MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Tuesday, November 22, 2011

LAVATORY - LOVE STORY - CHUYỆN TÌNH NHÀ VỆ SINH

A Lavatory Love Story: The Loneliness of a Public Toilet Attendant


A Lavatory Love Story: The Loneliness of a Public Toilet Attendant

Chuyện tình của một nhân viên vệ sinh công cộng

Lavatory Love is a 2009 Academy Awards nominee for Best Animated Short Film. The film is a minimalist animated short about a lonely middle-aged public toilet attendant who sits in her little booth day after day, collecting coins from the lavatory users while she reads the newspaper and fantasizes about the romantic lives that other people enjoy.

Đây là một đề cử giải Oscar 2009 cho Phim hoạt hình ngắn hay nhất. Bộ phim là một phim hoạt hình rất ngắn về một nhân viên nhà vệ sinh công cộng tuổi trung niên, cô đơn ngồi trong buồng làm việc nhỏ, hết ngày này sang ngày khác, thu tiền từ những người sử dụng phòng vệ sinh, trong khi cô ấy đọc báo và tưởng tượng về cuộc sống lãng mạn mà những người khác đang tận hưởng.

Secretly, she yearns for a man in her own life, someone who would love and comfort her. Unexpectedly, one day a small bouquet of flowers mysteriously appears in her money-jar. She suspects that her dreams about intimacy actually might come true after all, especially when more flowers continue to appear in the little glass jar.

Trong thâm tâm, cô khao khát một người đàn ông trong cuộc sống của riêng mình, một người sẽ yêu thương và an ủi cô. Thật bất ngờ, một ngày nọ, có một bó hoa nhỏ bí ẩn xuất hiện trong cái lọ đựng tiền của cô. Cô ngờ rằng, rốt cuộc, giấc mơ về một người bạn đời của mình sắp trở thành sự thật, đặc biệt là khi nhiều bó hoa tiếp tục xuất hiện trong cái lọ thủy tinh nhỏ ấy.

As the film follows the woman’s attempts to discover the identity of her secret admirer, it reveals the angst and sadness of a very lonely woman, as well as her transformation into a happy and joyful human being.

Khi cuốn phim lần theo những nỗ lực của người phụ nữ để khám phá nhân thân của người hâm mộ bí mật của mình, nó thể hiện sự lo lắng và nỗi buồn của người phụ nữ quá cô đơn này, cũng như việc cô đã chuyển đổi mình thành một con người hạnh phúc và vui vẻ.

Recommended by nguyen quang

Nguyen quang giới thiệu quý vị xem




"Somewhere I have never travelled, gladly beyond" Nơi nào đó ... trong tâm tư thật thà!


"Somewhere I have never travelled, gladly beyond"

Nơi nào đó ... trong tâm tư thật thà!

E. E. Cummings

E. E. Cummings

somewhere I have never travelled, gladly beyond

any experience, your eyes have their silence:

in your most frail gesture are things which enclose me,

or which I cannot touch because they are too near

Có những nơi chưa bao giờ em đến

Nét hân hoan dầu kinh nghiệm còn xa

Chỉ âm thầm trong mắt em yên lặng

Mỏng manh thay dáng vẻ hiền hòa

Đã gần nhau, quá sức gần anh nhỉ

Có bao giờ chạm nhẹ giữa hai ta?

your slightest look easily will unclose me

though I have closed myself as fingers,

you open always petal by petal myself as Spring opens

(touching skilfully, mysteriously) her first rose

Nụ cười nhỏ tưởng dễ dàng mở ngỏ

Những ngón tay đan khép lại rồi

Dấu trong em từng búp non bừng nở

Mỗi nhịp đời tựa một ánh xuân tươi

Bí mật đấy, những diệu kỳ rung động

Đóa hồng nào, xin một dóa tinh khôi

or if your wish be to close me, I and

my life will shut very beautifully ,suddenly,

as when the heart of this flower imagines

the snow carefully everywhere descending;

Giá đến được gần anh hơn chút nữa

Em cũng xin khép lại cuộc đời mình

Giữa tuyết trắng bồng bềnh vây hãm

Đóa hoa lòng đang mơ giấc hồi sinh

nothing which we are to perceive in this world equals

the power of your intense fragility: whose texture

compels me with the color of its countries,

rendering death and forever with each breathing

Có gì đâu phải nhọc nhằn nhận tạm

Thế giới này đồng đẳng giữa hai ta

Ôi mỏng manh em tràn đầy uy lực

Sức mạnh nào phải bó buộc anh xa

Đêm đất mẹ dưới chân ta xanh thẳm

Ngày hồn nhiên chung nhịp thở khoan hòa

(I do not know what it is about you that closes

and opens;only something in me understands

the voice of your eyes is deeper than all roses)

nobody, not even the rain, has such small hands

Anh băn khoăn chưa hiểu gì em cả

Còn tim yêu hay khép lại cuộc đời

Duy một điều em tin anh thầm biết

Tiếng nói hiền từ đôi mắt xa xôi

Thâm trầm hơn mọi đóa hồng có được

Nhỏ vô cùng, ngay cả giọt mưa rơi …

From Complete Poems: 1904-1962 by E. E. Cummings, edited by George J. Firmage.


http://cafe-and-books.blogtiengviet.net/2011/11/10/p5236811#more5236811













I CARRY YOUR HEART WITH ME

FLOWERS - HOA

The Inaugural Address of John F. Kennedy Bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Mỹ, John F. Kennedy



The Inaugural Address of John F. Kennedy

Bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Mỹ, John F. Kennedy

January 20, 1961

20-1-1961

Vice President Johnson, Mr. Speaker, Mr. Chief Justice, President Eisenhower, Vice President Nixon, President Truman, reverend clergy, fellow citizens, we observe today not a victory of party, but a celebration of freedom--symbolizing an end, as well as a beginning--signifying renewal, as well as change. For I have sworn before you and Almighty God the same solemn oath our forebears prescribed nearly a century and three-quarters ago.

Phó Tổng thống Johnson, ông Chủ tịch Hạ viện, ông Bộ trưởng Tư pháp, Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng Thống Nixon, Tổng thống Truman, các Mục sư, Giáo sĩ đáng kính, cùng tất cả đồng bào. Chúng ta cử hành buổi lễ hôm nay không phải để mừng chiến thắng của đảng phái, mà là buổi lễ mừng tự do, tượng trưng cho sự kết thúc, cũng là sự khởi đầu, một sự thay đổi cũng như sự đổi mới có ý nghĩa. Tôi tuyên thệ nhậm chức trước mặt quý vị và Thiên Chúa Toàn Năng, long trọng tuyên thệ trước tổ tiên của chúng ta, quy định gần 175 năm trước.

The world is very different now. For man holds in his mortal hands the power to abolish all forms of human poverty and all forms of human life. And yet the same revolutionary beliefs for which our forebears fought are still at issue around the globe--the belief that the rights of man come not from the generosity of the state, but from the hand of God.

Thế giới hiện nay đã khác. Nhân loại hiện có sức mạnh trong tay, thủ tiêu mọi hình thức nghèo đói của loài người và mọi hình thức đời sống nhân loại (1). Niềm tin cách mạng (2), mà tổ tiên chúng ta đã chiến đấu, hiện vẫn còn là vấn đề khắp toàn cầu – niềm tin rằng nhân quyền không phải đến từ sự ban ơn của chính phủ, mà đến từ bàn tay của Thượng Đế (3).

We dare not forget today that we are the heirs of that first revolution. Let the word go forth from this time and place, to friend and foe alike, that the torch has been passed to a new generation of Americans--born in this century, tempered by war, disciplined by a hard and bitter peace, proud of our ancient heritage, and unwilling to witness or permit the slow undoing of those human rights to which this nation has always been committed, and to which we are committed today at home and around the world.

Hôm nay, chúng ta không dám quên rằng chúng ta là những người kế thừa cuộc cách mạng đầu tiên đó. Vào thời điểm này và ở nơi đây, hãy để cho mọi người biết, hãy để cho bạn bè cũng như kẻ thù biết rằng, ngọn đuốc đã được chuyển đến một thế hệ mới của người Mỹ, sinh ra trong thế kỷ này, trưởng thành từ chiến tranh, được rèn luyện từ một nền hòa bình khó khăn và cay đắng, tự hào về di sản cổ xưa của chúng ta và không muốn chứng kiến ​​hoặc cho phép nhân quyền từ từ bị hủy hoại, điều mà đất nước này đã cam kết và điều mà chúng ta cam kết hôm nay, trên đất nước này và trên khắp thế giới.

Let every nation know, whether it wishes us well or ill, that we shall pay any price, bear any burden, meet any hardship, support any friend, oppose any foe, to assure the survival and the success of liberty. This much we pledge--and more.

Hãy để mọi quốc gia biết rằng, cho dù họ cầu mong những điều tốt lành hay những điều tồi tệ đến với chúng ta, rằng chúng ta sẵn sàng trả bất kỳ giá nào, gánh vác bất kỳ gánh nặng nào, chấp nhận bất kỳ khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ người bạn nào, chống lại bất kỳ kẻ thù nào, để bảo đảm tự do được thành công và tồn tại. Điều này chúng ta cam kết nhiều và nhiều hơn nữa.

To those old allies whose cultural and spiritual origins we share, we pledge the loyalty of faithful friends. United there is little we cannot do in a host of cooperative ventures. Divided there is little we can do--for we dare not meet a powerful challenge at odds and split asunder.

Đối với những đồng minh cũ có chung nguồn gốc văn hóa và tinh thần với chúng ta, chúng tôi cam kết sự trung thành của những người bạn trung thành. Đoàn kết, chúng ta có thể cùng nhau hợp tác làm được nhiều điều. Chia rẽ, chúng ta sẽ bị suy yếu và không làm được gì cả, chúng ta không dám đương đầu với sự thách thức mạnh mẽ nếu chúng ta không hợp tác và bị xé rời ra.

To those new states whom we welcome to the ranks of the free, we pledge our word that one form of colonial control shall not have passed away merely to be replaced by a far more iron tyranny. We shall not always expect to find them supporting our view. But we shall always hope to find them strongly supporting their own freedom--and to remember that, in the past, those who foolishly sought power by riding the back of the tiger ended up inside.

Đối với những chính phủ mới (4), chúng tôi hoan nghênh các bạn đến với nền tự do, dân chủ. Chúng tôi cam kết sẽ không để một hình thức kiểm soát thuộc địa thay thế bằng một chế độ độc tài sắt máu hơn. Chúng tôi không mong những chính phủ mới này luôn ủng hộ quan điểm của chúng tôi, nhưng chúng tôi luôn hy vọng tìm thấy sự hỗ trợ mạnh mẽ của họ đối với sự tự do của chính họ. Và nên nhớ rằng, trong quá khứ, những kẻ điên rồ tìm kiếm quyền lực bằng cách cưỡi trên lưng hổ, cuối cùng sẽ nằm trong bụng hổ (5).

Those peoples in the huts and villages of half the globe struggling to break the bonds of mass misery, we pledge our best efforts to help them help themselves, for whatever period is required--not because the Communists may be doing it, not because we seek their votes, but because it is right. If a free society cannot help the many who are poor, it cannot save the few who are rich.

Đối với những người dân sống trong những túp lều và những ngôi làng trên khắp toàn cầu, đang tranh đấu để phá vỡ xiềng xích của nỗi thống khổ tột cùng, chúng ta cam kết, chúng ta sẽ cố gắng hết sức để giúp đỡ họ, để họ có thể tự giúp bản thân họ, bất cứ khi nào được yêu cầu, không phải vì lo rằng cộng sản sẽ lôi kéo họ, cũng không phải vì chúng ta muốn kiếm lá phiếu của họ, mà bởi vì đó là điều chúng ta cần phải làm. Nếu một xã hội tự do không thể giúp được nhiều người nghèo khổ, thì xã hội đó không thể cứu lấy một ít người giàu có.

To our sister republics south of our border, we offer a special pledge: to convert our good words into good deeds, in a new alliance for progress, to assist free men and free governments in casting off the chains of poverty. But this peaceful revolution of hope cannot become the prey of hostile powers. Let all our neighbors know that we shall join with them to oppose aggression or subversion anywhere in the Americas. And let every other power know that this hemisphere intends to remain the master of its own house.

Đối với những người anh em cộng hòa của chúng ta ở phía Nam biên giới (6), chúng tôi có một cam kết đặc biệt, sẽ biến những lời nói tốt đẹp của chúng tôi thành những hành động trong một liên minh mới cho sự tiến bộ, để giúp đỡ những người dân tự do và chính phủ các nước tự do thoát khỏi đói nghèo. Nhưng cuộc cách mạng hòa bình của niềm hy vọng này không thể trở thành nạn nhân của các nước thù địch. Hãy để tất cả các nước láng giềng của chúng ta biết rằng, chúng ta sẽ tham gia với họ để chống lại sự xâm lược hay sự lật đổ, tại bất cứ nơi nào ở châu Mỹ. Và hãy để các nước khác biết rằng, chúng ta [là những nước] làm chủ bán cầu này (7).

To that world assembly of sovereign states, the United Nations, our last best hope in an age where the instruments of war have far outpaced the instruments of peace, we renew our pledge of support--to prevent it from becoming merely a forum for invective, to strengthen its shield of the new and the weak--and to enlarge the area in which its writ may run.

Đối với hội đồng các quốc gia trên thế giới, Liên Hiệp quốc, hy vọng tốt nhất của chúng ta trong lúc này, nơi có nhiều khả năng xảy ra chiến tranh hơn hòa bình, chúng tôi tiếp tục cam kết sự hỗ trợ của chúng tôi đối với Liên Hiệp quốc, để ngăn chặn nó trở thành một diễn đàn cho những lời công kích, giúp Liên Hiệp quốc có thêm sức mạnh, để giúp đỡ những nước mới thành lập và những nước nghèo khó và để giúp mở rộng hoạt động của Liên Hiệp quốc.

Finally, to those nations who would make themselves our adversary, we offer not a pledge but a request: that both sides begin anew the quest for peace, before the dark powers of destruction unleashed by science engulf all humanity in planned or accidental self-destruction.

Cuối cùng, đối với những nước muốn làm kẻ thù của chúng ta, chúng tôi yêu cầu: cả hai phía hãy tìm kiếm hòa bình, trước khi khoa học tung ra sức mạnh của sự hủy diệt đen tối, nhấn chìm tất cả nhân loại, như đã lên kế hoạch hoặc chỉ bất ngờ xảy ra (8).

We dare not tempt them with weakness. For only when our arms are sufficient beyond doubt can we be certain beyond doubt that they will never be employed.

Chúng ta không thể cho thấy sự yếu đuối. Chỉ khi nào chúng ta có đầy đủ vũ khí, chúng ta chắc chắn rằng cả hai phía, không bên nào dám tấn công (9).

But neither can two great and powerful groups of nations take comfort from our present course--both sides overburdened by the cost of modern weapons, both rightly alarmed by the steady spread of the deadly atom, yet both racing to alter that uncertain balance of terror that stays the hand of mankind's final war.

Nhưng hai cường quốc hoặc hai nhóm các nước cường quốc không thể thoải mái làm điều này, bởi vì cả hai phía hiện đã quá tải vì chi phí cho các loại vũ khí hiện đại, cả hai phía đã được báo động do phổ biến bom nguyên tử chết người, nhưng cả hai phía vẫn chạy đua để thay đổi sự cân bằng không chắc chắn về mối đe dọa chiến tranh hạt nhân, sẽ giúp chúng ta không tấn công nhau.

So let us begin anew--remembering on both sides that civility is not a sign of weakness, and sincerity is always subject to proof. Let us never negotiate out of fear, but let us never fear to negotiate.

Cho nên chúng ta hãy thử một lần nữa, cả hai phía đều nhớ rằng, lịch sự không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, và sự chân thành luôn phải được chứng minh. Chúng ta không bao giờ thương lượng vì sợ hãi. Nhưng chúng ta cũng không bao giờ sợ hãi để rồi thương lượng.

Let both sides explore what problems unite us instead of belaboring those problems which divide us. Let both sides, for the first time, formulate serious and precise proposals for the inspection and control of arms, and bring the absolute power to destroy other nations under the absolute control of all nations.

Hãy để hai phía tập trung vào những điểm chung có thể làm cho chúng ta đoàn kết, thay vì phải lo lắng đến những vấn đề chia rẽ chúng ta. Lần đầu tiên, hãy để hai phía đưa ra những đề xuất chính xác và nghiêm túc, xem xét và kiểm soát vũ khí, và đem sức mạnh tuyệt đối hủy diệt các nước khác, đặt dưới sự kiểm soát hoàn toàn của tất cả các nước (10).

Let both sides seek to invoke the wonders of science instead of its terrors. Together let us explore the stars, conquer the deserts, eradicate disease, tap the ocean depths, and encourage the arts and commerce.

Hãy để hai phía sử dụng khoa học vào những mục đích tốt thay vì sử dụng khoa học với mục đích [làm cho thế giới] kinh hoàng. Chúng ta hãy cùng nhau khám phá những ngôi sao, chinh phục các sa mạc, xóa bỏ bệnh tật, khai thác sâu dưới đáy đại dương, cổ vũ nghệ thuật và thương mại.

Let both sides unite to heed, in all corners of the earth, the command of Isaiah--to "undo the heavy burdens, and to let the oppressed go free."

Hãy để hai phía đoàn kết, chú ý đến mọi nơi trên trái đất, theo lời của đấng tiên tri Isaiah, để “không phải mang những gánh nặng… và giải cứu mọi kẻ bị áp bức”.

And, if a beachhead of cooperation may push back the jungle of suspicion, let both sides join in creating a new endeavor--not a new balance of power, but a new world of law--where the strong are just and the weak secure and the peace preserved.

Và nếu bắt đầu hợp tác, chúng ta có thể đẩy lùi cả khu rừng của sự nghi ngờ, hãy để hai phía tham gia tạo một nỗ lực mới, không phải là một sự cân bằng quyền lực mới, mà là một thế giới luật pháp mới, thế giới mà những nước mạnh không thể đánh những nước yếu, và những nước yếu được an toàn, và nền hòa bình được bảo vệ.

All this will not be finished in the first one hundred days. Nor will it be finished in the first one thousand days, nor in the life of this administration, nor even perhaps in our lifetime on this planet. But let us begin.

Tất cả những điều này sẽ không thể hoàn thành trong 100 ngày đầu tiên [của một nhiệm kỳ tổng thống]. Cũng không thể hoàn thành trong 1.000 ngày đầu tiên, cũng không thể nào thực hiện trong nhiệm kỳ của chính phủ này, thậm chí có thể không làm được trong suốt cuộc đời của một con người sống trên hành tinh này. Nhưng hãy để chúng tôi bắt đầu (11).

In your hands, my fellow citizens, more than mine, will rest the final success or failure of our course. Since this country was founded, each generation of Americans has been summoned to give testimony to its national loyalty. The graves of young Americans who answered the call to service surround the globe.

Đồng bào của tôi ơi, sự thành công hay thất bại cuối cùng trong tất cả mọi hành động chúng ta đều nằm trong tay của quý đồng bào, nhiều hơn là nằm trong tay của tôi. Kể từ khi đất nước này được thành lập, mỗi thế hệ người Mỹ đã chiến đấu để thể hiện sự trung thành đối với quốc gia. Những ngôi mộ của những người Mỹ trẻ tuổi đã đáp lại sự trung thành đó, phục vụ trên khắp địa cầu.

Now the trumpet summons us again--not as a call to bear arms, though arms we need--not as a call to battle, though embattled we are--but a call to bear the burden of a long twilight struggle, year in and year out, "rejoicing in hope; patient in tribulation," a struggle against the common enemies of man: tyranny, poverty, disease, and war itself.

Bây giờ tiếng kèn lại gọi chúng ta nữa, không phải lời kêu gọi để cầm vũ khí, mặc dù chúng ta cần vũ khí, không phải lời kêu gọi chiến đấu, mặt dù chúng ta đã dàn quân, mà là lời kêu gọi để gánh vác cuộc đấu tranh lâu dài, hàng năm, “vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn“, một cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của con người: sự chuyên chế, nghèo đói, bệnh tật và cả chiến tranh.

Can we forge against these enemies a grand and global alliance, North and South, East and West, that can assure a more fruitful life for all mankind? Will you join in that historic effort?

Có thể nào chúng ta cùng nhau chống lại những kẻ thù của một liên minh lớn và toàn cầu, Bắc và Nam, Đông và Tây, để có thể bảo đảm một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả nhân loại hay không? Các bạn sẽ tham gia vào nỗ lực lịch sử đó không?

In the long history of the world, only a few generations have been granted the role of defending freedom in its hour of maximum danger. I do not shrink from this responsibility--I welcome it. I do not believe that any of us would exchange places with any other people or any other generation. The energy, the faith, the devotion which we bring to this endeavor will light our country and all who serve it. And the glow from that fire can truly light the world.

Suốt chiều dài lịch sử thế giới, chỉ có một vài thế hệ được ban cho vai trò bảo vệ tự do trong giờ phút nguy hiểm tột cùng. Tôi không trốn tránh trách nhiệm này, tôi chào đón nó. Tôi không tin rằng người nào đó trong chúng ta muốn đổi vị trí với bất kỳ người nào khác hoặc thế hệ nào khác. Nghị lực, đức tin, sự hiến thân mà chúng ta mang đến nỗ lực này sẽ thắp sáng đất nước ta và những người phục vụ nó, và sự phát sáng từ ngọn lửa đó có thể thật sự soi sáng thế giới.

And so, my fellow Americans, ask not what your country can do for you--ask what you can do for your country.

Và những người bạn Mỹ của tôi, đừng hỏi đất nước làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi các bạn đã làm được gì cho đất nước.*

My fellow citizens of the world, ask not what America will do for you, but what together we can do for the freedom of man.

Những người bạn trên thế giới của tôi, đừng hỏi nước Mỹ sẽ làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi chúng ta có thể cùng nhau làm được gì cho tự do của nhân loại.

Finally, whether you are citizens of America or citizens of the world, ask of us here the same high standards of strength and sacrifice which we ask of you. With a good conscience our only sure reward, with history the final judge of our deeds, let us go forth to lead the land we love, asking his blessing and his help, but knowing that here on earth God's work must truly be our own.

Cuối cùng, cho dù các bạn là công dân Mỹ hay là công dân thế giới, hãy yêu cầu chính phủ sống và chịu đựng giống như chính phủ đòi hỏi người dân phải sống như vậy (12). Với lương tri trong sáng, chúng ta biết chắc chắn sẽ được đền bù, lịch sử cuối cùng sẽ phán xét những việc làm của chúng ta. Hãy để chúng tôi đi ra ngoài và lãnh đạo đất nước mà chúng ta yêu quý (13), nhờ Thượng Đế phù hộ và giúp đỡ, nhưng chúng ta phải biết rằng, công việc của Thượng Đế chính là công việc của chúng ta (14).


Translated by Ngọc Thu

* (original)“We pause to become conscious of our national life and to rejoice in it, to recall what our country has done for each of us, and to ask ourselves what we can do for the country in return."
Oliver Wendell Holmes, Jr.

(1) Ý nói loài người có đủ sức mạnh để làm được những điều tốt nhất hoặc làm những điều tồi tệ nhất cho nhân loại.

(2) Từ “revolutionary” tức “cách mạng”, ở đây muốn nói sự thay đổi tiến bộ trong lịch sử Mỹ. Khi nước Mỹ mới thành lập, người dân Mỹ không có những quyền mà họ đang có vào thời điểm ông Kennedy phát biểu. Trải qua bao cuộc đấu tranh cách mạng mà dần dần dân Mỹ đã có được các quyền đó.

(3) Ý nói con người sinh ra đã được Thượng Đế ban cho các quyền con người, nên nhân quyền không phải do chính phủ ban ơn, mà chính mỗi người đều có kể từ khi được sinh ra.

(4) Ý nói những chính phủ mới thành lập, không cộng sản, ở các nước ĐNA như miền Nam, Việt Nam, Lào, Campuchia…

(5) Các nhà phân tích cho rằng, trong câu này, ông Kennedy muốn nói đến Liên Xô, rằng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân để thống trị thế giới, cuối cùng sẽ tự hủy hoại chính mình. Một ý kiến khác cho rằng, ông Kennedy muốn nói đến số phận của những lãnh đạo độc tài, cuối cùng sẽ kết thúc bi thảm.

(6) Nói tới những nước ở phía Nam châu Mỹ.

(7) Ông Kennedy muốn nói cho các nước khác biết rằng, Mỹ và các nước ở châu Mỹ, chứ không phải Liên Xô, làm chủ châu Mỹ.

(8) Ông Kennedy muốn nói tới khả năng hai phe sử dụng bom nguyên tử.

(9) Đoạn này ông Kennedy muốn nói đến học thuyết MAD, Mutual Assured Destruction hay Mutually Assured Destruction, nghĩa là “Bảo đảm Hủy diệt Lẫn nhau”, một học thuyết về “chiến lược quân sự”, còn được gọi là “chính sách an ninh quốc gia”. Học thuyết này cho rằng, mỗi bên có đủ số vũ khí hạt nhân để tiêu diệt đối phương, và cả hai phía, nếu bị tấn công, thì sẽ trả đũa mà không bị thất bại, với sức mạnh bằng với phía tấn công hoặc lớn hơn.

(10) Ông Kennedy nói về kiểm soát vũ khí.

(11) Ông Kennedy muốn nói, mặc dù khó khăn, nhưng hãy để cho ông, tức chính phủ Mỹ, bắt tay làm chuyện này.

(12) Hãy yêu cầu chính phủ sống như người dân, nghĩa là chính phủ phục vụ dân, chứ không phải chính phủ sống trên đầu, trên cổ dân.

(13) Tức nước Mỹ.

(14) Câu này có nghĩa là: Để thế giới tốt đẹp hơn, chúng ta phải bắt tay làm việc, chứ không phải phó mặc mọi chuyện cho Chúa.



http://grammar.about.com/od/classicessays/a/jfkinaugural_2.htm


Vietnam courting major powers Việt Nam tiếp cận các cường quốc


Vietnam courting major powers
Việt Nam tiếp cận các cường quốc
by David Koh, for the Straits Times, dated 10 November 2011
David Koh
Học viện Nghiên cứu Đông nam Á
IN THE past five years, Vietnam has been courting all major economic and political centres of the world, including the permanent members of the United Nations Security Council.
Trong năm năm qua, Việt Nam đã tiếp cận tất cả những trung tâm kinh tế và chính trị lớn trên thế giới, bao gồm những thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
In the middle of last month, there was a flurry of diplomatic activities, when its three top political leaders visited or re- ceived guests of importance. German Chancellor Angela Merkel visited Hanoi, while State President Truong Tan Sang visited India. These visits followed one to Vietnam by Australian Prime Minister Ju- lia Gillard in March. Prime Minister Nguy- en Tan Dung also visited Japan this month.
Vào giữa tháng trước, lại có một loạt những hoạt động ngoại giao, khi ba nhà lãnh đạo chính trị tối cao đã đến thăm hoặc tiếp đón những vị khách quan trọng. Thủ tướng Đức Angela Merkel đã đến thăm Hà Nội, trong khi Chủ tịch Nhà nước Trương Tấn Sang sang thăm viếng Ấn Độ. Những chuyến thăm này tiếp theo sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Úc Julia Gillard vào tháng Ba. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đến thăm Nhật vào tháng này.
However, the visit that was most eager- ly awaited was Vietnam Communist Par- ty boss Nguyen PhuTrong’s visit to Chi- na in mid-October. But the visit showed that all was not well between the two countries.
Tuy nhiên, chuyến đi được trông đợi nhất là của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sang thăm viếng Trung Quốc vào giữa tháng Mười. Nhưng chuyến đi này cho thấy mọi việc không tốt đẹp mấy giữa hai quốc gia.
The trip to China was MrTrong’s sec- ond overseas visit after he became the country’s top politician. In May, Chinese Maritime Administration ships had cut a cable of Vietnamese ship Binh Minh 02 conducting oil exploration activity.
Chuyến thăm Trung Quốc của ông Trọng là lần xuất ngoại thứ hai sau khi ông trở thành nhà chính trị tối cao của quốc gia. Vào tháng Năm, những chiếc tàu Hải giám của Trung Quốc đã cắt đứt dây cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam khi nó đang tiến hành công tác thăm dò dầu mỏ.
During the visit Mr. Trong met all the top Chinese politicians. The highlight of the visit was an agreement reached between the two sides on how to resolve the bilateral disputes over the South China Sea.
Trong chuyến đi của mình, ông Trọng đã gặp gỡ tất cả những nhà chính trị cao cấp Trung Quốc. Điểm sáng của chuyến đi này là một thoả thuận mà hai bên đạt được về việc giải quyết những tranh chấp song phương trên biển Đông.
Both sides made some concessions. For instance, the first clause of their joint declaration reiterated the Chinese stand that both sides should consider “the big picture” – overall bilateral relations, the regional situation and their traditional friendship – when dealing with South Chi- na Sea issues.
Cả hai phía đều đã có một số nhượng bộ. Ví dụ đoạn văn đầu trong bản tuyên bố chung đã lặp lại quan điểm của Trung Quốc rằng cả hai bên cần quan tâm đến “bức tranh lớn” - toàn bộ quan hệ song phương, tình hình trong khu vực và truyền thống hữu nghị của hai nước - khi thương lượng về những vấn đề biển Đông.
On its part, Vietnam made China put ink on paper to discuss bilateral maritime disputes with Vietnam, including those in the Gulf of Tonkin, in accordance with the 1982 Law of the Sea, historical claims, as well as the Declaration on the Conduct of Parties on the South China Sea. However, the text did not state clear- ly whether disputes involving third par- ties need multilateral negotiations (the Chinese said no, the Vietnamese said yes).
Về phía mình, Việt Nam cũng đã buộc Trung Quốc viết rõ ràng trên giấy mực việc thảo luận tranh chấp biển song phương với Việt Nam, bao gồm khu vực Vịnh Bắc bộ, dựa theo Luật về Biển 1982, những tuyên bố chủ quyền trong lịch sử, cũng như bản Tuyên bố Ứng xử của các bên trên biển Đông. Tuy nhiên, văn bản trên đã không nói rõ liệu những tranh chấp liên quan đến nước thứ ba có cần đến việc thương lượng đa phương hay không (Việt Nam đồng ý việc này trong khi Trung Quốc không đồng ý).


Both countries also agreed to have bi- annual high-level meetings to discuss bi- lateral hot issues. A hotline will be established to deal with emergency matters on the seas.
Cả hai nước cũng đã đồng ý tiến hành những hội nghị bán niên cấp cao để thảo luận những vấn đề song phương nóng. Một đường dây nóng sẽ được thiết lập để đối phó với những tình huống khẩn cấp về biển.
Such an agreement hardly means Sino-Vietnamese tensions will go away. And the agreement still needs to be verified by actual conduct.
Thoả thuận này không có nghĩa là những căng thẳng Việt - Trung sẽ biến mất. Và bản thoả thuận này vẫn cần được thẩm định bằng hành xử thiết thực.
This is probably the Vietnamese view as well and so Vietnam has been earnestly courting other major powers, including those that have cards to play against China.
Có lẽ đây cũng là quan điểm của Việt Nam vì Việt Nam đang sốt sắng mời chào những cường quốc lớn, bao gồm những nước có quân bài để chống lại Trung Quốc.
The visit to India by State President Sang is a statement about India’s impor- tance to Vietnam’s strategic calculations. India is the major power on Vietnam’s western maritime flank and a possible counterweight to the influence of other major powers.
Chuyến đi thăm Ấn Độ của Chủ tịch Sang là một tuyên bố về tầm quan trọng của Ấn Độ đối với những tính toán chiến lược của Việt Nam. Ấn Độ là một cường quốc quan trọng trong khu vực hàng hải phía Tây của Việt Nam và có thể là một đối trọng cho ảnh hưởng của những cường quốc quan trọng khác.
The most important outcome of the visit was the bilateral agreement to invite India to prospect for oil on Vietnam’s continental shelf. This came as a shock to Chinese commentators, who demanded India’s immediate withdrawal.
Thành quả quan trọng nhất của chuyến đi là thoả thuận chung nhằm mời Ấn Độ khai thác dầu ở thềm lục địa Việt Nam. Việc này đã gây một cú sốc đối với những nhà bình luận Trung Quốc, họ đã đòi hỏi Ấn Độ phải rút lui ngay lập tức.
Truth be told, Vietnamese-Indian intentions were already known to Chinese officials as long as four years ago. Officially, China warned India the drillings were illegal, but India disregarded it, given its view that the area drilled was “within Vietnamese territory”. India has had an oil presence in the South China Sea since the early 1990s.
Sự thật là những chủ định của Việt Nam và Ấn Độ đã được các quan chức Trung Quốc nhận biết từ bốn năm trước. Trên danh nghĩa, Trung Quốc đã cảnh cáo Ấn Độ rằng việc khoan dầu là bất hợp pháp, nhưng Ấn Độ đã không đếm xỉa đến, với quan điểm là khu vực được khai thác nằm “trong lãnh thổ Việt Nam”. Ấn Độ đã có mặt khai thác dầu trên vùng biển Đông từ những năm đầu 1990.
The high-profile visit by the German Chancellor to Hanoi confirmed the historical friendship between the two countries, and at the same time marked a new vig- our in their cooperation.
Chuyến thăm trọng đại của Thủ tướng Đức đến Hà Nội đã củng cố tình hữu nghị lịch sử giữa hai quốc gia, và cùng lúc cũng đã đánh dấu một bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữa hai bên.
Germany has received hundreds of thousands of Vietnamese students and workers in the past four decades, and currently there are 4,000 Vietnamese students in Germany. There are also more than 100,000 Vietnamese immigrants in Germany, including a second-generation Vietnamese who has become a government minister. Bilateral trade with Germany stood at US$6 billion (S$7.6 billion) last year – less than that with the United States and China, but more than trade with India.
Đức đã nhận hàng trăm nghìn sinh viên và công nhân Việt Nam trong bốn thập niên qua, và hiện nay có 4 nghìn sinh viên Việt Nam đang học tập tại Đức. Ngoài ra còn có hơn 100 nghìn dân Việt nhập cư tại Đức, bao gồm một người Việt thuộc thế hệ thứ hai đã trở thành một bộ trưởng chính phủ. Thương mại song phương với Đức đã đạt đến 6 tỉ Mỹ kim vào năm ngoái - ít hơn so với Hoa Kỳ và Trung Quốc nhưng nhiều hơn so với Ấn Độ.
More importantly, a Vietnam-Germany Strategic Partnership was signed that would greatly increase German offers of scholarships, training of nurses, and environment and climate change capabilities in Vietnam. Germany took the opportunity to announce it would offer US$400 million in overseas development aid help to Vietnam next year.
Điều quan trọng hơn là việc ký kết Hiệp ước Đối tác Chiến lược Việt - Đức sẽ tăng cường mạnh mẽ những giúp đỡ của Đức về học bổng, đào tạo y tá, và những khả năng bảo vệ môi trường và khí hậu của Việt Nam. Đức đã dùng cơ hội này để thông báo rằng sẽ cung cấp quỹ trợ giúp phát triển nước ngoài trị giá 400 triệu Mỹ kim cho Việt Nam vào năm tới.
PM Dung, who received Dr Merkel, said “the strategic partnership would contribute to peace, cooperation and development to the region and to the world”. This statement appears to be a subtle message signalling a Vietnamese wish to expand Germany’s role in South-east Asia.
Thủ tướng Dung, người đón tiếp Tiến sĩ Merkel, đã nói rằng “Hiệp ước đối tác chiến lược sẽ đóng góp vào hoà bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới”. Tuyên bố này có vẻ là một thông điệp ngầm, báo hiệu mong muốn của Việt Nam về việc Đức mở rộng vai trò của mình tại Đông nam Á.
In the end, the Vietnamese strategy is basically threefold. At the core is its relationship with major powers that are also neighbours. Asean is the next layer pro- viding a cover of regionalism and community. The outermost layer is engagement with major powers that make up the gaps of the first two.
Cuối cùng, chiến lược của Việt Nam bao gồm ba lớp. Phần cốt lõi là quan hệ của nó với những cường quốc quan trọng và cũng là láng giềng của mình. Các quốc gia ASEAN là lớp vỏ thứ hai bao trùm chủ nghĩa khu vực và cộng đồng. Lớp vỏ ngoài cùng là sự tiếp xúc với những cường quốc lớn giúp khoả lấp những khoảng trống của hai lớp kia.
This strategy is carefully thought out and is different from the big power strategy Vietnam adopted during the Cold War. It is a recognition of the pre-eminent status of China in the region, but it also contains enough insurance to ensure that Hanoi’s respect for China is reciprocated.
Chiến lược này đã được nghiên cứu cặn kẽ và khác với chiến lực cường quốc lớn mà Việt Nam từng sử dụng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nó là việc thừa nhận vị thế ưu việt có sẵn của Trung Quốc trong khu vực, nhưng nó cũng có đủ biện pháp để bảo đảm rằng sự tôn trọng của Hà Nội đối với Trung Quốc phải được đáp trả.
The writer is a senior fellow at the Institute of Southeast Aian Studies
Tác giả là nghiên cứu viên cao cấp của Học viện Nghiên cứu Đông nam Á
http://web1.iseas.edu.sg/?p=5904

在南海问题的认识上,也许我们普遍存在误区 CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI



在南海问题的认识上,也许我们普遍存在误区

CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI

作者: 李晨

Lý Thần Huy

今天又看到一篇文章,名叫《中国民间南海用兵的声音在增强》,讲的是中国民间,包括一些所谓的砖家学者,纷纷主张在南海用兵。主张南海用兵的原因,是因为民间比较普遍地认为,在南海问题上,我们受尽了屈辱(民间在许多问题上,都认为我们是在蒙受屈辱)。他们以为,南海是我们的天经地义,这一理念不仅为中国人所坚持,也为国际社会所普遍认可。甚至,连越南、菲律宾以及所有的如今和我们争夺、抢夺南海的国家所共识。那么,为什么这些国家如今会和我们抢夺南海呢?

Hôm nay đọc được một bài viết có tên là “Âm thanh về dụng binh ở Nam Hải (tức Biển Đông – ND) đang được khuếch đại trong dân chúng Trung Quốc”, nói dân chúng Trung Quốc bao gồm cả một số vị được gọi là chuyên gia (không hiểu do vô tình hay cố ý, ở đây tác giả đã dùng từ 砖家- “chuyên gia về gạch ngói” thay cho từ 专家- “chuyên gia” vì cùng đồng âm trong tiếng Hán – ND) học giả, đang đua nhau chủ trương dụng binh ở Nam Hải. Nguyên nhân dẫn đến chủ trương dụng binh ở Nam Hải là do trong dân chúng phổ biến quan niệm cho rằng, về vấn đề Nam Hải, chúng ta đã bị xúc phạm tàn tệ (về rất nhiều vấn đề, dân chúng đều cho là chúng ta đang bị xúc phạm). Họ cho rằng, Nam Hải là thiên kinh địa nghĩa của chúng ta, lý lẽ này không chỉ được kiên trì nắm giữ vì người Trung Quốc, mà còn được sự công nhận rộng rãi cả ở trong cộng đồng quốc tế. Thậm chí, ngay cả Việt Nam, Philippines và những nước đang có sự tranh giành, cướp giật Nam Hải với chúng ta cũng đều có chung nhận thức. Vậy thì vì sao hôm nay những quốc gia ấy lại tranh giành Nam Hải với chúng ta?

第一是因为这地方出现了石油,因为有资源了,因为这是一块肥肉,他们见有利可图,所以才会跑过来和我们抢夺。第二是他们认为,中国政府软弱好欺负。所以才敢明火执仗地和我们抢地盘抢资源。第三,也许是因为前两个原因,他们觉得解释起来太违背常理太匪夷所思,为了自圆其说,他们就又臆造、臆想出第三个理由,越南、菲律宾敢公然地和我们抢地盘,是因为有美国等西方大国的支持甚至教唆。美国等西方大国,为了搞乱中国,他们就总是会有意地在我们的身边制造敌人。这种认识目前在中国很普遍,而我们的政府,不知为什么在这方面却往往表现出很忍辱负重的样子,打了牙往肚子里咽,并不澄清错误的认识,任你去说,任愤怒的情绪泛滥成灾。而实上任这种情绪泛滥不加以澄清和解释,是非常有害的。第一它可能会助长错误的民族主义情绪,使我们这个民族,成为一个在世界上老是喊打喊杀的民族。这与我们在世界上一贯喜欢并努力扮演的和平使者的形象,越来越不匹配。

Thứ nhất là vì nơi này đã xuất hiện dầu mỏ, vì đã có tài nguyên, vì đây là một mảnh đất màu mỡ, tất cả bọn họ đều có mưu đồ lợi ích, cho nên mới chạy lại tranh giành với chúng ta. Thứ hai là họ cho rằng chính phủ Trung Quốc ươn hèn, nên mới dám liều lĩnh tranh giành địa bàn, tranh giành tài nguyên với chúng ta. Thứ ba, có thể là do cả hai nguyên nhân trên mà họ cảm thấy nếu giải thích thì trái ngược với lẽ thường, nên để tự bao biện cho mình, họ đã ngụy tạo, phỏng đoán ra nguyên nhân thứ ba, đó là Việt Nam và Philippines ngang nhiên tranh giành địa bàn với chúng ta là bởi có sự ủng hộ, thậm chí xúi giục của các cường quốc phương Tây như Mỹ… để làm rối loạn Trung Quốc, luôn cố ý tạo ra kẻ địch ở bên cạnh chúng ta. Kiểu nhận thức này hiện đang rất phổ biến ở Trung Quốc, còn chính phủ ta, không hiểu vì lẽ gì mà về phương diện này lại thường thể hiện bộ dạng rất nhẫn nhịn, không làm rõ nhận thức sai lầm, để mặc bạn muốn nói gì thì nói, để mặc cho sự phẫn nộ lan tràn khắp nơi thành tai họa. Thực tế, nếu để mặc cho thứ tình cảm này lan tràn mà không chịu làm rõ và giải thích là điều hết sức nguy hại. Thứ nhất, rất có thể nó sẽ giúp cho sự nảy nở tinh thần dân tộc sai lầm, khiến cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc chỉ luôn kêu gào sự chém giết trên thế giới. Điều này ngày càng khác hẳn hình ảnh sứ giả hòa bình mà chúng ta bao giờ cũng thích thú và cố sức đóng vai.

第二,任这种错误认识、错误情绪蔓延滋长,会使我们的民众迁怒于中国政府,他们错误地以为,中国政府任外国人欺负,是软弱可欺。他们甚至会进一步地发挥想象,认为中国政府,军力本来非常强大,但却表现得如此窝囊,是因为中国政府,担心自己垮台,或者只是想保住自己手中的权力,而置中华民族的利益与不顾,甚至在出卖中华民族的利益云云,从而把中国现政府,想像成,或者说解释为一个软弱无能的卖国政府,甚至连李鸿章时代都不如云云。第三,因为认为越南菲律宾和我们抢夺南海,完全是受美国等西方大国的挑拨与教唆,于是又不可避免地迁怒于美国,又免不了对美国人咬牙切齿。于是我们在这个世界上,仇恨的人、国家就免不了越来越多。这同样对我们的国际形象越来越不利。所以我认为,我们绝对有必要澄清在南海上的一些认识。政府不做这个工作,今天我来做一做,当然,民间人士,一管之见,多是一些分析与推断,未必尽准,欢迎拍砖--

Thứ hai, nếu để mặc cho nhận thức sai lầm, tình cảm sai lầm này lan tràn, sẽ khiến cho dân tộc ta chuyển sự phẫn nộ tới chính phủ Trung Quốc, họ đã sai lầm khi cho rằng chính phủ Trung Quốc để mặc cho người nước ngoài bắt nạt, như vậy là ươn hèn. Họ thậm chí còn phát huy thêm trí tưởng tượng của mình mà cho rằng chính phủ Trung Quốc, vốn có sức mạnh quân sự rất hùng mạnh, nhưng lại tỏ ra vô dụng như vậy là do chính phủ Trung Quốc vì sợ bị sụp đổ, hoặc chỉ vì muốn nắm chắc quyền lực trong tay, nên đã không đoái hoài gì đến lợi ích của dân tộc Trung Hoa, thậm chí là bán đi cả lợi ích của dân tộc Trung Hoa, vân vân, từ đó đi đến hình dung hoặc giải thích chính phủ hiện thời của Trung Quốc là một chính phủ bán nước, bất tài, thậm chí còn kém cỏi hơn cả thời Lý Hồng Chương, vân vân. Thứ ba, bởi cho rằng Việt Nam và Philippines tranh giành Nam Hải với chúng ta là hoàn toàn theo sự khiêu khích và xúi giục của các nước phương Tây như Mỹ…, thế nên lại không thể tránh khỏi chuyển sự giận dữ lên nước Mỹ, lại không thể tránh khỏi căm hận dân Mỹ. Do vậy, nên không thể tránh khỏi số người, số quốc gia thù hận chúng ta trên thế giới này ngày càng đông hơn. Điều này càng gây bất lợi cho hình ảnh của chúng ta trên trường quốc tế của. Vì thế tôi cho rằng, chúng ta dứt khoát phải làm rõ một vài nhận thức về vấn đề Nam Hải. Chính phủ đã không làm việc này, thì hôm nay tôi sẽ làm, đương nhiên trong dân chúng mỗi người một ý, phần nhiều đây chỉ là một vài phân tích và suy đoán, chưa chắc đã là chuẩn.

认为,越南和菲律宾和我们争夺南海,根本不是因为受了美国等西方大国的挑拨与支持,我认为,这和美国毫无关系。就好像一只羊,因为受了哪些动物的挑拨,或者认为有哪些动物在后头撑腰,他就敢于抢夺老虎嘴里的食物,公认地做强盗,这是把这只羊当傻逼了。

Tôi cho rằng, Việt Nam và Philippines tranh giành Nam Hải với chúng ta về căn bản không phải là vì chịu sự xúi giục và được sự ủng hộ của các cường quốc phương Tây như Mỹ…, mà tôi cho rằng điều này không hề liên quan gì đến Mỹ. Cũng giống như một chú cừu, do sự kích động của một vài con vật nào đó, hoặc cho là có được sự trợ giúp của một vài con vật nào đó ở sau mình, nên đã cả gan giành giật miếng mồi trong miệng con hổ, ngang nhiên làm giặc cướp, nếu thế thì coi chú cừu là kẻ ngu ngốc mất rồi.

事实上,任何一个国家,都是由众多的民众组成,其中一定有着众多充满智慧的人。当然,太独裁的国家,绝对由一两个人说了算的国家除外。绝大多数国家政策的出台,往往都是经过深思熟虑反复掂量。因此认为,越南、菲律宾只是因为受了某些国家的挑拨就完全置国际道义规则与不顾而和中国玩命,这想法太天真,甚至往往是持这种想法的人自己太傻帽。任何一个国家,如果把自己的安全寄希望于外国人身上,那是十分地不靠谱。更何况,美国与越南,还曾经不共戴天你死我活,至今也未必就有什么不可分割的利益联系呢!就算菲律宾能够得到美国人比较铁杆的支持(好像是有军事同盟的),但那样一个弹丸小国,而且离中国的距离又是那么近(离美国的距离又是那么远),真要是把中国人惹恼了,他是吃不起中国的几轮愤怒的轰炸的。

Thực ra, bất cứ một quốc gia nào cũng đều được hợp thành từ đông đảo dân chúng, trong số đó dứt khoát có nhiều người đầy trí tuệ. Dĩ nhiên là không tính đến những nhà nước quá độc tài, tuyệt đối chỉ do một vài người nói là xong. Sự ra đời của các chính sách ở phần lớn các nước thường đều phải trải qua bao lần suy đi tính lại rất kỹ lưỡng. Vì thế, nếu cho rằng Việt Nam và Philippines chỉ vì chịu sự kích động của một vài nước mà đã hoàn toàn đặt sinh mệnh vào việc đùa giỡn với các nguyên tắc đạo lý quốc tế và với Trung Quốc bất chấp hòa bình, thì cách nghĩ này là quá ngây thơ, thậm chí bản thân những người giữ cách nghĩ này còn quá ngớ ngẩn. Bất cứ một quốc gia nào, nếu như ký thác sự an toàn của mình vào người dân nước khác, thì thật là hết sức nông nổi. Huống hồ là Mỹ với Việt Nam còn từng là kẻ thù không đội trời chung, cho đến giờ vẫn chưa có được mối quan hệ lợi ích nào không thể chia cắt! Cứ cho là Philippines có được sự ủng hộ vững chắc hơn từ người Mỹ đi nữa (hình như là đồng minh quân sự), song một đất nước nhỏ bé như vậy, lại ở gần Trung Quốc như vậy (và ở xa nước Mỹ như vậy), thì quả đã chọc tức người Trung Quốc, làm sao mà xơi nổi vài cú ném bom giận dữ của người Trung Quốc.

因此,我不认为,菲律宾仅仅因为是受了挑唆,就敢和中国抢夺连他们也认为本来应该属于中国的资源。那么,到底是源于什么心态,使越南、菲律宾,还有另外一些南海诸国,过来和我们抢夺资源土地,会不会是连他们也认为,这些土地,原来是中国的,只是因为这里有了宝,所以他们就过来抢呢?

Vì thế, tôi không cho rằng, Philippines chỉ vì bị xúi giục mà đã dám cả gan tranh giành nguồn tài nguyên mà đến ngay cả họ cũng cho rằng vốn nên thuộc về Trung Quốc. Vậy thì, rốt cuộc là xuất phát từ động cơ gì đã khiến cho Việt Nam, Philippines và cả một số nước ở Nam Hải khác nữa, tới để tranh giành đất đai tài nguyên với chúng ta, liệu có phải ngay cả họ cũng cho những đất đai ấy vốn là của Trung Quốc, nhưng chỉ vì ở đây có báu vật nên họ đã tới tranh giành hay không?

认为,事实完全不是这样。事实是,我们坚定地认为这些土地是我们的,他们也认为,这些土地是他们的。我们能找出许多的资料、证据来证明这些土地,自古就是中国的领土,他们也同样能找出足够多的资料来证明,这些领土自古就是他们的。我们认为我们的理由十分充分、正义在手,他们也同样认为他们的理由十分充分、正义在手。我们一肚子气,认为他们在抢夺我们的土地,尤其是,当我们自认为自己是个大国,还有不少有意识或者无意识的优越感,在这种情况下,看到人家抢夺,自然更有一点是可忍,孰不可忍。问题是,人家也同样认为,是我们自恃我们是个大国,而且看到这土地上有资源,所以就来强占土地,所以,人家认为,不是他们在欺负我们,而我们在欺负他们。在这样的情况下,即便没有美国的支持,即便他们的国家再小,他们也不会就轻易退缩。尤其是在当下世界,大国与小国之间,拳头的硬与不硬,并不是决定胜负的唯一因素的情况下。

Tôi cho rằng, thực sự không hoàn toàn như vậy. Sự thực là, chúng ta cứ luôn cho rằng đất đai ấy là của mình, mà họ cũng cho rằng đất đai ấy là của họ. Chúng ta có thể tìm ra rất nhiều tư liệu, chứng cứ để chứng minh đất đai ấy ngay từ xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc, họ cũng có thể tìm ra được tư liệu để chứng minh đất đai ấy từ xưa đã là của họ. Chúng ta cho rằng lý lẽ của mình là hết sức đầy đủ, chính nghĩa trong tay, họ cũng cho rằng lý lẽ của họ hết sức đầy đủ, chính nghĩa trong tay. Chúng ta giận dữ cho rằng họ đang tranh giành đất đai của chúng ta, nhất là khi chúng ta tự cho mình là một nước lớn, lại còn có không ít chút hợm mình một cách có ý thức hoặc vô ý thức, trong bối cảnh này, nhìn cảnh người ta tranh giành, tự nhiên lại càng thấy cái này đã dung thứ được thì cả những cái khác cũng dung thứ được à. Vấn đề là ở chỗ, người ta cũng cho rằng, chúng ta cho mình là một nước lớn, rồi nhìn thấy trên đất đai ấy có tài nguyên nên đến chiếm, vì thế mà người ta cho rằng không phải họ đang bắt nạt chúng ta, mà chúng ta đang bắt nạt họ. Trước tình huống ấy, ngay cả khi không có được sự ủng hộ của nước Mỹ, ngay cả khi đất nước họ có nhỏ mấy đi nữa, thì họ cũng sẽ không thu quân về một cách dễ dàng. Nhất là trong thế giới hiện tại, giữa nước lớn với nước nhỏ, nắm đấm có cứng hay không cứng cũng chẳng hề là một nhân tố duy nhất quyết định sự thắng thua.

当我们明白这样一种心态,或者说,当我们这样理解越南,和菲律宾和我们的争端的时候,那么,我们就不容易再产生过去那种被欺负的心态,也就不会再有屈辱的感觉了。我们明白,这种争端,不过是各个国家,站在各自的立场上,所产生的一种自然而然的心理、态度而已。我们觉得人家在欺负我们,其实人家也觉得是我们在欺负人家。所以,在这个问题,我们的政府,表现得沉稳些,并不动不动就表示要开战,这不是因为我的政府太窝囊就甘心忍受欺负,而是,这里头,实在是有太多,一时说不清,道不明的东西。公说公有理,婆说婆有理。当然,真相还是有的,比如说,人家说这土地是人家的,我们说这土地是我们的,到底是谁的呢?我想,靠各自的说明,还是解决不了问题的,因为,谁也不会说,这土地是对方的。靠说不行,靠打行不行呢?我看更不行,文的不行就来硬的?如今国际社会,牵一发而动全身,绝对不是一个说打就可以打的时代了。那么,到底怎么解决呢?

Khi chúng ta đã rõ được tâm thế như vậy rồi, hoặc nói cách khác, khi chúng ta đã lý giải được sự tranh chấp giữa Việt Nam, Philippines với chúng ta như vậy rồi, thì chúng ta sẽ không dễ bề để tái diễn lại cái tâm thế bị bắt nạt ấy nữa, và cũng sẽ không tái xuất hiện cảm giác bị làm nhục nữa. Chúng ta cần nhận rõ rằng, sự tranh chấp này chẳng qua chỉ là tâm lý, một thái độ tự nhiên nảy sinh của các nước, nước nào giữ lấy lập trường của nước ấy, mà thôi. Chúng ta cảm thấy người ta đang bắt nạt mình, thực ra người ta cũng cảm thấy chúng ta đang bắt nạt người ta. Cho nên, về vấn đề này, chính phủ ta nên bình tĩnh một chút, chứ đừng có động một tí là đòi khai chiến, đó không phải vì chính phủ ta ươn hèn cam tâm chịu đựng sự bắt nạt, mà là bên trong nó thực sự có quá nhiều điều không thể nói rõ ra một lúc được. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Tất nhiên, sự thật vẫn là sự thật, chẳng hạn người ta bảo đất đai này là của người ta, chúng ta bảo đất đai này là của chúng ta, thế rút cuộc là của ai đây? Tôi nghĩ, không biết nên dựa vào sự thuyết minh của từng bên hay là không giải quyết nổi vấn đề đây, bởi vì sẽ chẳng có ai bảo rằng đất đai ấy là của đối phương. Dựa vào lời nói không được, liệu dựa vào hành động có được không? Tôi thấy lại càng không được, nhã nhặn không được thì dùng vũ lực sao? Cộng đồng quốc tế hiện giờ, rút dây thì sẽ động rừng, không bao giờ còn là cái thời nói đánh một cái là đánh được nữa đâu. Vậy thì, rốt cuộc nên giải quyết thế nào đây?

我看,最好还是通过国际社会的仲裁。我们是联合国五个常任理事国之一,而且我们本身又是国际上数一数二的大国,不说一言九鼎,起码,比越南、菲律宾,在国际上的位置,不知要高过多少。在这样的情况下,通过国际社会,来仲裁与解决我们与其他国家之间的一些争端,即便我们占不了多大的便宜,起码我们不会吃亏(理论上)。就如同生活中两个人发生争执,各不相让,怎么办呢?最好的办法,就是去找法官。

Tôi thấy tốt nhất vẫn là thông qua trọng tài cộng đồng quốc tế. Chúng ta là một trong 5 nước thường trực của Liên Hiệp quốc, hơn nữa lại là nước lớn đứng hàng nhất nhì thế giới, đừng nói gì đến uy quyền, ít ra, về vị trí trên trường quốc tế không biết so với Việt Nam và Philippines là cao hơn được bao nhiêu. Trước tình hình như vậy, nếu thông qua cộng đồng quốc tế để làm trọng tài và giải quyết một vài tranh chấp giữa chúng ta với các nước khác, thì có không chịu được sự phiền hà đến mấy, ít ra chúng ta cũng sẽ không bị thiệt (về lý thuyết). Cũng giống như kiểu giữa hai người nào đó nảy sinh tranh chấp trong cuộc sống thường ngày, chẳng ai chịu ai, làm thế nào đây? Biện pháp tốt nhất là tìm đến quan tòa.

当然,咱在家里说句掏心窝子的话,如果我们认为,这土地究竟是谁的,或者国际上也未必就能一时说得清楚,或者,我们私下认为,人家的理由也未必就不充分,或者说,我们到法庭上也未必能占多少便宜的话,那么,我们为了不失去我们的利益当然可以不必到法庭上去。但我们的民众一定要明白,在这些问题上,真的不是我们政府就软弱可欺。许多时候,也许是还有点相反的意思呢!

Tất nhiên là chúng ta nói những lời gan ruột trong nhà, nếu như chúng ta cho rằng chuyện đất đai này rốt cuộc là của ai, hoặc trước cộng đồng quốc tế cũng chưa chắc đã nói ra được cho rành mạch, hoặc chúng ta ngầm cho rằng lý do của người ta cũng chưa chắc không đầy đủ, hoặc chúng ta có ra tòa án cũng chưa chắc đã thuận lợi được bao nhiêu, vậy thì để khỏi đánh mất mất quyền lợi của mình, đương nhiên có thể khỏi phải cần đến tòa án. Nhưng dân chúng của chúng ta nhất định muốn được rõ, về vấn đề này, chính phủ chúng ta thực sự không phải là ươn hèn. Rất nhiều khi, cũng có thể lại còn có chút ý nghĩa ngược lại!


Translated by Quốc Trung


*Lý Thần Huy là Phó Giáo sư ngành Khoa học vật liệu và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học kỹ thuật Hoa Trung, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Đây là bài viết trên blog cá nhân của tác giả, có thể coi là đại diện cho tiếng nói của một trí thức Trung Quốc, “trái chiều”với tiếng nói của giới quân sự Bắc Kinh về vấn đề Nam Hải.



http://lichenhui.blshe.com/post/10649/721966