up to a point, but he had never truly empowered a deputy or shared the stage. It was hard to be his understudy. You were damned if you shone, and damned if you didn’t. Cook had managed to navigate those shoals. He was calm and decisive when in command, but he didn’t seek any notice or acclaim for himself. “Some people resent the fact that Steve gets credit for everything, but I’ve never given a rat’s ass about that,” said Cook. “Frankly speaking, I’d prefer my name never be in the paper.” When Jobs returned from his medical leave, Cook resumed his role as the person who kept the moving parts at Apple tightly meshed and remained unfazed by Jobs’s tantrums. “What I learned about Steve was that people mistook some of his comments as ranting or negativism, but it was really just the way he showed passion. So that’s how I processed it, and I never took issues personally.” In many ways he was Jobs’s mirror image: unflappable, steady in his moods, and (as the thesaurus in the NeXT would have noted) saturnine rather than mercurial. “I’m a good negotiator, but he’s probably better than me because he’s a cool customer,” Jobs later said. After adding a bit more praise, he quietly added a reservation, one that was serious but rarely spoken: “But Tim’s not a product person, per se.” In the fall of 2005, after returning from his medical leave, Jobs tapped Cook to become Apple’s chief operating officer. They were flying together to Japan. Jobs didn’t really ask Cook; he simply turned to him and said, “I’ve decided to make you COO.” Around that time, Jobs’s old friends Jon Rubinstein and Avie Tevanian, the hardware and software lieutenants who had been recruited during the 1997 restoration, decided to leave. In Tevanian’s case, he had made a lot of money and was ready to quit working. “Avie is a brilliant guy and a nice guy, much more grounded than Ruby and doesn’t carry the big ego,” said Jobs. “It was a huge loss for us when Avie left. He’s a one-of-a-kind person—a genius.” Rubinstein’s case was a little more contentious. He was upset by Cook’s ascendency and frazzled after working for nine years under Jobs. Their shouting matches became more frequent. There was also a substantive issue: Rubinstein was repeatedly clashing with Jony Ive, who used to work for him and now reported directly to Jobs. Ive was always pushing the envelope with designs that dazzled but were difficult to engineer. It was Rubinstein’s job to get the hardware built in a practical way, so he often balked. He was by nature cautious. “In the end, Ruby’s from HP,” said Jobs. “And he never delved deep, he wasn’t aggressive.”

Cook đã hoàn thành tốt nhiệm vụ điều hành công ty khi Jobs vắng mặt. ông đảm bảo các diễn viên đỏng đảnh của Apple luôn mang đến màn trình diễn tốt đẹp, đồng thời ông cũng tránh lộ diện trước ánh đèn sân khấu, ở một chừng mực nào đó, Jobs thích những cá tính mạnh, nhưng ông không bao giờ thật sự trao quyền cho người phó hoặc chia sẻ công việc. Rất khó để trở thành người dự bị cho ông. Bạn sẽ bị gièm pha nếu tỏa sáng và bị chê trách nếu thất bại. Cook đã cố gắng lèo lái đám đông này. ông bình tĩnh và quyết đoán khi chỉ huy nhưng lại không đòi hỏi được nhìn nhận hoặc ca ngợi. “Vài người bực tức vì Steve luôn nhận được lời khen cho mọi thứ, nhưng tôi chưa bao giờ đếm xỉa đến việc đó,” Cook nói. “Nói trắng ra, tôi thà không lên báo.” Khi Jobs trở về sau kỳ nghỉ bệnh, Cook vẫn giữ vai trò là người giữ vững sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận ở Apple và duy trì thái độ bình tĩnh trước những cơn thịnh nộ của Jobs. “Điều tôi biết về Steve là mọi người hiểu lầm rằng một vài lời nhận xét của ông ấy là ngạo mạn hoặc tiêu cực, nhưng thật ra đó chỉ là cách ông thể hiện đam mê của mình. Đó là cách tôi nghĩ về những lời nhận xét, tôi không bao giờ cảm thấy bị xúc phạm.” về nhiều phương diện, ông là hình ảnh phản chiếu của Jobs: điềm tĩnh, kiên định và (theo như từ điển chuyên đề trong NeXT ghi nhận) tầm ngầm hơn lanh lợi. Sau này, Jobs nói “Tôi là một nhà đàm phán tốt, nhưng có lẽ Cook giỏi hơn tôi vì ông ấy là một khách hàng trầm tĩnh.” Sau khi nói thêm một vài lời tán dương, ông dè dặt nhận xét, “Nhưng về bản chất Tim không phải là một nhà kinh doanh,” một lời đánh giá hiếm hoi nhưng nghiêm túc.

Vào mùa thu năm 2005, trở về sau kỳ nghỉ bệnh, Jobs chọn Cook trở thành giám đốc điều hành Apple. Họ cùng bay đến Nhật. Thực tế Jobs đã không đề nghị với Cook; ông chỉ quay sang Cook và nói: “Tôi quyết định bổ nhiệm ông làm Giám đốc điều hành (COO).” Vào thời điểm đó, những người bạn cũ của Jobs là Jon Rubinstein và Avie Tevanian, hai nhân vật kỳ cựu về phần cứng và phần mềm, được tuyển dụng từ giai đoạn hòi phục 1997, quyết định ra đi. Trong trường hợp của Tevanian, ông đã kiếm bộn tiền và sẵn sàng nghỉ việc. “Avie là một người thông minh và tử tế, nhạy bén hơn Ruby và không có cái tôi quá lớn,” Jobs nói. “Alive ra đi là một tổn thất khổng lò đối với chúng tôi. ông ấy một người rất đặc biệt - một thiên tài.” Trường hợp của Rubinstein lại rắc rối hơn một chút. Ông cảm thấy thất vọng vì uy lực của Cook và kiệt quệ sau chín năm làm việc dưới quyền Jobs. Những cuộc tranh cãi của họ xảy ra thường xuyên hơn. Ngoài ra cũng có một vấn đề trọng yếu khác: Rubinstein liên lục xung đột với Jony Ive, người từng làm việc dưới quyền Rubinstein nhưng hiện nay lại báo cáo trực tiếp với Jobs. Ive luôn vẽ ra những mẫu thiết kế bóng bẩy nhưng lại khó khăn trong việc chế tạo. Công việc của Rubinstein là xây dựng phần cứng theo một cách thiết thực, vì thế ông thường chần chừ. Bản chất của ông là thận trọng. “Xét cho cùng, Ruby cũng đến từ HP,” Jobs nói. “Và ông ấy không bao giờ đào sâu vấn đề, không xông xáo.”

There was, for example, the case of the screws that held the handles on the Power Mac G4. Ive decided that they should have a certain polish and shape. But Rubinstein thought that would be “astronomically” costly and delay the project for weeks, so he vetoed the idea. His job was to deliver products, which meant making trade-offs. Ive viewed that approach as inimical to innovation, so he would go both above him to Jobs and also around him to the midlevel engineers.

Chẳng hạn trong trường hợp những chiếc đinh ốc giữ tay cầm trên máy Power Mac G4. Ive quyết định chúng sẽ có được gọt giũa và đánh bóng. Nhưng Rubinstein cho rằng việc đó sẽ “ngốn”nhiều tiền và trì hoãn dự án vài tuần, vì thế ông bác bỏ ý tưởng này. Công việc của ông là giao sản phẩm, nghĩa là tiến hành giao dịch. Ive xem lối suy nghĩ đó là kẻ thù của sự sáng tạo, vì thế Ive quyết định vượt qua Rubinstein đến gặp Jobs và các kỹ sư cấp trung sau lưng Rubinstein.

“Ruby would say, ‘You can’t do this, it will delay,’ and I would say, ‘I think we can,’” Ive recalled. “And I would know, because I had worked behind his back with the product teams.” In this and other cases, Jobs came down on Ive’s side. At times Ive and Rubinstein got into arguments that almost led to blows. Finally Ive told Jobs, “It’s him or me.” Jobs chose Ive. By that point Rubinstein was ready to leave.

“Ruby sẽ nói, “Anh không thể làm vậy, nó sẽ khiến dự án bị trì hoãn, còn tôi nói, Tôi nghĩ chúng ta làm được,Ive nhớ lại. “Và tôi biết điều đó, vì tôi đã làm việc cùng với nhóm sản xuất sau lưng ông ấy.” Trong trường hợp này và cả những trường hợp khác, Jobs đã đứng về phía Ive. Đôi khi Ive và Rubinstein tham gia vào những cuộc tranh luận quá mức kịch liệt. Cuối cùng Ive nói với Jobs, “Hoặc ông ấy hoặc tôi.” Jobs chọn Ive. Khi đó Rubinstein đã sẵn sàng ra đi.

He and his wife had bought property in Mexico, and he wanted time off to build a home there. He eventually went to work for Palm, which was trying to match Apple’s iPhone. Jobs was so furious that Palm was hiring some of his former employees that he complained to Bono, who was a cofounder of a private equity group, led by the former Apple CFO Fred Anderson, that had bought a controlling stake in Palm. Bono sent Jobs a note back saying, “You should chill out about this. This is like the Beatles ringing up because Herman and the Hermits have taken one of their road crew.” Jobs later admitted that he had overreacted. “The fact that they completely failed salves that wound,” he said.

Ông và vợ đã mua khu đất tại Mexico và ông muốn có thời gian nghỉ ngơi để xây dựng một ngôi nhà ở đó. Cuối cùng ông chuyển sang làm việc cho Palm, một sản phấm cố gắng cạnh tranh với iPhone của Apple. Jobs rất tức giận vì Palm đã thuê vài cựu nhân viên của ông, ông than phiền cùng Bono, một nhà đồng sáng lập của một quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân, do cựu giám đốc tài chính Apple, Fred Anderson, điều hành. Bono sở hữu một khoản tiền vốn kiểm soát ở Palm. Bono gửi một lá thư lại cho Jobs nói, “ông nên phớt lờ chuyện này đi. Chẳng khác nào nhóm Beatles làm ầm lên vì Herman và nhóm Hermits đã lấy đi một trong những người phụ trách thiết bị nhạc của họ. về sau, Jobs thừa nhận mình đã phản ứng thái quá. “Sự thất bại hoàn toàn của họ đã xoa dịu vết thương đó.” ông nói.

Jobs was able to build a new management team that was less contentious and a bit more subdued. Its main players, in addition to Cook and Ive, were Scott Forstall running iPhone software, Phil Schiller in charge of marketing, Bob Mansfield doing Mac hardware, Eddy Cue handling Internet services, and Peter Oppenheimer as the chief financial officer. Even though there was a surface sameness to his top team—all were middle-aged white males—there was a range of styles. Ive was emotional and expressive; Cook was as cool as steel. They all knew they were expected to be deferential to Jobs while also pushing back on his ideas and being willing to argue—a tricky balance to maintain, but each did it well. “I realized very early that if you didn’t voice your opinion, he would mow you down,” said Cook.

Jobs có thể xây dựng một đội ngũ quản lý mới ít bất đồng hơn và nhã nhặn hơn. Những nhân vật chính của nhóm, ngoại trừ Cook và Ive; còn có Scott Forstall vận hành phần mềm iPhone; Phil Schiller đảm trách marketing; Bob Mansfield thực hiện phần cứng máy Mac; Eddy Cue quản lý các dịch vụ Interet và Peter Oppenheimer với vai trò giám đốc tài chính. Mặc dù có một điểm chung nổi bật trong nhóm cấp cao của ông - tất cả đều là những người da trắng trung niên - nhưng mỗi người lại có một phong cách khác nhau. Ive thiên về cảm xúc và biểu cảm; Cook điềm tĩnh, lạnh lùng. Họ đều biết rằng mình phải tôn trọng Jobs nhưng vẫn phải tranh luận về những ý tưởng của ông, thậm chí sẵn sàng cãi vã - một trạng thái cân bằng khó duy trì, nhưng mỗi người đều làm tốt. “Tôi đã nhận ra từ rất sớm rằng nếu bạn không bày tỏ ý kiến, Jobs sẽ hạ gục bạn,” Cook nói.

“He takes contrary positions to create more discussion, because it may lead to a better result. So if you don’t feel comfortable disagreeing, then you’ll never survive.” The key venue for freewheeling discourse was the Monday morning executive team gathering, which started at 9 and went for three or four hours. The focus was always on the future: What should each product do next? What new things should be developed? Jobs used the meeting to enforce a sense of shared mission at Apple. This served to centralize control, which made the company seem as tightly integrated as a good Apple product, and prevented the struggles between divisions that plagued decentralized companies.

“Ông dùng những ý kiến trái ngược nhằm tạo ra nhiều cuộc thảo luận, vì nó sẽ dẫn đến kết quả tốt hơn. Vì thế, nếu bạn cảm thấy không thoải mái khi có suy nghĩ bất đồng, bạn sẽ không thể sống sót.” Dịp chủ yếu để trao đổi tự do là vào mỗi buổi nhóm họp sáng thứ hai của ban lãnh đạo, bắt đầu vào lúc chín giờ và kéo dài khoảng ba hay bốn tiếng đồng hồ. Chủ đề tập trung luôn là tương lai: Mỗi sản phẩm nên làm gì tiếp theo? Nên phát triển sản phẩm mới nào? Jobs sử dụng buổi họp để củng cố ý thức chia sẻ trách nhiệm tại Apple. Điều này phục vụ việc tập trung kiểm soát, nhằm giúp công ty kết hợp chặt chẽ giống như một sản phẩm tốt của Apple, đồng thời ngăn chặn những cuộc đấu tranh giữa các bộ phận đòi hỏi phân quyền thành công ty con.

Jobs also used the meetings to enforce focus. At Robert Friedland’s farm, his job had been to prune the apple trees so that they would stay strong, and that became a metaphor for his pruning at Apple. Instead of encouraging each group to let product lines proliferate based on marketing considerations, or permitting a thousand ideas to bloom, Jobs insisted that Apple focus on just two or three priorities at a time. “There is no one better at turning off the noise that is going on around him,” Cook said. “That allows him to focus on a few things and say no to many things. Few people are really good at that.” In order to institutionalize the lessons that he and his team were learning, Jobs started an in-house center called Apple University. He hired Joel Podolny, who was dean of the Yale School of Management, to compile a series of case studies analyzing important decisions the company had made, including the switch to the Intel microprocessor and the decision to open the Apple Stores. Top executives spent time teaching the cases to new employees, so that the Apple style of decision making would be embedded in the culture.

Jobs cũng sử dụng những buổi họp để củng cố tinh thần tập thể. ở nông trại của Robert Friedland, công việc của Jobs là cắt gọt những cây táo để chúng luôn khỏe mạnh, tại Apple, ông cũng tỉa tót công ty như thế. Thay vì động viên từng nhóm để tăng thêm dòng sản phẩm dựa trên những cân nhắc về tiếp thị, hoặc cho phép phát triển một ngàn ý tưởng, Jobs lại nhấn mạnh rằng Apple chỉ tập trung vào hai hoặc ba sản phẩm ưu tiên trong một lúc. “Không ai giỏi hơn ông ấy trong việc dẹp bỏ mọi nhiễu loạn xung quanh,” Cook nói. “Điều này giúp ông ấy tập trung vào một số thứ quan trọng và đoạn tuyệt với quá nhiều thứ dư thừa. Rất ít người thật sự giỏi về mặt này.” Để thể chế hóa những bài học mà ông và nhóm của ông đang lĩnh hội, Jobs mở một trung tâm nội bộ gọi là Trường đại học Apple. Ông thuê Joel Podolny, chủ nghiệm khoa của trường Quản lý thuộc Đại học Yale, biên soạn một loạt tình huống phân tích những quyết định quan trọng của công ty, bao gồm việc chuyển sang dùng bộ vi xử lý của Intel và quyết định mở chuỗi những cửa hàng Apple. Những nhà điều hành cấp cao sẽ dành thời gian để dạy các tình huống này cho nhân viên mới, vì thế phong cách ra quyết định của Apple sẽ thâm nhập vào văn hóa.

In ancient Rome, when a victorious general paraded through the streets, legend has it that he was sometimes trailed by a servant whose job it was to repeat to him, “Memento mori”: Remember you will die. A reminder of mortality would help the hero keep things in perspective, instill some humility. Jobs’s memento mori had been delivered by his doctors, but it did not instill humility. Instead he roared back after his recovery with even more passion. The illness reminded him that he had nothing to lose, so he should forge ahead full speed. “He came back on a mission,” said Cook. “Even though he was now running a large company, he kept making bold moves that I don’t think anybody else would have done.”

Ở Rome cổ đại, khi một vị tướng khải hoàn trở về và diễu hành trên đường phố, vị anh hùng kể rằng đôi khi phải có một người hầu chuyên theo sát ông chỉ để nhắc nhở, “Memento morỉ: Hãy nhớ ngài sẽ chết. Một lời nhắc về cái chết sẽ giúp người anh hùng luôn nhìn xa trông rộng và bồi đắp tính khiêm tốn. Lời nhắc memento mori của Jobs do các bác sỹ của ông đảm nhận, nhưng nó không bồi đắp tính khiêm tốn trong ông. Thay vào đó, sau khi phục hòi ông trở về với niềm đam mê mạnh mẽ hơn. Bệnh tật nhắc nhở rằng ông chẳng có gì để mất, vì thế ông nên tiến lên hết tốc lực. “ông ấy trở về với một quyết tâm cháy bỏng,” Cook nói. “Mặc dù hiện đang điều hành một công ty lớn, ông ấy vẫn tiếp tục thực hiện những bước đi táo bạo mà tôi nghĩ chưa ai từng thực hiện.”

For a while there was some evidence, or at least hope, that he had tempered his personal style, that facing cancer and turning fifty had caused him to be a bit less brutish when he was upset. “Right after he came back from his operation, he didn’t do the humiliation bit as much,” Tevanian recalled. “If he was displeased, he might scream and get hopping mad and use expletives, but he wouldn’t do it in a way that would totally destroy the person he was talking to. It was just his way to get the person to do a better job.” Tevanian reflected for a moment as he said this, then added a caveat: “Unless he thought someone was really bad and had to go, which happened every once in a while.”

Có một dạo, có vài bằng chứng, hay ít nhất là hy vọng, cho thấy tính cách của ông đã dịu bớt, đối mặt với ung thư và bước sang tuổi năm mươi khiến ông bớt tàn bạo mỗi khi thất vọng. “Sau khi trở về từ ca phẫu thuật, ông ấy không còn sỉ nhục người khác nhiều như trước,” Tevanian nhớ lại. “Nếu ông ấy khó chịu, ông có thể hét lên, nổi cơn tam bành và lớn tiếng khích bác, nhưng cách thức của ông ấy không còn khiến người nghe suy sụp hoàn toàn. Đó chỉ là cách riêng của Jobs để giúp người đó làm việc tốt hơn.” Khi Tevanian kể điều này, ông ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói thêm: “Trừ khi ông ấy nghĩ rằng có người thật sự tệ hại và cần phải ra đi, điều này thỉnh thoảng cũng diễn ra.”

Eventually, however, the rough edges returned. Because most of his colleagues were used to it by then and had learned to cope, what upset them most was when his ire turned on strangers. “Once we went to a Whole Foods market to get a smoothie,” Ive recalled. “And this older woman was making it, and he really got on her about how she was doing it. Then later, he sympathized. ‘She’s an older woman and doesn’t want to be doing this job.’ He didn’t connect the two. He was being a purist in both cases.”

Tuy nhiên, cuối cùng, những cơn thịnh nộ cũng trở lại. Vì hầu hết các cộng sự của ông đã quen với điều này và đã học được cách ứng phó, nhưng điều khiến họ thất vọng nhất là khi sự giận dữ của ông lại đổ lên đầu người xa lạ. “Có lần chúng tôi vào siêu thị Whole Food để mua một ly sinh tố,” Ive nhớ lại. “Một phụ nữ đứng tuổi đang pha chế món đò uống đó, Jobs thật sự khó chịu với cách bà cụ làm việc. Sau đó, ông lại tỏ vẻ thông cảm. “Bà ấy đã già và không muốn làm công việc này.ông nhìn nhận vấn đề theo hai cách hoàn toàn tách biệt. Cả hai trường hợp ông đều theo chủ nghĩa thuần túy.”

On a trip to London with Jobs, Ive had the thankless task of choosing the hotel. He picked the Hempel, a tranquil five-star boutique hotel with a sophisticated minimalism that he thought Jobs would love. But as soon as they checked in, he braced himself, and sure enough his phone rang a minute later. “I hate my room,” Jobs declared. “It’s a piece of shit, let’s go.” So Ive gathered his luggage and went to the front desk, where Jobs bluntly told the shocked clerk what he thought. I’ve realized that most people, himself among them, tend not to be direct when they feel something is shoddy because they want to be liked, “which is actually a vain trait.” That was an overly kind explanation. In any case, it was not a trait Jobs had.

Trong một chuyến đi Luân Đôn cùng Jobs, Ive nhận lãnh một nhiệm vụ nhạt nhẽo đó là tìm khách sạn. ông chọn Hempel, một khách sạn năm sao kiểu boutique yên tĩnh với những chi tiết tinh tế mà ông nghĩ Jobs sẽ thích. Nhưng ngay khi họ đăng ký phòng, Ive liền chuẩn bị tinh thần và chắc chắn điện thoại của mình sẽ reo sau một phút. “Tôi ghét căn phòng này,” Jobs tuyên bố. “Nó thật ghê tởm, đi thôi.” Thế là Ive phải thu dọn hành lý và đến quầy tiếp tân, nhân viên ở đây đang choáng váng vì những nhận xét thẳng thừng của Jobs. Ive nhận thấy hầu hết mọi người, bao gồm bản thân ông, không có xu hướng trực tiếp phê bình một thứ kém chất lượng vì họ luôn muốn người khác yêu quý mình, “đó thật sự là một đặc điểm phù phiếm.” Đó là một lời giải thích thái quá. Nhưng Jobs chưa bao giờ có đặc điểm này.

Because Ive was so instinctively nice, he puzzled over why Jobs, whom he deeply liked, behaved as he did. One evening, in a San Francisco bar, he leaned forward with an earnest intensity and tried to analyze it: He’s a very, very sensitive guy. That’s one of the things that makes his antisocial behavior, his rudeness, so unconscionable. I can understand why people who are thick-skinned and unfeeling can be rude, but not sensitive people. I once asked him why he gets so mad about stuff. He said, “But I don’t stay mad.” He has this very childish ability to get really worked up about something, and it doesn’t stay with him at all. But there are other times, I think honestly, when he’s very frustrated, and his way to achieve catharsis is to hurt somebody. And I think he feels he has a liberty and a license to do that. The normal rules of social engagement, he feels, don’t apply to him. Because of how very sensitive he is, he knows exactly how to efficiently and effectively hurt someone. And he does do that.

Vì bản chất Ive rất tử tế, ông cảm thấy khó hiểu tại sao Jobs, người mà ông rất yêu quý, lại cư xử như thế. Một đêm nọ, trong một quán rượu ở San Francisco, ông ngả người về phía trước với một thái độ nghiêm chỉnh và cố gắng phân tích điều này: Ông ấy là một người rất, rất nhạy cảm. Đó là một trong những nguyên nhân khiến cách cư xử phản xã hội, tính thô lỗ của Jobs lại thái quá như thế. Tôi có thể hiểu tại sao những người mặt dày và vô cảm cư xử thô lỗ, nhưng với người nhạy cảm thì không. Một lần tôi hỏi ông ấy tại sao lại hay giận dữ. Ông đáp, “Nhưng tôi giận xong rồi thôi.” Như một đứa trẻ, ông có thể nổi giận thật sự nhưng không để tâm. Nhưng có đôi lần, tôi thật sự nghĩ rằng khi quá nản lòng, ông ấy sẽ tự xoa dịu mình bằng cách làm tổn thương người khác. Tôi nghĩ Jobs cảm thấy ông có quyền tự do và được phép làm vậy. Ông cảm thấy những luật lệ thông thường của giao tiếp xã hội không áp dụng cho mình. Bằng sự nhạy cảm của mình, ông biết rõ làm thế nào để làm tổn thương ai đó một cách hữu hiệu và thực tế. Thế là ông tiến hành.

Every now and then a wise colleague would pull Jobs aside to try to get him to settle down. Lee Clow was a master. “Steve, can I talk to you?” he would quietly say when Jobs had belittled someone publicly. He would go into Jobs’s office and explain how hard everyone was working. “When you humiliate them, it’s more debilitating than stimulating,” he said in one such session. Jobs would apologize and say he understood.

Thỉnh thoảng một cộng sự thông thái sẽ kéo Jobs đến nơi khác và cố gắng giúp ông hạ hỏa. Lee Clow là bậc thầy trong việc này. “Steve, tôi nói chuyện với ông được không?” ông sẽ nói khẽ khi Jobs đang công khai mạt sát ai đó. Ông ấy sẽ vào văn phòng Jobs và kể rằng mọi người làm việc vất vả như thế nào. Trong cuộc gặp như thế Clow thường nói, “Làm họ bẽ mặt, chỉ khiến họ đuối sức hơn mà không giúp ích được gì.” Jobs xin lỗi và nói mình đã hiểu rõ. Nhưng rồi ông sẽ lại quên khuấy. Chắc chắn ông sẽ nói “Tôi là vậy đấy.”

But then he would lapse again. “It’s simply who I am,” he would say. One thing that did mellow was his attitude toward Bill Gates. Microsoft had kept its end of the bargain it made in 1997, when it agreed to continue developing great software for the Macintosh. Also, it was becoming less relevant as a competitor, having failed thus far to replicate Apple’s digital hub strategy. Gates and Jobs had very different approaches to products and innovation, but their rivalry had produced in each a surprising self-awareness.

Tuy nhiên thái độ của ông đối với Bill Gates thật sự trở nên ôn hòa. Microsoft vẫn giữ nguyên ý kiến về vụ giao dịch do họ khởi xướng vào năm 1997, khi họ đồng ý tiếp tục phát triển phần mền vĩ đại cho Macintosh. Họ trở thành đối thủ ít xứng tầm hơn vì đã thất bại trong việc mô phỏng chiến lược trung tâm kỹ thuật số của Apple. Gates và Jobs có cái nhìn rất khác nhau về sản phẩm và tính sáng tạo, nhưng sự kình địch của họ lại tạo nên những sự tự nhận thức đáng ngạc nhiên.

For their All Things Digital conference in May 2007, the Wall Street Journal columnists Walt Mossberg and Kara Swisher worked to get them together for a joint interview. Mossberg first invited Jobs, who didn’t go to many such conferences, and was surprised when he said he would do it if Gates would. On hearing that, Gates accepted as well.

Trong hội thảo All Things Digital vào tháng năm năm 2007, hai nhà phụ trách chuyên mục của tờ Wall Street Journal là Walt Mossberg và Kara Swisher đã cố gắng mời họ tham gia một cuộc phỏng vấn chung. Đầu tiên Mossberg mời Jobs, người vốn không hay tham gia vào các cuộc gặp gỡ như thế, và rất ngạc nhiên khi ông nói mình sẽ tham gia nếu Gates tham gia. Khi nghe thông tin đó, Gates cũng đồng ý.

Mossberg wanted the evening joint appearance to be a cordial discussion, not a debate, but that seemed less likely when Jobs unleashed a swipe at Microsoft during a solo interview earlier that day. Asked about the fact that Apple’s iTunes software for Windows computers was extremely popular, Jobs joked, “It’s like giving a glass of ice water to somebody in hell.”

Mossberg muốn sự xuất hiện của họ chỉ là một cuộc thảo luận chân thành, không phải một cuộc tranh luận, nhưng điều này có vẻ khó diễn ra khi Jobs vừa giáng một cú vào Microsoft trong buổi phỏng vấn riêng trước đó trong cùng ngày. Khi được hỏi về vấn đề phần mềm iTunes của Apple dành cho các máy vi tính Windows là vô cùng phổ biến, Jobs đã ví von, “Cũng như tặng một ly nước đá cho người ở địa ngục thôi.”

So when it was time for Gates and Jobs to meet in the green room before their joint session that evening, Mossberg was worried. Gates got there first, with his aide Larry Cohen, who had briefed him about Jobs’s remark earlier that day. When Jobs ambled in a few minutes later, he grabbed a bottle of water from the ice bucket and sat down. After a moment or two of silence, Gates said, “So I guess I’m the representative from hell.” He wasn’t smiling. Jobs paused, gave him one of his impish grins, and handed him the ice water. Gates relaxed, and the tension dissipated.

Vì thế, đến khi Gates và Jobs gặp nhau trong căn phòng xanh trước khi buổi phỏng vấn chung tối hôm đó, Mossberg rất lo lắng. Gates đến trước, cùng với phụ tá Larry Cohen, người vừa tóm tắt cho ông về nhận xét trước đó của Jobs. Vài phút sau, khi Jobs ung dung đến, ông lấy một chai nước trong thùng đá và ngồi xuống. Sau vài giây im lặng, Gates nói, “Tôi đoán chắc mình là đại diện đến từ địa ngục.” Gates không hề cười. Jobs hơi sững lại, nở một nụ cười bí hiểm và trao cho Gates chai nước. Gates dịu lại và tình trạng căng thẳng tiêu tan.

The result was a fascinating duet, in which each wunderkind of the digital age spoke warily, and then warmly, about the other. Most memorably they gave candid answers when the technology strategist Lise Buyer, who was in the audience, asked what each had learned from observing the other. “Well, I’d give a lot to have Steve’s taste,” Gates answered. There was a bit of nervous laughter; Jobs had famously said, ten years earlier, that his problem with Microsoft was that it had absolutely no taste. But Gates insisted he was serious. Jobs was a “natural in terms of intuitive taste.” He recalled how he and Jobs used to sit together reviewing the software that Microsoft was making for the Macintosh. “I’d see Steve make the decision based on a sense of people and product that, you know, is hard for me to explain. The way he does things is just different and I think it’s magical. And in that case, wow.” Jobs stared at the floor. Later he told me that he was blown away by how honest and gracious Gates had just been. Jobs was equally honest, though not quite as gracious, when his turn came. He described the great divide between the Apple theology of building end-to-end integrated products and Microsoft’s openness to licensing its software to competing hardware makers. In the music market, the integrated approach, as manifested in his iTunes-iPod package, was proving to be the better, he noted, but Microsoft’s decoupled approach was faring better in the personal computer market. One question he raised in an offhand way was: Which approach might work better for mobile phones?

Cuối cùng cuộc gặp gỡ đã diễn ra lôi cuốn. Ban đầu, hai thiên tài của kỷ nguyên kỹ thuật số thận trọng nói chuyện về người còn lại, dần dần họ chuyển sang trao đổi một cách thân tình. Câu trả lời thẳng thắn đáng nhớ nhất là khi chiến lược gia kỹ thuật Lise Buyer, ngồi trong hàng ghế khán giả, hỏi rằng họ đã học được gì khi quan sát đối phương, “ồ, tôi đã phải cố gắng nhiều đế có được khiếu thẩm mỹ như Steve,” Gates trả lời. Vài tiếng cười vang lên; mười năm trước Jobs đã từng nói một câu nổi tiếng, rằng theo ông, vấn đề của Microsoft là họ không có chút khiếu thẩm mỹ nào cả. Nhưng Gates khẳng định mình rất nghiêm túc. Jobs sở hữu “trực giác thẩm mỹ bẩm sinh.” ông nhớ lại việc mình và Jobs từng ngồi lại xem xét về phần mềm mà Microsoft đang chế tạo cho Macintosh. “Tôi biết Steve ra quyết định dựa trên trực giác về con người và sản phẩm, bạn biết đấy, tôi khó lòng giải thích được chúng. Cách mà ông ấy chế tạo sản phẩm thật khác biệt và tôi nghĩ nó thật kỳ diệu. Và bạn thấy đó, thật đáng ngạc nhiên.” Jobs nhìn chằm chằm xuống nền nhà. Sau này, ông kể với tôi rằng minh đã bị hạ gục bởi sự chân thành và lịch thiệp của Gates. Đến lượt mình, Jobs cũng đáp lại một cách chân thành, dù không nhã nhặn bằng. Ông mô tả sự phân hóa vĩ đại giữa lý thuyết xây dựng những sản phẩm tương thích end- to-end (theo chiều dọc) của Apple và đặc tính công khai của Microsoft trong việc nhượng quyền phần mềm của họ cho những nhà sản xuất phần cứng cạnh tranh, ông giải thích, trong thị trường âm nhạc, phương pháp kết hợp, giống như gói iTunes iPod của ông, đã được chứng minh là vượt trội, nhưng phương pháp tách riêng của Microsoft lại ưu việt hơn trong thị trường máy vi tính cá nhân. Một câu hỏi của ông chợt nảy ra là: Cách tiếp cận nào sẽ tốt hơn cho điện thoại di động?

Then he went on to make an insightful point: This difference in design philosophy, he said, led him and Apple to be less good at collaborating with other companies. “Because Woz and I started the company based on doing the whole banana, we weren’t so good at partnering with people,” he said. “And I think if Apple could have had a little more of that in its DNA, it would have served it extremely well.”

Sau đó ông tiếp tục bày tỏ một đánh giá sâu sắc: ông nói sự khác biệt trong triết lý thiết kế, đã hạn chế khả năng cộng tác của ông và Apple với những công ty khác. “Vì Woz và tôi đều tự thân vận động khi thành lập công ty, nên chúng tôi không giỏi trong việc phối hợp với người khác,” ông nói. “Và tôi nghĩ nếu Apple có thể sở hữu thêm một phần đặc điểm đó trong DNA của công ty, nó sẽ giúp ích cho công ty rất nhiều.”


Chú thích:

(35) Phẫu thuật Whipple: Phẫu thuật cắt khối tá-tuỵ, được xem là phẫu thuật tiêu chuẩn đối với ung thư đầu tuỵ. Nội dung của phẫu thuật Whipple bao gồm cắt bỏ đầu tuỵ, tá tràng D1-D4, hang vị, đoạn cuối ống mật chủ, các hạch lân cận.

CHAPTER THIRTY-SIX

Chương 36

THE iPHONE

Three Revolutionary Products in One

An iPod That Makes Calls

iPHONE

Sự kết hợp của ba dòng sản phẩm mang tính đột phá trong một thiết bị

Một chiếc iPod có thể đàm thoại

By 2005 iPod sales were skyrocketing. An astonishing twenty million were sold that year, quadruple the number of the year before. The product was becoming more important to the company’s bottom line, accounting for 45% of the revenue that year, and it was also burnishing the hipness of the company’s image in a way that drove sales of Macs.

Tới năm 2005 mức tiêu thụ iPod tăng vọt. Hai triệu chiếc iPod, một con số đáng kinh ngạc, được bán ra thị trường trong năm đó, gấp 4 lần so với năm trước. Sự ra đời của iPod đóng một vai trò quan trọng đối với mục tiêu của công ty, doanh số bán ra chiếm khoảng 45% lợi nhuận của năm, và một lần nữa, sự ra đời của nó cũng giúp đánh bóng thêm hình ảnh công ty và khẳng định vị thế của Apple trên thị trường giống như dòng máy Mac.

That is why Jobs was worried. “He was always obsessing about what could mess us up,” board member Art Levinson recalled. The conclusion he had come to: “The device that can eat our lunch is the cell phone.” As he explained to the board, the digital camera market was being decimated now that phones were equipped with cameras. The same could happen to the iPod, if phone manufacturers started to build music players into them. “Everyone carries a phone, so that could render the iPod unnecessary.” His first strategy was to do something that he had admitted in front of Bill Gates was not in his DNA: to partner with another company. He began talking to Ed Zander, the new CEO of Motorola, about making a companion to Motorola’s popular RAZR, which was a cell phone and digital camera, that would have an iPod built in. Thus was born the ROKR. It ended up having neither the enticing minimalism of an iPod nor the convenient slimness of a RAZR. Ugly, difficult to load, and with an arbitrary hundred-song limit, it had all the hallmarks of a product that had been negotiated by a committee, which was counter to the way Jobs liked to work. Instead of hardware, software, and content all being controlled by one company, they were cobbled together by Motorola, Apple, and the wireless carrier Cingular. “You call this the phone of the future?” Wired scoffed on its November 2005 cover.

Nhưng điều đó lại khiến Jobs lo lắng. “Ông luôn bị ám ảnh về những điều khiến chúng tôi phân tâm” Art Levison, một thành viên trong ban quản trị nhớ lại. Steve kết luận rằng: “Thiết bị mà chúng ta phải tập trung cao độ chính là điện thoại di động”. Khi ông giải trình với ban quan trị, thị trường máy quay kỹ thuật số lúc bấy giờ đang bị cạnh tranh bởi những chiếc điện thoại có trang bị máy quay. iPod cũng vậy, nếu các nhà sản xuất điện thoại bắt đầu cài đặt phần mềm nghe nhạc, mọi người “có thể mang điện thoại theo, và đổi lại iPod sẽ không cần thiết nữa.” Chiến dịch đầu tiên của ông là thực hiện điều ông đã công nhận trước mặt Bill Gates rằng có một thứ không nằm trong DNA của mình: đó chính là liên minh với một công ty khác. Ông bắt đầu nói với Ed Zander, CEO mới của Motorola, về việc cộng tác với dòng Razr nổi tiếng của Motorola, chiếc điện thoại di dộng với máy quay kỹ thuật số, mà iPod nên học tập. Vì thế ROKR ra đời. Nó gây ra sự “diệt vong” đối với tính gọn nhẹ của iPod cũng như sự thanh mảnh thuận tiện của Razr. Xấu xí, khó tải nhạc và hạn chế số lượng bài hát lưu trữ chỉ khoảng 100 bài, ROKR có tất cả những đặc tính của một sản phẩm “ngoại giao”, nó trái ngược hoàn toàn với phong cách làm việc của Jobs. Thay vì cả phần cứng, phần mềm và nội dung đã được kiểm soát bởi một công ty, thì ROKR là “món lẩu thập cẩm” của cả Motorola lẫn Apple và nhà mạng không dây Cingular. “Đây là chiếc điện thoại của tương lai ư?” Wired đã chế giễu về ROKR trên trang bìa của tạp chí này số ra tháng 11 năm 2005.

Jobs was furious. “I’m sick of dealing with these stupid companies like Motorola,” he told Tony Fadell and others at one of the iPod product review meetings. “Let’s do it ourselves.” He had noticed something odd about the cell phones on the market: They all stank, just like portable music players used to. “We would sit around talking about how much we hated our phones,” he recalled.

