MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Tuesday, January 3, 2012

Mumu -Turgenev - МуМу. ТУРГЕНЕВ И.


"Mumu" is set in Moscow in the days of serfdom. Gerasim is a deaf and dumb serf of enormous stature and strength, whose owner, an old and tyrannical feudal landowner, has had him brought to the city from the countryside. Unable to express himself in words, Gerasim clumsily woos a peasant girl called Tatyana, also owned by the landowner. On a whim, however, the landowner, a sour and embittered widow who is never named, decides to marry Tatyana off to another of her serfs, a drunken cobbler called Kapiton, thus dashing Gerasim’s hopes.

Truyện "Mumu" lấy bối cảnh ở Mạc Tư Khoa vào thời nông nô. Gerasim là nông nô có vóc người và sức mạnh phi thường nhưng bị câm và điếc, được chủ mình, một địa chủ già và khắc nghiệt, đưa từ quê ra thành phố. Vì không nói ra lời được Gerasim đành vụng về tán tỉnh một thiếu nữ nông dân tên Tatyana, người cũng thuộc quyền sở hữu của cùng điền chủ. Song, địa chủ, một người đàn bà góa tính tình chua ngoa và cay nghiệt, tự nhiên vô cớ, quyết định gả quách Tatyana cho một nông nô khác của bà, một người thợ vá giày hay say sưa tên Kapiton, qua đấy làm vỡ tan bao hy vọng của Gerasim.

Not long after, Gerasim finds a young puppy drowning in a muddy creek. He rescues her and looks after her until she is a healthy, full-grown dog. He calls her Mumu, the nearest he can come to articulating a word, and everyone in the landowner’s Moscow establishment soon knows the dog by that name. Gerasim grows passionately fond of the dog, his only true friend, whom he allows to live with him in his little room, and who follows him everywhere. The dog adores Gerasim.

Không bao lâu sau, Gerasim thấy một con chó con suýt bị chết đắm ở một dòng suối đầy bùn. Hắn cứu con chó và đem về nuôi nấng săn sóc cho đến khi nó khôn lớn và khoẻ mạnh. Hắn gọi nó là Mumu, đó là tiếng gần giống tiếng người nhất mà hắn có thể bật ra được, và mọi người làm công cho địa chủ ở Mạc Tư Khoa liền gọi con chó theo tên ấy. Gerasim càng ngày càng rất yêu thích con chó, người bạn chân thành duy nhất của mình, và hắn cho con chó sống chung với mình trong căn phòng nhỏ, và nó lẽo đẽo đi theo hắn khắp mọi nơi như hình với bóng. Con chó cũng thương hắn vô cùng.

One day the landowner sees Mumu through the window and asks for the dog to be brought to her. But Mumu is afraid of the landowner and bares her teeth to her. The landowner instantly conceives a dislike of the dog and demands that she be gotten rid of. One of the landowner’s servants takes the dog away and sells it to a stranger. Gerasim searches for Mumu frantically but fails to find her. However, Mumu finds her way back to him, to his overwhelming joy.

Ngày nọ nhìn qua cửa sổ bà địa chủ thấy Mumu liền sai người mang con chó đến. Nhưng Mumu sợ bà nên nhe răng gầm gừ. Bà bỗng chợt thấy ghét con chó bèn ra lệnh tống khứ nó đi cho khuất mắt. Một người giúp việc của bà đem con chó đi bán cho người lạ. Gerasim cuống cuồng lên tìm kiếm chó khắp nơi nhưng không thấy. Tuy nhiên, Mumu lần tìm được đường trở về lại với hắn khiến hắn vui mừng khôn xiết.

Unfortunately, Mumu barks on the following night and wakes the landowner, who believes herself to be sorely tried by this interruption of her sleep. She demands that the dog, this time, be destroyed. Her servants go to Gerasim and, by means of signs, pass on her demand. Gerasim, recognizing the inevitable, promises to destroy the dog himself.

Không may vào tối hôm sau Mumu lại cất tiếng sủa khiến bà địa chủ thức giấc. Tin rằng mình khổ sở đau đớn do sự mất ngủ này, bà ra lệnh lần này phải giết con chó. Những người giúp việc cho bà đến gặp Gerasim và ra dấu để truyền đạt mệnh lệnh của chủ. Gerasim, nhận ra kết cục tất yếu, hứa sẽ tự tay mình giết chó.

There follow two passages of almost unbearable pathos. In the first, Gerasim takes Mumu to the local tavern: "In the tavern they knew Gerasim and understood his sign language. He ordered cabbage soup and meat and sat down with his arms on the table. Mumu stood beside his chair, looking at him calmly with her intelligent eyes. Her coat literally shone: clearly she had only recently been combed. They brought Gerasim his cabbage soup. He broke some bread into it, cut up the meat into small pieces and set the bowl down on the floor. Mumu started eating with her customary delicacy, her muzzle hardly touching the food. Gerasim studied her for a long time; two heavy tears rolled suddenly out of his eyes: one fell on the dog’s forehead, the other into the soup. He covered his face with his hand. Mumu ate half the bowl and walked away licking herself. Gerasim stood up, paid for the soup and left."

Sau đây là hai trích đoạn cảm động đến tưởng như đau xé lòng. Ở trích đoạn đầu, Gerasim đưa Mumu đến quán rượu trong vùng: "Trong quán rượu họ biết Gerasim và hiểu được ngôn ngữ ra dấu của hắn. Hắn gọi xúp cải bắp và thịt rồi ngồi đặt hai tay trên bàn. Mumu đứng kế bên cạnh ghế, đưa đôi mắt tinh anh vô tư nhìn hắn. Bộ lông của nó sáng ửng lên: rõ ràng bộ lông nó mới vừa được chải chuốt mượt mà. Họ mang ra cho Gerasim món xúp cải bắp. Hắn bẻ vụn bánh mỳ cho vào xúp, cắt thịt ra từng miếng nhỏ rồi đặt bát xúp xuống dưới nền nhà. Mumu bắt đầu ăn món ăn ngon thường lệ, cái mõm của nó tưởng chừng như không chạm đến thức ăn. Gerasim nhìn chăm chú nó thật lâu; bất ngờ từ khoé mắt hắn ứa lăn ra hai giọt nước mắt nằng nặng: một giọt rơi trên trán con chó, giọt kia rơi vào súp. Hắn lấy hai tay che mặt. Mumu ăn hết nửa bát xúp rồi vừa bỏ đi vừa liếm lông. Gerasim đứng lên, trả tiền bát xúp rồi rời quán."

He takes Mumu down to the river, picking up a couple of bricks en route. At the riverbank, he gets into a boat with Mumu and rows out some distance.

Hắn đưa Mumu đi xuôi về hướng sông, dọc đường nhặt vài cục gạch. Đến bờ sông, hắn xuống thuyền với Mumu rồi chèo ra thật xa.

"Finally Gerasim sat up straight, hurriedly, with a look of sickly bitterness on his face, tied the bricks together with string, made a noose, placed it round Mumu’s neck, lifted her over the river, looked at her for the last time. . . . Trustingly and without fear she looked at him and slightly wagged her tail. He turned away, grimaced and let go. . . . Gerasim heard nothing, neither the whining of the falling Mumu, nor the heavy splash in the water; for him the noisiest day was still and soundless, as not even the quietest night can be soundless for us; and when he again opened his eyes the little waves were as ever hurrying along the river’s surface, as if racing after each other, as ever they rippled against the sides of the boat, and only far behind one or two broad rings rippled towards the bank."

"Cuối cùng vẻ mặt buồn thảm cay đắng, Gerashim ngồi thẳng lên,vội vã lấy dây buộc những viên gạch lại với nhau thành cái thòng lọng, tròng nó quanh cổ của Mumu, bế con chó lên trên mặt nước, nhìn nó lần cuối cùng ...Đầy tin tưởng và chẳng sợ hãi nó nhìn hắn và vẫy nhẹ đuôi. Hắn nhăn mặt quay đi rồi buông ra ...Gerashim không nghe gì, không nghe tiếng rên rỉ của Mumu khi rơi xuống, hay tiếng rơi tõm nặng nề trên mặt nước; đối với hắn ngày ồn ào nhất vẫn là ngày yên ắng chẳng mảy may âm thanh gì, còn hơn cả đêm yên tĩnh nhất có thể không có tiếng động nào đối với ta; rồi khi hắn mở mắt ra lại những làn sóng nhỏ vẫn luôn luôn chảy vội vã trên mặt nước, như thể đuổi bắt nhau, như thể chúng vẫn luôn luôn vỗ nhẹ vào mạn thuyền, và xa tít đằng sau một hay hai vòng tròn lớn đang lan toả vào bờ."

We learn that after Mumu’s death Gerasim runs away back to his village, where he works like a slave in the fields: but never again does he form a close attachment to man or dog.

Chúng ta biết sau khi Mumu chết Gerashim bỏ trốn về lại làng cũ, nơi hắn làm việc quần quật ngoài đồng như một nô lệ: nhưng từ đấy hắn không bao giờ gắn bó thân thiết với người hay chó nữa.

When the cultivated, aristocratic, revolutionary Russian exile Alexander Herzen read the story, he trembled with rage. Thomas Carlyle said it was the most emotionally affecting story he had ever read. John Galsworthy said of it that "no more stirring protest against tyrannical cruelty was ever penned." And one of Turgenev’s relatives, to whom the author read "Mumu," wrote afterward, "What a humane and good man one must be to understand and give expression to the experience and torments of another’s heart in that way!"

Khi nhà cách mạng Nga lưu vong Alexander Herzen, vốn là người uyên bác thuộc dòng dõi quý tộc, đọc truyện này, ông giận run lên. Thomas Carlyle khẳng định đây là truyện xúc động nhất ông đã từng đọc. Còn John Galsworthy khi bàn về truyện đã thốt lên "chưa từng có ai viết ra được những lời xúc động nao lòng người hơn thế để lên án sự độc ác hà khắc." Và một người bà con của Turgenev, người được tác giả đọc "Mumu" cho, sau này viết, "Phải là một người rất tốt và nhân ái lắm mới thấu hiểu và diễn đạt được cảnh ngộ và bao đau đớn ở trong lòng người khác như thế."

The story is autobiographical, and the tyrannical, captious, arbitrary, and selfish landowner is the author’s mother, Varvara Petrovna Turgeneva. Widowed early, she was an absolute monarch on her estate. Many stories have come down to us of her cruelty, though not all have been authenticated: for example, that she had two serfs sent to Siberia for having failed to make their obeisances to her as she passed—because they did not see her. And the model for Gerasim was a deaf and dumb serf belonging to Varvara Petrovna called Andrei.

Truyện có tính tự sự, và địa chủ cay nghiệt, xét nét, độc đoán, và ích kỷ ấy chính là mẹ tác giả, Varvara Petrovna Turgeneva. Chồng mất sớm, bà thành lãnh chúa tuyệt đối ở điền trang của mình. Nhiều câu chuyện về sự độc ác của bà vẫn còn lưu truyền đến chúng ta, tuy rằng không phải tất cả đều thật: chẳng hạn, bà đày hai nông nô lên Siberia chỉ vì cái tội không cúi đầu chào bà khi bà đi ngang qua - vì họ không thấy bà. Còn nhân vật Gerasim thật sự ngoài đời là một nông nô bị câm và điếc tên Andrei thuộc về Varvara Petrovna.

Clearly "Mumu" is an impassioned protest against the exercise of arbitrary power of one person over another, but it is not politically schematic. Though it is obviously directed against serfdom, the story does not suggest that cruelty is the prerogative of feudal landowners alone, and that if only serfdom were abolished, no vigilance against such cruelty would be necessary. If power is a permanent feature of human relationships—and surely only adolescents and certain kinds of intellectuals, Marx included, could imagine that it is not—then "Mumu" is a permanent call to compassion, restraint, and justice in its exercise. That is why "Mumu" does not lose its power to move 140 years after the abolition of serfdom in Russia; while it refers to a particular place at a particular time, it is also universal.

Rõ ràng "Mumu" là tiếng kêu bi thương phẫn uất chống lại sự thực thi quyền lực độc đoán giữa người với người, nhưng sự lên án ấy không nhằm mục tiêu chính trị. Dù sự lên án ấy hiển nhiên nhắm vào chế độ nông nô, nhưng truyện không ám chỉ rằng tàn nhẫn là đặc quyền chỉ riêng của những địa chủ phong kiến, và rằng giá như chế độ nông nô bị xoá bỏ đi thì ta không còn cần thiết phải cảnh giác với sự độc ác như thế. Nếu quyền lực là một đặc trưng mãi mãi hiện diện trong các mối quan hệ của con người - dẫu chắc chắn chỉ có tuổi mới lớn và những loại trí thức nào đấy, trong đó có cả Marx, mới mơ tưởng quyền lực tiêu vong - thì "Mumu" là lời kêu gọi bất tử thúc giục ta nên nhân ái, tự chủ, và công bằng khi thực thi quyền lực. Vì lẽ ấy 140 năm sau khi xoá bỏ chế độ nông nô ở Nga "Mumu" vẫn không mất đi sức mạnh làm lay động lòng người; dù truyện diễn ra ở nơi chốn cụ thể vào thời gian cụ thể, truyện cũng mang tính phổ quát.

In making his general point, Turgenev does not suggest that his characters are anything but individuals, with their own personal characteristics. He does not see them just as members of a group or class, caused by oppression to act in predetermined ways like trams along their rails: and his careful observation of even the humblest of them is the most powerful testimony possible to his belief in their humanity. Grand aristocrat that he was, and acquainted with the greatest minds of Europe, he did not disdain to take seriously the humblest peasant, who could not hear or speak. Turgenev’s oppressed peasants were fully human beings, endowed with free will and capable of moral choice.

Khi đưa ra quan điểm chung của mình, Turgenev không gợi ý rằng các nhân vật của ông hoàn toàn không phải là những cá nhân với những đặc điểm riêng của mỗi người. Ông không xem họ chỉ là những thành viên của tập thể hay giai cấp, do bị áp bức nên hành động theo những cách đã định trước tựa như những tàu điện luôn luôn chạy trên những đường ray định sẵn: cho nên nhận xét tinh tế của ông về nhân vật thậm chí hèn mọn nhất vẫn là lời chứng thực có thể hùng hồn nhất cho niềm tin của ông về nhân tính của họ. Tuy là nhà đại quý tộc, và quen biết với những tâm hồn lỗi lạc nhất của Châu Âu, ông chẳng khinh khi xem thường người nông dân hèn mọn nhất, ngưòi mà không thể nghe và nói được. Những người nông dân bị đè nén của Turgenev hoàn toàn là những con người, được tạo hoá phú cho ý chí tự do và khả năng biết chọn giữa thiện và ác.

He contrasts Gerasim’s tenderness toward Mumu with the landowner’s selfish fractiousness. "Why should that dumb man have a dog?" she asks, without the thought entering her head for a moment that "that dumb man" might have interests and feelings of his own. "Who allowed him to keep a dog out in my yard?"

Ông tương phản tình thương dịu dàng Gerasim dành cho Mumu với tính tình khó chịu ích kỷ của địa chủ. "Thằng câm đó mà cũng có chó sao?" bà hỏi, mà không chợt nghĩ thoáng qua trong đầu là biết đâu "thằng câm đó" cũng có niềm vui và yêu thương riêng của hắn. "Ai cho phép nó nuôi chó trong sân nhà tao?"

Turgenev does not suggest that the landowning widow’s quasi-absolute power is in any way enviable. Although religious in a superficial and sententious way, she regards God as a servant, not a master, and she acknowledges no limits, either God’s or the law’s, to the exercise of her will. The result for her is misery, a permanent state of irritation, dissatisfaction, and hypochondria. The satisfaction of her whims brings no pleasure, precisely because they are whims rather than true desires; and—used as she is to obedience, and deserving of it as she believes herself to be—she experiences all resistance, even that of time, as intolerable.

Turgenev không gợi ý rằng quyền lực gần như tuyệt đối của bà địa chủ goá chồng dù gì nữa cũng đáng mơ ước cho bao người. Tuy mộ đạo theo cách hời hợt và hay răn dạy kiểu kẻ cả, bà coi Chúa là kẻ hầu, chứ không phải là chủ, và bà không thừa nhận bất kỳ giới hạn nào, dù của Chúa hay của luật pháp, cho sự thực thi ý muốn của mình. Kết quả là bà đau khổ, tâm trạng lúc nào cũng khó chịu, không bao giờ được vừa lòng, và sinh ra bệnh tưởng. Những ý muốn thất thường của bà dù có được thoả mãn nhưng vẫn không mang lại cho bà niềm vui, chính xác chỉ vì đó là những ý muốn thất thường chứ không phải là những mong muốn thật sự; và -vì quen với sự phục tùng, và vì tin mình xứng đáng nhận được sự phục tùng - nên khi gặp phản kháng, dù phản kháng của thời gian, bà thấy không chịu đựng được.

For example, when Mumu is brought in, the landowner talks to her in a syrupy, ingratiating manner; but when the dog fails to respond, she changes her tune. "Take her away! A disgusting little dog!" Unlike Gerasim, who has nurtured Mumu with tender devotion, the landowner wants the dog to love her immediately, just because she is who she is.

Ví dụ, khi Mumu được đưa đến cho bà xem, bà địa chủ nói với nó bằng giọng vuốt ve, ngọt lịm nhưng khi con chó hờ hững không tỏ vẻ gì, bà liền đổi giọng ngay."Đưa nó đi cho khuất mắt! Đồ cái thứ chó nhỏ thấy phát tởm!" Khác với Gerasim chăm bẳm nuôi nấng nó với tất cả sự tận tuỵ dịu dàng, bà địa chủ lại muốn con chó phải yêu bà ngay lập tức, chỉ vì bà là người có quyền lực.

Her power renders her dishonest and incapable of introspection. When Gerasim disappears after drowning Mumu, "she flew into a temper, shed tears, ordered him to be found no matter what happened, avowed that she’d never ordered the dog to be destroyed and finally gave [her steward] a dressing down." Her denial of responsibility is breathtaking. Power corrupts, Turgenev knows; and the failure to accept any limitation to one’s thoughtless wishes makes happiness impossible. But no set of social arrangements, he understands, will eliminate these dangers altogether.

Quyền lực khiến bà trở thành dối trá và không có khả năng tự xét lại mình. Khi Gerasim biến mất sau khi dìm chết Mumu, "bà đùng đùng nổi giận, khóc lóc, ra lệnh dù xảy ra chuyện gì chăng nữa cũng phải tìm ra hắn, thề thốt rằng bà không bao giờ ra lệnh giết con chó rồi cuối cùng quay sang quở trách người quản gia." Bà chối bỏ trách nhiệm một cách trắng tợn không ngờ. Quyền lực làm cho con người đồi bại, Turgenev biết; và vì không chấp nhận bất kỳ hạn chế nào cho các ước muốn tàn nhẫn của mình nên hạnh phúc là điều không thể nào có được. Tuy nhiên, ông hiểu, không có chế độ xã hội nào sẽ loại bỏ hoàn toàn những nguy cơ này.

Nor does Turgenev believe that the people who are subject to the power of the landowner are, by virtue of their oppression, noble. They are scheming and conniving and sometimes thoughtlessly cruel, too. Their mockery of Gerasim is limited only by their fear of his physical strength, and they do not sympathize in the least with his predicament. When Gavrila, the landowner’s steward, goes at the head of a delegation of serfs to tell Gerasim that he must get rid of Mumu once and for all, he bangs on Gerasim’s door and shouts "’Open up!’ There came the sound of smothered barking; but no answer. ’I’m telling you to open up!’ he repeated.

Turgenev cũng không tin rằng, do bị áp bức, nên những người dưới quyền của địa chủ trở thành cao thượng. Họ cũng mưu mô xảo trá và đôi khi còn tàn nhẫn vô tâm. Chỉ vì họ sợ sức mạnh thể chất của Gerasim nên họ mới không dám chế giễu hắn một cách quá đáng, và họ chẳng mảy may cảm thông với tình cảnh của hắn. Khi Gavrila, người quản gia của địa chủ, dẫn đầu đám nông nô kéo đến báo cho Gerasim biết hắn phải trừ khử cho được con chó, gã vừa đập mạnh cửa phòng Gerasim vừa kêu to "Mở cửa ra!" Từ bên trong vọng ra tiếng sủa nghèn nghẹn; nhưng không có tiếng trả lời." Tao bảo mày mở cửa ra!" gã lập lại.

"’Gavrila Andreich,’ remarked Stepan from below, ’he’s deaf, he doesn’t hear.’ Everyone burst out laughing."

"'Ông Gavrila Andreich ơi,' từ phía dưới Stepan nói vọng lên, ' Nó bị điếc sao nó nghe được.' Mọi người bật cười rộ."

There is no compassion in their laughter, not then and not at any other time in the story. Cruelty is not the province only of the landowner, and the heartlessness of the serfs toward Gerasim always reminds me of a scene from my childhood, when I was about 11 years old. I had gone to line up for tickets to a soccer match—in those days, for reasons I can no longer recapture, I was enthusiastic about the game. The line was long, and there was at least a two-hour wait. An old blind man with an accordion passed along the line, singing "The Man Who Broke the Bank at Monte Carlo," while a companion held out a cap for alms. They passed some young working-class men who had a radio, and who turned the volume up to drown out his song. They laughed loudly at his bewilderment as his companion led him away, reduced to silence.

Trong tiếng cười của họ không có lòng trắc ẩn, không có ở lúc đó và cũng không có ở bất kỳ lúc nào khác trong truyện. Ác độc đâu chỉ riêng người địa chủ mới có, và cảnh những nông nô đối xử tàn nhẫn với Gerasim luôn luôn gợi tôi nhớ lại một cảnh tượng ngày thơ ấu, khi tôi độ 11 tuổi. Có lần tôi đứng xếp hàng mua vé xem bóng đá - vào thời đó, vì những lý do giờ đây tôi không còn nhớ rõ, tôi say mê môn thể thao này. Hàng thì dài, phải chờ ít nhất đến hai tiếng đồng hồ. Một ông lão mù với cây phong cầm đi dọc lần theo hàng người, vừa đi vừa hát bản nhạc" Người đàn ông đánh bài thắng lớn ở Monte Carlo", trong khi người bạn đường với ông chìa cái mũ ra để xin tiền. Họ đi ngang qua đám mấy người trẻ thuộc tầng lớp lao động, bọn này có sẵn chiếc radio liền vặn nó thật to lên để át tiếng hát của ông lão. Cả đám thấy vẻ bối rối của ông liền cười vang lên còn người bạn đường không nói gì lặng lẽ dắt tay ông bước đi.

No one intervened or told the young men how abominably they had behaved; I was too cowardly to do so. But in that little scene, I saw man’s permanent capacity for inhumanity to man, a capacity that transcends social condition, class, or education.

Không ai can thiệp hay nói cho đám thanh niên ấy biết họ đã xử xự thật tàn tệ; tôi quá hèn nhát nên chẳng dám nói năng gì. Nhưng trong cái cảnh tượng thoáng qua nhỏ nhoi ấy, tôi thấy con người luôn luôn có khả năng gây ra điều ác cho nhau, một khả năng vượt qua địa vị xã hội, giai cấp, hay giáo dục.

An incident when I practiced medicine many years later on an island in the Pacific Ocean reinforced this lesson. Next to the small psychiatric hospital, with its yard enclosed by a high wire fence, was the leper colony. Every afternoon, the lepers would gather at the fence to mock the lunatics as they were let out for their exercise, performing their strange dances and shouting at unseen persecutors.

Nhiều năm về sau khi tôi hành nghề y trên một đảo ở Thái bình Dương một chuyện xảy ra càng khẳng định sâu sắc hơn bài học này. Kế bên bệnh viện tâm thần nhỏ có hàng rào lưới cao bao quanh sân là khu dành riêng cho người cùi. Khi chiều xuống, những người cùi xúm lại bên ngoài hàng rào bệnh viện để chọc ghẹo những người điên lúc họ được đưa ra sân đi dạo, vào những lúc này những người điên thường nhảy múa kỳ lạ và la to với những kẻ khuất mặt hành hạ họ.

The victory over cruelty is never final, but, like the maintenance of freedom, requires eternal vigilance. And it requires, as in "Mumu," the exercise of the sympathetic imagination.

Chiến thắng sự tàn nhẫn không bao giờ là chiến thắng cuối cùng, nên, giống như sự giữ gìn tự do, chúng ta cần phải mãi mãi cảnh giác. Và, như trong "Mumu", chúng ta cũng cần thực thi những mơ tưởng nhân ái.



http://www.city-journal.org/html/11_3_urbanities-how_and_how_no.html

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn