MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Saturday, December 10, 2011

THINK AGAIN: WAR Nghĩ lại về chiến tranh


THINK AGAIN: WAR

Nghĩ lại về chiến tranh

World peace could be closer than you think

Hòa bình thế giới có thể gần hơn bạn nghĩ

JOSHUA S. GOLDSTEIN

JOSHUA S. GOLDSTEIN



"The World Is a More Violent Place Than It Used to Be."

"Thế giới ngày nay là nơi nhiều bạo lực hơn trước?"

No way. The early 21st century seems awash in wars: the conflicts in Afghanistan and Iraq, street battles in Somalia, Islamist insurgencies in Pakistan, massacres in the Congo, genocidal campaigns in Sudan. All in all, regular fighting is taking place in 18 wars around the globe today. Public opinion reflects this sense of an ever more dangerous world: One survey a few years ago found that 60 percent of Americans considered a third world war likely. Expectations for the new century were bleak even before the attacks of Sept. 11, 2001, and their bloody aftermath: Political scientist James G. Blight and former U.S. Defense Secretary Robert McNamara suggested earlier that year that we could look forward to an average of 3 million war deaths per year worldwide in the 21st century.

Không hề. Đầu thế kỷ 21 dường như ngập trong những cuộc chiến tranh: Những cuộc xung đột ở Afghanistan và Iraq, những trận đánh trên đường phố ở Somalia, người Islamist nổi dậy ở Pakistan, những vụ tàn sát ở Congo, những chiến dịch diệt chủng ở Sudan. Nhìn chung, ngày nay đánh nhau diễn ra liên miên trong 18 cuộc chiến tranh trên khắp toàn cầu. Công luận nghĩ về chiều hướng này như một thế giới nguy hiểm hơn bao giờ hết: trong cuộc điều tra ý kiến cách đây mấy năm, 60 phần trăm người Mỹ coi chiến tranh thế giới thứ ba là có thể xảy ra. Những hy vọng cho một thế kỷ mới là ảm đạm thậm chí trước cả những cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín 2001 và hậu quả đẫm máu của nó: nhà khoa học chính trị James G. Blight và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara hồi đầu năm ấy cho rằng chúng ta có thể đợi thấy trên toàn thế giới trung bình mỗi năm 3 triệu người chết vì chiến tranh trong thế kỷ 21.

So far they haven't even been close. In fact, the last decade has seen fewer war deaths than any decade in the past 100 years, based on data compiled by researchers Bethany Lacina and Nils Petter Gleditsch of the Peace Research Institute Oslo. Worldwide, deaths caused directly by war-related violence in the new century have averaged about 55,000 per year, just over half of what they were in the 1990s (100,000 a year), a third of what they were during the Cold War (180,000 a year from 1950 to 1989), and a hundredth of what they were in World War II. If you factor in the growing global population, which has nearly quadrupled in the last century, the decrease is even sharper. Far from being an age of killer anarchy, the 20 years since the Cold War ended have been an era of rapid progress toward peace.

Cho đến nay chúng vẫn chưa kết thúc. Thật ra thập kỷ vừa qua đã thấy số người chết vì chiến tranh ít hơn bất kỳ thập kỷ nào khác trong vòng 100 năm qua, dựa trên những số liệu do các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, Bethany Lacina và Nils Petter Gleditsch, biên soạn. Trên toàn thế giới những cái chết gây ra bởi bạo lực trực tiếp liên quan đến chiến tranh trong thế kỷ mới trung bình là 55.000 người một năm, chỉ bằng nửa con số những năm 1990 (100.000 người mỗi năm) một phần ba con số của chiến tranh lạnh (180.000 mỗi năm từ 1950 đến 1989) và một phần trăm trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Nếu bạn tính đến sự tăng dân số toàn cầu, trong thế kỷ qua tăng gần gấp bốn lần, thì sự giảm tỉ lệ còn mạnh hơn nữa. Khác xa với một thời đại chém giết vô chính phủ, hai mươi năm sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã là một thời đại tiến bộ nhanh chóng đạt tới hòa bình.

Armed conflict has declined in large part because armed conflict has fundamentally changed. Wars between big national armies all but disappeared along with the Cold War, taking with them the most horrific kinds of mass destruction. Today's asymmetrical guerrilla wars may be intractable and nasty, but they will never produce anything like the siege of Leningrad. The last conflict between two great powers, the Korean War, effectively ended nearly 60 years ago. The last sustained territorial war between two regular armies, Ethiopia and Eritrea, ended a decade ago. Even civil wars, though a persistent evil, are less common than in the past; there were about a quarter fewer in 2007 than in 1990.