Jobs vô cùng tức giận. “Tôi phát ốm khi phải cộng tác với những công ty “ngớ ngẩn như Motorola”, ông nói với Tony Fadell và những thành viên khác tại một buổi họp đánh giá sản phẩm iPod. “Hãy tự làm lấy.” Ông đã chú ý đến vài chi tiết thừa của những chiếc điện thoại di động tràn lan trên thị trường: Chúng đều nhàm chán, giống như những chiếc máy nghe nhạc cầm tay trước đây. “Chúng ta sẽ phải ngồi lại và nói xem chúng ta ghét những chiếc điện thoại của chúng ta đến mức nào,” ông nhớ lại.

“They were way too complicated. They had features nobody could figure out, including the address book. It was just Byzantine.” George Riley, an outside lawyer for Apple, remembers sitting at meetings to go over legal issues, and Jobs would get bored, grab Riley’s mobile phone, and start pointing out all the ways it was “brain-dead.” So Jobs and his team became excited about the prospect of building a phone that they would want to use. “That’s the best motivator of all,” Jobs later said.

“Chúng quá phức tạp. Chúng có những đặc điểm mà không ai hiểu nổi, kể cả danh bạ. Đó chính là Byzantine.” George Riley, một luật sư được Apple thuê ngoài, nhớ lại những lần họp thông qua các vấn đề liên quan đến luật pháp của công ty, lúc đó Jobs thấy chán nản, chộp lấy điện thoại của Riley, và bắt đầu ra sức chứng minh nó chỉ là “ đồ bỏ đi”. Jobs và các cộng sự của mình bắt đầu thích thú với viễn cảnh tạo ra một chiếc điện thoại mà họ muốn sử dụng. “Đó là động lực thúc đẩy tuyệt vời”, sau này Jobs đã chia sẻ.

Another motivator was the potential market. More than 825 million mobile phones were sold in 2005, to everyone from grammar schoolers to grandmothers. Since most were junky, there was room for a premium and hip product, just as there had been in the portable music-player market. At first he gave the project to the Apple group that was making the AirPort wireless base station, on the theory that it was a wireless product.

Một động lực nữa đó chính là thị trường tiềm năng. Hơn 825 triệu điện thoại di động đã được bán ra thị trường trong năm 2005, cho tất cả mọi người, từ những học sinh còn cắp sách tới trường đến các cụ già. Bởi vì hầu hết các dòng điện thoại này là sản phẩm “bình dân”, nên vẫn có chỗ cho những dòng sản phẩm cao cấp và sang trọng, giống hệt như thị trường giành cho dòng máy nghe nhạc cầm tay. Đầu tiên ông đề xuất dự án này cho nhóm nghiên cứu của Apple nhằm tạo ra thiết bị ngoại vi nguồn không dây (AirPort) dựa trên lý thuyết rằng nó là một sản phẩm không dây.

But he soon realized that it was basically a consumer device, like the iPod, so he reassigned it to Fadell and his teammates. Their initial approach was to modify the iPod. They tried to use the trackwheel as a way for a user to scroll through phone options and, without a keyboard, try to enter numbers. It was not a natural fit. “We were having a lot of problems using the wheel, especially in getting it to dial phone numbers,” Fadell recalled. “It was cumbersome.” It was fine for scrolling through an address book, but horrible at inputting anything. The team kept trying to convince themselves that users would mainly be calling people who were already in their address book, but they knew that it wouldn’t really work.

Nhưng ông sớm nhận ra rằng nó cơ bản là một thiết bị giành cho người dùng, giống như iPod, vì thế ông truyền lại ý tưởng đó cho Fadell và các cộng sự của mình. Mục tiêu đầu tiên của họ đó là nâng cấp chiếc iPod. Họ đã cố gắng sử dụng bánh xe cuốn như một cách giúp người sử dụng cuộn lên xuống để chọn những chức năng trong điện thoại mà không cần bàn phím. Nó không phải là sự điều chỉnh tự nhiên. “Chúng tôi đang gặp rất nhiều rắc rối với việc sử dụng bánh xe cuốn, đặc biệt trong việc thực hiện cuộc gọi,” Fadell nhớ lại. “Thực sự bế tắc”. Việc cuộn qua danh bạ thì không vấn đề gì, nhưng nhập thông tin thì quả thực khủng khiếp. Cả nhóm vẫn cố tự thuyết phục rằng người dùng chủ yếu chỉ gọi những người đã lưu sẵn trong danh bạ, nhưng họ biết rằng điều đó thực sự không đúng.

At that time there was a second project under way at Apple: a secret effort to build a tablet computer. In 2005 these narratives intersected, and the ideas for the tablet flowed into the planning for the phone. In other words, the idea for the iPad actually came before, and helped to shape, the birth of the iPhone.

Cũng vào lúc đó có một dự án thứ hai đang được tiến hành ở Apple: một nỗ lực bí mật nhằm tạo ra dòng máy tính bảng. Vào năm 2005 những dự án này bắt đầu được tách riêng, và những ý tưởng cho chiếc máy tính bảng cũng thúc đẩy kế hoạch tạo ra dòng điện thoại như ý. Hay nói cách khác, ý tưởng cho iPad thực sự đã xuất hiện từ trước đó, giúp định hình và thai nghén cho sự ra đời của chiếc iPhone.

Multi-touch

One of the engineers developing a tablet PC at Microsoft was married to a friend of Laurene and Steve Jobs, and for his fiftieth birthday he wanted to have a dinner party that included them along with Bill and Melinda Gates. Jobs went, a bit reluctantly. “Steve was actually quite friendly to me at the dinner,” Gates recalled, but he “wasn’t particularly friendly” to the birthday guy.

Công nghệ cảm ứng đa điểm

Một trong những kỹ sư phát triển máy tính bảng cầm tay tại Microsoft đã cưới một người bạn của Laurene và Steve Jobs. Lần sinh nhật thứ năm mươi, ông muốn tổ chức một bữa tiệc nhỏ có mời vợ chồng Jobs cùng vợ chồng Bill và Melinda Gates. Jobs có chút khiên cưỡng nhưng vẫn tham dự. “Steve khá thân thiện với tôi trong bữa tiệc đó.” Gates nhớ lại, nhưng ông “không đặc biệt thân thiện” với người tố chức sinh nhật.

Gates was annoyed that the guy kept revealing information about the tablet PC he had developed for Microsoft. “He’s our employee and he’s revealing our intellectual property,” Gates recounted. Jobs was also annoyed, and it had just the consequence that Gates feared. As Jobs recalled:

Gates khó chịu khi gã kỹ sư không ngừng tiết lộ thông tin về chiếc máy tính bảng cầm tay mà ông đang phát triển cho Microsoft. “Hắn là nhân viên của chúng tôi, và hắn lại đang rêu rao về tài sản trí tuệ của chúng tôi,” Gates thuật lại. Jobs cũng đã rất bực mình và hậu quả sau này giống y như những gì mà Gates lo sợ trước đây. Jobs nhớ lại:

This guy badgered me about how Microsoft was going to completely change the world with this tablet PC software and eliminate all notebook computers, and Apple ought to license his Microsoft software. But he was doing the device all wrong. It had a stylus. As soon as you have a stylus, you’re dead. This dinner was like the tenth time he talked to me about it, and I was so sick of it that I came home and said, “Fuck this, let’s show him what a tablet can really be.”

Gã kỹ sư này cứ bám lấy tôi và không ngớt lời về việc làm thế nào Microsoft thay đổi cả thế giới bằng phần mềm máy tính bảng cầm tay và đánh bật tất cả những máy tính sổ tay: và Apple nên cấp phép cho phần mềm Microsoft của hắn. Nhưng hắn đang sa vào vũng lầy. Chiếc máy tính bảng này có một cái bút, mà khi đi kèm cây bút đó, nó chỉ là đồ bỏ đi. Tính đến buổi tiệc hôm nay thì hắn đã nói chuyện đó với tôi đến lần thứ mười rồi, và tôi thực sự chán ngấy đến nỗi về đến nhà tôi vẫn bực mình: “Chết tiệt, rồi hắn sẽ biết một chiếc máy tính bảng thực sự là như thế nào.

Jobs went into the office the next day, gathered his team, and said, “I want to make a tablet, and it can’t have a keyboard or a stylus.” Users would be able to type by touching the screen with their fingers. That meant the screen needed to have a feature that became known as multi-touch, the ability to process multiple inputs at the same time.

Jobs đến văn phòng ngày hôm sau, tập hợp nhóm nghiên cứu và nói: “Tôi muốn tạo ra một chiếc máy tính bảng mà không cần bàn phím hay là một cây bút nào.” Người dùng có thể gõ bằng cách sử dụng các đầu ngón tay chạm vào màn hình. Điều đó có nghĩa rằng màn hình cần có đặc tính được biết đến như công nghệ cảm ứng đa điểm, khả năng xử lý nhiều đầu vào cùng một lúc.

“So could you guys come up with a multi-touch, touch-sensitive display for me?” he asked. It took them about six months, but they came up with a crude but workable prototype.

“Các anh có thể tạo ra một màn hình cảm ứng đa điểm cho tôi hay không?” ông hỏi. Họ đã mất khoảng sáu tháng để đưa ra một sản phẩm thô nhưng hoàn toàn khả thi.

Jony Ive had a different memory of how multi-touch was developed. He said his design team had already been working on a multi-touch input that was developed for the trackpads of Apple’s MacBook Pro, and they were experimenting with ways to transfer that capability to a computer screen. They used a projector to show on a wall what it would look like. “This is going to change everything,” Ive told his team. But he was careful not to show it to Jobs right away, especially since his people were working on it in their spare time and he didn’t want to quash their enthusiasm. “Because Steve is so quick to give an opinion, I don’t show him stuff in front of other people,” Ive recalled. “He might say, ‘This is shit,’ and snuff the idea. I feel that ideas are very fragile, so you have to be tender when they are in development. I realized that if he pissed on this, it would be so sad, because I knew it was so important.”

Jony Ive có một cách nghĩ khác về việc phát triển công nghệ cảm ứng đa điểm, ông ta nói rằng nhóm thiết kế đã từng làm việc dựa trên đầu vào cảm ứng đa điểm, công nghệ phát triển con chuột xúc giác cho dòng máy MacBook Pro của Apple. Và họ đang thử nghiệm theo hướng chuyển giao công nghệ này sang màn hình máy tính. Họ đã sử dụng một máy chiếu để xem nó sẽ như thế nào. “Điều này sẽ thay đổi mọi thứ,” Ive nói với nhóm nghiên cứu. Nhưng ông vẫn cẩn trọng chưa vội nói Jobs ngay, đặc biệt khi những nhân viên của ông đang làm việc cật lực kể cả thời gian nghỉ ngơi và ông không muốn dập tắt nhiệt huyết của họ. “Bởi Steve quá nóng vội khi đưa ra ý kiến, tôi không muốn cho ông xem chúng trước mặt những người khác. Ive nhớ lại. “ông có thể sẽ nói, “Chết tiệt và đập tan mọi nhiệt huyết. Tôi thấy những ý tưởng này rất mong manh, bạn phải nâng niu phát triển chúng. Tôi nhận ra rằng nếu ông bác bỏ ý tưởng này, thực sự sẽ rất buồn vì tôi biết nó rất quan trọng.”

Ive set up the demonstration in his conference room and showed it to Jobs privately, knowing that he was less likely to make a snap judgment if there was no audience. Fortunately he loved it. “This is the future,” he exulted.

Ive đã trình chiếu kín đáo những ý tưởng này trong phòng họp với riêng Jobs, vì biết rằng ông sẽ bớt phàn nàn đôi chút nếu không có ai xung quanh. Thật may là ông thích nó. “Tương lai là đây,” ông háo hức.

It was in fact such a good idea that Jobs realized that it could solve the problem they were having creating an interface for the proposed cell phone. That project was far more important, so he put the tablet development on hold while the multi-touch interface was adopted for a phone-size screen. “If it worked on a phone,” he recalled, “I knew we could go back and use it on a tablet.”

Đó thực sự là một ý tưởng tuyệt vời mà Jobs đã nhận ra rằng nó có thể giải quyết được những vấn đề mà họ đang gặp phải trong việc sáng tạo giao diện cho chiếc điện thoại tương lai. Dự án này vô cùng quan trọng, do đó ông tạm dừng việc phát triển máy tính bảng trong khi giao diện cảm ứng đa điểm được dùng cho màn hình điện thoại. “Nếu nó chạy tốt trên một chiếc điện thoại,” ông nhớ lại, “tôi biết chúng tôi có thể quay trở lại và sử dụng giao diện này cho chiếc máy tính bảng.”

Jobs called Fadell, Rubinstein, and Schiller to a secret meeting in the design studio conference room, where Ive gave a demonstration of multi-touch. “Wow!” said Fadell. Everyone liked it, but they were not sure that they would be able to make it work on a mobile phone. They decided to proceed on two paths: P1 was the code name for the phone being developed using an iPod trackwheel, and P2 was the new alternative using a multi-touch screen.

Jobs đã gọi Fadell, Rubinstein và Schiller tới một cuộc họp bí mật trong phòng họp thiết kế, nơi Ive đã trình chiếu ý tưởng về công nghệ cảm ứng đa điểm, “ôi!” Fadell thốt lên. Mọi người đều thích nó, nhưng họ không chắc rằng có thể khiến nó hoạt động trên điện thoại. Họ quyết định tiến hành trên hai phần: Phần một là tên mã cho điện thoại được phát triển dựa trên bánh xe cuốn của iPod, và phần hai là một lựa chọn mới sử dụng màn hình cảm ứng đa điểm.

A small company in Delaware called FingerWorks was already making a line of multi-touch trackpads. Founded by two academics at the University of Delaware, John Elias and Wayne Westerman, FingerWorks had developed some tablets with multi-touch sensing capabilities and taken out patents on ways to translate various finger gestures, such as pinches and swipes, into useful functions. In early 2005 Apple quietly acquired the company, all of its patents, and the services of its two founders. FingerWorks quit selling its products to others, and it began filing its new patents in Apple’s name.

Một công ty nhỏ ở Delaware có tên là FingerWorks đang tạo ra hàng loạt những bàn xúc giác cảm ứng đa điểm. Được thành lập bởi hai giáo sư ở trường đại học Delaware, John Elias và Wayne Westerman, FingerWorks đã phát triển một số máy tính bảng với khả năng cảm ứng đa điểm và đưa ra những sáng chế để đọc được các cử động khác nhau của ngón tay, ví dụ như gạt và nhấn vào các chức năng hữu ích. Đầu năm 2005, Apple lặng lẽ mua lại công ty này, tất cả những sáng chế, và những dịch vụ của hai thành viên sáng lập. FingerWorks lập tức ngừng việc bán sản phẩm của nó cho những hãng khác, và bắt đầu đóng mác những sản phẩm mới mang tên Apple.

After six months of work on the trackwheel P1 and the multi-touch P2 phone options, Jobs called his inner circle into his conference room to make a decision. Fadell had been trying hard to develop the trackwheel model, but he admitted they had not cracked the problem of figuring out a simple way to dial calls. The multi-touch approach was riskier, because they were unsure whether they could execute the engineering, but it was also more exciting and promising. “We all know this is the one we want to do,” said Jobs, pointing to the touchscreen. “So let’s make it work.” It was what he liked to call a bet-the-company moment, high risk and high reward if it succeeded.

Sau sáu tháng làm việc với bánh xe cuốn trong phần một và công nghệ cảm ứng đa điểm trong phần hai, Jobs gọi nhóm cộng sự thân cận tới phòng họp để đưa ra quyết định. Fadell vẫn đang cố gắng hết sức để phát triển mô hình bánh xe cuốn, nhưng ông thừa nhận rằng họ không thể giải quyết vấn đề: tìm ra cách đơn giản để thực hiện cuộc gọi. Trong khi đó việc tiếp cận cảm ứng đa điểm mang nhiều rủi ro hơn, họ không dám chắc rằng có thể thực hiện được thiết kế này hay không, nhưng nó rất thú vị và hứa hẹn. “Chúng ta đều biết đó là điều duy nhất chúng ta muốn làm,” Jobs nói, chỉ vào màn hình cảm ứng. “Hãy khiến nó có hiệu quả.” Đó là giây phút mà ông đã đặt cược, càng mạo hiểm thì giải thưởng càng cao nếu thành công.

A couple of members of the team argued for having a keyboard as well, given the popularity of the BlackBerry, but Jobs vetoed the idea. A physical keyboard would take away space from the screen, and it would not be as flexible and adaptable as a touchscreen keyboard. “A hardware keyboard seems like an easy solution, but it’s constraining,” he said. “Think of all the innovations we’d be able to adapt if we did the keyboard onscreen with software. Let’s bet on it, and then we’ll find a way to make it work.” The result was a device that displays a numerical pad when you want to dial a phone number, a typewriter keyboard when you want to write, and whatever buttons you might need for each particular activity. And then they all disappear when you’re watching a video. By having software replace hardware, the interface became fluid and flexible.

Một cặp thành viên trong nhóm nghiên cứu tranh luận về việc liệu thiết bị mới có nên có bàn phím, một bộ phận đã tạo ra sự nổi tiếng cho dòng BlackBerry, hay không, nhưng Jobs đã bác bỏ ý tưởng đó. Một bàn phím cơ học sẽ chiếm mất không gian màn hình, nó sẽ không linh hoạt và phù hợp như bàn phím cảm ứng. “Một thiết bị bàn phím có vẻ là một giải pháp đơn giản, nhưng nó khiên cưỡng quá.” ông nói. “Hãy cố nghĩ tất cả những sáng kiến phù hợp, nếu chúng ta nghĩ về bàn phím hiện trên màn hình kèm phần mềm. Chúng ta hãy đặt cược vào nó, sau đó tìm cách biến nó thành sự thật.” Kết quả là một thiết bị hiện thị bảng số mỗi khi bạn muốn thực hiện cuộc gọi, bảng chữ khi bạn muốn viết, và bất cứ phím nào bạn cần cho mỗi một hoạt động cụ thể. Rồi sau đó tất cả có thể biến mất khi bạn xem video. Bằng việc sử dụng phần mềm thay cho phần cứng, giao diện trở nên linh hoạt và nhanh nhạy hơn.

Jobs spent part of every day for six months helping to refine the display. “It was the most complex fun I’ve ever had,” he recalled. “It was like being the one evolving the variations on ‘Sgt. Pepper.’” A lot of features that seem simple now were the result of creative brainstorms. For example, the team worried about how to prevent the device from playing music or making a call accidentally when it was jangling in your pocket. Jobs was congenitally averse to having on-off switches, which he deemed “inelegant.” The solution was “Swipe to Open,” the simple and fun on-screen slider that activated the device when it had gone dormant. Another breakthrough was the sensor that figured out when you put the phone to your ear, so that your lobes didn’t accidentally activate some function. And of course the icons came in his favorite shape, the primitive he made Bill Atkinson design into the software of the first Macintosh: rounded rectangles. In session after session, with Jobs immersed in every detail, the team members figured out ways to simplify what other phones made complicated. They added a big bar to guide you in putting calls on hold or making conference calls, found easy ways to navigate through email, and created icons you could scroll through horizontally to get to different apps—all of which were easier because they could be used visually on the screen rather than by using a keyboard built into the hardware.

Jobs đã dành một chút thời gian mỗi ngày trong sáu tháng để tinh chỉnh màn hình hiển thị. “Đó là niềm vui thích phức tạp nhất mà tôi đã từng có,” ông nhớ lại, “Nó khác lạ giống như album “Sgt. Pepper.” Rất nhiều đặc điểm tưởng chừng như đơn giản nhưng lại là kết quả của những ý tưởng sáng tạo. Ví dụ, nhóm nghiên cứu đã lo lắng làm sao có thể khiến chiếc điện thoại không tự động chơi nhạc, thực hiện cuộc gọi hoặc tự động gọi lại khi nằm trong túi bạn. Jobs bẩm sinh đã ghét những công tắc bật - tắt, ông thấy nó không trang nhã. Và giải pháp là “Gạt tay để mở”, thanh trượt trên màn hình đơn giản và thú vị kích hoạt thiết bị khi nó không còn hoạt động. Một bước đột phá khác đó là cảm biến sẽ xử lý khi bạn đưa điện thoại gần tai, dái tai của bạn không vô tình kích hoạt một số chức năng nào đó. Và dĩ nhiên những biểu tượng cũng dựa trên hình khối mà ông ưa thích: hình chữ nhật được bao quanh, đây là những biểu tượng gốc ông đã để Bill Atkinson thiết kế cho phần mềm của máy Macintosh đầu tiên. Phần nào cũng vậy, ông đều tập trung vào mỗi chi tiết, và nhóm nghiên cứu đã tìm ra rất nhiều cách đơn giản hóa những gì các điện thoại khác đã làm phức tạp. Họ bổ sung thêm một thanh lớn để hướng dẫn bạn thực hiện cuộc gọi chờ hay cuộc gọi hội nghị, tìm những cách định vị dễ dàng thông qua email, và tạo những biểu tượng mà khi gạt ngang bạn có thể lựa chọn những ứng dụng khác nhau - tất cả những điều này được thực hiện dễ dàng hơn vì chúng được sử dụng trực quan thông qua màn hình hơn là được sử dụng bàn phím dựa trên phần cứng.

Gorilla Glass

Jobs became infatuated with different materials the way he did with certain foods. When he went back to Apple in 1997 and started work on the iMac, he had embraced what could be done with translucent and colored plastic. The next phase was metal. He and Ive replaced the curvy plastic PowerBook G3 with the sleek titanium PowerBook G4, which they redesigned two years later in aluminum, as if just to demonstrate how much they liked different metals. Then they did an iMac and an iPod Nano in anodized aluminum, which meant that the metal had been put in an acid bath and electrified so that its surface oxidized. Jobs was told it could not be done in the quantities they needed, so he had a factory built in China to handle it. Ive went there, during the SARS epidemic, to oversee the process. “I stayed for three months in a dormitory to work on the process,” he recalled. “Ruby and others said it would be impossible, but I wanted to do it because Steve and I felt that the anodized aluminum had a real integrity to it.” Next was glass. “After we did metal, I looked at Jony and said that we had to master glass,” said Jobs. For the Apple stores, they had created huge windowpanes and glass stairs. For the iPhone, the original plan was for it to have a plastic screen, like the iPod. But Jobs decided it would feel much more elegant and substantive if the screens were glass. So he set about finding a glass that would be strong and resistant to scratches.

Mặt kính bảo vệ Gorilla Glass

Jobs đam mê thử nghiệm những chất liệu khác nhau giống như cách mà ông chọn các loại thức ăn. Khi ông quay lại Apple vào năm 1997 và bắt đầu nghiên cứu dòng iMac, ông đã thử xem nhựa trong và có màu sắc có thể làm ra cái gì. Giai đoạn tiếp theo là kim loại. Ông và Ive thay thế chất liệu nhựa cong của PowerBook G3 với kim loại titan bóng đẹp của PowerBook G4, chiếc máy tính này được thiết kế lại với chất liệu nhôm hai năm sau, chỉ để chứng minh họ thích những kim loại khác nhau nhiều như thế nào. Sau đó họ tạo ra một chiếc iMac và một chiếc iPod Nano với chất liệu nhôm axit hóa, nghĩa là kim loại đã được tắm qua axit và điện dung để bề mặt của nó được oxi hóa. Jobs đã được thông báo rằng họ không thể tự đáp ứng được số lượng kim loại họ cần, thế nên ông đã thành lập một công ty ở Trung Quốc để giải quyết vấn đề này. Ive đã đến đó, trong suốt đại dịch Sars, để giám sát quá trình. Ông nhớ lại “Tôi ở đó trong ba tháng tại một ký túc xá để theo dõi quy trình sản xuất, Ruby và những người khác nói rằng ý tưởng đó là không thể nhưng tôi vẫn muốn tiếp tục, cả Steve và tôi nhận ra rằng nhôm được ôxi hóa thực sự hoàn hảo.” Tiếp sau đó là thủy tinh. “Sau khi chúng tôi thực hiện với kim loại, tôi đã nhìn John và nói rằng chúng ta cần tinh thông về chất liệu thủy tinh.” Jobs chia sẻ. Với những cửa hàng của Apple, họ đã thiết kế một chiếc ô kính cửa sổ lớn và những chiếc cầu thang bằng kính. Với iPhone, kế hoạch ban đầu là sử dụng một màn hình bằng nhựa giống như iPod. Tuy nhiên Jobs lại khăng khăng rằng màn hình sẽ trang nhã và trông thật hơn nếu nó được làm bằng thủy tinh. Thế nên ông bắt tay ngay vào việc tìm kiếm một loại thủy tinh vừa chắc chắn vừa có khả năng chống trầy xước.

The natural place to look was Asia, where the glass for the stores was being made. But Jobs’s friend John Seeley Brown, who was on the board of Corning Glass in Upstate New York, told him that he should talk to that company’s young and dynamic CEO, Wendell Weeks. So he dialed the main Corning switchboard number and asked to be put through to Weeks. He got an assistant, who offered to pass along the message. “No, I’m Steve Jobs,” he replied. “Put me through.” The assistant refused. Jobs called Brown and complained that he had been subjected to “typical East Coast bullshit.” When Weeks heard that, he called the main Apple switchboard and asked to speak to Jobs. He was told to put his request in writing and send it in by fax. When Jobs was told what happened, he took a liking to Weeks and invited him to Cupertino.

Mảnh đất tìm kiếm đó là châu Á, thiên đường sản xuất kính dành cho các cửa hàng. Nhưng một người bạn của Jobs là John Seely Brown, một thành viên hội đồng quản trị của công ty Corning Glass ở phía Bắc New York, đã khuyên ông nên nói chuyện với Wendell Weeks - một CEO trẻ và năng động của công ty. Jobs đã gọi điện đến tổng đài chính của Corning và yêu cầu được gặp Weeks, ông gặp nhân viên trợ lý và người đó yêu cầu ông để lại lời nhắn. “Không, tôi là Steve Jobs.” ông đáp. “Hãy cho tôi gặp ông ấy.” Người trợ lý từ chối. Jobs gọi lại cho Brown và phàn nàn rằng ông đã bị đối xử như “một kẻ ngớ ngẩn đặc sệt vùng bờ Đông.” Sau khi Weeks biết chuyện, ông này cũng đã gọi tới tổng đài chính của Apple và yêu cầu gặp Jobs. Weeks cũng được yêu cầu ghi lại lời nhắn và gửi qua fax. Khi Jobs được nghe kể về chuyện đó, ông đã rất thích Weeks và mời ông ấy tới Cupertino.

Jobs described the type of glass Apple wanted for the iPhone, and Weeks told him that Corning had developed a chemical exchange process in the 1960s that led to what they dubbed “gorilla glass.” It was incredibly strong, but it had never found a market, so Corning quit making it. Jobs said he doubted it was good enough, and he started explaining to Weeks how glass was made. This amused Weeks, who of course knew more than Jobs about that topic. “Can you shut up,” Weeks interjected, “and let me teach you some science?” Jobs was taken aback and fell silent. Weeks went to the whiteboard and gave a tutorial on the chemistry, which involved an ion-exchange process that produced a compression layer on the surface of the glass.

Jobs miêu tả loại kính mà hãng Apple muốn sử dụng cho iPhone, Weeks nói với ông rằng công ty Corning đã phát triển một quá trình trao đổi hóa học từ những năm 1960 và cho cho ra đời sản phẩm mang tên “Kính bảo vệ Gorilla.” Chất liệu đó chắc chắn một cách đáng ngạc nhiên, nhưng lại không tìm được thị trường tiêu thụ, do đó Corning đã từ bỏ việc sản xuất nó. Jobs đã bảo rằng ông không chắc nó có đủ tốt hay không, và ông bắt đầu giải thích với Weeks về việc làm kính ra sao. Điều này gây hứng thú cho Weeks, người dĩ nhiên hiểu biết về vấn đề này nhiều hơn cả Jobs. “Anh có thể ngừng nói được không.” Weeks cắt ngang, “và để tôi chỉ cho anh một số công nghệ sản xuất kính?” Jobs rất bất ngờ và im lặng ngay. Weeks đi tới chiếc bảng trắng và hướng dẫn về hóa học, vấn đề liên quan đến quá trình trao đổi ion để tạo nên một lớp nén lên bề mặt kính.

This turned Jobs around, and he said he wanted as much gorilla glass as Corning could make within six months. “We don’t have the capacity,” Weeks replied. “None of our plants make the glass now.”

Điều này khiến Jobs bối rối, rồi ông nói ông muốn số lượng kính bảo vệ nhiều nhất mà Corning có thể sản xuất trong vòng 6 tháng. “Chúng tôi không có khả năng.” Weeks trả lời. “Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch sản xuất kính nào nữa”.

“Don’t be afraid,” Jobs replied. This stunned Weeks, who was good-humored and confident but not used to Jobs’s reality distortion field. He tried to explain that a false sense of confidence would not overcome engineering challenges, but that was a premise that Jobs had repeatedly shown he didn’t accept. He stared at Weeks unblinking. “Yes, you can do it,” he said. “Get your mind around it. You can do it.” As Weeks retold this story, he shook his head in astonishment. “We did it in under six months,” he said. “We produced a glass that had never been made.” Corning’s facility in Harrisburg, Kentucky, which had been making LCD displays, was converted almost overnight to make gorilla glass full-time. “We put our best scientists and engineers on it, and we just made it work.” In his airy office, Weeks has just one framed memento on display. It’s a message Jobs sent the day the iPhone came out: “We couldn’t have done it without you.”

“Đừng lo lắng” Jobs đáp. Điều này khiến Weeks choáng váng, là một người thoải mái và tự tin nhưng ông không quen được với tính cách khác thường của Jobs. Weeks đã cố gắng giải thích rằng việc giả vờ tự tin không thể chiến thắng những thử thách kỹ thuật, và giả thuyết đó Jobs lặp lại không được chấp nhận. Jobs chằm chằm nhìn Weeks không chớp mắt. “Được mà, các anh có thể làm được”, ông nói, “Hãy suy nghĩ về nó. Anh có thể thực hiện được.” Khi Weeks kể lại câu chuyện, ông lắc đầu kinh ngạc và nói: “Chúng tôi đã thực hiện chỉ trong có sáu tháng. Chúng tôi đã sản xuất một loại kính chưa từng có bao giờ”. Cơ sở của công ty Corning ở HarrisBurg, Kentucky, nơi sản xuất ra màn hình LCD, đã chuyển qua sản xuất vào buổi tối để dành toàn thời gian sản xuất chất liệu kính bảo vệ Chúng tôi đã tập trung hết các kỹ sư và nhà khoa học giỏi nhất cho sản phẩm này, và chúng tôi đã biến nó thành hiện thực.” Giờ tại văn phòng thoáng mát của Weeks, ông chỉ trưng bày một món đồ lưu niệm được đóng khung. Đó là một tin nhắn Jobs gửi đến vào ngày iPhone ra đời: “Chúng tôi không thể làm ra nó mà không có bạn.”

The Design

On many of his major projects, such as the first Toy

Story and the Apple store, Jobs pressed “pause” as they neared completion and decided to make major revisions. That happened with the design of the iPhone as well. The initial design had the glass screen set into an aluminum case. One Monday morning Jobs went over to see Ive. “I didn’t sleep last night,” he said, “because I realized that I just don’t love it.” It was the most important product he had made since the first Macintosh, and it just didn’t look right to him. Ive, to his dismay, instantly realized that Jobs was right. “I remember feeling absolutely embarrassed that he had to make the observation.” The problem was that the iPhone should have been all about the display, but in their current design the case competed with the display instead of getting out of the way. The whole device felt too masculine, task-driven, efficient. “Guys, you’ve killed yourselves over this design for the last nine months, but we’re going to change it,” Jobs told Ive’s team. “We’re all going to have to work nights and weekends, and if you want we can hand out some guns so you can kill us now.” Instead of balking, the team agreed. “It was one of my proudest moments at Apple,” Jobs recalled.

Thiết kế

Trong rất nhiều dự án lớn của ông, ví dụ như Câu chuyện đồ chơi đầu tiên hay cửa hàng Apple, Jobs đã tạm dừng khi họ gần hoàn thiện sản phẩm và quyết định điều chỉnh nó. Điều đó cũng xảy ra với thiết kế của iPhone. Các thiết kế ban đầu có màn hình kính được đặt trong vỏ nhôm. Một buổi sáng thứ hai, Jobs tới gặp Ive. “Tối qua tôi không ngủ được,” ông tâm sự, “tôi nhận ra rằng tôi không thích nó”. Đó là sản phẩm quan trọng nhất mà ông thực hiện từ sau chiếc Macintosh đời đầu, và ông thấy nó không ổn. Trước sự thất vọng của ông, Ive lập tức nhận ra Jobs đã đúng “Tôi nhớ cảm giác hoàn toàn xấu hổ khi ông đưa ra lời nhận xét đó.” Vấn đề nằm ở chỗ iPhone cần hiển thị tất cả lên màn hình, nhưng thiết kế vỏ hiện tại đã trùm lên màn hình thay vì viền xung quanh. Toàn thiết bị gây cảm giác quá thô, quá nhiều thao tác điều khiển và hiệu ứng. “Các anh em đã sống chết vì thiết kế này trong chín tháng qua, nhưng chúng ta phải thay đổi nó.” Jobs nói với nhóm nghiên cứu của Ive. “Chúng ta giờ sẽ phải làm việc cả tối và cuối tuần, nếu các anh phản đối thì các anh phải bước qua xác chúng tôi.” Thay vì ngăn cản, cả nhóm nghiên cứu đã đồng ý. “Đó là giây phút đáng tự hào nhất tại Apple.” Jobs bùi ngùi nhớ lại.

The new design ended up with just a thin stainless steel bezel that allowed the gorilla glass display to go right to the edge. Every part of the device seemed to defer to the screen.

Thiết kế mới đã hoàn thành với một vỏ thép không gỉ mỏng cho phép màn hình kính hiển thị đến tận các cạnh. Mỗi một phần của thiết bị dường như được thiết kế phù hợp với màn hình.

The new look was austere, yet also friendly. You could fondle it. It meant they had to redo the circuit boards, antenna, and processor placement inside, but Jobs ordered the change. “Other companies may have shipped,” said Fadell, “but we pressed the reset button and started over.”

Diện mạo mới mộc mạc, nhưng khá thân thiện. Bạn có thể vuốt nó. Nghĩa là họ đã phải làm lại các bảng mạch, ăng ten, và vị trí bộ xử lý bên trong, nhưng Jobs đã yêu cầu thay đổi. "Các công ty khác có thể đã cho qua," Fadell nói, "nhưng chúng tôi thì điều chỉnh và bắt tay vào ngay."

One aspect of the design, which reflected not only Jobs’s perfectionism but also his desire to control, was that the device was tightly sealed. The case could not be opened, even to change the battery. As with the original Macintosh in 1984, Jobs did not want people fiddling inside. In fact when Apple discovered in 2011 that third-party repair shops were opening up the iPhone 4, it replaced the tiny screws with a tamper-resistant Pentalobe screw that was impossible to open with a commercially available screwdriver. By not having a replaceable battery, it was possible to make the iPhone much thinner. For Jobs, thinner was always better. “He’s always believed that thin is beautiful,” said Tim Cook.

Một phần của thiết kế phản ánh không chỉ tính cầu toàn của Jobs mà thậm chí là khao khát kiểm soát, đó là thiết bị được hàn kín.vỏ ngoài không thể mở được, thậm chí để đổi pin. Cũng giống với dòng Macintosh đời đầu năm 1984, Jobs đã không muốn ai mở xem bên trong. Trong thực tế, năm 2011 khi Apple phát hiện ra các cửa hàng sửa chữa không chính hãng đã mở được iPhone 4, thì hãng đã thay thế các ốc nhỏ bằng một loại ốc Pentalobe không thể làm giả và không một tuốc nơ vít nào ngoài thị trường có thể mở. Vì không có pin thay thế nên iPhone trông mỏng hơn rất nhiều. Đối với Jobs, mỏng hơn luôn luôn tốt hơn. "ông ấy luôn cho rằng mỏng là đẹp", Tim Cook cho biết.

“You can see that in all of the work. We have the thinnest notebook, the thinnest smartphone, and we made the iPad thin and then even thinner.”

"Các bạn có thể thấy trong tất cả các sản phẩm. Chúng tôi có dòng máy tính xách tay mỏng nhất, dòng điện thoại thông minh mỏng nhất, rồi chúng tôi đã cho ra đời dòng iPad mỏng và sau đó thậm chí còn mỏng hơn nữa."

The Launch

When it came time to launch the iPhone, Jobs decided, as usual, to grant a magazine a special sneak preview. He called John Huey, the editor in chief of Time Inc., and began with his typical superlative: “This is the best thing we’ve ever done.” He wanted to give Time the exclusive, “but there’s nobody smart enough at Time to write it, so I’m going to give it to someone else.” Huey introduced him to Lev Grossman, a savvy technology writer (and novelist) at Time. In his piece Grossman correctly noted that the iPhone did not really invent many new features, it just made these features a lot more usable. “But that’s important. When our tools don’t work, we tend to blame ourselves, for being too stupid or not reading the manual or having too-fat fingers… When our tools are broken, we feel broken. And when somebody fixes one, we feel a tiny bit more whole.”

Tung ra thị trường

Khi đến lúc khởi động iPhone, Jobs đã quyết định, như thường lệ, cho phép một tờ báo tới buổi thử nghiệm đặc biệt, ông gọi cho John Huey, tổng biên tập của tạp chí Time, và bắt đầu phóng đại quá mức, đúng kiểu của Jobs: “Đây là sản phẩm tốt nhất mà chúng tôi từng thực hiện". Jobs muốn cung cấp độc quyền cho Time về những thông tin của iPhone, nhưng “Time không có ai đủ hiểu biết để viết về nó, vì vậy tôi sẽ dành cho người khác.” Huey giới thiệu Lev Grossman, một nhà văn (và tiểu thuyết gia) hiểu biết nhiều về công nghệ ở Time. Trong tác phẩm của mình Grossman ghi chú chính xác rằng iPhone không thực sự phát minh ra nhiều tính năng mới, nó chỉ khiến những tính năng này dễ sử dụng hơn. "Nhưng điều đó rất quan trọng. Khi chúng ta không sử dụng được các công cụ, chúng ta có xu hướng đổ lỗi cho mình, vì quá ngu ngốc, không đọc kỹ hướng dẫn sử dụng hay có ngón tay quá béo.... Khi các công cụ của chúng ta bị hỏng, chúng ta cũng thấy chán. Rồi có ai đó khắc phục được, chúng ta sẽ thấy thực sự yên tâm."

For the unveiling at the January 2007 Macworld in San Francisco, Jobs invited back Andy Hertzfeld, Bill Atkinson, Steve Wozniak, and the 1984 Macintosh team, as he had done when he launched the iMac. In a career of dazzling product presentations, this may have been his best. “Every once in a while a revolutionary product comes along that changes everything,” he began.

Trong buổi ra mắt tại hội chợ công nghệ Macworld tháng giêng năm 2007 tại San Francisco, Jobs mời Andy Hertzfeld, Bill Atkinson, Steve Wozniak, và nhóm nghiên cứu dòng Macintosh năm 1984, như ông đã mời khi ra mắt dòng iMac. Trong tất cả các bài thuyết trình tuyệt vời về sản phẩm, đây chắc chắn sẽ là bài hay nhất. “Mỗi khi có một sản phẩm mang tính cách mạng ra đời nó sẽ khiến mọi thứ thay đổi", ông bắt đầu.

He referred to two earlier examples: the original Macintosh, which “changed the whole computer industry,” and the first iPod, which “changed the entire music industry.” Then he carefully built up to the product he was about to launch: “Today, we’re introducing three revolutionary products of this class. The first one is a widescreen iPod with touch controls. The second is a revolutionary mobile phone. And the third is a breakthrough Internet communications device.” He repeated the list for emphasis, then asked, “Are you getting it? These are not three separate devices, this is one device, and we are calling it iPhone.”

Jobs đưa ra hai ví dụ trước đó: dòng Macintosh đời đầu đã “thay đổi toàn bộ ngành công nghiệp máy tính", và chiếc iPod đầu đời đã “thay đổi kỷ nguyên nhạc số”, Sau đó, ông đã cẩn thận giới thiệu sản phẩm ông chuẩn bị cho ra mắt: "Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu ba dòng sản phẩm mang tính cách mạng. Đầu tiên đó là chiếc iPod màn hình rộng điều khiển cảm ứng. Thứ hai là một điện thoại di động mang tính cách mạng. Và thứ ba là thiết bị liên lạc kết nối Internet có tính đột phá.” ông lặp đi lặp lại danh sách để nhấn mạnh, sau đó nói, “Các bạn có biết không, đây không phải là ba thiết bị riêng biệt, tất cả chỉ trong một thiết bị, và chúng tôi gọi nó iPhone."

When the iPhone went on sale five months later, at the end of June 2007, Jobs and his wife walked to the Apple store in Palo Alto to take in the excitement. Since he often did that on the day new products went on sale, there were some fans hanging out in anticipation, and they greeted him as they would have Moses if he had walked in to buy the Bible. Among the faithful were Hertzfeld and Atkinson. “Bill stayed in line all night,” Hertzfeld said. Jobs waved his arms and started laughing. “I sent him one,” he said. Hertzfeld replied, “He needs six.”

Khi iPhone được tung ra thị trường năm tháng sau đó, vào cuối tháng 6 năm 2007, Jobs và vợ đi bộ đến cửa hàng của Apple ở Palo Alto để cảm nhận niềm vui sướng. Vì ông thường xuyên làm như vậy vào ngày sản phẩm mới được bán ra, nên một số người hâm mộ đã tới trước, họ chào đón ông như họ thấy nhà tiên tri Moses đi dạo mua Kinh Thánh. Trong đó có tín đồ là Hertzfeld và Atkinson. "Bill đã xếp hàng cả đêm đấy," Hertzfeld nói. Jobs phẩy tay, bắt đầu cười và nói. "Tôi đã gửi tặng ông ấy một chiếc rồi.” Hertzfeld trả lời, "ông ta cần sáu chiếc cơ."

The iPhone was immediately dubbed “the Jesus Phone” by bloggers. But Apple’s competitors emphasized that, at $500, it cost too much to be successful. “It’s the most expensive phone in the world,” Microsoft’s Steve Ballmer said in a CNBC interview. “And it doesn’t appeal to business customers because it doesn’t have a keyboard.” Once again Microsoft had underestimated Jobs’s product. By the end of 2010, Apple had sold ninety million iPhones, and it reaped more than half of the total profits generated in the global cell phone market. “Steve understands desire,” said Alan Kay, the Xerox PARC pioneer who had envisioned a “Dynabook” tablet computer forty years earlier. Kay was good at making prophetic assessments, so Jobs asked him what he thought of the iPhone. “Make the screen five inches by eight inches, and you’ll rule the world,” Kay said. He did not know that the design of the iPhone had started with, and would someday lead to, ideas for a tablet computer that would fulfill—indeed exceed—his vision for the Dynabook.

IPhone đã ngay lập tức được các blogger đặt tên là "Điện thoại của Chúa Jesus.” Tuy nhiên, đối thủ cạnh tranh của Apple nhấn mạnh rằng, việc bỏ ra năm trăm đô-la để mua được nó là quá nhiều. "Đó là điện thoại đắt tiền nhất trên thế giới," Steve Ballmer của Microsoft cho biết trong một cuộc phỏng vấn của CNBC. "Và nó không hấp dẫn với những khách hàng là doanh nhân bởi nó không có bàn phím." Một lần nữa, Microsoft lại đánh giá thấp sản phẩm của Jobs. Đến cuối năm 2010, Apple đã bán được chín mươi triệu chiếc iPhone, và nó chiếm hơn một nửa tổng lợi nhuận của thị trường điện thoại di động toàn cầu. Alan Kay, một trong những nhà sáng lập phòng thí nghiệm Xerox PARC và cũng là người góp một tay tạo Dynabook, phiên bản đầu của máy tính xách tay bốn mươi năm trước đó đã nhận xét “Steve hiểu được giá trị của khát vọng”. Kay rất giỏi trong việc dự báo trước tình hình, vì vậy Jobs đã hỏi ý kiến của ông về chiếc iPhone. Kay trả lời "Hãy mở rộng màn hình 5 inch thành 8 inch, và anh sẽ thống trị cả thế giới", ông không biết rằng thiết kế của iPhone đã nhen nhóm, và có thể một ngày nào đó sẽ dẫn tới ý tưởng cho ra đời một máy tính bảng, trên thực tế có thể vượt quá tầm nhìn của ông cho dòng Dynabook.


Chú thích

(36) Một album nhạc ấn tượng của The Beatles.

CHAPTER THIRTY-SEVEN

Chương 37

ROUND TWO

The Cancer Recurs

The Battles of 2008

VÒNG HAI

Bệnh ung thư tái phát

Chiến đấu với bệnh tật, năm 2008

By the beginning of 2008 it was clear to Jobs and his doctors that his cancer was spreading. When they had taken out his pancreatic tumors in 2004, he had the cancer genome partially sequenced. That helped his doctors determine which pathways were broken, and they were treating him with targeted therapies that they thought were most likely to work. He was also being treated for pain, usually with morphine-based analgesics. One day in February 2008 when Powell’s close friend Kathryn Smith was staying with them in Palo Alto, she and Jobs took a walk. “He told me that when he feels really bad, he just concentrates on the pain, goes into the pain, and that seems to dissipate it,” she recalled. That wasn’t exactly true, however. When Jobs was in pain, he let everyone around him know it.

Đến đầu năm 2008, cả Jobs và các bác sĩ của ông đều biết rõ rằng khối ung thư của ông đã di căn. Khi họ cắt bỏ khối u ở tuyến tụy vào năm 2004, những tế bào ung thư đã bắt đầu hình thành. Điều này giúp các bác sĩ của ông xác định được bộ phận nào đã bị phá hủy, và họ đã áp dụng những phương pháp đặc trị được cho là hiệu quả nhất. Jobs phải dùng tới các liệu pháp giảm đau, thường là các loại thuốc giảm đau có chứa mocphin. Một ngày vào tháng 2 năm 2008, bạn thân của Powell - Kathryn Smith, đang ở cùng họ tại Palo Alto, cùng đi dạo với Jobs. “Ông ấy nói với tôi rằng mỗi khi quá đau ông ấy thường chỉ tập trung vào cơn đau, đi xuyên qua nó và điều đó dường như làm chúng tiêu tan đi”, cô kể lại. Tuy nhiên, điều đó không thực sự chính xác. Khi Jobs bị đau, ông sẽ để cho tất cả mọi người xung quanh biết điều đó.

There was another health issue that became increasingly problematic, one that medical researchers didn’t focus on as rigorously as they did cancer or pain. He was having eating problems and losing weight. Partly this was because he had lost much of his pancreas, which produces the enzymes needed to digest protein and other nutrients. It was also because both the cancer and the morphine reduced his appetite. And then there was the psychological component, which the doctors barely knew how to address: Since his early teens, he had indulged his weird obsession with extremely restrictive diets and fasts.

Có một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng mà các nhà nghiên cứu y học đã không lưu ý kỹ càng tới nó giống như khi điều trị ung thư hay giảm đau. Jobs gặp vấn đề về ăn uống và sút cân. Điều này một phần là do tuyến tụy của ông đã bị cắt đi khá nhiều trong khi tuyến tụy chính là bộ phận sản xuất những enzym cần thiết để tiêu hóa đạm và các dưỡng chất. Ngoài ra khối ung thư và moóc-phin trong thuốc giảm đau cũng khiến ông ăn không ngon miệng. Có một yếu tố tâm lý mà các bác sĩ biết rõ: Ngay từ thời thanh niên, ông đã có một nỗi ám ảnh kỳ lạ với chuyện ăn kiêng và thanh tẩy ruột.

Even after he married and had children, he retained his dubious eating habits. He would spend weeks eating the same thing—carrot salad with lemon, or just apples—and then suddenly spurn that food and declare that he had stopped eating it. He would go on fasts, just as he did as a teenager, and he became sanctimonious as he lectured others at the table on the virtues of whatever eating regimen he was following. Powell had been a vegan when they were first married, but after her husband’s operation she began to diversify their family meals with fish and other proteins.

Thậm chí cả khi kết hôn và có con, ông vẫn giữ những thói quen ăn uống đó. ông có thể dành hàng tuần chỉ ăn cùng một thứ - salát cà rốt với chanh, hoặc táo - rồi sau đó bỗng dưng cự tuyệt thứ đồ ăn đó và tuyên bố sẽ ngừng ăn chúng, ông tiếp tục nhịn ăn như hồi trẻ và điều này đã khiến Jobs trở thành kẻ cao đạo khi ông luôn giảng giải cho người khác về những chế độ ăn uống hiệu quả mà ông đang theo. Powell cũng từng là người ăn chay khi họ mới cưới, nhưng sau ca phẫu thuật của chồng, bà bắt đầu đa dạng hóa các bữa ăn gia đình với cá và các loại thực phẩm giàu đạm.

Their son, Reed, who had been a vegetarian, became a “hearty omnivore.” They knew it was important for his father to get diverse sources of protein.

Cậu con trai Reed của họ, người cũng từng ăn chay, trở thành một “động vật ăn tạp ngon lành”. Họ biết việc tiếp nhận những nguồn đạm khác nhau rất quan trọng đối với chồng/cha mình.

The family hired a gentle and versatile cook, Bryar Brown, who once worked for Alice Waters at Chez Panisse. He came each afternoon and made a panoply of healthy offerings for dinner, which used the herbs and vegetables that Powell grew in their garden. When Jobs expressed any whim—carrot salad, pasta with basil, lemongrass soup—Brown would quietly and patiently find a way to make it. Jobs had always been an extremely opinionated eater, with a tendency to instantly judge any food as either fantastic or terrible. He could taste two avocados that most mortals would find indistinguishable, and declare that one was the best avocado ever grown and the other inedible.

Họ đã thuê một đầu bếp rất giỏi, Bryar Brown, người từng làm cho Alice Waters của chuỗi nhà hàng Chez Panisse. Brown thường đến vào mỗi buổi chiều và nấu một bữa tối thịnh soạn, ngon lành sử dụng các loại rau xanh và các loại gia vị khác mà Powell trồng trong vườn. Mỗi khi Jobs bất chợt thèm salát cà rốt, mỳ ống với húng quế, hay món súp với xả - Brown luôn kiên nhẫn và lặng lẽ tìm cách chế biến chúng. Jobs là một thực khách vô cùng ngoan cố theo xu hướng có thể đánh giá ngay lập tức bất kỳ món ăn nào dù cho chúng cực ngon hay vô cùng dở. ông có thể cùng lúc nếm hai quả bơ mà đa số mọi người sẽ không phân biệt được và tuyên bố rằng quả này là quả bơ ngon nhất từng được ăn và quả kia thì không thể ăn được.

Beginning in early 2008 Jobs’s eating disorders got worse. On some nights he would stare at the floor and ignore all of the dishes set out on the long kitchen table. When others were halfway through their meal, he would abruptly get up and leave, saying nothing. It was stressful for his family. They watched him lose forty pounds during the spring of 2008.

Đầu năm 2008, cách ăn uống lộn xộn của Jobs càng tệ hơn. Có những đêm ông chỉ ngồi nhìn chằm chằm xuống sàn nhà và từ chối tất cả các món ăn được bày trên bàn dài trong bếp. Khi những người khác đã ăn được nửa bữa, ông đột ngột đứng dậy và bỏ đi, chẳng nói năng gì. Điều đó khiến không khí gia đình trở nên căng thẳng. Họ nhận thấy ông đã sút tới 15 cân trong suốt mùa xuân năm 2008.

His health problems became public again in March 2008, when Fortune published a piece called “The Trouble with Steve Jobs.” It revealed that he had tried to treat his cancer with diets for nine months and also investigated his involvement in the backdating of Apple stock options. As the story was being prepared, Jobs invited—summoned—Fortune’s managing editor Andy Serwer to Cupertino to pressure him to spike it. He leaned into Serwer’s face and asked, “So, you’ve uncovered the fact that I’m an asshole. Why is that news?” Jobs made the same rather self-aware argument when he called Serwer’s boss at Time Inc., John Huey, from a satellite phone he brought to Hawaii’s Kona Village. He offered to convene a panel of fellow CEOs and be part of a discussion about what health issues are proper to disclose, but only if Fortune killed its piece. The magazine didn’t.

Vấn đề sức khỏe của Jobs được công khai vào tháng 3 năm 2008 khi Fortune cho đăng một mẩu tin có tiêu đề “Vấn đề của Steve Jobs”. Mẩu tin tiết lộ rằng ông đang cố điều trị ung thư bằng cách ăn kiêng trong 9 tháng và cho rằng Jobs có liên quan tới tuyên bố về quyền chọn cổ phần chứng khoán Apple. Vì câu chuyện đã bị dàn dựng, Jobs đã mời - hay nói chính xác là triệu tập - chủ biên của Fortune là Andy Serwer tới Cupertino để đề nghị ông ta ngăn thông tin này lại. Jobs nhìn thẳng vào mặt Serwer và hỏi, “Vậy là ông đã tiết lộ rằng tôi là một thằng khốn. Tại sao cái thứ đó lại được gọi là tin tức hả?” Jobs cũng làm tương tự như vậy khi gọi cho sếp của Serwer ở Time, John Huey, từ làng Kona của Hawaii, bằng một điện thoại vệ tinh ông mang theo, ông đồng ý tổ chức một hội nghị các CEO và một phần hội nghị thảo luận về việc các thông tin sức khỏe nên được tiết lộ ở mức độ nào, nhưng chỉ khi Fortune chịu đính chính lại mẩu tin kia. Họ đã không đồng ý.

When Jobs introduced the iPhone 3G in June 2008, he was so thin that it overshadowed the product announcement. In Esquire Tom Junod described the “withered” figure onstage as being “gaunt as a pirate, dressed in what had heretofore been the vestments of his invulnerability.” Apple released a statement saying, untruthfully, that his weight loss was the result of “a common bug.” The following month, as questions persisted, the company released another statement saying that Jobs’s health was “a private matter.”

Khi Jobs giới thiệu iPhone 3G vào tháng 6 năm 2008, vóc dáng gầy gò quá mức của ông đã làm lu mờ hiệu ứng ra mắt sản phẩm. Trên tờ Esquire,, Tom Junod mô tả hình dáng “úa tàn” trên sân khấu là “hốc hác như một tên cướp biển, trong trang phục mà trước giờ luôn là lễ phục thể hiện sự mạnh mẽ của ông”. Apple đã phát đi một thông tin không xác thực rằng việc sút cân là hậu quả của một bệnh “virus thông thường”. Tháng tiếp sau, vì các nghi vấn vẫn tồn tại, công ty tiếp tục phát đi thông tin khác rằng tình trạng sức khỏe của Jobs là “một vấn đề riêng tư”.

Joe Nocera of the New York Times wrote a column denouncing the handling of Jobs’s health issues. “Apple simply can’t be trusted to tell the truth about its chief executive,” he wrote in late July. “Under Mr. Jobs, Apple has created a culture of secrecy that has served it well in many ways—the speculation over which products Apple will unveil at the annual Macworld conference has been one of the company’s best marketing tools. But that same culture poisons its corporate governance.” As he was writing the column and getting the standard “a private matter” comment from all at Apple, he got an unexpected call from Jobs himself. “This is Steve Jobs,” he began. “You think I’m an arrogant asshole who thinks he’s above the law, and I think you’re a slime bucket who gets most of his facts wrong.” After that rather arresting opening, Jobs offered up some information about his health, but only if Nocera would keep it off the record. Nocera honored the request, but he was able to report that, while Jobs’s health problems amounted to more than a common bug, “they weren’t life-threatening and he doesn’t have a recurrence of cancer.” Jobs had given Nocera more information than he was willing to give his own board and shareholders, but it was not the full truth.

Joe Nocera của New York Times đã viết một bài báo tiết lộ việc bưng bít thông tin sức khỏe của Jobs. “Đơn giản là người ta không tin rằng Apple sẽ nói thật về tình hình sức khỏe của giám đốc của họ”, anh viết vào cuối tháng 7. “Dưới thời Jobs, Apple hình thành một văn hóa bảo mật được hỗ trợ họ đắc lực theo nhiều cách - những phỏng đoán về các sản phẩm Apple sẽ tiết lộ tại hội nghị Macworld thường niên đã trở thành một trong những công cụ marketing tốt nhất của công ty này. Nhưng cũng chính văn hóa này hủy hoại việc quản trị doanh nghiệp.” Vì Nocera đã viết bài báo và thấu hiểu chuẩn mực của “một vấn đề riêng tư” từ tất cả các nhân viên Apple, anh lập tức nhận được một cuộc gọi bất ngờ từ chính Jobs. “Steve Jobs đây”, ông gay gắt. “Anh cho rằng tôi là một tên khốn kiêu căng, kẻ đang nghĩ rằng anh coi thường luật pháp. Tôi thì cho rằng anh là kẻ rác rưởi chỉ có toàn những thông tin sai lệch.” Sau màn mở đầu khá ấn tượng đó, Jobs cung cấp một số thông tin về tình trạng sức khỏe của mình với điều kiện Nocera phải giữ kín chúng. Nocera rất tôn trọng lời đề nghị nhưng anh hoàn toàn có thể công bố thông tin đó, trong khi vấn đề sức khỏe của Jobs đã trở nên nghiêm trọng hơn là một “bệnh virus thông thường”, “đó không phải là vấn đề đe dọa tính mạng, và ông ấy không bị tái phát ung thư”. Jobs đã cung cấp cho Nocera nhiều thông tin hơn cả những gì ông muốn nói với hội đồng quản trị và các cổ đông, nhưng đó không phải là tất cả sự thật.

Partly due to concern about Jobs’s weight loss, Apple’s stock price drifted from $188 at the beginning of June 2008 down to $156 at the end of July. Matters were not helped in late August when Bloomberg News mistakenly released its prepackaged obituary of Jobs, which ended up on Gawker. Jobs was able to roll out Mark Twain’s famous quip a few days later at his annual music event. “Reports of my death are greatly exaggerated,” he said, as he launched a line of new iPods. But his gaunt appearance was not reassuring. By early October the stock price had sunk to $97.

Một phần vì những quan ngại đối với việc sút cân của Jobs, giá cổ phiếu của Apple đã giảm từ 188 đô-la vào đầu tháng 6 năm 2008 xuống còn 156 đô-la vào cuối tháng 7 cùng năm. Mọi thứ càng trở nên tồi tệ hơn vào cuối tháng 8 khi Bloomberg do nhầm lẫn đã phát đi lời cáo phó được chuẩn bị sẵn của Jobs, và sau đó thông tin này xuất hiện cả trên trang Gawker. Jobs đã sử dụng câu nói châm biếm nổi tiếng của Mark Twain trong một chương trình âm nhạc thường niên vài ngày sau đó. “Những thông tin về cái chết của tôi đã được thổi phòng quá mức”, ông nói khi giới thiệu dòng sản phẩm iPod mới. Nhưng bộ dạng hốc hác của ông không làm người ta yên tâm. Đến đầu tháng 10, giá cổ phiếu đã sụt xuống 97 đô-la.



That month Doug Morris of Universal Music was scheduled to meet with Jobs at Apple. Instead Jobs invited him to his house. Morris was surprised to see him so ill and in pain. Morris was about to be honored at a gala in Los Angeles for City of Hope, which raised money to fight cancer, and he wanted Jobs to be there. Charitable events were something Jobs avoided, but he decided to do it, both for Morris and for the cause. At the event, held in a big tent on Santa Monica beach, Morris told the two thousand guests that Jobs was giving the music industry a new lease on life. The performances—by Stevie Nicks, Lionel Richie, Erykah Badu, and Akon—went on past midnight, and Jobs had severe chills. Jimmy Iovine gave him a hooded sweatshirt to wear, and he kept the hood over his head all evening. “He was so sick, so cold, so thin,” Morris recalled.

Cũng trong tháng đó, Doug Morris của Universal Music được sắp xếp gặp Jobs tại Apple. Nhưng thay vào đó, Jobs đã mời ông tới nhà riêng. Morris vô cùng ngạc nhiên khi trông thấy ông rất gầy gò và đau ốm. Lúc đó, Morris sắp được vinh danh trong một chương trình ở Los Angeles do City of Hope tổ chức, với mục đích gây quỹ chống ung thư, và mong muốn Jobs tham gia. Các chương trình từ thiện là một trong những thứ Jobs luôn tránh, nhưng ông đã nhận lời, phần vì Morris và phần vì ý nghĩa của chương trình. Trong chương trình, được tổ chức trong một hội trại lớn trên bờ biển Santa Monica, Morris nói với hai nghìn khách mời rằng Jobs đã mang đến cho nền công nghiệp âm nhạc một cuộc đời mới. Những tiết mục biểu diễn - của steive Nicks, Lionel Richie, Erykah Badu và Akon - tiếp diễn cho tới quá nửa đêm khiến Jobs bị cảm lạnh. Jimmy lovine đưa cho ông một chiếc áo nỉ có mũ và ông đã trùm mũ lên đầu trong suốt buổi tối. “Ông ấy quá ốm, lạnh run và quá gầy”, Morris nhớ lại.

Fortune’s veteran technology writer Brent Schlender was leaving the magazine that December, and his swan song was to be a joint interview with Jobs, Bill Gates, Andy Grove, and Michael Dell. It had been hard to organize, and just a few days before it was to happen, Jobs called to back out. “If they ask why, just tell them I’m an asshole,” he said. Gates was annoyed, then discovered what the health situation was. “Of course, he had a very, very good reason,” said Gates. “He just didn’t want to say.” That became more apparent when Apple announced on December 16 that Jobs was canceling his scheduled appearance at the January Macworld, the forum he had used for big product launches for the past eleven years.

Một nhà báo kỳ cựu của Fortune chuyên viết về công nghệ, Brent Schlender đã rời tạp chí vào tháng 12, và tác phẩm cuối cùng của ông là một bài phỏng vấn chung Jobs, Bill Gates, Andy Grove và Michael Dell. ĐÓ là một bài phỏng vấn rất khó để sắp xếp được, và chỉ vài ngày trước khi nó diễn ra, Jobs đã gọi điện thông báo rút lui. “Nếu họ hỏi tại sao thì cứ nói rằng tôi là một tên khốn”, ông nói. Gates cảm thấy khó chịu, nhưng rồi sau đó phát hiện ra tình trạng sức khỏe của Jobs thực sự như thế nào. “Dĩ nhiên là ông ấy đã có một lý do rất, rất hay”, Gates nói. “ông ấy chỉ không muốn nói gì hết”. Mọi việc càng trở nên rõ ràng khi ngày 16/12, Apple thông báo Jobs hủy bỏ kế hoạch xuất hiện tại sự kiện Macworld vào tháng 1 - diễn đàn mà ông thường tham dự để giới thiệu những sản phẩm quan trọng trong suốt 11 năm qua.

The blogosphere erupted with speculation about his health, much of which had the odious smell of truth. Jobs was furious and felt violated. He was also annoyed that Apple wasn’t being more active in pushing back. So on January 5, 2009, he wrote and released a misleading open letter. He claimed that he was skipping Macworld because he wanted to spend more time with his family. “As many of you know, I have been losing weight throughout 2008,” he added. “My doctors think they have found the cause—a hormone imbalance that has been robbing me of the proteins my body needs to be healthy. Sophisticated blood tests have confirmed this diagnosis. The remedy for this nutritional problem is relatively simple.” There was a kernel of truth to this, albeit a small one. One of the hormones created by the pancreas is glucagon, which is the flip side of insulin. Glucagon causes your liver to release blood sugar. Jobs’s tumor had metastasized into his liver and was wreaking havoc. In effect, his body was devouring itself, so his doctors gave him drugs to try to lower the glucagon level. He did have a hormone imbalance, but it was because his cancer had spread into his liver. He was in personal denial about this, and he also wanted to be in public denial.

Giới blogger bùng lên những phỏng đoán về sức khỏe của ông, và rất nhiều trong số đó lại là sự thật. Jobs vô cùng giận dữ và cảm thấy bị xúc phạm, ông cũng cảm thấy khó chịu với việc Apple đã không chủ động hơn trong việc phản ứng lại. Do đó, ngày 5/1/2009, ông soạn và phát đi một bức thư ngỏ nhằm đánh lạc hướng, ông xác nhận rằng ông không tham dự sự kiện Macworld vì muốn dành nhiều thời gian hơn cho gia đình. “Như các bạn đã biết, tôi liên tục sút cân trong suốt năm 2008”, ông nói thêm. Các bác sĩ cho rằng họ đã tìm ra nguyên nhân - sự mất cân bằng hoóc-môn đã không giúp tôi hấp thụ những chất đạm giúp cơ thể khỏe mạnh. Những xét nghiệm máu cụ thể đã khẳng định điều này. Cách chữa trị vấn đề này tương đối đơn giản.” Cũng có một chút sự thật ở đây, mặc dù chỉ là một phần nhỏ. Một trong những loại hoóc-môn mà tuyến tụy tiết ra là glucagon, có tác động ngược lại với insulin. Glucagon gây tăng đường huyết. Khối u của Jobs đã di căn vào gan và bắt đầu tàn phá. Thực tế, cơ thể của ông đã tự phá hủy chính nó, do đó các bác sĩ đã kê cho ông dùng những loại thuốc giúp giảm lượng glucagon, ông thực sự mất cân bằng hoóc-môn, nhưng đó là bởi khối ung thư của ông đã di căn vào gan. Cá nhân ông không chấp nhận điều này và ông cũng muốn phủ nhận nó một cách công khai.

Unfortunately that was legally problematic, because he ran a publicly traded company. But Jobs was furious about the way the blogosphere was treating him, and he wanted to strike back. He was very sick at this point, despite his upbeat statement, and also in excruciating pain. He had undertaken another round of cancer drug therapy, and it had grueling side effects. His skin started drying out and cracking. In his quest for alternative approaches, he flew to Basel, Switzerland, to try an experimental hormone-delivered radiotherapy. He also underwent an experimental treatment developed in Rotterdam known as peptide receptor radionuclide therapy.

Không may, đây lại là một vấn đề mang tính pháp lý bởi ông đang điều hành một công ty đã lên sàn. Nhưng Jobs vẫn rất tức tối với cách mà giới blogger đối xử với ông, và ông muốn đánh trả lại. Tại thời điểm đó, mặc dù những tuyên bố có vẻ rất lạc quan, nhưng ông thực sự rất ốm và vô cùng đau đớn. Jobs đã phải trải qua một đợt điều trị ung thư khác, có những tác dụng phụ chết người. Da ông trở nên khô và nứt nẻ. Trong các nỗ lực tìm kiếm những cách chữa trị khác, ông đã bay tới Basel, Thụy Sỹ để thử một phương pháp trị liệu bằng bức xạ đã được kiểm nghiệm có tác dụng sản sinh enzym. ông cũng trải qua một phương pháp điều trị thực nghiệm khác tại Rotterdam, được gọi là phương pháp dùng nuclit phóng xạ cho phép tiếp nhận sự kết hợp hai hay nhiều axit amin tạo thành chuỗi.

After a week filled with increasingly insistent legal advice, Jobs finally agreed to go on medical leave. He made the announcement on January 14, 2009, in another open letter to the Apple staff. At first he blamed the decision on the prying of bloggers and the press. “Unfortunately, the curiosity over my personal health continues to be a distraction not only for me and my family, but everyone else at Apple,” he said. But then he admitted that the remedy for his “hormone imbalance” was not as simple as he had claimed. “During the past week I have learned that my health-related issues are more complex than I originally thought.” Tim Cook would again take over daily operations, but Jobs said that he would remain CEO, continue to be involved in major decisions, and be back by June.

Sau một tuần liên tiếp nhận được những lời khuyên pháp lý ngày càng kiên quyết, cuối cùng Jobs cũng đồng ý nghỉ việc vì lý do sức khỏe. Ngày 14/1/2009, ông chính thức thông báo điều này trong một bức thư ngỏ gửi cho các nhân viên Apple. Lúc đầu, ông đổ lỗi quyết định này là do tính tò mò tọc mạch của giới blogger và giới báo chí. “Thật không may, sự tò mò về tình hình sức khỏe của cá nhân tôi lại tiếp tục gây ảnh hưởng tới không chỉ riêng tôi và gia đình tôi mà còn tới tất cả những người khác ở Apple”, ông nói. Nhưng sau đó, ông thừa nhận rằng phương pháp điều trị sự “mất cân bằng hoóc-môn” của ông không đơn giản như ông từng nghĩ. “Trong suốt tuần qua, tôi nhận thấy những vấn đề sức khỏe phức tạp hơn tôi tưởng tượng”. Tim Cook một lần nữa nhận trách nhiệm điều hành công việc thường ngày, nhưng Jobs nói rằng ông vẫn tiếp tục giữ vị trí CEO, vẫn tham gia vào những quyết định quan trọng và sẽ trở lại vào tháng 6.

Jobs had been consulting with Bill Campbell and Art Levinson, who were juggling the dual roles of being his personal health advisors and also the co-lead directors of the company. But the rest of the board had not been as fully informed, and the shareholders had initially been misinformed. That raised some legal issues, and the SEC opened an investigation into whether the company had withheld “material information” from shareholders. It would constitute security fraud, a felony, if the company had allowed the dissemination of false information or withheld true information that was relevant to the company’s financial prospects. Because Jobs and his magic were so closely identified with Apple’s comeback, his health seemed to meet this standard. But it was a murky area of the law; the privacy rights of the CEO had to be weighed. This balance was particularly difficult in the case of Jobs, who both valued his privacy and embodied his company more than most CEOs. He did not make the task easier. He became very emotional, both ranting and crying at times, when railing against anyone who suggested that he should be less secretive.

Jobs vẫn tiếp tục tư vấn, trao đổi với Bill Campbell và Art Levinson, những người đang phải kiêm nhiệm hai vai trò, vừa là chuyên gia cố vấn sức khỏe cho riêng ông, vừa là những đồng giám đốc của công ty. Nhưng những người còn lại của hội đồng quản trị không được cung cấp đầy đủ thông tin, và các cổ đông là đối tượng đầu tiên bị đánh lạc hướng. Việc này làm nảy sinh một số vấn đề pháp lý, SEC đã mở một cuộc điều tra về việc công ty có đang cố tình bưng bít thông tin với các cổ đông. Điều này sẽ hình thành một âm mưu lừa dối về tính bảo mật, một trọng tội, nếu công ty tiếp tục cho phép ban bố rộng rãi những thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật có liên quan tới viễn cảnh tài chính của công ty. Do Jobs và sức hấp dẫn của ông có quan hệ mật thiết với sự trở lại của Apple, cho nên vấn đề sức khỏe của ông dường như đã chạm đến ngưỡng này. Tuy nhiên vẫn có một số điểm không rõ ràng trong luật, đó là quyền riêng tư của CEO phải được cân nhắc. Sự cân bằng này đặc biệt khó trong trường hợp của Jobs, người rất coi trọng sự riêng tư của mình và là hiện thân của công ty hơn tất cả các CEO khác, ông đã không làm cho mọi chuyện đơn giản hơn. Ông trở nên rất dễ kích động, thường xuyên vừa khóc vừa lớn tiếng chửi bới bất kỳ ai khuyên ông nên bớt kín tiếng.

Campbell treasured his friendship with Jobs, and he didn’t want to have any fiduciary duty to violate his privacy, so he offered to step down as a director. “The privacy side is so important to me,” he later said. “He’s been my friend for about a million years.” The lawyers eventually determined that Campbell didn’t need to resign from the board but that he should step aside as co-lead director. He was replaced in that role by Andrea Jung of Avon. The SEC investigation ended up going nowhere, and the board circled the wagons to protect Jobs from calls that he release more information. “The press wanted us to blurt out more personal details,” recalled Al Gore. “It was really up to Steve to go beyond what the law requires, but he was adamant that he didn’t want his privacy invaded. His wishes should be respected.” When I asked Gore whether the board should have been more forthcoming at the beginning of 2009, when Jobs’s health issues were far worse than shareholders were led to believe, he replied, “We hired outside counsel to do a review of what the law required and what the best practices were, and we handled it all by the book. I sound defensive, but the criticism really pissed me off.”

Campbell trân trọng tình bạn với Jobs, và ông không muốn nhận nhiệm vụ xâm phạm tới đời tư của Jobs, do đó ông đề nghị hạ cấp xuống chỉ là một giám đốc. “Vấn đề về đời tư vô cùng quan trọng đối với tôi”, về sau ông nói. “ông ấy là bạn của tôi từ hàng chục năm nay.” Cuối cùng các luật sư quyết định rằng Campbell không cần phải rút khỏi hội đồng quản trị nhưng ông không nên giữ chức đồng giám đốc. Vị trí đó của ông được thay thế bởi Andrea Jung của Avon. Cuộc điều tra của SEC kết thúc mà không có kết quả gì, hội đồng quản trị không tiếp xúc với giới truyền thông để bảo vệ Jobs khỏi những cuộc gọi có thể khiến ông tiết lộ thêm thông tin. “Báo chí đang mong chúng tôi buột miệng lộ ra những thông tin cá nhân”, AI Gore nhớ lại. “Việc có đi quá những gì luật pháp yêu cầu hay không thực sự phụ thuộc vào Jobs, nhưng ông ấy rất cứng rắn về việc không muốn đời tư bị xâm phạm. Mong muốn của ông ấy nên được tôn trọng”. Khi tôi hỏi Gore về việc hội đồng quản trị có chuẩn bị gì cho đầu năm 2009, khi vấn đề sức khỏe của Jobs trở nên tệ hơn rất nhiều những gì các cổ đông đang được biết, ông trả lời rằng, “chúng tôi đã thuê luật sư bên ngoài để nghiên cứu xem luật pháp yêu cầu những gì, những trường hợp thực tế thành công và chúng tôi sẽ xử lý chúng bằng tất cả sổ sách. Nghe có vẻ phòng thủ nhưng những lời bình phẩm thực sự làm tôi tức giận.”

One board member disagreed. Jerry York, the former CFO at Chrysler and IBM, did not say anything publicly, but he confided to a reporter at the Wall Street Journal, off the record, that he was “disgusted” when he learned that the company had concealed Jobs’s health problems in late 2008. “Frankly, I wish I had resigned then.” When York died in 2010, the Journal put his comments on the record.

Một thành viên trong hội đồng quản trị bất bình. Jerry York, cựu Giám đốc Tài chính của Chrysler và IBM, không tuyên bố bất kỳ điều gì công khai, nhưng đã nói riêng với một phóng viên của Wall Street Journal một cách bí mật, rằng ông vô cùng phẫn nộ khi biết công ty đã giấu diếm tình hình sức khỏe của Jobs vào cuối năm 2008. “Thẳng thắn mà nói thì tôi ước là tôi đã từ chức sau đó.” Khi York mất vào năm 2010, tờ tạp chí đã đưa những thông tin mà ông cung cấp lên báo.

York had also provided off-the-record information to Fortune, which the magazine used when Jobs went on his third health leave, in 2011. Some at Apple didn’t believe the quotes attributed to York were accurate, since he had not officially raised objections at the time. But Bill Campbell knew that the reports rang true; York had complained to him in early 2009. “Jerry had a little more white wine than he should have late at night, and he would call at two or three in the morning and say, ‘What the fuck, I’m not buying that shit about his health, we’ve got to make sure.’ And then I’d call him the next morning and he’d say, ‘Oh fine, no problem.’ So on some of those evenings, I’m sure he got raggy and talked to reporters.”

York cũng đã cung cấp cho Fortune những thông tin mật và tạp chí này đã tận dụng cho đăng khi Jobs nghỉ lần thứ ba vì lý do sức khỏe, vào năm 2011.

Một số người ở Apple không tin những câu trích dẫn được cho là của York là chính xác bởi ông không chính thức thể hiện sự phản đối tại thời điểm đó. Nhưng Bill Campbell biết rằng các bài báo đã nói đúng sự thật. York đã phàn nàn với ông về điều này vào đầu năm 2009. “Jerry đã uống nhiều vang trắng hơn bình thường vào đêm khuya, ông gọi cho tôi vào hai hay ba giờ sáng gì đó và nói, “chết tiệt, tôi không mua đống rác rưởi đó vào người về chuyện sức khỏe của ông ấy, chúng ta cần chắc chắn về việc này. Sau đó tôi gọi lại cho ông ấy vào sáng hôm sau và ông ấy nói, “ồ, không vấn đề gì đâu. Một trong những đêm khuya như thế, tôi chắc là ông ấy đã nói chuyện với các phóng viên.”

Memphis

The head of Jobs’s oncology team was Stanford University’s George Fisher, a leading researcher on gastrointestinal and colorectal cancers. He had been warning Jobs for months that he might have to consider a liver transplant, but that was the type of information that Jobs resisted processing. Powell was glad that Fisher kept raising the possibility, because she knew it would take repeated proddings to get her husband to consider the idea.

Memphis

Người đứng đầu nhóm nghiên cứu bệnh ung thư của Jobs là George Fisher của Đại học Stanford, một chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về các loại ung thư dạ dày và ung thư ruột. Ông từng cảnh báo Jobs trong nhiều tháng liền rằng ông đang cân nhắc đến việc ghép gan, nhưng đó lại là một trong những yêu cầu mà Jobs nhất quyết từ chối thực hiện. Powell thấy vui vì Fisher vẫn kiên nhẫn chỉ ra những khả năng thành công, vì bà biết rằng những lời động viên lặp đi lặp lại sẽ khiến cho chòng bà cân nhắc đến ý kiến đó.

He finally became convinced in January 2009, just after he claimed his “hormonal imbalance” could be treated easily. But there was a problem. He was put on the wait list for a liver transplant in California, but it became clear he would never get one there in time. The number of available donors with his blood type was small. Also, the metrics used by the United Network for Organ Sharing, which establishes policies in the United States, favored those suffering from cirrhosis and hepatitis over cancer patients.

Cuối cùng thì Jobs cũng bị thuyết phục vào tháng 1 năm 2009, ngay sau khi ông tuyên bố rằng bệnh “mất cân bằng hoóc- môn” của mình có thể được chữa trị dễ dàng. Nhưng có một vấn đề. ông được đưa vào danh sách chờ ghép gan ở California, nhưng một điều chắc chắn là ông khó mà có cơ hội được ghép, số lượng người hiến tặng sẵn có trùng với nhóm máu của ông rất ít. Ngoài ra, những tiêu chuẩn về việc chia sẻ nội tạng được đưa ra bởi United Network - tổ chức xây dựng các chính sách về chia sẻ nội tạng của Mỹ - dành ưu tiên cho những người bị sơ gan và viêm gan hơn là những bệnh nhân ung thư.

There is no legal way for a patient, even one as wealthy as Jobs, to jump the queue, and he didn’t. Recipients are chosen based on their MELD score (Model for End-Stage Liver Disease), which uses lab tests of hormone levels to determine how urgently a transplant is needed, and on the length of time they have been waiting. Every donation is closely audited, data are available on public websites (optn.transplant.hrsa.gov/), and you can monitor your status on the wait list at any time.

Không có trường hợp ngoại lệ nào cho bệnh nhân, kể cả với một người giàu có như Jobs, có thể chen ngang vào danh sách, và ông cũng không làm thế. Người nhận sẽ được chọn lựa dựa trên thang điểm MELD (Mô hình bệnh gan giai đoạn cuối) - sử dụng những kết quả kiểm tra trong phòng thí nghiệm về lượng hoóc-môn để cân nhắc mức độ khẩn cấp của một ca ghép gan, và phụ thuộc vào thời gian người đó đã chờ. Mỗi ca hiến tặng đều được kiểm tra chặt chẽ, dữ liệu được công bố trên các trang web công cộng (optn.transplant.hrsa.gov), và bạn có thể theo dõi tình trạng của mình trong danh sách vào bất kỳ lúc nào.

Powell became the troller of the organ-donation websites, checking in every night to see how many were on the wait lists, what their MELD scores were, and how long they had been on. “You can do the math, which I did, and it would have been way past June before he got a liver in California, and the doctors felt that his liver would give out in about April,” she recalled. So she started asking questions and discovered that it was permissible to be on the list in two different states at the same time, which is something that about 3% of potential recipients do. Such multiple listing is not discouraged by policy, even though critics say it favors the rich, but it is difficult. There were two major requirements: The potential recipient had to be able to get to the chosen hospital within eight hours, which Jobs could do thanks to his plane, and the doctors from that hospital had to evaluate the patient in person before adding him or her to the list.

Powell trở thành người canh chừng tất cả các trang web hiến tặng nội tạng, đêm nào cũng kiểm tra xem còn bao nhiêu người trong danh sách chờ, xem các bảng điểm MELD và thời gian họ đã chờ đợi. “Bạn có thể thực hiện phép tính, việc mà tôi đã làm, và kết quả là phải lâu sau tháng 6 anh ấy mới có cơ hội được ghép gan ở California, trong các bác sĩ dự đoán gan của anh ấy chỉ trụ được đến tháng 4”, bà nhớ lại. Vì vậy, bà bắt đầu đặt ra hàng loạt câu hỏi và phát hiện ra rằng họ được phép đăng ký vào danh sách chờ ở hai bang khác nhau tại cùng một thời điểm. Có khoảng 3% bệnh nhân tiềm năng làm điều này. Các quy định không hạn chế việc đăng ký nhiều danh sách chờ, mặc dù những người chỉ trích cho rằng đó là chính sách ưu ái người giàu, nhưng việc này cũng rất khó khăn. Có hai yêu cầu chính: Bệnh nhân tiếp nhận phải có khả năng tới bệnh viện lựa chọn trong vòng 8 tiếng, điều này thì Jobs có thể làm được vì có máy bay riêng: và các bác sĩ tại bệnh viện đó phải kiểm tra bệnh nhân trước khi đưa người đó vào danh sách chờ.

George Riley, the San Francisco lawyer who often served as Apple’s outside counsel, was a caring Tennessee gentleman, and he had become close to Jobs. His parents had both been doctors at Methodist University Hospital in Memphis, he was born there, and he was a friend of James Eason, who ran the transplant institute there. Eason’s unit was one of the best and busiest in the nation; in 2008 he and his team did 121 liver transplants. He had no problem allowing people from elsewhere to multiple-list in Memphis. “It’s not gaming the system,” he said. “It’s people choosing where they want their health care. Some people would leave Tennessee to go to California or somewhere else to seek treatment. Now we have people coming from California to Tennessee.” Riley arranged for Eason to fly to Palo Alto and conduct the required evaluation there.

George Riley, một luật sư từ San Francisco, người thường làm việc cho Apple như một luật sư ngoài, là một quý ông Tennessee rất chu đáo và ngày càng trở nên thân thiết với Jobs. Bố mẹ anh đều là bác sĩ của Viện Đại học Methodist tại Memphis, anh được sinh ra ở đây, và là bạn của James Eason - người đang điều hành một viện cấy ghép tại đây. Cơ sở của Eason là một trong những địa chỉ tốt nhất và đông nhất trên cả nước Mỹ. Năm 2008, anh và nhóm làm việc của mình đã tiến hành 121 ca ghép gan. Anh không gặp khó khăn gì khi cho phép người ở những nơi khác đăng ký vào danh sách chờ tại Memphis. “Đó không phải là lách luật”, anh nói. “Đó là cách mọi người lựa chọn nơi chăm sóc sức khỏe của mình. Một vài người đã rời Tennessee tới California hoặc một nơi nào khác để tìm kiếm các phương pháp chữa trị. Bây giờ thì chúng tôi lại có những bệnh nhân từ California tìm đến Tennessee.” Riley đã sắp xếp cho Eason bay tới Palo Alto và thực hiện công việc kiểm tra theo yêu cầu kia.

By late February 2009 Jobs had secured a place on the Tennessee list (as well as the one in California), and the nervous waiting began. He was declining rapidly by the first week in March, and the waiting time was projected to be twenty-one days. “It was dreadful,” Powell recalled. “It didn’t look like we would make it in time.” Every day became more excruciating. He moved up to third on the list by mid-March, then second, and finally first. But then days went by. The awful reality was that upcoming events like St. Patrick’s Day and March Madness (Memphis was in the 2009 tournament and was a regional site) offered a greater likelihood of getting a donor because the drinking causes a spike in car accidents.

Cuối tháng 2 năm 2009, Jobs đã có được một vị trí an toàn trong danh sách ở Tennessee (và một vị trí nữa ở California), và giai đoạn chờ đợi trong lo lắng bắt đầu. Vị trí của ông đã tiến nhanh trong tuần đầu tiên của tháng 3, và thời gian chờ được tính là chỉ còn 21 ngày. “Thật mệt mỏi và đáng sợ”, Powell nhớ lại. “Có vẻ như chúng tôi sẽ không thể ghép gan kịp thời.” Mỗi ngày trôi qua hết sức đau đớn. Tới giữa tháng 3, ông đứng thứ ba trong danh sách, rồi thứ hai, và cuối cùng là thứ nhất. Những ngày đó cũng trôi qua. Có một thực tế lạ lùng là những sự kiện lớn sắp diễn ra - như dịp nghỉ lễ Thánh Patrick hay giải đấu March Madness (Memphis đang có giải thi đấu của năm 2009 và là một vùng đất của tôn giáo) thường chắc chắn mang lại khả năng nhận được bộ phận hiến tặng cao hơn, do sự say sỉn thường gây ra những vụ tai nạn ô tô.

Indeed, on the weekend of March 21, 2009, a young man in his midtwenties was killed in a car crash, and his organs were made available. Jobs and his wife flew to Memphis, where they landed just before 4 a.m. and were met by Eason. A car was waiting on the tarmac, and everything was staged so that the admitting paperwork was done as they rushed to the hospital.

Thực tế, vào ngày 21/3/2009, một chàng trai trẻ chừng 25 tuổi bị chết trong một vụ đâm xe và các nội tạng của anh được hiến tặng. Jobs và vợ bay tới Memphis, hạ cánh trước 4 giờ sáng và gặp Eason. Một chiếc ô tô đã đợi sẵn ở ngay phần đường còn rải đá dăm. Mọi thứ đều đã được chuẩn bị sẵn nên các giấy tờ thủ tục cũng được hoàn tất ngay khi họ tới bệnh viện.

The transplant was a success, but not reassuring. When the doctors took out his liver, they found spots on the peritoneum, the thin membrane that surrounds internal organs. In addition, there were tumors throughout the liver, which meant it was likely that the cancer had migrated elsewhere as well. It had apparently mutated and grown quickly. They took samples and did more genetic mapping.

Ca phẫu thuật cấy ghép đã diễn ra thành công nhưng vẫn chưa làm mọi người yên tâm. Khi các bác sĩ lấy gan của ông ra, họ nhìn thấy nhiều đốm trên phúc mạc - một màng mỏng bao phủ các cơ quan nội tạng. Hơn nữa, có rất nhiều khối u ở khắp gan, điều này có nghĩa là chắc chắn khối ung thư đã di căn sang những bộ phận khác nữa. Rõ ràng nó đang biến đổi và phát triển nhanh chóng. Họ lấy mẫu ròi lập bản đồ gen.

A few days later they needed to perform another procedure. Jobs insisted against all advice they not pump out his stomach, and when they sedated him, he aspirated some of the contents into his lungs and developed pneumonia. At that point they thought he might die. As he described it later:

Vài ngày sau, họ cần thực hiện một thủ tục khác. Jobs từ chối mọi lời khuyên dù rằng họ nói sẽ không cắt bỏ dạ dày của ông. Khi họ cho ông dùng thuốc an thần, họ nhận thấy một số thức ăn bị đẩy vào phổi của ông và gây viêm phổi. Tại thời điểm đó, họ đã tưởng ông sắp chết. Như ông kể lại sau này:

I almost died because in this routine procedure they blew it. Laurene was there and they flew my children in, because they did not think I would make it through the night. Reed was looking at colleges with one of Laurene’s brothers. We had a private plane pick him up near Dartmouth and tell them what was going on. A plane also picked up the girls. They thought it might be the last chance they had to see me conscious. But I made it.

Tôi gần như đã chết bởi những thủ tục thường lệ đó. Laurene luôn có mặt ở đó và các con tôi cũng bay tới, bởi họ nghĩ tôi không thể qua được đêm đó. Reed lúc đó đang ở trường cùng một trong các anh trai của Laurene. Chúng tôi đã đón nó ở gần Dartmouth bằng máy bay riêng và cho chúng biết chuyện gì đang xảy ra. Các con gái tôi cũng được đón bằng máy bay. Họ đã nghĩ rằng đây có lẽ là cơ hội cuối cùng có thể thấy tôi còn tỉnh táo. Nhưng tôi đã vượt qua được.

Powell took charge of overseeing the treatment, staying in the hospital room all day and watching each of the monitors vigilantly. “Laurene was a beautiful tiger protecting him,” recalled Jony Ive, who came as soon as Jobs could receive visitors. Her mother and three brothers came down at various times to keep her company.

Powell chịu trách nhiệm theo dõi việc điều trị, ở trong phòng bệnh cả ngày và quan sát các màn hình máy tính một cách thận trọng. “Laurene giống như một con hổ xinh đẹp luôn ở bên cạnh bảo vệ ông ấy”, Jony Ive - người đã tới thăm ngay khi Jobs được cho phép gặp khách, nhớ lại. Mẹ và ba anh trai của bà ấy đã tới viện vào những thời gian khác nhau để thay nhau ở cùng Laurene.

Jobs’s sister Mona Simpson also hovered protectively. She and George Riley were the only people Jobs would allow to fill in for Powell at his bedside. “Laurene’s family helped us take care of the kids—her mom and brothers were great,” Jobs later said. “I was very fragile and not cooperative. But an experience like that binds you together in a deep way.”

Chị gái Mona Simpson của Jobs cũng qua lại thường xuyên. Bà và George Riley là những người duy nhất Jobs đồng ý cho thay thế Powell túc trực cạnh giường ông. “Gia đình của Laurene đã giúp chúng tôi chăm sóc bọn trẻ - mẹ và các anh trai của cô ấy rất tốt”, Jobs chia sẻ. “Tôi đã rất yếu và không thể giúp ích được gì. Nhưng những chuyện như thế này đã gắn kết mọi người lại với nhau một cách sâu sắc”.

Powell came every day at 7 a.m. and gathered the relevant data, which she put on a spreadsheet. “It was very complicated because there were a lot of different things going on,” she recalled.

Powell đến bệnh viện vào 7 giờ sáng mỗi ngày và thu thập các dữ liệu liên quan rồi đưa chúng vào một bảng tính. “Nó rất phức tạp vì có quá nhiều thứ khác nhau đang diễn ra”, bà kể lại.

When James Eason and his team of doctors arrived at 9 a.m., she would have a meeting with them to coordinate all aspects of Jobs’s treatment. At 9 p.m., before she left, she would prepare a report on how each of the vital signs and other measurements were trending, along with a set of questions she wanted answered the next day. “It allowed me to engage my brain and stay focused,” she recalled.

Khi James Eason và các bác sĩ trong nhóm của ông đến vào lúc 9 giờ, bà sẽ họp với họ để tổng hợp lại tất cả các vấn đề về việc điều trị của Jobs. Vào lúc 9 giờ tối, trước khi rời viện, bà chuẩn bị một báo cáo về từng dấu hiệu quan trọng và các chỉ số đang diễn biến ra sao, cùng với một loạt các câu hỏi mà bà muốn có câu trả lời vào ngày hôm sau. “Việc này giúp não tôi hoạt động hiệu quả và tập trung”, bà kể lại.

Eason did what no one at Stanford had fully done: take charge of all aspects of the medical care. Since he ran the facility, he could coordinate the transplant recovery, cancer tests, pain treatments, nutrition, rehabilitation, and nursing. He would even stop at the convenience store to get the energy drinks Jobs liked. Two of the nurses were from tiny towns in Mississippi, and they became Jobs’s favorites.

Eason đã làm những việc mà không ai ở Stanford từng làm một cách trọn vẹn: chịu trách nhiệm về mọi mặt trong việc điều trị. Vì là người vận hành các thiết bị, anh có thể thực hiện việc hồi phục sau cấy ghép, các xét nghiệm ung thư, điều trị giảm đau, bổ sung các dưỡng chất, phục hồi chức năng và cả điều dưỡng. Thậm chí anh còn qua cửa hàng bán lẻ mua những loại đồ uống tăng lực mà Jobs ưa thích.

They were solid family women and not intimidated by him. Eason arranged for them to be assigned only to Jobs. “To manage Steve, you have to be persistent,” recalled Tim Cook. “Eason managed Steve and forced him to do things that no one else could, things that were good for him that may not have been pleasant.” Despite all the coddling, Jobs at times almost went crazy. He chafed at not being in control, and he sometimes hallucinated or became angry.

Hai trong số các y tá đến từ những thành phố nhỏ thuộc Mississippi, và họ đã trở thành những người mà Jobs yêu quý. Họ là những người phụ nữ từ những gia đình tử tế và không bị ông làm cho sợ hãi. Eason bố trí để họ chỉ nhận giao việc từ Jobs. “Để quản lý được Steve, bạn phải rất kiên trì”, Tim Cook chia sẻ. “Eason đã quản lý được Steve và buộc ông phải làm những việc mà không ai ép được, những điều tốt cho ông ấy thì thường không hề dễ chịu”.

Even when he was barely conscious, his strong personality came through. At one point the pulmonologist tried to put a mask over his face when he was deeply sedated. Jobs ripped it off and mumbled that he hated the design and refused to wear it. Though barely able to speak, he ordered them to bring five different options for the mask and he would pick a design he liked. The doctors looked at Powell, puzzled. She was finally able to distract him so they could put on the mask. He also hated the oxygen monitor they put on his finger. He told them it was ugly and too complex. He suggested ways it could be designed more simply. “He was very attuned to every nuance of the environment and objects around him, and that drained him,” Powell recalled.

Mặc kệ mọi sự chiều chuộng, Jobs vẫn thường xuyên nổi nóng, ông bực bội vì không thể kiểm soát được chính mình, thỉnh thoảng lại bị ảo giác và trở nên nóng giận. Ngay cả khi ông hoàn toàn tỉnh táo thì cá tính mạnh của ông vẫn trỗi dậy. Có lúc bác sĩ chuyên khoa phổi cố gắng đặt một chiếc mặt nạ oxy lên mặt ông lúc Jobs đang dùng thuốc an thần mạnh. Nhưng Jobs đã xé toạc nó và lầm bầm rằng ông ghét thiết kế của nó và không muốn đắp. Mặc dù hầu như không có khả năng để nói chuyện, nhưng ông vẫn yêu cầu họ mang tới năm chiếc mặt nạ khác nhau và ông sẽ lựa chọn thiết kế mà ông thích. Các bác sĩ liếc nhìn Powell, lúng túng. Cuối cùng bà cũng làm ông bị phân tâm và họ có thể đắp lại chiếc mặt nạ. ông cũng ghét máy oxygen mà họ kẹp vào tay ông. Jobs bảo họ rằng nó xấu xí và quá phức tạp. Ông gợi ý nhiều cách để có thể thiết kế nó đơn giản hơn. “Anh ấy rất quan tâm với từng sắc thái của không gian và các vật thể xung quanh, và điều đó bòn rút tiếp sức lực của anh ấy”, Powell hồi tưởng.

One day, when he was still floating in and out of consciousness, Powell’s close friend Kathryn Smith came to visit. Her relationship with Jobs had not always been the best, but Powell insisted that she come by the bedside. He motioned her over, signaled for a pad and pen, and wrote, “I want my iPhone.” Smith took it off the dresser and brought it to him. Taking her hand, he showed her the “swipe to open” function and made her play with the menus.

Có một ngày, khi ông vẫn đang lơ lửng giữa trạng thái mê mê tỉnh tỉnh, bạn thân của Powell là Kathryn Smith tới thăm. Mối quan hệ của bà với Jobs không phải lúc nào cũng tốt đẹp nhưng Powell đã nài nỉ Smith tới bên giường. Jobs ra hiệu cho bà lấy một chiếc bút và một tập giấy rồi viết, “tôi muốn có chiếc iPhone của mình”. Smith lôi nó ra khỏi vỏ và đưa cho ông. cầm lấy tay bà, Jobs chỉ cho bà chức năng “lắc để mở” và để bà dùng thử bảng chọn.

Jobs’s relationship with Lisa Brennan-Jobs, his daughter with Chrisann, had frayed. She had graduated from Harvard, moved to New York City, and rarely communicated with her father. But she flew down to Memphis twice, and he appreciated it. “It meant a lot to me that she would do that,” he recalled. Unfortunately he didn’t tell her at the time. Many of the people around Jobs found Lisa could be as demanding as her father, but Powell welcomed her and tried to get her involved. It was a relationship she wanted to restore.

Mối quan hệ của Jobs với Lisa Brennan- Jobs, con gái riêng của ông với Chrisann, vốn vẫn căng thẳng. Cô tốt nghiệp Harvard, rồi chuyển tới New York và hiếm khi chuyện trò với bố mình. Nhưng cô đã bay tới Memphis hai lần, và ông cảm kích về điều đó. “Hành động đó của nó vô cùng ý nghĩa đối với tôi”, ông kể lại. Tiếc là ông đã không nói điều đó với cô ngay lúc đấy. Rất nhiều người quanh Jobs cho rằng Lisa có thể cũng có những đòi hỏi khắt khe như bố cô, nhưng Powell đã chào đón và cố gắng kéo cô lại gần. Bà muốn củng cố lại mối quan hệ này.

As Jobs got better, much of his feisty personality returned. He still had his bile ducts. “When he started to recover, he passed quickly through the phase of gratitude, and went right back into the mode of being grumpy and in charge,” Kat Smith recalled. “We were all wondering if he was going to come out of this with a kinder perspective, but he didn’t.” He also remained a finicky eater, which was more of a problem than ever.

Khi Jobs dần hồi phục, bản tính nóng nảy của ông cũng trở lại. Ông vẫn còn giữ tính cáu bẳn. “Khi ông ấy bắt đầu hồi phục, giai đoạn cảm kích trôi qua rất nhanh và trở lại ngay cung cách cáu giận thường trực”, Kat Smith kể lại. “Chúng tôi đều tự hỏi rằng liệu khi vượt qua tất cả những chuyện này, ông có trở nên dễ chịu hơn không, nhưng ông đã không trở nên dễ chịu hơn.” Ông vẫn tiếp tục là một kẻ ăn uống cầu kỳ, và điều này trở thành vấn đề hơn bao giờ hết.

He would eat only fruit smoothies, and he would demand that seven or eight of them be lined up so he could find an option that might satisfy him. He would touch the spoon to his mouth for a tiny taste and pronounce, “That’s no good. That one’s no good either.” Finally Eason pushed back. “You know, this isn’t a matter of taste,” he lectured. “Stop thinking of this as food. Start thinking of it as medicine.” Jobs’s mood buoyed when he was able to have visitors from Apple. Tim Cook came down regularly and filled him in on the progress of new products. “You could see him brighten every time the talk turned to Apple,” Cook said. “It was like the light turned on.” He loved the company deeply, and he seemed to live for the prospect of returning. Details would energize him. When Cook described a new model of the iPhone, Jobs spent the next hour discussing not only what to call it—they agreed on iPhone 3GS—but also the size and font of the “GS,” including whether the letters should be capitalized (yes) and italicized (no).

Ông chỉ uống các loại sinh tố trái cây và yêu cầu bày ra 7 hoặc 8 loại để ông có thể chọn ra loại mà mình thích, ông đưa thìa vào miệng để thử một miếng nhỏ rồi tuyên bố, “Loại này không ngon. Loại kia cũng không ngon.” Cuối cùng thì Eason phản bác lại. “Ngài biết đấy, đây không phải chuyện khẩu vị”, anh giảng giải. “Đừng có nghĩ đây là đồ ăn. Hãy nghĩ chúng là thuốc.” Tinh thần của Jobs trở nên phấn chấn hơn khi ông được tiếp khách từ Apple tới thăm. Tim Cook tới thường xuyên và kéo ông vào quá trình ra mắt những sản phẩm mới. “Bạn có thể thấy mắt ông ấy sáng lên mỗi khi nói về Apple”, Cook kể lại. “Nó giống như là chiếc đèn được bật lên vậy.” ông vô cùng yêu công ty và ông dường như sống trong niềm hy vọng sẽ quay trở lại. Những chi tiết tiếp thêm sinh lực cho ông ấy. Khi Cook mô tả một thế hệ iPhone mới, Jobs dành một tiếng sau đó để thảo luận không chỉ việc đặt tên nó như thế nào - họ đã thống nhất là iPhone 3GS - mà còn là cỡ chữ và phông chữ của từ “GS”, bao gồm cả việc có nên viết hoa (có) và in nghiêng (không) chúng hay không.

One day Riley arranged a surprise after-hours visit to Sun Studio, the redbrick shrine where Elvis, Johnny Cash, B.B. King, and many other rock-and-roll pioneers recorded. They were given a private tour and a history lecture by one of the young staffers, who sat with Jobs on the cigarette-scarred bench that Jerry Lee Lewis used. Jobs was arguably the most influential person in the music industry at the time, but the kid didn’t recognize him in his emaciated state.

Một hôm, Riley đã bố trí một cuộc viếng thăm ngoài giờ đầy bất ngờ tới Phòng thu âm Sun, nơi Elvis, Johnny Cash, B.B.King và nhiều ca sĩ tiên phong của dòng Rock&Roll từng đến thu âm. Họ nhận được một chuyến tham quan và phần giới thiệu lịch sử riêng bởi một trong những nhân viên ở đây, người đã ngồi cùng Jobs trên một chiếc ghế băng đầy dấu vết thuốc lá mà Jerry Lee Lewis từng sử dụng. Tại thời điểm đó, dĩ nhiên là trong một nhận định đầy canh cãi, Jobs được coi là người có ảnh hưởng lớn nhất trong nền công nghiệp âm nhạc, nhưng chàng trai đó lại không nhận ra ông trong bộ dạng hốc hác.

As they were leaving, Jobs told Riley, “That kid was really smart. We should hire him for iTunes.” So Riley called Eddy Cue, who flew the boy out to California for an interview and ended up hiring him to help build the early R&B and rock-and-roll sections of iTunes. When Riley went back to see his friends at Sun Studio later, they said that it proved, as their slogan said, that your dreams can still come true at Sun Studio.

Khi họ rời đi, Jobs nói với Riley, “Anh chàng đó thực sự rất thông minh. Chúng ta nên tuyển anh ta cho iTunes.” Do đó, Riley đã gọi cho Eddy Cue, người đã cùng anh chàng đó bay tới California để phỏng vấn và cuối cùng thì tuyển anh ta để xây dựng những phần R&B và Rock&Roll đầu tiên của iTunes. Sau này, khi Riley trở lại Sun studio để gặp lại bạn bè, họ nói điều đó đã được chứng minh, như câu khẩu hiệu của họ, rằng những giấc mơ luôn có thể trở thành hiện thực ở Sun Studio.

Return At the end of May 2009 Jobs flew back from Memphis on his jet with his wife and sister. They were met at the San Jose airfield by Tim Cook and Jony Ive, who came aboard as soon as the plane landed. “You could see in his eyes his excitement at being back,” Cook recalled. “He had fight in him and was raring to go.” Powell pulled out a bottle of sparkling apple cider and toasted her husband, and everyone embraced. Ive was emotionally drained. He drove to Jobs’s house from the airport and told him how hard it had been to keep things going while he was away.

Trở lại vào cuối tháng 5 năm 2009, Jobs bay từ Memphis về cùng vợ và chị gái. Họ được Tim Cook và Jony Ive đón tại sân bay San Jose, và hai người đã lên tận máy bay ngay khi nó vừa hạ cánh. “Bạn có thể nhận thấy niềm hào hứng trong mắt ông ấy khi quay trở lại”, Cook kể. “ông ấy đã phải chiến đấu với bệnh tật và giờ thì đang rất háo hức làm việc.” Powell mở một chai rượu táo sủi bọt và chúc mừng chòng, ai nấy đều rất phấn khởi. Ive uống cạn ly một cách đầy kích động. Từ sân bay anh đã lái xe tới nhà Jobs và kể cho ông nghe những khó khăn thế nào để mọi việc vẫn vận hành trong lúc ông đi vắng.

He also complained about the stories saying that Apple’s innovation depended on Jobs and would disappear if he didn’t return. “I’m really hurt,” Ive told him. He felt “devastated,” he said, and underappreciated. Jobs was likewise in a dark mental state after his return to Palo Alto.

Anh cũng phàn nàn về những bài báo cho rằng sự sáng tạo của Apple chỉ phụ thuộc vào Jobs và sẽ biến mất nếu ông không quay lại. “Tôi thực sự cảm thấy bị tổn thương”, Ive nói với Jobs. Cảm thấy như “bị hủy hoại và bị “đánh giá thấp vậy”, anh nói. Jobs cũng từng cảm thấy như vậy trong giai đoạn tâm lý mệt mỏi sau khi trở lại Palo Alto.

He was coming to grips with the thought that he might not be indispensable to the company. Apple stock had fared well while he was away, going from $82 when he announced his leave in January 2009 to $140 when he returned at the end of May. On one conference call with analysts shortly after Jobs went on leave, Cook departed from his unemotional style to give a rousing declaration of why Apple would continue to soar even with Jobs absent:

Ông bắt đầu đối mặt với suy nghĩ rằng ông không còn là người không thể thiếu đối với công ty. cổ phiếu của Apple vẫn tăng đều trong thời gian vắng ông, tăng từ 82 đô- la khi ông thông báo nghỉ vào tháng 1 năm 2009 lên đến 140 đô-la khi ông trở lại vào cuối tháng 5. Trong một hội nghị bằng điện đàm với các chuyên gia phân tích không lâu sau khi Jobs nghỉ, Cook đã thay đổi từ phong cách lãnh đạm thường thấy để đưa ra một tuyên bố đầy nhiệt huyết rằng tại sao Apple sẽ vẫn tiếp tục bay cao khi Jobs vắng mặt:

We believe that we are on the face of the earth to make great products, and that’s not changing. We are constantly focusing on innovating. We believe in the simple not the complex. We believe that we need to own and control the primary technologies behind the products that we make, and participate only in markets where we can make a significant contribution. We believe in saying no to thousands of projects, so that we can really focus on the few that are truly important and meaningful to us. We believe in deep collaboration and cross-pollination of our groups, which allow us to innovate in a way that others cannot. And frankly, we don’t settle for anything less than excellence in every group in the company, and we have the self-honesty to admit when we’re wrong and the courage to change. And I think, regardless of who is in what job, those values are so embedded in this company that Apple will do extremely well.

Chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi hiện diện trên trái đất này để làm ra những sản phẩm tuyệt vời, và điều đó sẽ không thay đổi. Chúng tôi vẫn không ngừng đổi mới. Chúng tôi tin vào sự đơn giản, chứ không phải những thứ phức tạp. Chúng tôi tin rằng chúng tôi cần phải sở hữu và kiểm soát những công nghệ hàng đầu đằng sau những sản phẩm mà chúng tôi tạo ra, và chỉ thâm nhập vào những thị trường mà chúng tôi có thể mang lại những đóng góp quan trọng. Chúng tôi tin tưởng khi nói “Không” với hàng nghìn dự án để có thể thực sự tập trung vào một số ít những dự án có tầm quan trọng và ý nghĩa đích thực đối với mình. Chúng tôi tin tưởng vào những gắn bó sâu sắc và sự kết hợp của các nhóm làm việc của mình, điều này cho phép chúng tôi sáng tạo theo những cách mà những người khác không thể có. Và, một cách thẳng thắn, chúng tôi sẽ không dừng lại vì bất kỳ điều gì trừ sự xuất sắc của từng nhóm làm việc ở công ty này. Chúng tôi có lòng chân thật để dám thừa nhận khi làm sai và có tinh thần dũng cảm để thay đổi. Và tôi nghĩ rằng, bất kể ai làm công việc này, những giá trị đó đều khắc sâu trong công ty mà Apple sẽ làm vô cùng tốt.

It sounded like something Jobs would say (and had said), but the press dubbed it “the Cook doctrine.” Jobs was rankled and deeply depressed, especially about the last line. He didn’t know whether to be proud or hurt that it might be true. There was talk that he might step aside and become chairman rather than CEO. That made him all the more motivated to get out of his bed, overcome the pain, and start taking his restorative long walks again.

Nghe có vẻ giống như những gì Jobs sẽ nói (hoặc đã nói), nhưng báo giới đã phong tặng nó là “học thuyết Cook”. Jobs đã bị dằn vặt và trầm cảm nặng, nhất là dòng cuối cùng. Ông không biết nên lấy làm tự hào hay tổn thương vì rằng điều đó có thể đúng. Có những lời bàn tán về việc ông sẽ lui về và trở thành chủ tịch chứ không làm CEO nữa. Tất cả những điều đó càng khiến ông có thêm động lực để ra khỏi giường, vượt qua bệnh tật, và bước tiếp những bước đi lớn.

A board meeting was scheduled a few days after he returned, and Jobs surprised everyone by making an appearance. He ambled in and was able to stay for most of the meeting. By early June he was holding daily meetings at his house, and by the end of the month he was back at work. Would he now, after facing death, be more mellow? His colleagues quickly got an answer.

Cuộc họp hội đồng quản trị diễn ra vài ngày sau khi Jobs trở lại và ông đã khiến mọi người ngạc nhiên với diện mạo của mình. Ông bước vào thong thả và có thể đứng hầu như suốt buổi họp. Tới đầu tháng 6, ông tổ chức những buổi họp thường ngày tại nhà mình, và đến cuối tháng, ông đã trở lại làm việc. Điều gì có thể tuyệt vời hơn thế khi mà ông từng phải đối mặt với cái chết? Các đồng nghiệp của ông nhanh chóng có câu trả lời.

On his first day back, he startled his top team by throwing a series of tantrums. He ripped apart people he had not seen for six months, tore up some marketing plans, and chewed out a couple of people whose work he found shoddy.

Vào ngày đầu tiên trở lại, ông đã khiến nhóm làm việc tốt nhất của mình choáng váng với hàng loạt cơn thịnh nộ. ông tách những người mà ông không gặp mặt trong vòng sáu tháng ra khỏi nhóm, xé tan một vài bản kế hoạch marketing, và đay nghiến những người có chất lượng công việc kém.

But what was truly telling was the pronouncement he made to a couple of friends late that afternoon. “I had the greatest time being back today,” he said. “I can’t believe how creative I’m feeling, and how the whole team is.” Tim Cook took it in stride. “I’ve never seen Steve hold back from expressing his view or passion,” he later said. “But that was good.”

Nhưng những gì thực sự được kể lại là lời tuyên bố mà ông nói với một vài người bạn vào chiều muộn hôm đó. “Hôm nay, tôi đã có thời gian trở lại làm việc tuyệt vời nhất”, ông nói. “Tôi không tin nổi vào cảm hứng sáng tạo mà tôi đang cảm nhận được, cũng như của cả nhóm làm việc.” Tim Cook thì tiếp nhận điều này một cách bình tĩnh. “Tôi chưa bao giờ thấy Steve kiềm chế trong việc diễn tả tầm nhìn và niềm đam mê của mình”, ông kể lại sau này. “Nhưng điều đó cũng tốt.”

Friends noted that Jobs had retained his feistiness. During his recuperation he signed up for Comcast’s high-definition cable service, and one day he called Brian Roberts, who ran the company. “I thought he was calling to say something nice about it,” Roberts recalled. “Instead, he told me ‘It sucks.’” But Andy Hertzfeld noticed that, beneath the gruffness, Jobs had become more honest. “Before, if you asked Steve for a favor, he might do the exact opposite,” Hertzfeld said. “That was the perversity in his nature. Now he actually tries to be helpful.” His public return came on September 9, when he took the stage at the company’s regular fall music event. He got a standing ovation that lasted almost a minute, then he opened on an unusually personal note by mentioning that he was the recipient of a liver donation. “I wouldn’t be here without such generosity,” he said, “so I hope all of us can be as generous and elect to become organ donors.” After a moment of exultation—“I’m vertical, I’m back at Apple, and I’m loving every day of it”—he unveiled the new line of iPod Nanos, with video cameras, in nine different colors of anodized aluminum. By the beginning of 2010 he had recovered most of his strength, and he threw himself back into work for what would be one of his, and Apple’s, most productive years. He had hit two consecutive home runs since launching Apple’s digital hub strategy: the iPod and the iPhone. Now he was going to swing for another.

Những người bạn kể lại rằng Jobs vẫn giữ tính khí nóng nảy. Trong lúc chờ hồi phục sức khỏe, Jobs đã đăng ký dịch vụ cáp chất lượng cao của Comcast, và một hôm ông gọi Brian Roberts, người điều hành công ty này tới. “Tôi tưởng rằng ông ấy gọi đến để nói điều gì đó tốt đẹp về nó”, Roberts nhớ lại. “Nhưng không phải, ông ấy bảo tôi “Nó thật vớ vẩn.” Nhưng Andy Hertzfeld lại ấn tượng rằng, dưới vẻ cộc cằn đó, Jobs thể hiện một sự chân thành hơn. “Trước đây, nếu bạn nhờ Jobs làm một việc gì đó thì chắc chắn ông ấy sẽ làm ngược lại”, Hertzfeld nói. “Ngang ngạnh là bản tính của ông ấy. Còn giờ thì ông ấy đang cố gắng trở nên tốt hơn.” ông công khai trở lại vào ngày 9/9 khi xuất hiện trên sân khấu trong sự kiện âm nhạc mùa thu của công ty. Mọi người đã đứng dậy hoan hô tới gần một phút. Sau đó, ông giở một mẩu giấy ra và nói rằng ông đã được hiến tặng gan. “Tôi không thể có mặt ở đây nếu không có hành động cao thượng đến như vậy”, ông nói, “do đó tôi hy vọng tất cả chúng ta đều có thể cao thượng và chủ động hiến tặng nội tạng.” Sau những giây phút hân hoan - “Tôi đang ở thời kỳ sung sức nhất, tôi đã trở lại Apple và tôi yêu từng ngày trôi qua ở đây” - ông tiết lộ dòng sản phẩm iPod Nano mới, với máy quay video, có chín màu sắc khác nhau của lớp vỏ nhôm đã được oxy hóa. Vào đầu năm 2010, sức khỏe của ông hồi phục gần như hoàn toàn, ông lại lao vào công việc, và năm đó có lẽ là một trong những năm hiệu quả nhất của ông và cả Apple. Ông đã đạt được hai thành công liên tiếp từ khi giới thiệu hai chiến lược kỹ thuật số cốt lõi của Apple: iPod và iPhone. Và bây giờ ông sẽ tiếp tục nhảy vào một chiến lược khác.


translated by

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn