MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Thursday, January 26, 2012

Commentary: Thoughts on the “Rise of China” Bình luận: Suy nghĩ về "Sự trổi dậy của Trung Quốc"


Commentary: Thoughts on the “Rise of China”

Bình luận: Suy nghĩ về "Sự trổi dậy của Trung Quốc"

By Minxin Pei

Minxin Pei

June 25, 2011

25 Tháng sáu, 2011

In the early 1980s, China was just beginning to open to the outside world. Its per capita income was under US$500, and it did only a modest amount of international trade with the rest of the world. Today, the Chinese economy has been thoroughly transformed. It’s the world’s second-largest economy, largest exporter (by volume), and its per capita income has risen above US$4,000. I recall that in the early 1980s, the most optimistic forecast of China’s growth would predict 7 percent per annum. In fact, China’s growth over the last three decades has been about 10 percent per year.

Đầu những năm 1980, Trung Quốc đã bắt đầu mở cửa với thế giới bên ngoài. Thu nhập bình quân đầu người dưới 500 đô la Mỹ, và nó chỉ là một con số khiêm tốn trong thương mại quốc tế với phần còn lại của thế giới. Ngày nay, nền kinh tế Trung Quốc đã được chuyển đổi triệt để. Đó là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, xuất khẩu lớn nhất (theo khối lượng), và thu nhập trên đầu người của nó đã tăng lên trên 4.000 USD. Tôi nhớ lại rằng vào những năm 1980, các dự báo lạc quan nhất về sự tăng trưởng của Trung Quốc cũng chỉ ở mức 7% mỗi năm. Thế mà, trong thực tế, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua khoảng 10% mỗi năm.

Without surprise, China’s economic success has now spawned a cottage industry specializing in explaining the Chinese economic miracle. In Beijing, a debate is raging in the intellectual circles on the so-called China Model. It is not idle chatter among scholars. The stakes are, in fact, very high. The essence of this debate is whether China has pioneered a unique model of development that challenges some of the basic assumptions about the connection between political regimes, economic institutions, and developmental success.

Không có gì ngạc nhiên, thành công kinh tế của Trung Quốc đã tạo ra một ngành thủ công chuyên giải thích các phép lạ kinh tế Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, một cuộc tranh luận đang khuấy động giới trí thức về cái gọi là Mô hình Trung Quốc. Nó không phải là câu chuyện nhàn đàm giữa các học giả. Tầm quan trọng, trên thực tế, rất lớn. Bản chất của cuộc tranh luận này là liệu Trung Quốc đã đi tiên phong trong một mô hình phát triển độc đáo dám thách thức một số các giả thuyết cơ bản về quan hệ giữa chế độ chính trị, định chế kinh tế, và thành công phát triển.

Inside China, opinions on this issue are polarized. Liberals insist that the Chinese experience in the last decades has validated the Western model: China’s rapid economic development has been made possible by liberalization, marketization, and integration with the world economy. China’s autocratic political system, if anything, has been a drag on the Chinese development. Without the assorted pathologies of such a system, China’s economic growth would have been different in terms of the quality of growth and social justice. In other words, China has made its impressive economic growth not because of, but in spite of, its one-party regime.

Bên trong Trung Quốc, ý kiến ​​về vấn đề này đang phân cực. Người theo chủ nghĩa tự do nhấn mạnh rằng kinh nghiệm của Trung Quốc trong những thập kỷ qua đã xác nhận mô hình phương Tây là đúng: phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc đã có được nhờ tự do hóa, thị trường hóa và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Hệ thống chính trị độc đoán của Trung Quốc, dù gì đi nữa, cũng kéo lùi sự phát triển của Trung Quốc. Nếu không có các loại bệnh lý của hệ thống như vậy, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc lẽ ra đã khác đi về chất lượng tăng trưởng và công bằng xã hội. Nói cách khác, Trung Quốc đã tạo ra tăng trưởng kinh tế ấn tượng không phải nhờ, mà là bất chấp chế độ một đảng của nó.

