MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Wednesday, June 29, 2011

ANIMALS IN LOVE - CÁC CON VẬT ĐANG YÊU























ANIMAL I

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Thư ngỏ của GS Phạm Duy Hiển gửi Thủ tướng Naoto Kan An Open Letter From Frof. Pham Duy Hien to Prime Minister Naoto Kan


Thư ngỏ của GS Phạm Duy Hiển gửi Thủ tướng Naoto Kan
An Open Letter From Frof. Pham Duy Hien to Prime Minister Naoto Kan

Kính thưa Ngài Thủ tướng Naoto Kan,
Tròn 100 năm trước, lần đầu tiên con người đã nhìn thấy những cấu trúc rất bé nằm sâu trong lòng vật chất gọi là hạt nhân nguyên tử. Ba mươi năm sau đó, một cơ cấu lò phản ứng ra đời chứng minh nguồn năng lượng vĩ đại trong cấu trúc ấy có thể khai thác và chế ngự được. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, có trong tay thành quả lao động của hàng trăm nhà khoa học quy tụ quanh dự án Manhattan, quân đội Mỹ đã mang hai quả bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki, chẳng phải để buộc nước Nhật của Ngài nhanh chóng đầu hàng, mà cốt phô trương sức hủy diệt bằng nguyên tử trong thời hậu chiến. Những nhà khoa học tài ba thai nghén ra hai quả bom ấy đã bất lực không ngăn được nhà cầm quyền gây ra thảm họa trên đất Nhật. Cũng chính từ đó, người dân khắp nơi mới biết đến hạt nhân nguyên tử và đồng nghĩa nó với bom nguyên tử gây tang thương bất hạnh cho con người. Thật là oan!
Your Excellency Prime Minister Naoto Kan,

One hundred years ago, mankind for the first time saw tiny structures deep inside matter called atomic nuclei. Thirty years later, a nuclear reactor was invented to demonstrate that immense energy in these tiny structures could be conquered and exploited. But in less than four years, as a result of hard work done by hundreds of scientists involved in the Manhattan Project, two atomic bombs were created, which the U.S. military dropped on Hiroshima and Nagasaki not to force Japan’s surrender but to show the post-war destructive power of their nuclear weapons. The many talented scientists who conceived the two bombs were too powerless to stop the government from causing disasters to Japan. Since then, people around the world have associated atomic energy with the atomic bombs, which once caused tragic and miserable destruction to mankind. How unfortunate!


Điện hạt nhân (ĐHN) xuất hiện vào thập kỷ năm mươi sau chiến tranh đã giải tỏa nổi oan này. Một không khí lạc quan dâng trào khiến rất ít ai trong giới khoa học lúc ấy (trong đó có người viết lá thư này) nghĩ rằng một ngày nào đó ĐHN lại sẽ mang bất hạnh đến cho con người. Song chính thói chủ quan và tự tin quá độ ấy đã dẫn đến tai nạn ở Three Mile Island, và nhất là ở Tchernobyl. Chưa lên đến cao trào, ĐHN đã phải thoái trào. Suốt hơn ba thập kỷ, nước Mỹ không xây thêm một nhà máy nào.
After the war, Nuclear power (NP) appeared in the 50’s vindicated itself of this misconception. A positive atmosphere overwhelmed scientists at that time (including the writer of this letter), and only few thought that one day nuclear power would again bring sufferings to mankind. It was our subjective thinking and overconfidence that led to the accident at the Three Mile Island, and a more serious one in Tchernobyl. Nuclear power was, therefore, in decline before reaching its peak. For more than three decades, the U.S. had not built a single nuclear power plant.


Trong bối cảnh ấy tôi hết sức khâm phục người Nhật. Dù đã chịu tang thương từ hai quả bom nguyên tử, lại bị vành đai địa chấn bám sát bờ biển phía đông, đa số người Nhật vẫn chấp nhận rủi ro để có ĐHN bảo đảm an ninh cho cỗ xe kinh tế nước mình. Một chương trình khoa học công nghệ ĐHN đồ sộ và tốn kém nhất được triển khai trong nhiều thập kỷ. Tôi nghĩ rằng người Nhật chấp nhận ĐHN không phải vì tin mọi thứ đều hoàn hảo như các tập đoàn năng lượng thường huênh hoang. Trên hết, họ tin vào thực lực công nghệ tiên tiến của Nhật Bản có thể giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra sự cố, và nếu xảy ra, sẽ hạn chế tối đa tác hại của chúng.
In this context, I have been very impressed by the Japanese people. Despite your tragic sufferings from the two atomic bombs and despite the seismic belt close to the east coast, most Japanese people are willing to risk nuclear power in order to secure energy for the country’s economic growth. A comprehensive and expensive program to develop nuclear power technology has been deployed for several decades. I think the Japanese people accepted nuclear power not because they believed everything is perfectly safe as the power industry groups often boast about. But above all, they have always believed that Japan’s advanced technology could limit the risk; and if, accidents do occur, their harmful effects will be minimized.


Đây là niềm tin vào đội ngũ khoa học hạt nhân đầy truyền thống của Nhật, bắt đầu từ H. Yukawa và Y. Nishina, hai nhà bác học đã từng để lại những phát minh lớn về vật lý hạt nhân ngay từ trước thế chiến II. Các thế hệ tiếp theo cũng vậy, Nhật Bản luôn có đội ngũ hạt nhân hùng hậu, những viện nghiên cứu ở tuyến đầu thế giới.
They have faith in Japan’s nuclear technology and their experts, who inherit great Japanese legacy starting with H. Yukawa and Y. Nishina, whose great inventions in nuclear physics were made even before the World War II. The next generations have been very successful, too. Japan always has a great nuclear resources and experts working in world-leading research institutes.


Nhưng - kính thưa Thủ tướng - một lần nữa thảm họa hạt nhân lại tìm đến người Nhật. Một giờ sau cơn động đất và sóng thần tàn phá tan hoang vùng Đông Bắc, khi biết tin mất điện tại nhà máy Fukushima, Ngài đã thốt lên: “Đây mới thực sự là hiểm họa”. Tờ mờ sáng hôm sau Ngài bay đến tận hiện trường, chui vào boong-ke có tường bê tông cản xạ, tranh cãi với TEPCO và thúc giục họ mở van thoát khí phóng xạ ra ngoài. Những ngày sau đó, xuất hiện trước truyền hình với vẻ mặt thấm mệt bởi sức nặng đè lên vai, Ngài cúi rạp trước quốc kỳ và trước cử tọa để nhận lỗi. Có một lúc nào đó, tôi đã đọc được suy tư trên nét mặt Ngài: vì đâu ra nông nỗi này?


But, dear Prime Minister, nuclear disaster again found its way to the Japanese. One hour after the earthquake and the tsunami devastated northeast Japan, when hearing power failure from Fukushima plant, you exclaimed: "Here is the real danger." Early the next day, you flew to the site, entering the radiation-proof bunker, to urge TEPCO to carry out the best measures to cope with the accidents. During the following days on TV, you looked tired by the national burdens set on your shoulders. I saw you bowed before Japan’s national flag and people to express your sorrows. Somehow, I read a reflection on your face: Where does it all come from?
Nhưng nỗi đau này đâu phải chỉ riêng Ngài. Giờ đây, khi Fukushima tròn một trăm ngày, mọi chuyện đã sáng tỏ để rút ra bài học cho ĐHN bước tiếp khi khoa học hạt nhân đã tròn một trăm tuổi. Chế ngự năng lượng hạt nhân đã và sẽ không bao giờ là việc dễ dàng. Diễn biến ở Fukushima đã không đến mức tồi tệ nếu cả hệ thống ĐHN Nhật Bản không chìm đắm trong bản giao hưởng “mọi thứ đều hoàn hảo” do các tập đoàn năng lượng dàn dựng. Những tiếng nói chân chính đều bị xem là tiếng đàn lạc điệu. Đội ngũ khoa học tài ba của nước Nhật đã không được phát huy để ngăn chặn tai họa và xử lý các tình huống đã xảy ra. Nhà khoa học Nhật Y. Yamaguchi đã nhận xét chí lý: “động đất và sóng thần chỉ châm ngòi, chính nước Nhật mới tạo điều kiện để thảm họa xảy ra như thế”. Bài học lớn nhất rút ra từ Fukushima là con người, chứ không phải máy móc tối tân, mới chính là nhân tố quyết định bảo đảm an toàn ĐHN.
But the sorrow is not just yours. Now, one hundred days of Fukushima accident, things are clear enough for us to draw lessons for the next step of nuclear power development, when nuclear science celebrates its centennial birthday. Harnessing nuclear energy will never be an easy thing to do. The situations in Fukushima would not have been so bad if Japan's nuclear power system had not been immersed in the symphony "Everything’s perfect" orchestrated by the country’s power groups. The true voices were considered as out of tune. Talented scientists in Japan were not consulted in disaster preventions and solutions. Japanese scientist Y. Yamaguchi has his famous comment: "The earthquake and tsunami were only the triggers, Japan itself created conditions for such a catastrophic event to happen." The biggest lesson learned from Fukushima is that human beings, rather than modern machinery, are the decisive factors to ensure nuclear safety.


Giờ đây, khi quá nhiều vụ việc tiêu cực, mờ ám, của những nhóm lợi ích lũng đoạn các cơ quan nhà nước được phanh phui trong nỗi tuyệt vọng mà hàng triệu con người đang nếm trải thì đại đa số người Nhật phải nói không với ĐHN. Chính vì dân mất lòng tin nên mới đây tại Pháp, Ngài đã tuyên bố đình chỉ chương trình xây hàng chục lò phản ứng mới, thay vào đó là phát triển năng lượng tái tạo. Một khi nước Nhật cam kết thúc đẩy năng lượng tái tạo, thì đây sẽ là bước ngoặt đáng mừng cho cả thế giới. Tôi chờ xem liệu đây phải chăng là chính sách nhất quán chính thức của chính phủ Nhật trong tương lai?
Now, with so much of negative, suspicious manipulation of special interest groups cornering state agencies has been uncovered, resulting in despair that millions of Japanese people are experiencing, the majority of Japanese people have to say no to nuclear power. As people have lost their confidence, recently in France, you announced to suspend the program to build dozens of new reactors. Instead, renewable energy development has taken its place. Once Japan is committed to promoting renewable energy, it will be a remarkable milestone for the world. I am waiting to see whether this will be a consistent official energy policy of Japan’s government in the future.


Kính thưa Thủ tướng,
Thảm họa Fukushima xảy ra đúng vào lúc Việt Nam vừa mới khởi động dự án ĐHN. Dự án này đã từng nằm trong chương trình nghị sự khi Ngài công du sang Việt Nam hồi cuối năm ngoái. Dự án đồ sộ này đã được chính các tập đoàn năng lượng Nhật tham gia tư vấn và cổ vũ nó trong suốt mười năm qua. Họ cũng đã hào phóng tạo điều kiện cho nhiều người Việt Nam sang tham quan ĐHN ở Nhật để từ đó du nhập về nước bản giao hưởng mọi chuyện đều rất hoàn hảo. Nhưng đất nước chúng tôi đâu có mấy người biết công nghệ ĐHN để có thể khởi động một chương trình đồ số xây hàng chục lò phản ứng từ 2020 đến 2030?
Dear Prime Minister,

Fukushima disaster occurred at a time when Vietnam had just launched nuclear power projects. These projects were already in the agenda when you traveled to Vietnam late last year. These massive projects were consulted and advocated by the Japanese energy groups during the past ten years. They have generously invited many Vietnamese people to visit nuclear power plants in Japan to import the same symphony “Everything’s perfect” into our country. But our country lacks personnel who master nuclear power technology to launch such an ambitious program of constructing dozens of reactors from 2020 to 2030?


Cho nên tôi thiết nghĩ nên lùi thời hạn khởi công lại khoảng mười năm để nước Nhật giúp chúng tôi đào tạo đội ngũ chuyên gia thành thạo, thúc đẩy các dự án về năng lượng tái tạo, sớm xóa bỏ tình trạng sử dụng điện năng quá lãng phí và rất kém hiệu quả như hiện nay. Việt Nam đang rất thiếu điện, nhưng những nội dung hợp tác này sẽ giúp giải quyết bài toán thiếu điện hiệu quả hơn nhiều, không nhất thiết phải vội vàng khởi công ĐHN khiến người dân phải lo âu sau khi họ đã chứng kiến những thảm cảnh ở Fukushima trong những ngày qua.
Rất mong Ngài xem xét.
Xin chúc sức khỏe Ngài.
Kính thư.
Phạm Duy Hiển - GS chuyên ngành hạt nhân
Therefore, I think it is better to delay the projects over ten years so that Japan can have time to help Vietnam in training and forming teams of proficient professionals, who will promote renewable energy projects and eliminate current wasteful and inefficient use of energy. Vietnam needs electricity, and these kinds of cooperations will help solve the shortage of electricity more efficiently. The public has great concern for what they have witnessed from Fukushima in recent days. It is unnecessary to rush to nuclear power.

I look forward to your consideration.

I wish you good health.

Sincerely yours.

Pham Duy Hien, Prof. of Nuclear Science


translated by hoanglan

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 9-10 Thư gởi nhà thơ trẻ 9-10


THE NINETH LETTR

BỨC THƯ THỨ CHÍN

Furuborg, Jonsered, in Sweden

November 4, 1904

My dear Mr. Kappus,

Furuborg, Jonsered, tại Thụy Điển,

Ngày 4 tháng 11, năm 1904.

Ông Kappus thân mến,

During this time that has passed without a letter, I have been partly traveling, partly so busy that I couldn't write. And even today writing is difficult for me, because I have already had to write so many letters that my hand is tired. If I could dictate, I would have much more to say to you, but as it is, please accept these few words as an answer to your long letter.

Trong suốt thời gian đã trôi qua mà không biên thư cho ông vì tôi một phần phải đi đây đi đó lang bạt kỳ hồ, một phần vì quá bận rộn đến nỗi không thể viết lách gì được và ngay cả ngày hôm nay tôi cũng khó viết lách gì được vì tôi đã phải viết quá nhiều thư từ đến nỗi tay tôi đã mệt lả. Nếu tôi có thể đọc cho người khác viết tôi sẽ nói nhiều với ông nhưng hiện tình thì không được thế. Vậy xin ông nhận đôi lời gọi là hồi âm cho bức thư dài của ông.

I think of you often, dear Mr. Kappus, and with such concentrated good wishes that somehow they ought to help you. Whether my letters really are a help, I often doubt. Don't say, "Yes, they are." Just accept them calmly and without many thanks, and let us wait for what wants to come.

Ông Kappus thân mến, tôi thường nghĩ nhiều đến ông và thầm ước mãnh liệt nhiều điều cho ông để chúng thực sự khả dĩ giúp đỡ ông thế nào cũng được. Tôi thường hay ngờ vực không biết thực sự những bức thư của tôi có thể giúp được ông gì không. Xin ông đừng nói: vâng chúng đã giúp đỡ, xin ông chấp nhận chúng, đừng cảm tạ quá đỗi, chúng ta hãy chờ đợi coi sự việc đến đâu thì đến.

There is probably no point in my going into your questions now; for what I could say about your tendency to doubt or about your inability to bring your outer and inner lives into harmony or about all the other things that oppress you-: is just what I have already said: just the wish that you may find in yourself enough patience to endure and enough simplicity to have faith; that you may gain more and more confidence in what is difficult and in your solitude among other people. And as for the rest, let life happen to you. Believe me: life is in the right, always.

Có lẽ không cần thiết đi sâu vào những điểm đặc biệt của ông bây giờ vì những gì tôi có thể nói được về khuynh hướng ngờ vực của ông hay về sự bất lực của ông trong việc đưa đến sự nhất trí cho đời sống ngoại giới và nội tâm hay về tất cả những gì khác đang làm bận tâm ông –: những gì tôi nói là những gì luôn luôn tôi đã nói rồi: nghĩa là vẫn thầm ước rằng ông có thể tìm thấy được đầy đủ sự đơn giản để tin tưởng, thầm ước rằng ông có thể thu đạt thêm nhiều lòng tin cậy vào điều khó khăn và nỗi cô đơn của ông giữa những kẻ khác và mọi sự còn lại thì ông hãy để đời sống tự thể hiện cho ông. Ông hãy tin tưởng tôi, cuộc đời vẫn luôn luôn là đúng trong mọi trường hợp.

And about feelings: All feelings that concentrate you and lift you up are pure; only that feeling is impure which grasps just one side of your being and thus distorts you. Everything you can think of as you face your childhood, is good. Everything that makes more of you than you have ever been, even in your best hours, is right. Every intensification is good, if it is in your entire blood, if it isn't intoxication or muddiness, but joy which you can see into, clear to the bottom. Do you understand what I mean?

Bây giờ nói đến những cảm xúc: tất cả những cảm xúc trong sạch thuần khiết là những gì khiến cho ta cao cả và khiến cho toàn thể hồn xác mình tập trung vào đó; cảm xúc nào không trong sạch, không cần thiết chính là thứ cảm xúc chỉ vồ chụp lấy một khía cạnh của bản thể ông thôi và bóp méo đời ông. Tất cả những gì ông có thể suy nghĩ đối mặt với tuổi thơ của ông đều đúng, tất cả những gì làm tăng trưởng ông lên trên cả cảm thái của những giây phút êm đẹp nhất của ông thì tất cả cái ấy đều đúng (tất cả những gì nâng cao lên đều tốt), nếu nó nằm trong trọn vẹn dòng máu của ông nếu nó không là sự kích thích ngây ngây đờ đẫn mà lại là một niềm vui chan chứa mà mình có thể trông suốt đáy! Ông có hiểu điều tôi muốn nói?

And your doubt can become a good quality if you train it. It must become knowing, it must become criticism. Ask it, whenever it wants to spoil something for you, why something is ugly, demand proofs from it, test it, and you will find it perhaps bewildered and embarrassed, perhaps also protesting. But don't give in, insist on arguments, and act in this way, attentive and persistent, every single time, and the day will come when, instead of being a destroyer, it will become one of your best workers - perhaps the most intelligent of all the ones that are building your life.

Và nỗi ngờ vực của ông có thể trở nên một phẩm hạnh cao đẹp nếu ông huấn luyện nỗi ngờ vực ấy. Nỗi ngờ vực ấy phải trở thành kiến thức, nó phải trở thành phê phán, ông cứ hỏi nó, tra vấn nó mỗi khi nó muốn đánh mất phá hư một điều gì đó khỏi ông, ông phải cật vấn nó tại sao điều ấy lại xấu, đòi hỏi nó đưa chứng cớ thử thách nó rồi, ông sẽ thấy rằng nó lúng túng và có lẽ bối rối và có lẽ kháng cự. Nhưng ông đừng chịu thua, cứ nài nỉ những luận cứ và khi xử sự như vậy một cách thấu đáo và chặt chẽ trong mọi trường hợp thì một ngày nào đó sẽ đến khi mà nỗi ngờ vực không còn phá hoại và sẽ trở thành yếu tố cộng tác đắc lực nhất cho ông, có lẽ đó là yếu tố khéo léo nhất trong tất cả những yếu tố đang xây dựng đời sống của ông.

That is all, dear Mr. Kappus, that I am able to tell you today. But I am sending you, along with this letter, the reprint of a small poem that has just appeared in the Prague German Labor. In it I speak to you further of life and death and of how both are great and glorious.

Yours,

Rainer Maria Rilke

Ông Kappus thân mến, đó là tất cả những gì tôi có thể nói cho ông ngày hôm nay nhưng đồng thời tôi gởi cho ông bản in lại của một thi phẩm mỏng của tôi đã đăng trong tạp chí Deutsche Arbeit ở Prague, trong thi phẩm ấy tôi sẽ nói cho ông nghe nhiều hơn nữa về sự sống và sự chết, rằng cả hai đều vĩ đại và huy hoàng biết bao.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE





THE TENTH LETTER

BỨC THƯ THỨ MƯỜI


Paris

the day after Christmas, 1908

Paris,

ngày Giáng sinh, 1908.

You must know, dear Mr. Kappus, how glad I was to have the lovely letter from you. The news that you give me, real and expressible as it now is again, seems to me good news, and the longer I thought it over, the more I felt that it was very good news indeed. That is really what I wanted to write you for Christmas Eve; but I have been variously and uninterruptedly living in my work this winter, and the ancient holiday arrived so quickly that I hardly had enough time to do the most necessary errands, much less to write.

Ông phải hiểu rằng tôi vui mừng biết bao lúc nhận được bức thư khả ái kia của ông, hỡi ông Kappus thân mến. Tin tức mà ông cho tôi được biết, ồ bây giờ sao mà quá thực và đáng kể lại nữa đấy, tin vui ấy làm tôi cảm thấy sung sướng, và càng nghĩ nhiều tới yin mừng ấy, tôi càng cảm thấy rằng đó quả thực là điều đáng vui mừng. Thực sự muốn biên thư nói điều đó với ông trước ngày Giáng sinh; nhưng ôi sao mà bận rộn bao nhiêu việc suốt cả mùa đông này, đủ việc và không ngơi nghỉ được gì cả, ngày lẽ cổ kính vụt đến quá nhanh đến nỗi tôi chẳng được đủ giờ để lo lắng những việc mua sắm vặt vãnh cần thiết, còn đâu để nói đến việc viết lách nữa.

But I have thought of you often during this holiday and imagined how silent you must be in your solitary fort among the empty hills, upon which those large southern winds fling themselves as if they wanted to devour them in large pieces.

Nhưng những ngày lễ qua tôi vẫn thường nghĩ nhiều về ông và mường tượng rằng có lẽ ông được sống tĩnh lặng lắm nơi đồn binh cô tịch giữa những ngọn đồi trống trải mà những cơn gió nồm lồng lộng xô cuồng dồn dập trên đĩnh dường như là muốn ngấu xé những ngọn đồi ấy ra từng manh miếng.

It must be immense, this silence, in which sounds and movements have room, and if one thinks that along with all this the presence of the distant sea also resounds, perhaps as the innermost note in this prehistoric harmony, then one can only wish that you are trustingly and patiently letting the magnificent solitude work upon you, this solitude which can no longer be erased from your life; which, in everything that is in store for you to experience and to do, will act an anonymous influence, continuously and gently decisive, rather as the blood of our ancestors incessantly moves in us and combines with our own to form the unique, unrepeatable being that we are at every turning of our life.

Sự tĩnh mịch chừng như mênh mông, để chỗ cho những âm thanh và những xao động, và khi nghĩ rằng đắp vào đó còn được tất cả sự hiện diện của đại dương xa vời đồng vọng nhịp nhàng cơ hồ như là âm vang sâu thẳm nhất trong điệu hòa khúc tiền sử xa xưa kia, lúc ấy chỉ ước mong cho ông đủ thành tín, đủ kiên nhẫn để cho nỗi cô liêu cao ngất được tiêm nhập vào hồn ông, nỗi cô liêu mà đời sống ông không còn phải chịu đựng đau đớn nữa, nỗi cô liêu ấy sẽ tác động vào hồn ông, vào trong tất cả những gì ông thể nghiệm và hành động trong tương lai, nó tác động như một ảnh hưởng vô danh, ảnh hưởng quyết định một cách liên tục và dịu dàng, giống như dòng máu tổ tiên trong ta khuấy động và hòa lẫn với dòng máu của ta để tạo thành một cái gì độc đáo, không thể lặp lại, tức là con người của chúng ta trong mỗi khúc quanh ở đời sống.

Yes: I am glad you have that firm, sayable existence with you, that title, that uniform, that service, all that tangible and limited world, which in such surroundings, with such an isolated and not numerous body of men, takes on seriousness and necessity, and implies a vigilant application, above and beyond the frivolity and mere time passing of the military profession, and not only permits a self-reliant attentiveness but actually cultivates it. And to be in circumstances that are working upon us, that from time to time place us in front of great natural Things - that is all we need.

Vâng, tôi vui mừng rằng ông đã mang cuộc đời vững chãi đáng kể kia với ông, cái chức phận kia, quân phục kia, sự phục vụ kia, tất cả thực tế giới hạn và dứt khoát kia mà trong những hoàn cảnh như thế với sự chỉ huy cô lập và ít oi như thế, thực tế kia vẫn mặc lên sự trang trọng và tất định, nói lên một sự kiên trì thức tỉnh vượt lên trên khuynh hướng tầm thường của đời lính, nghĩa là chỉ chơi đùa và giết thì giờ; ông chẳng những thụ động mà lại còn cố gắng tôi luyện thực sự, sự tập trung đầy lòng tự tín tự lập. và phải sống giữa những hoàn cảnh chi phối chúng ta, thỉnh thoảng dựng chúng ta ra trước những cảnh vật thiên nhiên lớn láo, đó chính là tất cả những gì mà chúng ta cần phải có.

Art too is just a way of living, and however one lives, one can, without knowing, prepare for it; in everything real one is closer to it, more its neighbor, than in the unreal half-artistic professions, which, while they pretend to be close to art, in practice deny and attack the existence of all art - as, for example, all of journalism does and almost all criticism and three quarters of what is called (and wants to be called) literature. I am glad, in a word, that you have overcome the danger of landing in one of those professions, and are solitary and courageous, somewhere in a rugged reality. May the coming year support and strengthen you in that.

Always

Yours,

R. M. Rilke

Nghệ thuật cũng thế chỉ là một đạo sống, và dù mình sống ra sao thì mình cũng có thể bất ngờ tự chuẩn bị sẵn sàng đón nhận đạo sống ấy; trong tất cả nhửng gì là thực tế, mình gần gũi với tất cả thứ ấy và thân thuộc với chúng hơn là trong những nghể nghiệp nghệ sĩ nửa mùa không thực, khi họ tự phụ là tiếp cận với nghệ thuật nào đó nhưng trong thực tế thì họ chỉ tráo trở lừa dối và xâm phạm sự hiện hữu của tất cả nghệ thuật; cũng như trường hợp sinh hoạt của tất cả loại nhật báo và gần như tất cả loại phê bình văn nghệ và ba phần tư tất cả những gì được gọi và muốn được gọi là văn nghệ. Nói tóm lại, tôi vui mừng khi thấy rằng ông không phải rơi vào loại văn nghệ này và vẫn tỏ ra cô độc và can đảm trong thực tế khó khăn ở nơi xa vời nào đó. Mong rằng năm mới sắp đến sẽ chống đỡ ông và giúp sức ông vẫn giữ được tư thế đó.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE


LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 8 Thư gởi nhà thơ trẻ 8


THE EIGHTH LETTER

BỨC THƯ THỨ TÁM

Borgeby gard, Fladie, Sweden

August 12, 1904

Borgeby Gard, Fladie, Thụy Điển,

Ngày 12, tháng 8, năm 1904.

I want to talk to you again for a little while, dear Mr. Kappus, although there is almost nothing I can say that will help you, and I can hardly find one useful word. You have had many sadnesses, large ones, which passed. And you say that even this passing was difficult and upsetting for you. But please, ask yourself whether these large sadnesses haven't rather gone right through you. Perhaps many things inside you have been transformed; perhaps somewhere, someplace deep inside your being, you have undergone important changes while you were sad.

Tôi lại muốn trò chuyện cùng ông chốc lát, ông Kappus thân mến, mặc dù những điều tôi muốn nói hầu như chẳng giúp được ai, và chẳng ích lợi gì. Ông gặp nhiều chuyện buồn đã qua, và ông bảo rằng cả sự qua đi ấy cũng nặng nề và bực dọc. Nhưng, xin ông ngẫm lại xem, chính ra những buồn đau ấy đã chẳng xuyên thẳng qua con người ông đó sao? Phải chăng bao thứ nơi ông đã biến đổi, ông đã khác đi ở đâu đó, ở một góc nào đó trong con người mình ngay giữa lúc buồn?

The only sadnesses that are dangerous and unhealthy are the ones that we carry around in public in order to drown them out with the noise; like diseases that are treated superficially and foolishly, they just withdraw and after a short interval break out again all the more terribly; and gather inside us and are life, are life that is unlived, rejected, lost, life that we can die of. If only it were possible for us to see farther than our knowledge reaches, and even a little beyond the outworks of our presentiment, perhaps we would bear our sadnesses with greater trust than we have in our joys.

Chỉ những nỗi buồn đem ra để át người đời là nguy hiểm và tồi tệ; chúng chỉ tạm lui như những căn bệnh được chữa chạy qua loa và điên rồ, ngơi đi một chốc để rồi lại bùng lên khủng khiếp hơn; và tích tụ trong nội tâm thành vật sống, là vật sống bị bỏ qua, bị khinh bỉ, phí phạm và có thể chết người. Nếu đủ khả năng nhìn xa hơn tầm hiểu biết của mình và vượt ra ngoài những thành tựu của tổ tiên đôi chút, có lẽ chúng ta sẽ dành cho nỗi buồn nhiều tin cậy hơn là niềm vui.

For they are the moments when something new has entered us, something unknown; our feelings grow mute in shy embarrassment, everything in us withdraws, a silence arises, and the new experience, which no one knows, stands in the midst of it all and says nothing.

Bởi lẽ buồn là những khoảnh khắc cho một cái gì mới mẻ chợt bước vào ta, một cái gì chưa biết; những cảm xúc của chúng ta bỗng rụt rè bối rối im hơi, mọi thứ trong ta lùi lại, yên tĩnh dâng lên, và chính giữa là cái mới, cái chưa ai biết, lặng im đứng đó.

It seems to me that almost all our sadnesses are moments of tension, which we feel as paralysis because we no longer hear our astonished emotions living. Because we are alone with the unfamiliar presence that has entered us; because everything we trust and are used to is for a moment taken away from us; because we stand in the midst of a transition where we cannot remain standing. That is why the sadness passes: the new presence inside us, the presence that has been added, has entered our heart, has gone into its innermost chamber and is no longer even there, is already in our bloodstream.

Tôi cho rằng hầu hết nỗi buồn của chúng ta là những khoảnh khắc căng nhưng ta lại tưởng đấy là tê liệt, sở dĩ như vậy vì ta không còn nghe ra những cảm xúc lạ lẫm của mình. Vì ta đơn độc với cái mới lạ vừa bước vào nơi ta; vì bỗng chốc bao nhiêu cái đã thuộc và đã quen bị nẫng đi bằng hết; vì ta đang giữa bước quá độ không thể dừng chân. Cho nên nỗi buồn cũng qua đi: cái mới trong ta, cái vừa nhập cuộc, tiến thẳng vào tim ta, đến căn buồng sâu kín nhất trong tim và lập tức thôi không còn đó, - bởi nó đã vào trong máu.

And we don't know what it was. We could easily be made to believe that nothing happened, and yet we have changed, as a house that a guest has entered changes. We can't say who has come, perhaps we will never know, but many signs indicate that the future enters us in this way in order to be transformed in us, long before it happens. And that is why it is so important to be solitary and attentive when one is sad: because the seemingly uneventful and motionless moment when our future steps into us is so much closer to life than that other loud and accidental point of time when it happens to us as if from outside.

Và ta không hay biết nó là cái gì. Ta dễ tưởng chẳng có cái gì xảy ra, nhưng kỳ thực ta đã đổi khác, như căn nhà đổi khác khi một người khách lạ bước vào. Ta chẳng biết người đó là ai và có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết, nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy là tương lai cũng lẻn vào ta theo cách đó, để hoá thân thành ta, rất lâu trước khi nó thực sự là tương lai. Khi buồn, sở dĩ rất cần phải cô đơn và nhạy bén, vì: cái khoảnh khắc dường như vô sự và bất động khi tương lai lẻn vào ta chính ra lại gần gũi đời sống hơn nhiều so với thời điểm khác kia, thời điểm ồn ào và ngẫu nhiên, khi nó, tương lai, như từ bên ngoài ập đến.

The quieter we are, the more patient and open we are in our sadnesses, the more deeply and serenely the new presence can enter us, and the more we can make it our own, the more it becomes our fate; and later on, when it "happens" (that is, steps forth out of us to other people), we will feel related and close to it in our innermost being.

Buồn càng âm thầm bao nhiêu, càng nhẫn nại và cởi mở bao nhiêu thì cái mới thấm vào ta càng sâu, càng chắc bấy nhiêu, ta càng chiếm được nó, và nó càng trở thành số phận của ta, và một ngày nào đó sau này khi nó "diễn ra" (nghĩa là từ trong ta bước ra, đến với người khác), sâu trong thâm tâm ta sẽ thấy nó và ta thật gắn bó và gần gũi.

And that is necessary. It is necessary - and toward this point our development will move, little by little - that nothing alien happen to us, but only what has long been our own. People have already had to rethink so many concepts of motion; and they will also gradually come to realize that what we call fate does not come into us from the outside, but emerges from us. It is only because so many people have not absorbed and transformed their fates while they were living in them that they have not realized what was emerging from them; it was so alien to them that, in their confusion and fear, they thought it must have entered them at the very moment they became aware of it, for they swore they had never before found anything like that inside them. just as people for a long time had a wrong idea about the sun's motion, they are even now wrong about the motion of what is to come. The future stands still, dear Mr. Kappus, but we move in infinite space.

Và điều đó là cần thiết. Cần thiết là, chúng ta không gặp phải điều gì xa lạ, mà chỉ gặp thứ gì từ lâu đã thuộc về ta -và sự phát triển của chúng ta sẽ tiến dần tới chỗ đó. Người ta đã phải đảo hoán cách nghĩ về rất nhiều khái niệm thuộc chuyển động, rồi dần dần người ta cũng sẽ vỡ lẽ ra rằng, cái mà chúng ta gọi là số phận là thứ từ trong con người bước ra chứ không phải từ ngoài bước vào. Chỉ vì rất nhiều người đã không ngấm hết số phận khi nó còn cư trú trong họ, và không chuyển hóa nó vào trong mình, nên lúc nó bước ra họ không biết đấy là cái gì; họ thấy nó lạ mặt, nên lúng túng kinh hoàng mà dứt khoát cho rằng nó vừa mới ập vào người họ, vì họ quả quyết là trước đó chưa từng bắt gặp một cái gì tương tự trong mình. Người ta đã từng nhầm lẫn rất lâu về chuyển động của mặt trời, và vẫn tiếp tục nhầm lẫn về chuyển động của cái sẽ đến. Tương lai, thưa ông Kappus, đứng yên tại chỗ, còn chúng ta thì chuyển động trong không gian vô cùng.

How could it not be difficult for us?

And to speak of solitude again, it becomes clearer and clearer that fundamentally this is nothing that one can choose or refrain from. We are solitary. We can delude ourselves about this and act as if it were not true. That is all. But how much better it is to recognize that we are alone; yes, even to begin from this realization. It will, of course, make us dizzy; for all points that our eyes used to rest on are taken away from us, there is no longer anything near us, and everything far away is infinitely far.

Như thế, hỏi làm sao không gian truân?

Và lại nói về sự cô đơn, càng ngày ta càng thấy rõ, đó quả thực không phải là thứ cho ta chọn lấy hay bỏ đi được. Chúng ta cô đơn. Chỉ có thể tự huyễn hoặc và làm như không có chuyện đó mà thôi. Nhưng thừa nhận, rằng chúng ta cô đơn, và thậm chí lấy đó làm tiền đề thì tốt hơn biết bao. Như thế đương nhiên là ta chóng mặt, bởi ta bị tước sạch mọi điểm dừng quen thuộc cho con mắt, gần thì chẳng còn gì mà xa thì chao ôi xa tít tắp.

A man taken out of his room and, almost without preparation or transition, placed on the heights of a great mountain range, would feel something like that: an unequalled insecurity, an abandonment to the nameless, would almost annihilate him. He would feel he was falling or think he was being catapulted out into space or exploded into a thousand pieces: what a colossal lie his brain would have to invent in order to catch up with and explain the situation of his senses.

Ai vừa bước khỏi nhà mà lập tức bị đưa lên chót vót trên đỉnh núi, không được chuẩn bị và chuyển tiếp dần dần, chắc cũng cảm thấy điều tương tự: một sự bất an tuyệt đối, một sự bỏ mình vào chốn vô danh, như thể sẽ bị tiêu diệt. Hắn tưởng mình sẽ ngã, hay sẽ bị liệng vào khoảng không, hoặc nổ tung thành ngàn mảnh: bộ não hắn chắc phải gồng sức bịa ra điều gì đó để lấy lại hồn vía và minh mẫn trở lại.

That is how all distances, all measures, change for the person who becomes solitary; many of these changes occur suddenly and then, as with the man on the mountaintop, unusual fantasies and strange feelings arise, which seem to grow out beyond all that is bearable. But it is necessary for us to experience that too.

Khi người ta cô đơn, mọi khoảng cách, mọi kích thước đều biến đổi như vậy; nhiều biến đổi trong số đó diễn ra đột ngột, và những ảo giác khác thường, những cảm giác lạ lùng, dường như vượt ra ngoài mọi khả năng chịu đựng, bỗng xuất hiện như với người đứng trên đỉnh núi.

We must accept our reality as vastly as we possibly can; everything, even the unprecedented, must be possible within it. This is in the end the only kind of courage that is required of us: the courage to face the strangest, most unusual, most inexplicable experiences that can meet us. The fact that people have in this sense been cowardly has done infinite harm to life; the experiences that are called it apparitions, the whole so-called "spirit world," death, all these Things that are so closely related to us, have through our daily defensiveness been so entirely pushed out of life that the senses with which we might have been able to grasp them have atrophied.

Nhưng chúng ta cũng cần phải trải qua điều đó. Phải coi đời mình là rộng, rộng hết mức; trong đó phải đủ chỗ cho mọi thứ, kể cả thứ không chịu nổi. Xét cho cùng, đấy là chỗ dũng cảm duy nhất mà chúng ta phải có: dũng cảm đương đầu với cái lạ lùng nhất, cái kỳ bí nhất, cái không thể giải thích nhất. Ðời sống đã tổn thất bao nhiêu vì cái hèn của người đời theo nghĩa đó; những sự kiện được mệnh danh là "hiện tượng", cái được gọi là "thế giới quỷ thần", cái chết, tất cả những thứ thân thích với ta đó bị cơ chế phòng thủ ngày nay gạt phăng ra khỏi đời sống, đến nỗi các giác quan có thể lĩnh hội chúng đã bị héo mòn.

To say nothing of God. But the fear of the inexplicable has not only impoverished the reality of the individual; it has also narrowed the relationship between one human being and another, which has as it were been lifted out of the riverbed of infinite possibilities and set down in a fallow place on the bank, where nothing happens. For it is not only indolence that causes human relationships to be repeated from case to case with such unspeakable monotony and boredom; it is timidity before any new, inconceivable experience, which we don't think we can deal with. But only someone who is ready for everything, who doesn't exclude any experience, even the most incomprehensible, will live the relationship with another person as something alive and will himself sound the depths of his own being.

Khỏi cần nhắc đến Thượng Ðế. Nhưng nỗi sợ trước những điều không thể giải thích đâu chỉ làm nghèo cuộc đời của mỗi cá nhân, mà quan hệ giữa người với người qua đó cũng bị hạn chế, như thể bị nhấc ra khỏi dòng chảy của những khả năng vô tận, đặt lên một chỗ hoang vu trên bờ, chỗ không xảy ra điều gì hết. Bởi lẽ chẳng riêng gì sự lười biếng đẩy quan hệ của người đời tới nông nỗi cứ lặp đi lặp lại nguyên xi và đơn điệu hết chỗ nói, đấy là nỗi sợ trước một sự kiện mới, không thể lường trước và người ta e mình không kham nổi. Nhưng chỉ có ai sẵn lòng chấp nhận mọi sự, ai không loại trừ cả điều thách đố nhất, mới trải qua quan hệ với người khác như một thể sống động và tận dụng hết kiếp sống của riêng mình.

For if we imagine this being of the individual as a larger or smaller room, it is obvious that most people come to know only one corner of their room, one spot near the window, one narrow strip on which they keep walking back and forth. In this way they have a certain security.

Bởi lẽ ta hình dung mỗi kiếp người như một căn phòng có thể to hay nhỏ, nhưng thực ra phần lớn chỉ biết có một góc phòng, một bậu cửa sổ, một vệt nơi họ đi đi lại lại. Như thế họ cảm thấy tương đối an toàn.

And yet how much more human is the dangerous in security that drives those prisoners in Poe's stories to feel out the shapes of their horrible dungeons and not be strangers to the unspeakable terror of their cells. We, however, are not prisoners. No traps or snares have been set around us, and there is nothing that should frighten or upset us. We have been put into life as into the element we most accord with, and we have, moreover, through thousands of years of adaptation, come to resemble this life so greatly that when we hold still, through a fortunate mimicry we can hardly be differentiated from everything around us. We have no reason to harbor any mistrust against our world, for it is not against us.

Vậy mà nhân bản hơn nhiều là sự bất an đầy nguy hiểm đã thôi thúc những tù nhân trong truyện của Poe sờ soạng xem mặt mũi cái nhà tù khủng khiếp của họ ra sao, để mà quen với nỗi kinh hoàng khôn tả nơi đày ải. Nhưng chúng ta không là tù nhân. Bẫy và thòng lọng không rình rập quanh ta, và chẳng có gì hù dọa hay hành hạ ta. Ta được đẩy vào đời sống là môi trường thích hợp với ta nhất, và hơn thế, qua hàng ngàn năm thích nghi ta đã giống đời sống này đến mức chỉ cần nín thở, khéo đổi màu, là hầu như không khác gì mọi vật xung quanh. Chúng ta chẳng có lý do gì mà ngờ vực thế giới này, vì nó không chống lại ta.

If it has terrors, they are our terrors; if it has abysses, these abysses belong to us; if there are dangers, we must try to love them. And if only we arrange our life in accordance with the principle which tells us that we must always trust in the difficult, then what now appears to us as the most alien will become our most intimate and trusted experience. How could we forget those ancient myths that stand at the beginning of all races, the myths about dragons that at the last moment are transformed into princesses? Perhaps all the dragons in our lives are princesses who are only waiting to see us act, just once, with beauty and courage. Perhaps everything that frightens us is, in its deepest essence, something helpless that wants our love.

Nó lắm kinh hoàng ư, thì đấy là những kinh hoàng của chúng ta; nó nhiều vực thẳm ư, thì những vực thẳm ấy thuộc về chúng ta, còn những hiểm nguy thì chúng ta phải cố mà yêu lấy. Và nếu ta thu xếp đời mình theo chỉ dẫn của nguyên tắc là phải bám vào cái khó, thì điều còn rất đỗi xa lạ bây giờ rồi sẽ thành rất đỗi tin cậy và thân thiết. Ta làm sao quên được cái huyền thoại trong những huyền thoại xưa ở buổi sơ khai của mỗi dân tộc, huyền thoại về con rồng phút chót bỗng hoá thành nàng công chúa; có lẽ tất cả những con rồng của cuộc đời ta đều là những nàng công chúa chỉ mong một lần được thấy chúng ta tuấn tú và dũng cảm. Có lẽ mọi cái đáng sợ, xét cho cùng, là cái bất lực đang mong được ta cứu giúp.

So you mustn't be frightened, dear Mr. Kappus, if a sadness rises in front of you, larger than any you have ever seen; if an anxiety, like light and cloud-shadows, moves over your hands and over everything you do. You must realize that something is happening to you, that life has not forgotten you, that it holds you in its hand and will not let you fall.

Ông Kappus thân mến, ông đừng hoảng sợ khi một nỗi buồn, đồ sộ chưa từng thấy, lừng lững hiện ra trước mặt, khi một nỗi bồn chồn như áng sáng và bóng mây lướt trên tay và trên mọi hành động của ông. Ông nên nghĩ rằng như thế chính là có một sự kiện nào đó diễn ra nơi mình, rằng đời sống không bỏ quên ông, rằng nó nắm ông trong tay và sẽ không để ông rơi ngã.

Why do you want to shut out of your life any uneasiness, any misery, any depression, since after all you don't know what work these conditions are doing inside you? Why do you want to persecute yourself with the question of where all this is coming from and where it is going? Since you know, after all, that you are in the midst of transitions and you wished for nothing so much as to change. If there is anything unhealthy in your reactions, just bear in mind that sickness is the means by which an organism frees itself from what is alien; so one must simply help it to be sick, to have its whole sickness and to break out with it, since that is the way it gets better.

Cớ sao ông lại muốn loại trừ một lo âu nào đó, một nỗi đau nào đó, một phiền muộn nào đó ra khỏi cuộc đời, ông đâu biết những trạng thái ấy làm được gì cho mình kia chứ? Sao ông phải theo đuổi mãi câu hỏi, rằng mọi thứ từ đâu mà ra và sẽ đi về đâu? Ông biết đó, ông đang ở giai đoạn chuyển tiếp và không muốn gì hơn là tự biến đổi. Những đoạn trước của ông nếu có gì bệnh tật thì ông hãy nhớ rằng, bệnh chính là phương tiện để giải phóng một cơ thể khỏi những ngoại tố; ta chỉ cần giúp cho cơ thể ốm, cho cơ thể mắc trọn căn bệnh và được phát bệnh, vì đấy là tiến bộ của nó.

In you, dear Mr. Kappus, so much is happening now; you must be patient like someone who is sick, and confident like some one who is recovering; for perhaps you are both. And more: you are also the doctor, who has to watch over himself. But in every sickness there are many days when the doctor can do nothing but wait. And that is what you, insofar as you are your own doctor, must now do, more than anything else.

Trong con người ông bây giờ, ông Kappus thân mến, có biết bao điều diễn ra; ông phải kiên nhẫn như một con bệnh và vững tin như người khỏi bệnh; vì có thể ông là cả hai. Và hơn thế: ông còn là thầy thuốc có nhiệm vụ trông coi chính mình. Nhưng bệnh nào cũng thế, có những ngày thầy thuốc chẳng biết làm gì hơn ngoài chờ đợi. Và đấy là điều trước tiên ông nên làm trong lúc này, nếu ông thực sự là thầy thuốc của chính mình.

Don't observe yourself too closely. Don't be too quick to draw conclusions from what happens to you; simply let it happen. Otherwise it will be too easy for you to look with blame (that is: morally) at your past, which naturally has a share in everything that now meets you. But whatever errors, wishes, and yearnings of your boyhood are operating in you now are not what you remember and condemn. The extraordinary circumstances of a solitary and helpless childhood are so difficult, so complicated, surrendered to so many influences and at the same time so cut off from all real connection with life that, where a vice enters it, one may not simply call it a vice.

Xin ông đừng quan sát bản thân quá mức. Ðừng vội vàng kết luận từ điều gì xảy ra với mình; cứ để im cho nó xảy ra. Nếu không, ông dễ đi đến chỗ nhìn nhận quá khứ của mình, là thứ đương nhiên góp phần vào mọi chuyện bây giờ ông gặp phải, bằng cái nhìn trách cứ (nghĩa là cái nhìn đạo đức). Những lầm lạc, mong ước và khát vọng của thời niên thiếu còn lại trong ông không phải để ông nhớ đến và kết tội. Hoàn cảnh khác thường của một tuổi thơ cô đơn và bất lực thật nặng nề, phức tạp, bị bao điều tác động và đồng thời tách khỏi mọi tương quan thực của đời sống, cho nên nếu có chăng một thói xấu đặt chân vào đó, ta cũng không thể đơn giản gọi đó là thói xấu.

One must be so careful with names anyway; it is so often the name of an offense that a life shatters upon, not the nameless and personal action itself, which was perhaps a quite definite necessity of that life and could have been absorbed by it without any trouble. And the expenditure of energy seems to you so great only because you overvalue victory; it is not the "great thing" that you think you have achieved, although you are right about your feeling; the great thing is that there was already something there which you could replace that deception with, something true and real. Without this even your victory would have been just a moral reaction of no great significance; but in fact it has be come a part of your life. Your life, dear Mr. Kappus, which I think of with so many good wishes. Do you remember how that life yearned out of childhood toward the "great thing"? I see that it is now yearning forth beyond the great thing toward the greater one. That is why it does not cease to be difficult, but that is also why it will not cease to grow.

Nhìn chung phải hết sức thận trọng với cách định danh. Biết bao trường hợp là cái tên của tội ác làm tan nát một kiếp người chứ không phải chính bản thân hành vi tội ác, hành vi cá nhân và vô danh, có lẽ là một tất yếu của cuộc đời này và dễ dàng được cuộc đời dung thứ. Và sở dĩ ông có cảm tưởng sức lực bỏ ra là lớn, vì ông đánh giá quá cao chiến thắng; không phải nó là thứ "lớn lao" mà ông tưởng mình giành được, mặc dù cảm giác của ông là đúng; lớn lao là ở chỗ: có một cái gì chân và thực đã ở sẵn trong ông, cho ông dùng để thay thế sự huyễn hoặc kia. Nếu không, chiến thắng của ông chẳng qua là một phản ứng đạo đức mà thôi, không có ý nghĩa sâu xa gì, còn đằng này, nó trở thành một đoạn đời ông, ông Kappus thân mến, cuộc đời mà tôi nghĩ đến với bao lời cầu chúc. Ông còn nhớ cuộc đời ấy ngay từ thuở ấu thơ đã khao khát vươn tới những điều lớn lao như thế nào không? Bây giờ tôi thấy nó tạm biệt những điều lớn lao để khao khát những điều còn lớn lao hơn nữa. Vì thế nó không ngớt gian truân, nhưng cũng vì thế mà nó không ngừng lớn.

And if there is one more thing that I must say to you, it is this: Don't think that the person who is trying to comfort you now lives untroubled among the simple and quiet words that sometimes give you pleasure. His life has much trouble and sadness, and remains far behind yours. If it were otherwise, he would never have been able to find those words.

Yours,

Rainer Maria Rilke

Và điều cuối cùng tôi muốn nói là: ông đừng cho rằng kẻ đang tìm cách an ủi ông đây sống dễ dàng gì với những lời giản dị và thầm lặng đôi khi đã làm ông đau. Ðời hắn buồn và vất vả, và tụt lại sau đời ông nhiều. Nhưng nếu không như vậy, hắn đã chẳng tìm ra nổi những lời kia.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE


LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10



How should we be able to forget those ancient myths that are at the beginning of all peoples, the myths about dragons that at the last moment turn into princesses; perhaps all the dragons of our lives are princesses who are only waiting to see us once beautiful and brave. Perhaps everything terrible is in its deepest being something helpless that wants help from us.

So you must not be frightened, [Dear Mr. Kappus], if a sadness rises up before you larger than any you have ever seen; if a restiveness, like light and cloud-shadows, passes over your hands and over all you do. You must think that something is happening with you, that life has not forgotten you, that it holds you in its hand; it will not let you fall.

Ta làm sao quên được cái huyền thoại trong những huyền thoại xưa ở buổi sơ khai của mỗi dân tộc, huyền thoại về con rồng phút chót bỗng hoá thành nàng công chúa; có lẽ tất cả những con rồng của cuộc đời ta đều là những nàng công chúa chỉ mong một lần được thấy chúng ta tuấn tú và dũng cảm. Có lẽ mọi cái đáng sợ, xét cho cùng, là cái bất lực đang mong được ta cứu giúp.

Ông Kappus thân mến, ông đừng hoảng sợ khi một nỗi buồn, đồ sộ chưa từng thấy, lừng lững hiện ra trước mặt, khi một nỗi bồn chồn như áng sáng và bóng mây lướt trên tay và trên mọi hành động của ông. Ông nên nghĩ rằng như thế chính là có một sự kiện nào đó diễn ra nơi mình, rằng đời sống không bỏ quên ông, rằng nó nắm ông trong tay và sẽ không để ông rơi ngã.