Xung đột vũ trang đã giảm phần lớn bởi vì xung đột vũ trang đã thay đổi về cơ bản. Những cuộc chiến tranh giữa các nước thù địch lớn gần như đã biến mất cùng với Chiến tranh Lạnh, mang đi theo chúng các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khủng khiếp. Ngày nay những cuộc chiến tranh du kích không cân sức có thể là khó trị và hiểm ác, nhưng chúng sẽ không bao giờ còn tạo ra những gì giống như cuộc bao vây Leningrad. Cuộc xung đột cuối cùng giữa hai cường quốc lớn, Chiến tranh Triều Tiên, thật sự đã kết thúc cách nay gần 60 năm. Cuộc chiến tranh khủng bố kéo dài liên tục giữa hai kẻ thù truyền kiếp, Ethiopia và Eritrea, đã kết thúc cách nay một thập kỷ. Ngay cả các cuộc nội chiến, mặc dầu là tai họa dai dẳng, cũng ít thường xuyên hơn so với trong quá khứ; năm 2007 ít hơn một phần tư so với năm 1990.

If the world feels like a more violent place than it actually is, that's because there's more information about wars -- not more wars themselves. Once-remote battles and war crimes now regularly make it onto our TV and computer screens, and in more or less real time. Cell-phone cameras have turned citizens into reporters in many war zones. Societal norms about what to make of this information have also changed. As Harvard University psychologist Steven Pinker has noted, "The decline of violent behavior has been paralleled by a decline in attitudes that tolerate or glorify violence," so that we see today's atrocities -- though mild by historical standards -- as "signs of how low our behavior can sink, not of how high our standards have risen."

Nếu thế giới cho ta cảm giác có nhiều bạo lực hơn thực tế, vì rằng chính nó có nhiều thông tin hơn về chiến tranh – chứ không phải có nhiều cuộc chiến tranh hơn. Những cuộc chiến và những tội ác chiến tranh xưa kia ở những nơi xa xôi thì nay thường xuyên xuất hiện trên TV và trên màn hình máy tính của chúng ta, và ít nhiều gần với thời gian chúng xảy ra trong thực tế. Máy ảnh trên điện thoại di động đã biến các công dân thành những phóng viên trong nhiều vùng chiến sự. Những qui phạm xã hội về việc tạo ra cái gì từ những thông tin ấy cũng đã thay đổi. Như nhà tâm lý học Steven Pinker đã nhận xét, "Việc giảm hành vi bạo lực diễn ra song song với sự suy giảm trong thái độ dung túng hoặc tôn vinh bạo lực," do đó chúng ta thấy tính hung bạo ngày nay – dù đã mềm đi bởi những tiêu chuẩn lịch sử - như những dấu hiệu về cách hành xử của chúng ta đã tụt xuống thấp đến thế nào, không phải những tiêu chuẩn của chúng ta đã được nâng lên đến mức nào."

"America Is Fighting More Wars Than Ever."

"Nước Mỹ đang đánh nhiều cuộc chiến tranh hơn bao giờ hết"

Yes and no. Clearly, the United States has been on a war footing ever since 9/11, with a still-ongoing war in Afghanistan that has surpassed the Vietnam War as the longest conflict in American history and a pre-emptive war in Iraq that proved to be longer, bloodier, and more expensive than anyone expected. Add the current NATO intervention in Libya and drone campaigns in Pakistan, Somalia, and Yemen, and it's no wonder that U.S. military spending has grown more than 80 percent in real terms over the last decade. At $675 billion this year, it's now 30 percent higher than what it was at the end of the Cold War.

Đúng và không. Rõ ràng là Hoa Kỳ đã bước vào một tình trạng chiến tranh kể từ sự kiện11/9, với một cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn ở Afghanistan đã vượt qua Chiến tranh Việt Nam như cuộc xung đột dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, và cuộc chiến tranh chặn trước ở Iraq tỏ ra còn kéo dài hơn, đẫm máu hơn và tốn kém hơn chờ đợi của bất cứ ai. Cộng thêm sự can thiệp hiện tại của NATO vào Libya và những cuộc xâm phạm của máy bay không người lái vào Pakistan, Somalia, và Yemen, và không có gì đáng ngạc nhiên rằng chi phí quân sự của Mỹ đã tăng lên hơn 80% theo giá thực trong thập kỷ qua. Với 675 tỉ $ năm nay, nó đã cao hơn 30% so với cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

But though the conflicts of the post-9/11 era may be longer than those of past generations, they are also far smaller and less lethal. America's decade of war since 2001 has killed about 6,000 U.S. service members, compared with 58,000 in Vietnam and 300,000 in World War II. Every life lost to war is one too many, but these deaths have to be seen in context: Last year more Americans died from falling out of bed than in all U.S. wars combined.

Nhưng mặc dầu những cuộc xung đột của thời kỳ sau ngày 11/9 có thể dài hơn những cuộc xung đột của các thế hệ trước, chúng cũng nhỏ hơn nhiều và làm chết ít người hơn. Một thập kỷ chiến tranh của Mỹ kể từ 2001 đã giết chết khoảng 6.000 người so với 58.000 ở Việt Nam và 300.000 trong Thế Chiến II. Mỗi cuộc đời mất đi vì chiến tranh là tổn thất quá lớn, nhưng những cái chết ấy phải được nhìn trong bối cảnh: Năm ngoái số người Mỹ chết do ngã từ trên giường xuống nhiều hơn trong tất cả các cuộc chiến tranh của Mỹ cộng lại.|1|


[1] Đây là một căn bệnh về rối loạn giấc ngủ, người bệnh ngã từ trên giường xuống trong khi ngủ.

And the fighting in Iraq and Afghanistan has taken place against a backdrop of base closures and personnel drawdowns elsewhere in the world. The temporary rise in U.S. troop numbers in South Asia and the Middle East, from 18,000 to 212,000 since 2000, contrasts with the permanent withdrawal of almost 40,000 troops from Europe, 34,000 from Japan and South Korea, and 10,000 from Latin America in that period. When U.S. forces come home from the current wars -- and they will in large numbers in the near future, starting with 40,000 troops from Iraq and 33,000 from Afghanistan by 2012 -- there will be fewer U.S. troops deployed around the world than at any time since the 1930s. President BarackObama was telling the truth in June when he said, "The tide of war is receding."

Và cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan đã diễn ra trong bối cảnh đóng cửa các căn cứ và rút bớt nhân viên ở các nơi khác trên thế giới. Việc tăng tạm thời quân số Hoa Kỳ ở Nam Á và Trung Đông, từ 18.000 lên 212.000 từ năm 2000 đi ngược với việc rút vĩnh viễn gần 40.000 quân khỏi châu Âu, 34.000 khỏi Nhật Bản và Nam Triều Tiên, và 10.000 khỏi châu Mỹ Latin trong thời kỳ này. Khi các lực lượng Mỹ về nhà từ những cuộc chiến tranh hiện tại – và một số lớn họ sẽ về trong tương lai gần, bắt đầu từ 40.000 lính từ Iraq và 33.000 từ Afghanistan vào năm 2012 – số lính Mỹ được triển khai trên toàn thế giới sẽ ít hơn bất kỳ thời gian nào kể từ những năm 1930. Tháng Sáu Tổng thống Barack Obama đã đúng khi ông nói "Cơn thủy triều chiến tranh đang rút xuống."

"War Has Gotten More Brutal for Civilians."

Hardly. In February 2010, a NATO airstrike hit a house in Afghanistan's Marja district, killing at least nine civilians inside. The tragedy drew condemnation and made the news, leading the top NATO commander in the country to apologize to Afghan President Hamid Karzai. The response underscored just how much has changed in war. During World War II, Allied bombers killed hundreds of thousands of civilians in Dresden and Tokyo not by accident, but as a matter of tactics; Germany, of course, murdered civilians by the millions. And when today's civilians do end up in harm's way, more people are looking out for them. The humanitarian dollars spent per displaced person rose in real terms from $150 in the early 1990s to $300 in 2006. Total international humanitarian assistance has grown from $2 billion in 1990 to $6 billion in 2000 and (according to donor countries' claims) $18 billion in 2008. For those caught in the crossfire, war has actually gotten more humane.

"Chiến tranh đã man rợ hơn đối với dân thường?"

Khắc nghiệt hơn. Tháng Hai 2010, một máy bay không kích của NATO bắn trúng một ngôi nhà ở quận Marja của Afghanistan, giết ít nhất chín thường dân trong ngôi nhà đó. Tấn thảm kịch đó đã kéo theo lời buộc tội và tạo nên tin tức, dẫn đến chỉ huy tối cao của NATO trong nước này phải xin lỗi Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai. Phản ứng này cho thấy rõ chiến tranh đã thay đổi như thế nào. Trong Thế Chiến II, quân đồng minh ném bom giết hàng trăm nghìn dân thường ở Dresden và Tokyo không phải do tình cờ, mà là một vấn đề chiến thuật; Đức, tất nhiên, giết hàng triệu dân thường. Và ngày nay khi dân thường gặp nguy hiểm, thì có nhiều người lo lắng cho họ hơn. Số tiền nhân đạo chi cho việc sơ tán tính theo đầu người đã lên theo giá thực từ 150 $ vào đầu những năm 1990 đến 300$ vào năm 2006. Tổng số viện trợ nhân đạo quốc tế đã tăng từ 2 tỉ $ năm 1990 lên 6 tỉ $ năm 2000 (theo tuyên bố của các nước viện trợ) và 18 tỉ $ năm 2008. Đối với những người bị kẹt trong cảnh giao tranh, chiến tranh ngày nay đã nhân đạo hơn trước.

Yet many people insist that the situation is otherwise. For example, authoritative works on peacekeeping in civil wars (Roland Paris's award-winning At War's End and Michael Doyle and Nicholas Sambanis's Making War and Building Peace), as well as gold-standard reports on conflict from the World Bank and the Carnegie Commission on Preventing Deadly Conflict, tell us that 90 percent of today's war deaths are civilian while just 10 percent are military -- the reverse of a century ago and "a grim indicator of the transformation of armed conflict" in the late 20th century, as political scientist Kalevi Holsti put it.

Tuy nhiên nhiều người vẫn khăng khăng cho rằng tình hình là ngược lại. Chẳng hạn, các công trình có căn cứ vững chắc về gìn giữ hòa bình trong các cuộc nội chiến (công trình được giải thưởng của Roland Paris Vào lúc kết thúc chiến tranh và Chiến tranh và Xây dựng Hòa bình của Michael Doyle và Nicholas Sambanis) cũng như những báo cáo tiêu-chuẩn-vàng về xung đột từ Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Carnegie về Phòng ngừa Xung đột Chết người, cho chúng ta biết 90 phần trăm những người chết trong các cuộc chiến tranh ngày nay là thường dân trong khi mười phần trăm là quân đội – nghịch đảo với cách đây một thế kỷ và "một dấu chỉ độc ác về sự biến dạng của xung đột vũ trang" cuối thế kỷ 20, như nhà khoa học chính trị Kalevi Holsti diễn tả.

Grim indeed -- but, fortunately, untrue. The myth originates with the 1994 U.N. Human Development Report, which misread work that Swedish researcher Christer Ahlström had done in 1991 and accidentally conflated war fatalities in the early 20th century with the much larger number of dead, wounded, and displaced people in the late 20th century. A more careful analysis done in 1989 by peace researcher William Eckhardt shows that the ratio of military to civilian war deaths remains about 50-50, as it has for centuries (though it varies considerably from one war to the next). If you are unlucky enough to be a civilian in a war zone, of course, these statistics are little comfort. But on a worldwide scale, we are making progress in helping civilians afflicted by war.

Tất nhiên là độc ác – nhưng may mắn là nó không đúng. Huyền thoại này xuất phát từ Báo cáo Phát triển con người của LHQ năm 1994, nó đã hiểu sai công trình mà nhà nghiên cứu Thụy điển Christer Ahlström đã làm năm 1991 và ảnh hưởng nguy hại của chiến tranh vào đầu thế kỷ 20 được cô đúc lại một cách ngẫu nhiên với số người chết, bị thương và phải tản cư nhiều hơn nhiều ở cuối thế kỷ 20. Một phân tích thận trọng hơn năm 1999 của nhà nghiên cứu William Eckhardt cho thấy tỉ lệ quân đội chết so với dân thường là 50-50, như trong nhiều thế kỷ (mặc dầu có sự khác nhau giữa các cuộc chiến tranh). Nếu bạn không may là một dân thường trong một vùng chiến sự thì tất nhiên những thống kê này không dễ chịu cho lắm. Nhưng trên quy mô toàn thế giới, chúng ta đang có tiến bộ trong việc giúp cho những người dân thường bị hại vì chiến tranh.

"Wars Will Get Worse in the Future."

Probably not. Anything is possible, of course: A full-blown war between India and Pakistan, for instance, could potentially kill millions of people. But so could an asteroid or -- perhaps the safest bet -- massive storms triggered by climate change. The big forces that push civilization in the direction of cataclysmic conflict, however, are mostly ebbing.

"Các cuộc chiến tranh sẽ tồi tệ hơn trong tương lai?"

Có thể không. Tất nhiên, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Một cuộc chiến tranh đang phát triển mạnh giữa Pakistan và Ấn Độ chẳng hạn có thể có tiềm năng giết hàng triệu người. Nhưng như vậy một tiểu hành tinh hay – có lẽ dự đoán an toàn nhất – những trận bão khổng lồ do biến đổi khí hậu gây ra cũng có thể làm được như thế. Tuy nhiên, những lực lượng lớn thúc đẩy các nền văn minh theo hướng xung đột thảm họa thì hầu như đang giảm xuống.

Recent technological changes are making war less brutal, not more so. Armed drones now attack targets that in the past would have required an invasion with thousands of heavily armed troops, displacing huge numbers of civilians and destroying valuable property along the way. And improvements in battlefield medicine have made combat less lethal for participants. In the U.S. Army, the chances of dying from a combat injury fell from 30 percent in World War II to 10 percent in Iraq and Afghanistan -- though this also means the United States is now seeing a higher proportion of injured veterans who need continuing support and care.

Những thay đổi công nghệ trong thời gian gần đây đã làm cho chiến tranh đỡ man rợ hơn. Những máy bay không người lái ngày nay tấn công các mục tiêu mà trong quá khứ cần đến một cuộc xâm lược với hàng nghìn binh lính vũ trang nặng, di dời số lớn thường dân và phá hủy những tài sản có giá trị trên dường đi của nó. Một sự cải thiện về thuốc men ở chiến trường đã làm cho các trận đánh ít tử vong hơn cho các bên tham chiến. Trong quân đội Mỹ, tỉ lệ chết do vết thương chiến tranh đã giảm từ 30 % trong Thế Chiến II xuống 10% trong chiến tranh Iraq và Afghanistan – mặc dù điều đó cũng có nghĩa rằng Hoa Kỳ ngày nay đang thấy một tỉ lệ cao hơn những cựu chiến binh thương phế cần tiếp tục giúp đỡ và chăm sóc.

Nor do shifts in the global balance of power doom us to a future of perpetual war. While some political scientists argue that an increasingly multipolar world is an increasingly volatile one -- that peace is best assured by the predominance of a single hegemonic power, namely the United States -- recent geopolitical history suggests otherwise.

Relative U.S. power and worldwide conflict have waned in tandem over the past decade. The exceptions to the trend, Iraq and Afghanistan, have been lopsided wars waged by the hegemon, not challenges by up-and-coming new powers. The best precedent for today's emerging world order may be the 19th-century Concert of Europe, a collaboration of great powers that largely maintained the peace for a century until its breakdown and the bloodbath of World War I.

Những cuộc dịch chuyển cân bằng quyền lực cũng không buộc chúng ta phải chịu một tương lai chiến tranh liên miên không dứt. Trong khi một số nhà khoa học chính trị lập luận rằng một thế giới càng đa cực thì càng bất tường, dễ thay đổi – rằng hòa bình sẽ được bảo đảm tốt nhất bởi uy thế vượt trội của một cường quốc bá chủ duy nhất, tức là Mỹ – lịch sử địa chính trị gần đây cho ta thấy ngược lại.

Quyền lực tương đối của Hoa Kỳ và xung đột trên toàn thế giới trong thập kỷ qua đã lần lượt theo nhau suy yếu. Những ngoại lệ của xu thế này là Iraq và Afghanistan là những cuộc chiến tranh không cân sức do bá quyền phát động chứ không phải bị thách thức bởi những cường quốc mới nổi. Tiền lệ tốt nhất cho trật tự thế giới đang nổi lên hôm nay có thể là Dàn nhạc Châu Âu thế kỷ 19, một sự phối hợp của các cường quốc lớn nói chung đã duy trì được hòa bình trong một thế kỷ cho đến khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất đẫm máu.

What about China, the most ballyhooed rising military threat of the current era? Beijing is indeed modernizing its armed forces, racking up double-digit rates of growth in military spending, now about $100 billion a year. That is second only to the United States, but it is a distant second: The Pentagon spends nearly $700 billion. Not only is China a very long way from being able to go toe-to-toe with the United States; it's not clear why it would want to. A military conflict (particularly with its biggest customer and debtor) would impede China's global trading posture and endanger its prosperity. Since Chairman Mao's death, China has been hands down the most peaceful great power of its time. For all the recent concern about a newly assertive Chinese navy in disputed international waters, China's military hasn't fired a single shot in battle in 25 years.

Còn Trung Hoa thì sao, mối đe dọa quân sự đang lớn lên được quảng cáo rùm beng trong thời kỳ hiện nay? Quả thật Bắc Kinh đã hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của nó, đưa mức tăng chi phí quân sự lên hàng hai chữ số, hiện nay khoảng một trăm tỉ đô la mỗi năm. Nó đứng hàng thứ hai chỉ sau có Mỹ, nhưng là một hàng hai cách xa: Lầu Năm góc chi tiêu mỗi năm gần 700 tỉ. Trung Hoa không chỉ còn rất xa mới ngang hàng với Mỹ, không rõ là tại sao nó lại muốn đứng ngang hàng. Một cuộc xung đột quân sự (đặc biệt là với khách hàng và con nợ lớn nhất của nó) sẽ làm trở ngại tư thế thương mại toàn cầu của Trung Hoa và gây nguy hiểm cho sự phát đạt của nó. Từ khi Mao chết, Trung Hoa đã là cường quốc lớn hòa bình nhất trong thời của nó. Đối với tất cả mối lo ngại gần đây về một hải quân Trung Hoa mới tự khẳng định trong những vùng biển quốc tế có tranh chấp, quân đội Trung Hoa chưa bắn một phát súng nào trên chiến trận trong vòng 25 năm nay.

"A More Democratic World Will Be a More Peaceful One."

Not necessarily. The well-worn observation that real democracies almost never fight each other is historically correct, but it's also true that democracies have always been perfectly willing to fight non-democracies. In fact, democracy can heighten conflict by amplifying ethnic and nationalist forces, pushing leaders to appease belligerent sentiment in order to stay in power. Thomas Paine and Immanuel Kant both believed that selfish autocrats caused wars, whereas the common people, who bear the costs, would be loath to fight. But try telling that to the leaders of authoritarian China, who are struggling to hold in check, not inflame, a popular undercurrent of nationalism against Japanese and American historical enemies. Public opinion in tentatively democratic Egypt is far more hostile toward Israel than the authoritarian government of Hosni Mubarak ever was (though being hostile and actually going to war are quite different things).

"Một thế giới dân chủ hơn sẽ là một thế giới hòa bình hơn?"

Không nhất thiết. Cái nhận xét cũ mèm về những nước dân chủ thật sự hầu như không bao giờ đánh nhau là đúng về mặt lịch sử, nhưng cũng đúng là các nước dân chủ luôn luôn sẵn lòng đánh những nước không dân chủ. Thật ra nền dân chủ có thể đề cao xung đột bằng cách khuếch trương các lực lượng sắc tộc và dân tộc chủ nghĩa của nó khiến các nhà lãnh đạo phải nhượng bộ tình cảm gây hấn để giữ được quyền lực. Cả Thomas Paine và Immanuel Kant đều tin rằng nhưng kẻ chuyên quyền ích kỷ thích gây ra chiến tranh, trong khi người dân thường là người phải chịu chi phí, thì bất đắc dĩ phải đánh nhau. Nhưng hãy thử nói điều đó với các nhà lãnh đạo của một Trung Hoa độc tài đang cố gắng kiềm chế để không khích động một chủ nghĩa dân tộc phổ biến ngấm ngầm chống lại những kẻ thù lịch sử là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Dư luận công chúng trong một nước dân chủ ngập ngừng như Ai Cập tỏ ra thù địch với Israel hơn nhiều so với chính quyền độc tài của Hosni Mubarack (mặc dù có thái độ thù địch và thật sự lao vào chiến tranh là hai việc hoàn toàn khác nhau).

Why then do democracies limit their wars to non-democracies rather than fight each other? Nobody really knows. As the University of Chicago's Charles Lipson once quipped about the notion of a democratic peace, "We know it works in practice. Now we have to see if it works in theory!" The best explanation is that of political scientists Bruce Russett and John Oneal, who argue that three elements -- democracy, economic interdependence (especially trade), and the growth of international organizations -- are mutually supportive of each other and of peace within the community of democratic countries. Democratic leaders, then, see themselves as having less to lose in going to war with autocracies.

Vậy tại sao các nước dân chủ hạn chế các cuộc chiến tranh của họ trong các nước không dân chủ hơn là đánh lẫn nhau? Không ai biết thật sự tại sao. Như Charles Lipson có lần đã châm biếm về khái niệm một nền hòa bình dân chủ "Chúng ta biết nó có tác dụng trong thực tế. Nay chúng ta còn phải xem nó có tác dụng trong lý thuyết hay không!" Lời giải thích tốt nhất là giải thích của các nhà khoa học chính trị Bruce Russett và John Oneal, họ lập luận rằng ba yếu tố - dân chủ, tương thuộc kinh tế (đặc biệt là thương mại) và sự lớn lên của các tổ chức quốc tế - là ủng hộ lẫn nhau và ủng hộ hòa bình bên trong cộng đồng các nước dân chủ. Các nhà lãnh đạo dân chủ tự thấy họ có ít cái để mất hơn trong việc chiến tranh với các chế độ chuyên quyền.

"Peacekeeping Doesn't Work."

It does now. The early 1990s were boom years for the blue helmets, with 15 new U.N. peacekeeping missions launched from 1991 to 1993 -- as many as in the U.N.'s entire history up to that point. The period was also host to peacekeeping's most spectacular failures. In Somalia, the U.N. arrived on a mission to alleviate starvation only to become embroiled in a civil war, and it quickly pulled out after 18 American soldiers died in a 1993 raid. In Rwanda in 1994, a weak U.N. force with no support from the Security Council completely failed to stop a genocide that killed more than half a million people. In Bosnia, the U.N. declared "safe areas" for civilians, but then stood by when Serbian forces overran one such area, Srebrenica, and executed more than 7,000 men and boys. (There were peacekeeping successes, too, such as in Namibia and Mozambique, but people tend to forget about them.)

"Gìn giữ hòa bình không có tác dụng"

Bây giờ nó có tác dụng rồi Đầu những năm 1990 phát triển mạnh những mũ sắt xanh, với 15 phái bộ gìn giữ hòa bình mới của Liên Hiệp Quốc từ 1991 đến 1993 – bằng số lượng của LHQ trong cả lịch sử đến thời gian ấy. Thời kỳ này cũng tiếp nhận những thất bại ngoạn mục nhất của lực lượng gìn giữ hòa bình. Tại Somalia, LHQ đến với sứ mạng làm nhẹ bớt nạn đói nhưng rồi chỉ để lâm vào một cuộc nội chiến và vội vã rút ra sau khi 18 binh sĩ Hoa Kỳ chết trong một cuộc đột kich năm 1993. Ở Rwanda năm 1994, một lực lượng yếu của LHQ không được sự trợ giúp nào của Hội đồng Bảo an đã hoàn toàn thất bại trong việc ngăn ngừa một cuộc diệt chủng giết chết hơn một nửa triệu dân. Ở Bosnia, LHQ tuyên bố "những khu vực an toàn" cho dân thường, nhưng sau đó khi các lực lượng Serbia lúc đó tràn qua một khu vực như thế, Srebrenica, và hành hình hơn 7000 người và trẻ em trai. (Cũng có những thắng lợi của lực lượng gìn giữ hòa bình, như ở Namibia và Mozambique, nhưng người ta dường như muốn quên chúng)

In response, the United Nations commissioned a report in 2000, overseen by veteran diplomat Lakhdar Brahimi, examining how the organization's efforts had gone wrong. By then the U.N. had scaled back peacekeeping personnel by 80 percent worldwide, but as it expanded again the U.N. adapted to lessons learned. It strengthened planning and logistics capabilities and began deploying more heavily armed forces able to wade into battle if necessary. As a result, the 15 missions and 100,000 U.N. peacekeepers deployed worldwide today are meeting with far greater success than their predecessors.

Để đáp lại, LHQ giao viết một báo cáo năm 2000, do nhà ngoại giao kỳ cựu Lakhdar Brahimi giám sát, xem xét các cố gắng của tổ chức này đã trở nên hỏng như thế nào. Khi đó LHQ đã sắp xếp lại nhân sự của lực lượng gìn giữ hòa bình trên khắp thế giới còn 80 phần trăm, nhưng khi nó bành trướng trở lại thì LHQ thích ứng với những bài học đã học được. Nó củng cố các năng lực kế hoạch và hậu cần và bắt đầu triển khai nhiều lực lượng vũ trang nặng có khả năng can thiệp vào các trận địa nếu cần. Kết quả là 15 phái bộ và 100.000 binh lính gìn giữ hòa bình của LHQ được triển khai trên toàn thế giới ngày nay đang đạt được thành công lớn hơn rất nhiều so với những người tiền nhiệm của họ.

Overall, the presence of peacekeepers has been shown to significantly reduce the likelihood of a war's reigniting after a cease-fire agreement. In the 1990s, about half of all cease-fires broke down, but in the past decade the figure has dropped to 12 percent. And though the U.N.'s status as a perennial punching bag in American politics suggests otherwise, these efforts are quite popular: In a 2007 survey, 79 percent of Americans favored strengthening the U.N. That's not to say there isn't room for improvement -- there's plenty. But the U.N. has done a lot of good around the world in containing war.

Nhìn chung, sự hiện diện của các lực lượng gìn giữ hòa bình tỏ ra đã giảm được một cách đáng kể khả năng châm ngòi lại những cuộc chiến tranh sau một hiệp định ngừng bắn. Trong những năm 1990, khoảng một nửa số cuộc ngừng bắn bùng nổ trở lại, nhưng trong thập kỷ qua con số này đã giảm xuống còn 12 phần trăm. Và dù cho địa vị của LHQ chỉ như một cái bung xung muôn thuở trong nền chính trị Hoa Kỳ khiến cho ta nghĩ ngược lại, những cố gắng này rất hợp lòng người: trong năm 2007, 79 phần trăm người Mỹ ủng hộ củng cố Liên Hiệp Quốc. Như thế không phải là nói rằng không còn gì phải cải thiện, thật ra còn rất nhiều. Nhưng LHQ đã làm được nhiều việc tốt trên khắp thế giới trong việc ngăn chặn chiến tranh.

"Some Conflicts Will Never End."

Never say never. In 2005, researchers at the U.S. Institute of Peace characterized 14 wars, from Northern Ireland to Kashmir, as "intractable," in that they "resist any kind of settlement or resolution." Six years later, however, a funny thing has happened: All but a few of these wars (Israel-Palestine, Somalia, and Sudan) have either ended or made substantial progress toward doing so. In Sri Lanka, military victory ended the war, though only after a brutal endgame in which both sides are widely believed to have committed war crimes. Kashmir has a fairly stable cease-fire. In Colombia, the war sputters on, financed by drug revenue, but with little fighting left. In the Balkans and Northern Ireland, shaky peace arrangements have become less shaky; it's hard to imagine either sliding back into full-scale hostilities. In most of the African cases -- Burundi, Rwanda, Sierra Leone, Uganda, the Democratic Republic of the Congo, and Ivory Coast (notwithstanding the violent flare-up after elections there in late 2010, now resolved) -- U.N. missions have brought stability and made a return to war less likely (or, in the case of Congo and Uganda, have at least limited the area of fighting).

"Một số cuộc xung đột không bao giờ kết thúc?"

Không bao giờ nên nói không bao giờ. Năm 2005, các nhà nghiên cứu ở Viện Hòa bình đã mô tả đặc điểm các cuộc chiến tranh từ Bắc Ailen đến Kashmir, là "cứng đầu cứng cổ, trong đó họ chống lại mọi loại dàn xếp và giải pháp." Tuy nhiên, sáu năm sau, một sự việc lạ lùng đã xảy ra: tất cả chỉ trừ một vài trong số các cuộc chiến tranh này (Israel-Palestine, Somalia, và Sudan) đã hoặc kết thúc hoặc có những bước tiến cơ bản đến kết thúc. Ở SriLanka, thắng lợi quân sự kết thúc chiến tranh, mặc dầu chỉ sau một tàn cuộc dã man trong đó cả hai bên bị cho là đã phạm những tội ác chiến tranh. Kashmir đã có một cuộc ngừng bắn khá yên ổn. Ở Colombia, chiến tranh tiếp tục một cách lẻ tẻ, được tài trợ bởi nguồn thu nhập từ ma túy, nhưng còn lại ít những cuộc đụng độ. Ở Balkans và Bắc Ailen, những dàn xếp hòa bình yếu ớt đã trở nên không còn yếu nữa, cũng khó hình dung nó có thể trượt trở lại những hoạt động chiến tranh qui mô lớn. Trong phần lớn các trường hợp ở châu Phi, - Burundi, Rwanda, Sierra Leone, Uganda, Cộng hòa Dân chủ Congo, và Bờ Biển Ngà (mặc dù bạo lực lại bùng lên sau những cuộc bầu cử năm 2010, nay đã được giải quyết) – các phái bộ LHQ đã mang đến ổn định và làm cho tình hình khó trở lại một cuộc chiến tranh hơn (hay như trong trường hợp Congo và Uganda, ít nhất đã có vùng chiến tranh hạn chế)

Could we do even better? The late peace researcher Randall Forsberg in 1997 foresaw "a world largely without war," one in which "the vanishing risk of great-power war has opened the door to a previously unimaginable future -- a future in which war is no longer socially-sanctioned and is rare, brief, and small in scale." Clearly, we are not there yet. But over the decades -- and indeed, even since Forsberg wrote those words -- norms about wars, and especially about the protection of civilians caught up in them, have evolved rapidly, far more so than anyone would have guessed even half a century ago. Similarly rapid shifts in norms preceded the ends of slavery and colonialism, two other scourges that were once also considered permanent features of civilization. So don't be surprised if the end of war, too, becomes downright thinkable.

Chúng ta còn có thể làm được tốt hơn nữa không? Nhà nghiên cứu hòa bình đã quá cố Randall Forsberg năm 1997 đã thấy trước "một thế giới nói chung không có chiến tranh" thế giới trong đó "đang biến mất nguy cơ chiến tranh giữa các cường quốc lớn mở ra cánh cửa vào một tương lai trước đây không thể nào tưởng tượng nổi – một tương lai trong đó chiến tranh không còn được xã hội thừa nhận nữa, và hiếm hoi, ngắn và nhỏ về qui mô." Rõ ràng là chúng ta chưa đi đến đó. Nhưng qua nhiều thập kỷ - và tất nhiên kể từ khi Forsberg đã viết những dòng này những qui phạm về các cuộc chiến tranh và đặc biệt về việc bảo vệ thường dân bị kẹt trong các cuộc chiến tranh đã tiến bộ nhanh chóng hơn nhiều so với bất kỳ ai có thể phán đoán thậm chí cách đây nửa thế kỷ. Tương tự, sự chuyển đổi nhanh chóng trong các qui phạm đã đi trước sự kết thúc chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân, hai tai họa khác mà có lúc đã được coi như những đặc điểm vĩnh viễn của nền văn minh. Vậy cũng đừng ngạc nhiên nếu sự kết liễu chiến tranh cũng trở nên việc có thể nghĩ bàn một cách rõ ràng rành mạch.

Joshua S. Goldstein is professor emeritus of international relations at American University and author of Winning the War on War: The Decline of Armed Conflict Worldwide.

Joshua S. Goldstein là giáo sư danh dự về quan hệ quốc tế tại Đại học Tổng hợp Hoa Kỳ và là tác giả cuốn: Thắng cuộc chiến tranh về chiến tranh: Sự giảm xung đột vũ trang trên toàn thế giới


Translated by Hiếu Tân

Nguồn: http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/08/15/think_again_war