Chinese conservatives and nationalists, of course, see things differently. They believe that China has indeed found a new model that can provide an alternative to the Western liberal democratic model of development. In their view, the essence of the China model is a strong state that is capable of mobilizing massive resources in catching up with the advanced West. In this process, democracy is not only unnecessary, but positively harmful because it will unduly constrain the hand of the state and hamper its ability to allocate resources to high-priority investment projects and make certain social groups sacrifice more so that society as whole becomes better-off. In this reconstructed China Model, even free market principles can be violated.

Những người theo chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, tất nhiên, nhìn thấy sự việc theo cách khác. Họ tin rằng Trung Quốc đã thực sự tìm thấy một mô hình mới có thể làm nên một mô hình thay thế cho mô hình phát triển kiểu dân chủ tự do của phương Tây. Theo quan điểm của họ, thực chất của mô hình Trung Quốc là một nhà nước mạnh mẽ có khả năng huy động nguồn lực lớn để bắt kịp với phương Tây tiên tiến. Trong quá trình này, dân chủ không những không cần thiết, mà rõ ràng có hại vì nó sẽ hạn chế quá mức vai trò của nhà nước và cản trở khả năng của nhà nước trong việc phân bổ nguồn lực cho các dự án đầu tư ưu tiên cao và làm cho một số nhóm xã hội phải hy sinh nhiều hơn để toàn xã hội trở nên sung túc hơn. Trong mô hình Trung Quốc được tái cấu trúc, ngay cả các nguyên tắc thị trường tự do cũng có thể bị vi phạm.

The purists of the China Model regard free market principles as inapplicable to late-developers such as China because to follow such principles would mean submitting to Western technological and economic superiorities forever. Pointing to Japan and South Korea, two successful East Asian countries that have repeatedly violated free-market principles in their economic development, Chinese conservatives and nationalists argue that state intervention in the economy is not harmful, but critical in overcoming the inherent disadvantages of a late-developer.

Những người theo chủ nghĩa thuần túy về Mô hình Trung Quốc cho rằng nguyên tắc thị trường tự do không áp dụng được cho các nước phát triển muộn như Trung Quốc bởi vì tuân theo những nguyên tắc đó có nghĩa chịu thua tính ưu việt về công nghệ và kinh tế phương Tây mãi mãi. Hãy xem Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước Đông Á thành công, thì cũng đã nhiều lần vi phạm các nguyên tắc thị trường tự do trong phát triển kinh tế của họ; những người bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc cho rằng sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế không những không có hại, mà còn rất quan trọng trong việc khắc phục những nhược điểm vốn có của một nước phát triển muộn.

If you think such a debate is about some arcane theory of economic and political development, you would be very wrong. The debate on the China Model occurred in a special political context. So the Chinese government attached a great deal of political significance to this debate.

Nếu bạn nghĩ rằng cuộc tranh luận này bàn về một lý thuyết phức tạp nào đó về phát triển kinh tế và chính trị, thì bạn đã lầm. Cuộc tranh luận về mô hình Trung Quốc xảy ra trong một bối cảnh chính trị đặc biệt. Vì vậy, chính phủ Trung Quốc gắn rất nhiều ý nghĩa chính trị vào cuộc tranh luận này.

Specifically, the China Model debate takes place when China’s overall political situation is at perhaps its most conservative point since the Tiananmen crackdown in 1989. The authorities have tightened control over the media, the Internet, civil society groups, and even academic discourse. Driven both by confidence and insecurity, the ruling Chinese Communist Party apparently attempted to counter Western influence not merely by political repression, but also by an ideological counter-offensive. Senior Chinese leaders have publically called for the rejection of universal values, such as democracy, human rights, and free markets.

Cụ thể, cuộc tranh luận Mô hình Trung Quốc diễn ra khi tình hình chính trị tổng thể của Trung Quốc có lẽ đang tại là điểm bảo thủ nhất kể từ khi cuộc đàn áp Thiên An Môn vào năm 1989. Các nhà chức trách đã thắt chặt kiểm soát các phương tiện truyền thông, internet, các nhóm xã hội dân sự, và thậm chí bàn luận học thuật. Bị thúc đẩy bởi niềm tin vào sự bất ổn, Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền dường như đã cố gắng để chống lại ảnh hưởng của phương Tây không chỉ đơn thuần bằng đàn áp chính trị, mà còn bằng đòn phản công về hệ tư tưởng. Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã công khai kêu gọi từ chối các giá trị phổ quát, chẳng hạn như nền dân chủ, nhân quyền, và thị trường tự do.

How does the debate over the China Model fit into this?

Làm thế nào để cuộc tranh luận về mô hình Trung Quốc phù hợp với điều này?

The answer is quite self-evident. If Beijing can construct an intellectually coherent narrative of China’s economic rise, it will become a powerful antidote to so-called “Western universal values”. As we all know, China has attained thirty years of double-digit economic growth without having democracy, the rule of law, genuine political rights for its people, or a full market economy. In East Asia, only South Korea, Taiwan and Singapore accomplished comparable economic successes under autocratic rule. But given China’s huge size and global stature, if its government can make an intellectually convincing case for its autocratic statist developmental model, then the Communist Party’s rule will find a new source of ideological legitimacy. That’s why the debate over the China Model is so consequential.

Câu trả lời khá là hiển nhiên. Nếu Bắc Kinh có thể xây dựng một câu chuyện mạch lạc về mặt trí tuệ về sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, nó sẽ trở thành một liều thuốc giải độc mạnh mẽ đối với cái gọi là "giá trị phổ quát của phương Tây". Như chúng ta đều biết, Trung Quốc đã đạt được ba mươi năm tăng trưởng kinh tế hai con số mà không cần có dân chủ, các quy định của pháp luật, các quyền chính trị thực sự cho người dân, hoặc một nền kinh tế thị trường đầy đủ. Ở Đông Á, chỉ có Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore đã thực hiện thành công kinh tế như thế dưới sự cai trị độc đoán. Nhưng với kích thước khổng lồ của Trung Quốc và tầm vóc toàn cầu, nếu chính phủ của nó có thể sáng tạo một trường hợp thuyết phục về mặt trí tuệ cho mô hình phát triển có kiểm soát độc đoán của nó, thì Đảng Cộng sản cầm quyền sẽ tìm thấy một nguồn mới của tính hợp pháp về ý thức hệ. Đó là lý do tại sao các cuộc tranh luận về mô hình Trung Quốc này lại tự mãn đến thế.

The stylized version of the China Model, if one can piece together the main arguments that have been advanced from various proponents, attributes China’s economic success to the following three factors:

Phiên bản cách điệu của Mô hình Trung Quốc, nếu người ta có thể lắp ghép các luận điểm chính đã được những người ủng hộ khác nhau đưa ra, cho rằng thành công kinh tế của Trung Quốc là do ba yếu tố sau đây:

(1) The effectiveness of a one-party state. In nearly all developing countries, democratic regimes are less capable of mobilizing the resources than a one-party state in accomplishing critical developmental goals, such as accumulating physical capital and building infrastructure. A one-party state is also unconstrained by multi-party politics, judicial oversight, and pressures from civil society in overcoming societal opposition to the implementation of its policies that may be socially costly but developmentally imperative. (A good example is the forced evictions of urban residents from their homes in order to build wider streets or more profitable commercial real estate).

(1) Tính hiệu quả của một nhà nước độc đảng. Trong gần như tất cả các nước đang phát triển, chế độ dân chủ ít có khả năng huy động các nguồn tài nguyên hơn so với một nhà nước độc đảng để hoàn thành các mục tiêu phát triển quan trọng, chẳng hạn như tích lũy vốn vật chất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Một nhà nước độc đảng cũng không bị giới hạn bởi đa đảng chính trị, giám sát tư pháp, và áp lực từ xã hội dân sự trong việc khắc phục sự chống đối xã hội để thực hiện các chính sách mà xã hội có thể trả giá nhiều, nhưng là điều bắt buộc phải làm để phát triển. (Một ví dụ tốt là cưỡng bức cư dân đô thị từ bỏ nhà cửa của họ để xây dựng đường phố rộng hơn hoặc bất động sản thương mại có lợi hơn).

(2) Meritocracy. Based on this line of reasoning, China may not have democracy, but its ruling party has instituted strict meritocracy in selecting its officials. In addition to requiring officials to be well educated, the Chinese government also evaluates the performance of local officials on the basis of the GDP growth of their jurisdictions. To make sure that its future leaders are well rounded, the party frequently rotates the more promising members of its cadres to different positions of responsibility (such as large state-owned enterprises, central government ministries, and provincial governments). The result has deeply impressed foreign businessmen, who marvel at the smoothness, credentials, and broad-ranging executive experience of Chinese officials.

(2) Chủ nghĩa nhân tài. Căn cứ vào dòng lý luận này, thì Trung Quốc không thể có dân chủ, nhưng đảng cầm quyền của nó đã thiết lập chủ nghĩa nhân tài nghiêm ngặt trong việc lựa chọn cán bộ. Ngoài việc yêu cầu các quan chức được giáo dục tốt, chính phủ Trung Quốc cũng đánh giá việc thực hiện của các quan chức địa phương trên cơ sở của sự tăng trưởng GDP tại khu vực phụ trách của họ. Để đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo tương lai hiểu biết toàn diện, đảng thường xuyên luân chuyển các thành viên hứa hẹn trong số các cán bộ của mình vào các vị trí trách nhiệm khác nhau (chẳng hạn như các doanh nghiệp nhà nước lớn, các Bộ, chính quyền trung ương và chính quyền cấp tỉnh). Kết quả đã gây ấn tượng sâu sắc cho các doanh nhân nước ngoài. Họ ngạc nhiên trước sự uyển chuyển, uy tín và kinh nghiệm điều hành rộng tầm của các quan chức Trung Quốc.

(3) Smart state intervention. State intervention in the economy is not always a bad thing. If anything, a developing country will not be able to catch up with advanced industrial economies unless its state plays a more prominent role in the economy and violates some of the textbook rules held sacrosanct by the West, such as state ownership of productive assets, repression of the financial system (to reduce the cost of capital), undervalued exchange rate (to make exports more competitive), and the use of industrial policy and trade protectionism to groom national champions.

(3) Sự can thiệp thông minh của nhà nước. Sự can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế là không phải lúc nào cũng là một điều xấu. Dù gì đi nữa, một nước đang phát triển sẽ không thể bắt kịp với các có nền kinh tế công nghiệp tiên tiến, nếu nhà nước của nó không đóng một vai trò nổi bật hơn trong nền kinh tế và vi phạm một số quy tắc kinh điển được coi là bất khả xâm phạm ở phương Tây, chẳng hạn như sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất, trấn áp hệ thống tài chính (để giảm chi phí vốn), định giá thấp tỷ giá hối đoái (để làm cho xuất khẩu cạnh tranh hơn), và sử dụng các chính sách bảo hộ công nghiệp và thương mại để chuẩn bị cho các công ty vô địch quốc gia.

What is notable about this perhaps oversimplified China Model is that parts of it are grounded in China’s political and economic reality. It is undeniable that the Chinese state possesses unrivaled capacity to mobilize resources to achieve its top priorities. It is also true that, as a whole, Chinese cadres are much better educated and trained than their revolutionary predecessors. State intervention in the Chinese economy has not been an unmitigated disaster – as is often the case in other developing countries. On the contrary, if one looks at China’s export performance, trade surpluses, and massive foreign exchange reserves (and view them as signs of economic strengths), one may concede that such results would not have been possible without a strong hand of the state.

Điều đáng chú ý về Mô hình Trung Quốc có lẽ quá đơn giản hóa này là nó có cơ sở là thực tế chính trị và kinh tế của Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng nhà nước Trung Quốc sở hữu năng lực vô song để huy động các nguồn lực nhằm đạt được các ưu tiên hàng đầu của mình. Cũng đúng là, nhìn chung, toàn bộ cán bộ của Trung Quốc có học vấn tốt hơn và đào tạo nhiều hơn so với các cán bộ cách mạng tiền nhiệm của họ. Sự can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế Trung Quốc không phải là một thảm họa không được giảm nhẹ - như thường xảy ra ở các nước đang phát triển khác. Ngược lại, nếu nhìn vào thành tích xuất khẩu của Trung Quốc, thặng dư thương mại, và dự trữ trao ngoại hối (và xem chúng như là dấu hiệu của sức mạnh kinh tế), thì người ta có thể thừa nhận rằng kết quả như vậy không có thể có được nếu thiếu bàn tay mạnh mẽ của nhà nước.

But the reality in China is far more complicated. The China Model reconstructed by the pro-government academics in China exaggerates the strengths of the current system and downplays the hidden costs of this developmental model. For instance, the capacity to mobilize resources is not always a positive quality because no one can guarantee that political leaders will not squander mobilized resources. Of the trillions of renminbi invested by the Chinese government, nobody knows how much is wasted on “image projects” – investments made for the sole purpose of making local officials look good in the eyes of their superiors. Anybody who has visited China must have seen such projects dot the Chinese landscape.

Nhưng thực tế ở Trung Quốc thì phức tạp hơn rất nhiều. Mô hình Trung Quốc được tái cấu trúc bởi các học giả ủng hộ chính phủ ở Trung Quốc thổi phồng sức mạnh của hệ thống hiện tại và giảm bớt các chi phí tiềm ẩn của mô hình này phát triển. Ví dụ, khả năng huy động các nguồn lực không phải là luôn luôn là một phẩm chất tích cực vì không ai có thể đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo chính trị sẽ không lãng phí các nguồn lực được huy động. Trong số hàng nghìn tỷ nhân dân tệ vốn đầu tư của chính phủ Trung Quốc, không ai biết bao nhiêu là lãng phí vào các "dự án tạo hình ảnh” - đầu tư được thực hiện với mục đích duy nhất của quan chức địa phương để được nhìn nhận tốt trong con mắt của cấp trên. Bất cứ ai đã đến thăm Trung Quốc phải có nhìn thấy các dự án như vậy điểm xuyết cho cảnh quan của Trung Quốc.

Meritocracy may sound an attractive alternative to democracy. But again, in Chinese reality, it is not so easy to determine what exactly meritocracy means. Using GDP performance data to measure it is not always reliable since local officials can game the system by borrowing heavily and investing recklessly in potentially useless projects at the beginning of their appointment. Their GDP numbers may look excellent but they have actually done more harm than good. Even apparently objective measurements of merits have become unreliable in China today. Take academic degrees, for example. Since an advanced degree gives an aspiring official a competitive edge, a large number of Chinese officials now have “Ph.D.s” affixed to their titles. But if you look more carefully, you’d find that they have earned their degrees as part-time students. The degrees awarded to them do not mean much. The most devastating evidence that meritocracy is in trouble in China is the practice of buying government appointments with bribes. Chinese official press is full of stories of local officials paying huge bribes in order to secure promotions and cushy appointments. This practice should not exist if China genuinely has meritocracy.

Chủ nghĩa nhân tài nghe có vẻ là một thay thế hấp dẫn đối với dân chủ. Nhưng một lần nữa, trong thực tế Trung Quốc, không dễ dàng để xác định chính xác chủ nghĩa nhân tài có nghĩa là gì. Sử dụng dữ liệu hiệu suất GDP để đo lường nó không phải luôn luôn đáng tin cậy vì các quan chức địa phương có thể chơi khăm hệ thống bằng cách vay mượn rất nhiều và đầu tư thiếu thận trọng vào các dự án có khả năng vô dụng ngay từ khi họ được bổ nhiệm. Con số GDP của họ nhìn có vẻ tuyệt vời nhưng họ thực sự làm hại nhiều hơn làm lợi. Ngay cả các phép đo khách quang rõ ràng về công trạng cũng đã trở thành không đáng tin cậy ở Trung Quốc ngày nay. Lấy bằng cấp, ví dụ. Kể từ khi có bằng cấp cao cho một quan chức tham vọng một lợi thế cạnh tranh, một số lượng lớn các quan chức Trung Quốc hiện nay có "tiến sĩ" gắn liền với các chức danh của họ. Nhưng nếu bạn nhìn kỹ lưỡng hơn, bạn sẽ thấy rằng họ đã có được bằng cấp của họ như sinh viên bán thời gian. Bằng cấp trao cho họ không có mấy ý nghĩa. Bằng chứng có tính tàn phá nhất cho thấy chủ nghĩa nhân tài đang gặp rắc rối ở Trung Quốc là thực tế mua quan bán chức trong chính phủ bằng cách hối lộ. Báo chí chính thức của Trung Quốc đầy dẫy những câu chuyện về các quan chức địa phương trả các khoản tiền hối lộ khổng lồ để đảm bảo thăng chức và bổ nhiệm theo ý thích. Thực tế này không nên tồn tại nếu Trung Quốc thực sự đã thực hiện chủ nghĩa nhân tài.

Finally, whether state intervention in the Chinese economy is responsible for its sustained rapid growth is impossible to determine. Technically speaking, the question is too big to be addressed here. But what is clear is that such intervention is not without cost. China may have achieved some of its prized objectives, such as international competitiveness, job creation, and global economic status. But there is no free lunch. State intervention carries significant costs that must be borne by someone. In the case of China, such costs are in the form of severe macroeconomic imbalances, such as low consumption and slow wage growth. In other words, while the Chinese state has done well, the average Chinese citizen has done much less well.

Cuối cùng, liệu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Trung Quốc có phải là nguồn gốc của tăng trưởng nhanh chóng và bền vững của nó không vẫn chưa thể xác định. Về mặt kỹ thuật, câu hỏi là quá lớn để được giải quyết ở đây. Nhưng điều rõ ràng là những can thiệp này không phải không trả giá. Trung Quốc có thể đạt được một số mục tiêu được đánh giá cao của nó, chẳng hạn như khả năng cạnh tranh quốc tế, tạo việc làm, và địa vị kinh tế toàn cầu. Nhưng không có bữa ăn miễn phí nào. Nhà nước can thiệp gây ra chi phí đáng kể mà phải được một ai đó chi trả. Trong trường hợp của Trung Quốc, chi phí đó nằm ở dạng mất cân bằng kinh tế vĩ mô nghiêm trọng, chẳng hạn như tiêu thụ thấp và tăng trưởng tiền lương chậm. Nói cách khác, trong khi nhà nước Trung Quốc giàu lên, thì công dân trung bình của Trung Quốc nghèo đi.

About the Author

Minxin Pei is Tom and Margot Pritzker ’72 Professor of Government, Claremont McKenna College.

Giới thiệu về Tác giả

Minxin Pei là Giáo sư Tom và Margot Pritzker '72 về Chính phủ học, đại học Claremont McKenna.

http://asiaquarterly.com/2011/06/25/commentary-thoughts-on-the-%E2%80%9Crise-of-china%E2%80%9D/

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn