MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Tuesday, June 28, 2011

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 3 Thư gởi nhà thơ trẻ 3




THE THIRD LETTER

BỨC THƯ THỨ BA

Viareggio, near Pisa (Italy)

April 23, 1903

Viareggio, gần Pisa (Ý đại lợi)

Ngày 23 tháng tư, năm 1903.

You gave me much pleasure, dear Sir, with your Easter letter; for it brought much good news of you, and the way you spoke about Jacobsen's great and beloved art showed me that I was not wrong to guide your fife and its many questions to this abundance.

Ông thân mến, bức thư dịp Phục sinh của ông đã khiến lòng tôi sung sướng vô ngần. Thư ấy đã nói cho tôi nhiều điều thú vị tuyệt vời về con người ông. Những gì ông nói về nghệ thuật vĩ đại thâm thiết của Jacobsen đã cho tôi thấy rõ rằng tôi đã không lầm khi hướng cuộc đời ông, và tất cả những vấn đề phức tạp của đời ông, đi về tâm hồn tràn đầy phong phú ấy.

Now Niels Lyhne will open to you, a book of splendors and depths; the more often one reads it, the more everything seems to be contained within it, from life's most imperceptible fragrances to the full, enormous taste of its heaviest fruits. In it there is nothing that does not seem to have been understood, held, lived, and known in memory's wavering echo; no experience has been too unimportant, and the smallest event unfolds like a fate, and fate itself is like a wonderful, wide fabric in which every thread is guided by an infinitely tender hand and laid alongside another thread and is held and supported by a hundred others. You will experience the great happiness of reading this book for the first time, and will move through its numberless surprises as if you were in a new dream. But I can tell you that even later on one moves through these books, again and again, with the same astonishment and that they lose none of their wonderful power and relinquish none of the overwhelming enchantment that they had the first time one read them.

Truyện “Niels Lyhne” giờ sẽ mở ra trước ông, một quyển sách huy hoàng thâm thúy. Mình càng đọc nó nhiều chừng nào, mình càng cảm thấy tất cả mọi sự đều nằm sẵn trong đó: từ mùi thơm nhẹ nhàng nhất của đời sống cho đến mùi vị ngây ngất thoát từ những trái ngọt nặng chĩu nhất của đời sống. Không có gì mà lại không được hiểu, lãnh hội, cảm nhận, tri nhận trong ấy, tri nhận theo âm hưởng rung động của kỷ niêm. Bất cứ biến cố nhỏ bé nào trong ấy đều dàn trải ra như một màn tơ mênh mang huy hoàng mà mỗi sợi tơ đan dệt cùng trăm sợi tơ khác, chằng chịt nhau nhờ một bàn tay dịu mềm vô cùng. Ông sẽ cảm thấy hạnh phúc vô vàn lúc đọc quyển ấy lần đầu tiên.

One just comes to enjoy them more and more, becomes more and more grateful, and somehow better and simpler in one's vision, deeper in one's faith in life, happier and greater in the way one lives. And later on, you will have to read the wonderful book of the fate and yearning of Marie Grubbe, and Jacobsen's letters and journals and fragments, and finally his verses which (even if they are just moderately well translated) live in infinite sound. (For this reason I would advise you to buy, when you can, the lovely Complete Edition of Jacobsen's works, which contains all of these. It is in three volumes, well translated, published by Eugen Diederichs in Leipzig, and costs, I think, only five or six marks per volume.)

Ông sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như là đi trong mộng. Rồi tiếp theo đó, tôi cũng có thể nói rằng lúc đọc những trang ấy ông vẫn bước đi ngỡ ngàng sửng sốt ngạc nhiên như vậy, vì không có trang nào đánh mất không khí diễm ảo thiên thai, huyền lực lạ thường của buổi hội ngộ đầu tiên. Mỗi lần đọc lại là thấy sảng khoái kỳ lạ hơn nữa. Những trang văn ấy khiến ông luôn luôn cảm thấy tri ân, cảm thấy mình tốt đẹp hơn lên, nhìn đời giản dị hơn, sống hạnh phúc hơn và cao lớn hơn. Rồi ông hãy đọc tiếp tác phẩm tuyệt diệu về tính mệnh và những đam mê của Marie Grubbe, đọc những bức thư của Jacobsen, những trang Nhật ký, những đoạn văn rời rạc và sau cùng hãy đọc những vần thơ của ông ấy, mặc dù dịch giả không lột tả hết được tinh thần, những vần thơ vẫn giữ lại những âm hưởng vô hạn. (Sẵn dịp tôi khuyên ông hãy mua luôn trọn vẹn tác phẩm của Jacobsen, ông có thể tìm tất cả mọi sự trong đó – Trọn vẹn tác phẩm được xuất bản thành ba cuốn, được dịch rất đàng hoàng, do nhà Eugène Diederichs ở Leipzig và chẳng tốn kém bao nhiêu).

In your opinion of "Roses should have been here . . ." (that work of such incomparable delicacy and form) you are of course quite, quite incontestably right, as against the man who wrote the introduction. But let me make this request right away: Read as little as possible of literary criticism. Such things are either partisan opinions, which have become petrified and meaningless, hardened and empty of life, or else they are clever word-games, in which one view wins , and tomorrow the opposite view. Works of art are of an infinite solitude, and no means of approach is so useless as criticism. Only love can touch and hold them and be fair to them. Always trust yourself and your own feeling, as opposed to argumentation, discussions, or introductions of that sort; if it turns out that you are wrong, then the natural growth of your inner life will eventually guide you to other insights. Allow your judgments their own silent, undisturbed development, which, like all progress, must come from deep within and cannot be forced or hastened. Everything is gestation and then birthing. To let each impression and each embryo of a feeling come to completion, entirely in itself, in the dark, in the unsayable, the unconscious, beyond the reach of one's own understanding, and with deep humility and patience to wait for the hour when a new clarity is born: this alone is what it means to live as an artist: in understanding as in creating.

Nói về “những hoa hồng đáng lẽ phải được cuất hiện như thế này ở nơi đây” (tác phẩm nhạy cảm và được kết cấu qua hình thái rất tài tình), ông hoàn toàn có lý về tác giả bài giới thiệu ấy. Sẵn đây, tôi xin van ông một việc. Đừng nên đọc nhiều loại văn phê bình họăc thẩm mỹ học. Đó chỉ là những sản phẩm của óc bè phái khô cứng như đá, vô nghĩa, thiếu sinh lực; nếu không thì đó chỉ là những ngón chơi chữ tài tình; hôm nay thì học theo ý kiến này, ngày mai, thì ý kiến ngược lại được họ đề cao tán tụng ồn ào. Những tác phẩm nghệ thuật thoát nguồn từ nỗi cô đơn vô hạn của con người; không gì tai hại nguy hiểm bằng sư phê bình văn nghệ. Chỉ có tình yêu, tình thương, là mới đi vào được tác phẩm nghệ thuật, lãnh hội ý nghĩa, bảo tồn, công chính với những tác phẩm ấy. Hãy tin cậy vào tình cảm ông trong việc chống đối với những sự phân tích ấy, những bài bình phẩm đúc kết ấy, những phần giới thiệu phê bình ấy. Dù ông có sai lầm đi nữa, sự trưởng thành tự nhiên của đời sống nội tâm ông sẽ hướng dẫn ông một cách chậm rãi, bình thản, thong dong, đến một trạng thái tri thức khác hẳn. Hãy để những lời bình phẩm của ông được phát triển thích đáng, trầm lặng. Đừng chống đối những khuynh hướng tâm tư mình; vì, giống như tất cả sự tiến triển tâm tư, sự trưởng thành tân hồn ông phải xuất phát từ sâu thẳm con người ông và không nên bức bách nó, hối thúc nó. Chịu đựng cưu mang cho tới cùng, rồi sinh nơ: tất cả mọi sự nằm ở đó. Ông phải để mỗi một ấn tượng, mỗi một mầm mống cảm tình được chím mùi trong hồn ông, chín mùi trong bóng tối, trong vô ngôn, trong vô thức, những cõi vùng đóng kín mà tri thức không thể đi vào được. Hãy chờ đợi một cách khiêm tốn và kiên nhẫn, chờ đợi giờ phút khai sinh ánh sáng rực ngời mới lạ. Nghệ thuật đòi hỏi những người thưởng ngoạn cũng phải như những nhà sáng tạo.

In this there is no measuring with time, a year doesn’t matter, and ten years are nothing. Being an artist means: not numbering and counting, but ripening like a tree, which doesn’t force its sap, and stands confidently in the storms of spring, not afraid that afterward summer may not come. It does come. But it comes only to those who are patient, who are there as if eternity lay before them, so unconcernedly silent and vast. I learn it every day of my life, learn it with pain I am grateful for: patience is everything!

Ở đây, thời gian không thể làm tiêu chuẩn đo lường. Một năm có kể gì; mười năm không là gì cả; khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là không tính toán, không kể số: khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là nẩy nở như một cây lá không hề bức thúc nhựa cây, đứng vững lại một cách tín thành trong tất cả những ngọn gió lớn của mùa xuân, không hề sợ hãi nao núng rằng mùa hạ không trở lại nữa. Mùa hạ nhất định sẽ đến. Nhưng mùa hạ chỉ đến cho những kẻ nào biết chờ đợi, chờ đợi một cách trầm lặng và cởi mở như là mình đã có cả vĩnh cửu trước mắt mình. Tôi đã học được điều ấy mỗi ngày bằng bao nhiêu cơn đau đớn, bằng bao nhiêu nỗi đau khổ mà tôi vẫn cảm ta: Kiên nhẫn vẫn là tất cả.



Richard Dehmel: My experience with his books (and also, incidentally, with the man, whom I know slightly) is that whenever I have discovered one of his beautiful pages, I am. always afraid that the next one will destroy the whole effect and change what is admirable into something unworthy. You have characterized him quite well with the phrase: "living and writing in heat." And in fact the artist's experience lies so unbelievably close to the sexual, to its pain and its pleasure, that the two phenomena are really just different forms of one and the same longing and bliss. And if instead of "heat" one could say "sex";- sex in the great, pure sense of the word, free of any sin attached to it by the Church, - then his art would be very great and infinitely important. His poetic power is great and as strong as a primal instinct; it has its own relentless rhythms in itself and explodes from him like a volcano.

Richard Dehmel – Khi đọc ông ấy cũng như khi gặp ông ấy (thỉnh thoảng tôi cũng có gặp ông ta) lúc đọc được những trang tuyệt vời, tôi lại lo sợ những trang tiếp theo sau phá hủy tất cả những gì đi trước, biến đổi lại những gì tuyệt vời thành ra xấu xa tệ hại. Ông đã định nghĩa ông ấy rất đúng: “sống và sáng tạo trong tâm thái động tình” – Đúng đấy, đời sống sáng tạo rất gần gũi với đời sống tình dục, gần gũi với những nỗi đau đớn, những cơn khoái lạc và phải nhận thức rằng cả hai hình thức đều cùng một nhu cầu duy nhất, một mê cảm khao khát duy nhất. và nếu thay vì chữ “động tình” mình có thể viết lại chữ “tình dục” trong ý nghĩa thuần khiết, trong sạch, cao đẹp rộng rãi của chữ này, thoát ra ngoài những tỵ hiềm của Giáo hội. Nếu hiểu “tình dục” như thế thì nghệ thuật của Dehmel trở nên cao sâu và nguyên thủy hơn. Sức mạnh thi ca của ông vĩ đại, mãnh liệt như một bản năng. Nó mang những nhịp điệu riêng biệt cuồng dại: nó bắn nước như phun vọt lên từ miệng núi lửa.

But this power does not always seem completely straightforward and without pose. (But that is one of the most difficult tests for the creator: he must always remain unconscious, unaware of his best virtues, if he doesn't want to rob them of their candor and innocence!) And then, when, thundering through his being, it arrives at the sexual, it finds someone who is not so pure as it needs him to be. Instead of a completely ripe and pure world of sexuality, it finds a. world that is not human enough, that is only male, is heat, thunder, and restlessness, and burdened with the old prejudice and arrogance with which the male has always disfigured and burdened love. Because he loves only as a male, and not as a human being, there is something narrow in his sexual feeling, something that seems wild, malicious, time-bound, uneternal, which diminishes his art and makes it ambiguous and doubtful. It is not immaculate, it is marked by time and by passion, and little of it will endure. (But most art is like that!) Even so, one can deeply enjoy what is great in it, only one must not get lost in it and become a hanger-on of Dehmel's world, which is so infinitely afraid, filled with adultery and confusion, and is far from the real fates, which make one suffer more than these time-bound afflictions do, but also give one more opportunity for greatness and more courage for eternity.

Nhưng rất tiếc là sức mạnh ấy không phải luôn luôn thành thực, nó có cái gì đỏm dáng, làn dáng trong ấy (đó là một trong những thử thách lớn lao nhất của con người sáng tạo: hẳn phải hoàn toàn không biết gì về những tài năng thiên phú của mình, không hề tiên cảm gì cả, vì hẳn dễ đánh rơi mất lòng thuần khiết trong sạch của tài năng mình). Khi sức lực vũ bão đưa ông ấy đối mặt với tình dục, Dehmel không hoàn toàn thuần khiết trong sạch như đáng được mong đợi. Thế giới tình yêu ông không hoàn toàn chín mùi, không hoàn toàn trong sạch, không mang đủ nhân tính lắm; đó chỉ là bản năng của giống đực: đó là động giao, say sưa ngây dại, bất an lo âu, sảng sốt: ông ấy đã mang những thành kiến, những lề lối nào đó mà khiến cho tình yêu không còn giữ nguyên nét mặt trọn vẹn của nó nữa. Bởi vì ông ấy chỉ thể nghiệm tình yêu giống đực, chứ không phải như con người toàn diện; vì thế, trong tình yêu ông ấy, chứa đựng một cái gì chật hẹp, man dại, thù hằn, nhất thời: không có gì vĩnh cửu trong ấy và điều đó đã hạ thấp nghệ thuật ông ta, khiến nghệ thuật ông ta trở nên mơ hồ khả nghi. Nghệ thuật ông ấy không phải hòan toàn không có khuyết điểm: nó mang dấu hiệu của thời thượng và đam mê nhất thời. Rồi đây tác phẩm ấy chẳng còn gì đáng lưu lại nữa. (Hầu hết nghệ thuật chẳng phải thế sao?). Tuy thế ta cũng có thể còn thưởng ngoạn được những gì vĩ đại trong tác phẩm ấy. Nhưng không nên đánh mất mình trong ấy và trở thành tín đố của thế giới Dehmel, một thế giới đầy xao xuyến hãi hùng, đầy trụy dâm ngoại tình, đầu hỗn loạn bất trắc. Thế giới trong tác phẩm của Dehmel xa lìa hẳn những số mệnh thực thụ của kiếp người, đó chỉ là màn kịch tạm bợ chóng qua, trái hẳn những số mệnh thực sự đã từng gây đau đớn hãi hùng cho ta, nhưng tạo dịp cho ta cao lớn và đối mặt với sự trì cửu của thời gian.

Finally, as to my own books, I wish I could send you any of them that might give you pleasure. But I am very poor, and my books, as soon as they are published, no longer belong to me. I can’t even afford them myself and, as I would so often like to, give them to those who would be kind to them.

Sau hết nói về những quyển sách của tôi viết, tôi đã từng muốn gửi cho ông những gì có thể làm vui lòng ông. Nhưng tôi vốn rất nghèo và những tác phẩm của tôi không còn thuộc về tôi nữa, mỗi khi những quyển ấy đã được xuất bản. Tôi cũng không thể đi mua những quyển ấy nữa, như nhiều lúc tôi muốn làm thế để tặng bạn bè.

So I am writing for you, on another slip of paper, the titles (and publishers) of my most recent books (the newest ones - all together I published perhaps 12 or 13), and must leave to you, dear Sir, to order one or two of them when you can.

I am glad that my books will be in your hands.

With best wishes,

Yours,

Rainer Maria Rilke

Thôi, tôi chỉ xin ghi lại một bảng nhan đề (và nhà xuất bản) về những tác phẩm tôi cho xuất bản gần đây (tất cả đã được xuất bản khoảng chừng 12 hoặc 13 quyển). Thôi tôi xin để ông tự lo liệu mua lấy lúc nào tiện dịp.

Tôi rất sung sướng nếu biết rằng những quyển sách của tôi nằm trong tay ông.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE

Richard Dehme

LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 2 Thư gởi nhà thơ trẻ 2




THE SECOND LETTER

BỨC THƯ THỨ HAI

Viareggio, near Pisa (Italy)

April 5, 1903

Viareggio, gần Pisa (Ý đại lợi)

Ngày 5, tháng tư, năm 1903.

You must pardon me, dear Sir, for waiting until today to gratefully remember your letter of February 24. I have been unwell all this time, not really sick, but oppressed by an influenza-like debility, which has made me incapable of doing anything. And finally, since it just didn't want to improve I came to this southern sea, whose beneficence helped me once before. But I am still not well, writing is difficult, and so you must accept these few lines instead of the letter I would have liked to send.

Ông thân ái, xin ông tha lỗi cho tôi, vì chỉ hôm nay tôi mới nhớ lại bức thư ngày 24 tháng hai của ông, nhớ lại với lòng tri tạ. Trong thời gian gần đây, tôi đã bị đau bệnh liên miên, bệnh hoạn thì không đúng hẳn, mà lại bị bải hoải mệt mỏi kỳ lạ, có lẽ là do bệnh cúm, xui tôi chẳng làm gì ra hồn cả. Sau rồi chẳng có gì đỡ hơn, tôi lại lên đường đến vùng biển miền nam, nơi trước kia đã từng giúp tôi bình phục khá nhiều. Nhưng bây giờ thì tôi chưa lại sức hẳn. Viết lách là một việc quá khó khăn nặng nề với tôi. Thôi xin tạm đọc đôi dòng này dịp khác viết nhiều hơn.

Of course, you must know that every letter of yours will always give me pleasure, and you must be indulgent with the answer, which will perhaps often leave you empty-handed; for ultimately, and precisely n the deepest and most important matters, we are unspeakably alone; and many things must happen, many things must go right, a whole constellation of events must be fulfilled, for one human being to successfully advise or help another.

Trước hết dĩ nhiên ông phải biết rằng những bức thư của ông mang lại cho tôi nhiều sung sướng. Về những sự trả lời này, xin ông cũng khả thứ dung nạp rộng lượng cho. Có thể thường khi những sự trả lời này chẳng đem đến gì cho ông cả, bởi vì, nói cho cùng, những gì chính yếu thâm trầm nhất, đề cập những gì sâu thẳm nhất, chúng ta chỉ im lặng cô độc, cô đơn một cách không thể nói ra được. Muốn khuyên lơn nhau, muốn giúp đỡ nhau phải cần nhiều trùng phùng gặp gỡ, nhiều đúc kết thành tựu. Bao nhiêu là biến cố hội tụ lại mới đưa tới một thành công độc nhất.

Today I would like to tell you just two more things:

Irony: Don't let yourself be controlled by it, especially during uncreative moments. When you are fully creative, try to use it, as one more way to take hold of fife. Used purely, it too is pure, and one needn't be ashamed of it; but if you feel yourself becoming too familiar with it, if you are afraid of this growing familiarity, then turn to great and serious objects, in front of which it becomes small and helpless. Search into the depths of Things: there, irony never descends and when you arrive at the edge of greatness, find out whether this way of perceiving the world arises from a necessity of your being. For under the influence of serious Things it will either fall away from you (if it is something accidental), or else (if it is really innate and belongs to you) it will grow strong, and become a serious tool and take its place among the instruments which you can form your art with.

Hôm nay tôi muốn nói hai điều với ông.

Trước hết xin nói về sự mỉa mai. Xin ông đừng bao giờ để sự mỉa mai chế ngự lòng ông, nhất là những giây phút khô khan nhất. Trong những giây phút sáng tạo, ông có thể cố gắng dùng nó như là một phương tiên nữa để lãnh hội cuộc đời. Khi được dùng một cách trong sạch thì nó cũng trở nên trong sạch; đừng hổ thẹn về nó gì cả. Nếu ông cảm thấy quá bị lôi kéo vì nó, nếu ông sợ hãi quá quen thuộc với nó thì ông hãy qui hướng về những sự việc vĩ đại trang trọng; trước những sự việc trang trọng vĩ đại ấy thì nó trỏ nên nhỏ bé và mất mát đi. Hãy đạt tới những sự thâm trầm sâu sắc: sự mỉa mai không thể nào xuống tới được những nơi đó. Nếu sự mỉa mai rỉa rói vẫn theo đuổi ông cho đến nỗi xâm lấn vào sự việc vĩ đại, lúc ấy ông tìm hiểu xem có phải nó đáp ứng được một đòi hỏi nào đó của tâm chất ông. Dưới tác động của những sự việc trang trọng, hoặc là nó sẽ rời bỏ ông (như thế, nó chỉ là ngẫu phát), hoặc là nó sẽ trở thành dụng cụ quí báu của ông, nếu nó vốn thực là phát từ bẩm chất ông, nếu thế thì nó sẽ giữ vai trò cẩn yếu trong toàn thể phương tiện để ông xử dụng trong việc hun đúc nghệ thuật mình.

And the second thing I want to tell you today is this:

Of all my books, I find only a few indispensable, and two of them are always with me, wherever I am. They are here, by my side: the Bible, and the books of the great Danish poet Jens Peter Jacobsen. Do you know his works? It is easy to find them, since some have been published in Recalm's Universal Library, in a very good translation. Get the little volume of Six Stories by J. P. Jacobsen and his novel Niels Lyhne, and begin with the first story in the for mer, which is cared "Mogens." A whole world will envelop you, the happiness, the abundance, .the inconceivable vastness of a world. Live for a while in these books, learn from them what you feel is worth learning, but most of &U love them. This love will be returned to you thousands upon thousands of times, whatever your life may become - it will, I am sure, go through the whole fabric of your being, as one of the most important threads among all the threads of your experiences, disappointments, and joys.

Việc thứ hai tôi muốn đề cập là như sau: Trong tất cả những quyển sách tôi đang đọc, chỉ có đôi quyển thực là cần thiết đối với tôi: chỉ trừ hai tác phẩm luôn luôn tôi mang theo bên cạnh, bất cứ lúc nào ở đâu, tôi cũng mang theo người. Đang lúc tôi viết thư này, hai tác phẩm ấy cũng ở bên cạnh tôi: đó là Thánh kinh và tác phẩm của đại văn hào Đan Mạch Jens Peter Jacobsen. Tiện đây, xin hỏi luôn ông có biết những tác phẩm nào của đại văn hào này không. Ông có thể tìm mua những tác phẩm ấy một cách dễ dàng. Một phần đã được dịch và xuất bản, bản dịch rất hay, trong thư lục Reklam. Ông hãy tìm đọc quyển sách nhỏ nhan đề “Sáu tân truyện” và tiểu thuyết nhan đề “Mogens”. Cả một thế giới sẽ vồ chụp lấy ông: sự hạnh phúc, sự giàu sang phong phú, sự cao lớn hùng vĩ khôn lường của một thế giới. Hãy sống một thời gian trong những quyển sách ấy, học những gì đáng học trong ấy, theo bản tính mình, nhưng trước nhất vẫn là thương yêu những quyển sách đó. Tình yêu ấy sẽ được đáp trả lại ngàn lần; dù đời sống ông có trở thành gì đi nữa, tình yêu ấy sẽ ngự chuyển qua trong canh cửi tổ thành thể chất tâm hồn ông như một tiêm chính yếu hòa lẫn với những tơ sợi của những thử thách cam go, những thất bại chua cay và những niềm vui, những khoái cảm của ông.

If I were to say who has given me the greatest experience of the essence of creativity, its depths and eternity, there are just two names would mention: Jacobsen, that great, great poet, and Auguste Rodin, the sculptor, who is without peer among all artists who are alive today.

And all success upon your path!

Yours,

Rainer Maria Rilke

Nếu cần nói cho ông biết nhờ ai tôi đã học được đôi điều về thiên chất sáng tạo, nguồn gốc của nó, lề luật vĩnh cửu của nó, tôi phải kể hai tên, chỉ hai tên thôi: đó là Jacobsen, đại, ồ đại thi hào, và Auguste Rodin, điêu khắc gia mà không có một nghệ sĩ nào hiện nay đáng sánh ngang hàng.

Mong ông thành công mọi sự trên những đường ông đi.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE



Link

Jens Peter Jacobsen.


LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 1 Thư gởi nhà thơ trẻ 1


Letters To A Young Poet - R. M. Rilke


Thư gởi nhà thơ trẻ

by Rainer Maria Rilke

Rainer Maria Rilke

Translated by Stephen Mitchell

LỜI DẪN Dạo đó là cuối thu năm 1902 – tôi ngồi đọc một cuốn sách dưới những cây dẻ già trong khuôn viên của học viện quân sự ở Neustadt, Wien. Tôi chăm chú vào đó đến nỗi không hay biết là cha Horacek, ông thầy hiền từ và uyên bác, giáo sư duy nhất trong học viện không mang hàm sĩ quan, đến bên tôi tự lúc nào. Ông cầm cuốn sách từ tay tôi, nhìn bìa sách và lắc đầu. "Thơ Rainer Maria Rilke ư?", ông tư lự hỏi. Ông lật vài trang, lướt qua vài câu thơ, trầm ngâm nhìn ra xa, cuối cùng thì gật đầu. "Vậy là cậu bé René đã thành một nhà thơ." Và tôi được ông kể cho nghe về cậu bé xanh xao mảnh dẻ, hơn muời lăm năm trước được cha mẹ dẫn đến học trường trung học quân sự ở Sankt Pölten để sau này thành sĩ quan quân đội. Khi ấy thầy Horacek đang làm cha sở ở đó, ông còn nhớ rõ cậu học trò cũ. Ông mô tả, đấy là một thiếu niên lặng lẽ, nghiêm trang, đầy năng lực, ưa làm người ngoài cuộc, nhẫn nại chịu đựng cảnh bó buộc của sinh hoạt trong kí túc xá, và bốn năm sau thì cùng nhiều học trò khác chuyển lên trường cao học quân sự ở Mährisch –Weißkirchen. Dĩ nhiên thể lực của chàng trai không đủ để trụ lại đó, nên cha mẹ lại đưa về Praha để học trường khác. Đường đời của chàng sau này ra sao thì cha Horacek không biết. Cũng dễ hiểu là nghe xong, tôi lập tức quyết định gửi những thử bút của mình cho Rainer Maria Rilke và xin ông cho ý kiến. Chưa đầy hai mươi, lại đang đứng trước nguỡng cửa của một nghề trái với sở nguyện, tôi hi vọng nếu có nổi một ai đó để chia sẻ cảm thông thì đấy phải là tác giả của tập "Ngã ca". Và tôi gửi kèm một bức thư, trong đó không chủ định mà tôi bỗng thổ lộ mọi tâm tình như trước đây chưa chưa bao giờ và sau này cũng không lặp lại lần thứ hai với ai khác. Nhiều tuần trôi qua mới có thư trả lời. Bức thư gắn xi mầu xanh mang dấu bưu điện Paris cầm nặng trong tay, và trên phong bì cũng như trong thư, từ dòng đầu đến dòng cuối đều cùng một nét chữ đẹp, rõ, vững chãi. Quan hệ thư từ của tôi với Rainer Maria Rilke bắt đầu từ đó, đều đặn, kéo dài đến năm 1908 rồi tắt dần, vì cuộc đời đẩy tôi vào chính những lĩnh vực mà lòng quan tâm ấm áp nhẹ nhàng và cảm động của nhà thơ từng mong tránh đỡ cho tôi. Nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là muời bức thư sau đây, quan trọng cho nhận thức về cái thế giới mà Rainer Maria Rilke đã sống và sáng tạo, và quan trọng cho nhiều người đang và sẽ trưởng thành của hôm nay và ngày mai. Và khi một bậc vĩ nhân lên tiếng thì những kẻ nhỏ bé hãy lặng im. Berlin, tháng Sáu 1929 Franz Xaver Kappus

Dịch giả: Hoàng Thu Uyên 14. 1. 1969.

LỜI MỞ ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ

Đây là 10 bức thư nổi tiếng nhất và được đọc nhiều nhất trong thế kỷ 20 của thi sĩ Đức vĩ đại Rainer Maria Rilke. Tất cả những vấn đề mà các nhà văn, nhà thơ, các nghệ sĩ, và các nhà tư tưởng quan tâm đều được thi sĩ bàn luận thấu đáo ở đây. Thư gởi người thi sĩ trẻ tuổi là một tác phẩm kinh điển dành cho tất cả những ai muốn bày tỏ nội tâm mình một cách sáng tạo. Nó đem đến nguồn cảm hứng cho những người muốn đi sâu khám phá và thể hiện sự thực bên trong mình. Mười bức thư sau đây của thi sĩ Rainer Maria Rilke là một kiệt tác trong văn nghệ hiện đại Đức quốc. Không ai còn lạ với thiên tài và tên tuổi của Rainer Maria Rilke, ông là thi sĩ nổi tiếng nhất và cô đơn nhất trong văn nghệ Đức ở thế kỷ XX. Những người quen thuộc với tư tưởng của Heidegger đều biết rằng Heidegger đã dành cho Rilke một vị thế trang trọng ưu liệt trong cuộc song thoại giữa tư tưởng (Denken) và thi tưởng (Dichten). Trong sự suy tưởng về Rilke, Heidegger đã viết những câu quyết định như vầy: “Trong thời đại đêm tối của thế giới, hố thẳm của thế giới phải được học và học cho cạn. Mà muốn thế thì phải có người với tới hổ thẳm”. Heidegger đã nói như trên trong buổi kỷ niệm ngày giỗ R.M. Rilke. (Rilke chết ngày 29, tháng chạp, năm 1926). Hố thẳm là gì? Có ai đã nói tời hố thẳm? Và với tới mức độ nào? Đây là những câu hỏi lửa máu đã được đặt lên giữa đêm tối tàn nhẫn của quê hương. Cuộc đời của Rilke, nỗi cô đơn của ông những bước chân lang thang cô tịch của ông, đôi mắt diệu vợi sâu thẳm hừng lửa của ông, tất cả những cử chỉ ấy nói lên những gì cho con người trẻ tuổi Việt Nam hiện nay? Mỗi một người trẻ tuổi của Việt Nam đều là một thi sĩ; mười bức thư sâu đây của Rilke là mười tiếng nói được gửi về bất cứ người thi sĩ trẻ tuổi nào đang sống trên mặt đất trần trụi này. Sống và sống một cách thơ mộng trên thế giới sâu kín này, phải chăng đó là tiếng ca của con chim không tên, đồng vọng lên một sớm mai hồng đang nằm phong kín trong đêm tối sinh ly?

HOÀNG THU UYÊN (PHẠM CÔNG THIỆN)

14. 1. 1969.


This book has been my favorite book for ten years or more. I've bought and then given away so many copies of it, I almost never have one for myself. So I digitized it for all those times when I'm without my own copy. The translation is by Stephen Mitchell and is, by far, the best of all the ones I've read. It is available on Vintage Press in paperback and is about $9. You can even order it on-line from amazon.com. I highly recommend getting one. It's a book you'll read countless times and each time will seem like the first time.

Letters To A Young Poet are ten letters written to a young man about to enter the German military. His name was Franz Kappus, he was 19 years old, and he wrote Rilke looking for guidance and a critique of some of his poems. Rilke was himself only 27 when the first letter was written. The resulting five year correspondence is a manual on what is required to be an artist and a person.

Đây là cuốn sách yêu thích nhất của tôi trong hơn mười năm trở lại đây. Tôi đã mua và sau đó tặng rất nhiều bản sách, tôi gần như không bao giờ có một cho bản thân mình. Vì vậy, tôi số hóa nó đẻ đọc những lúc tôi không có bản sách trong tay. Bản dịch là của Stephen Mitchell và, đến nay, là bản tốt nhất trong tất cả những bản tôi đã đọc. Nó có bản in của Vintage Press loại bìa mềm và giá khoảng $9. Bạn thậm chí có thể đặt mua trên mạng từ amazon.com. Tôi khuyên bạn nên nhận mua một cuốn. Đó là một cuốn sách bạn sẽ đọc vô số lần và mỗi lần đọc đều có vẻ như lần đầu tiên.


Thư gởi nhà thơ trẻ là mười bức thư viết cho một người thanh niên trẻ tuổi sắp nhập ngũ vào quân đội Đức. Anh tên là Franz Kappus, 19 tuổi, và anh đã viết thư cho Rilke để xin lời chỉ dẫn và lời bình một số bài thơ của ông. Rilke là chỉ mới 27 tuổi khi bức thư đầu tiên được viết ra. Năm năm trao đổi thư từ tiếp theo là hướng dẫn về cái cần có để làm một nghệ sĩ và một con người.

Paris
February 17, 1903

Dear Sir,

Paris, ngày 17 tháng 2 năm 1903

Ông thân mến,

Your letter arrived just a few days ago. I want to thank you for the great confidence you have placed in me. That is all I can do. I cannot discuss your verses; for any attempt at criticism would be foreign to me. Nothing touches a work of art so little as words of criticism: they always result in more or less fortunate misunderstandings. Things aren't all so tangible and sayable as people would usually have us believe; most experiences are unsayable, they happen in a space that no word has ever entered, and more unsay able than all other things are works of art, those mysterious existences, whose life endures beside our own small, transitory life.

Bức thư của ông vừa mới tới tay tôi vài ngày qua. Tôi xin cảm tạ lòng tín cẩn quảng đại quí báu của ông trong thư ấy. Tôi khó lòng làm gì hơn nữa. Tôi không thể đi vào được thể chất của những vần thơ ông, bởi vì tôi hoàn toàn xa lạ với tất cả việc bình phẩm phê bình. Hơn nữa, muốn lãnh hội ý nghĩa một tác phẩm nghệ thuật, không gì tai hại nguy hiểm cho bằng những lời lẽ của sự phê bình văn nghệ. Những lời phê bình đó chỉ đưa đến những ngộ nhận ít nhiều quá đáng. Không thể nắm lấy tất cả hay nói tất cả về những sự vật, như người ta thường ngỡ thế đâu. Phần lớn tất cả những gì xẩy đến đều không thể diễn tả được và đã được xảy ra trong một lĩnh vực mà không có ngôn ngữ nào có thể dẫn tới được; những tác phẩm nghệ thuật lại còn không thể nào diễn tả hơn cả mọi sự khác, những tác phẩm nghệ thuật là những sinh thể kín đáo bí mật mà đời sống chúng ta phải lướt trôi qua nhanh chóng.

With this note as a preface, may I just tell you that your verses have no style of their own, although they do have silent and hidden beginnings of something personal. I feel this most clearly in the last poem, "My Soul." There, some thing of your own is trying to become word and melody. And in the lovely poem "To Leopardi" a kind of kinship with that great, solitary figure does perhaps appear. Nevertheless, the poems are not yet anything in themselves, not yet any thing independent, even the last one and the one to Leopardi. Your kind letter, which accompanied them managed to make clear to me various faults that I felt in reading your verses, though I am not able to name them specifically.

Sau những dòng nhận xét mở đầu này, tôi chỉ có thể thêm rằng những vần thơ của ông chưa chứng tỏ bút pháp gì độc sáng của riêng ông cả, dù những vần thơ ấy vẫn chứa đựng một chút ít khởi đầu riêng biệt của con người ông, nhưng hãy còn lặng lẽ rụt rè và ẩn tàng phong kín, Tôi cảm thấy điều ấy hơn hết trong bài thơ cuối cùng của ông nhan đề là “Tâm hồn tôi”. Trong bài thơ đó, có một cái gì riêng lẻ muốn thành lời và thể hiện cung điệu. Suốt bài thơ đẹp nhan đề “Gửi Léopardi” có lẽ tỏ ra tới được một sự gần gũi thân cận nào đó với nhà thơ cô đơn vĩ đại ấy. Tuy thế những bài thơ của ông không có được đời sống biệt lập độc sáng, ngay cả bài thơ cuối cùng, ngay cả bài thơ gửi cho Léopardi. Bức thư khả ái của ông gửi kèm theo bài thơ đó đã giúp tôi hiểu nhiều thiếu sót mà tôi có thể cảm thấy khi đọc những bài thơ của ông mặc dù không thể nào gọi tên chúng được.

You ask whether your verses are any good. You ask me. You have asked others before this. You send them to magazines. You compare them with other poems, and you are upset when certain editors reject your work. Now (since you have said you want my advice) I beg you to stop doing that sort of thing. You are looking outside, and that is what you should most avoid right now. No one can advise or help you - no one. There is only one thing you should do. Go into yourself. Find out the reason that commands you to write; see whether it has spread its roots into the very depths of your heart; confess to yourself whether you would have to die if you were forbidden to write. This most of all: ask yourself in the most silent hour of your night: must I write? Dig into yourself for a deep answer. And if this answer rings out in assent, if you meet this solemn question with a strong, simple "I must", then build your life in accordance with this necessity; your whole life, even into its humblest and most indifferent hour, must become a sign and witness to this impulse.

Ông hỏi tôi để biết những vần thơ của ông làm có khá không. Ông hỏi điều ấy với tôi và trước đó, ông đã hỏi điều đó với những kẻ khác. Ông đã gửi những bài thơ đó cho những tạp chí. Ông so sánh những bài thơ của ông với những bài thơ khác và ông cuống lên khi những người chủ biên của tạp chí vứt bỏ những nỗ lực làm thơ của ông. Vì ông đã tỏ ra không ngại lời khuyên giải của tôi, vậy từ nay trở đi tôi xin ông đừng làm những việc như vậy nữa. Ông đang soi cái nhìn của ông ra bên ngoài; đó là điều ông không nên làm. Không có người nào có thể đem đến cho ông lời khuyên giải hay sự giúp đỡ, không có ai cả. Chỉ có một con đường duy nhất là ông hãy đi vào sâu bên trong tâm hồn của ông, tìm hiểu, tìm kiếm nhu cầu duyên do bức bách đã khiến ông sáng tác, đã xui ông viết lách: hãy tìm hiểu xem việc ấy có ăn rễ sâu thẳm trong lòng ông hay không. Ông hãy thử tự nhận với ông rằng nếu người ta cấm ông viết thì ông có phải chết mất đi không? Nhất là: ông hãy tự hỏi vào giây phút thầm lặng nhất trong đêm tối: “Tôi có thực sự phải cần viết không?” Hãy đào xới trong tâm hồn ông để tìm cho ra một câu trả lời thâm thúy nhất. Nếu câu trả lời kia xác nhận sự đòi hỏi trong tâm tư ông, nếu ông có thể đối mặt với câu hỏi nghiêm trọng này như thế bằng một câu trả lời dứt khoát giản dị “Tôi phải viết”, nếu có thể trả lời như thế thì ông hãy xây dựng đời ông theo mối nhu cầu tâm tư ấy. Ngay trong những giây phút lãnh đạm nhất, hoang trống nhất, đời sống của ông phải trở thành dấu hiệu và chứng tích cho lòng khao khát thôi thúc ấy.

Then come close to Nature. Then, as if no one had ever tried before, try to say what you see and feel and love and lose. Don't write love poems; avoid those forms that are too facile and ordinary: they are the hardest to work with, and it takes a great, fully ripened power to create something individual where good, even glorious, traditions exist in abundance. So rescue yourself from these general themes and write about what your everyday life offers you; describe your sorrows and desires, the thoughts that pass through your mind and your belief in some kind of beauty Describe all these with heartfelt, silent, humble sincerity and, when you express yourself,

Rồi ông hãy đến sống gần gũi với thiên nhiên. Hãy cố gắng nói lên những gì mình thấy, những gì mình sống, mình yêu, mình mất, nói lên những thứ đó như mình là con người đầu tiên được tạo ra trên đời này. Đừng viết những bài thơ tình ái. Trước hết phải tránh những đề tài quá dễ dãi thông thường ấy. Đó là những đề tài khó khăn nhất. Những truyền thống kinh lịch vững chắc, đôi khi chói lọi huy hoàng, đã cống hiến nhiều loại thơ ấy, thành ra thi sĩ chỉ có thể diễn bày những gì riêng biệt của mình khi nào mình đã có được nội lực mãnh liệt trưởng thành toàn triệt. Vì thế hãy tránh những chủ đề to lớn và chỉ nên chọn những chủ đề mà đời sống tầm thường hàng ngày cống hiến cho ông; hãy nói lên những nỗi buồn, những khát vọng, những tư tưởng thoáng hiện trong hồn ông và niềm tin của ông vào một vẻ đẹp mênh mang nào đó. Hãy nói lên những cái ấy với lòng chân thành thắm thiết, lặng lẽ và khiêm tốn,

use the Things around you, the images from your dreams, and the objects that you remember. If your everyday life seems poor, don't blame it; blame yourself; admit to yourself that you are not enough of a poet to call forth its riches; because for the creator there is no poverty and no poor, indifferent place. And even if you found yourself in some prison, whose walls let in none of the world's sound - wouldn't you still have your childhood, that jewel beyond all price, that treasure house of memories? Turn your attention to it. Try to raise up the sunken feelings of this enormous past; your personality will grow stronger, your solitude will expand and become a place where you can live in the twilight, where the noise of other people passes by, far in the distance. And if out of , this turning within, out of this immersion in your own world, poems come, then you will not think of asking anyone whether they are good or not. Nor will you try to interest magazines in these works: for you will see them as your dear natural possession, a piece of your life, a voice from it.

hãy tìm cách dùng những sự vật vây quanh mình để tự diễn đạt mình, những hình ảnh của mộng mị, những sự vật của kỷ niệm xa xôi. Nếu đời sống thường nhật trở nên nhạt nhẽo nghèo nàn đối với ông thì ông đừng bao giờ qui trách nó. Ông hãy tự trách chính ông rằng ông không đủ tâm hồn thi nhân để mà có thể gợi dậy trong lòng mình tất cả sự phong phú miên man của đời sống thường nhất, vì đối với một con người sáng tạo thì chẳng có gì nhạt nhẽo nghèo nàn, chẳng có một nơi chốn nào là khô khan lãnh đạm. Dù ngay lúc ông đang ở trong nhà tù đi nữa, giữa những vách tường bưng bít không để lọt vào những tiếng động của thế gian, phải chăng ngay lúc đó trong lòng ông vẫn luôn luôn còn lại tuổi thơ bé bỏng của ông, kho tàng vương giả quí báu, sự giàu sang tuyệt vời, chứa chất bao nhiêu là kỷ niệm? Hãy hướng tất cả tâm tư ông vào đó. Hãy cố gắng làm tuôn chảy lại ào ạt những cảm giác ẩn chìm phát nguồn từ dĩ vãng bao la đó; cung cách riêng biệt của con người ông sẽ trở nên cứng rắn, nỗi cô đơn của ông sẽ được trải rộng tràn ngập và ông trở thành như một nơi trú ẩn cho những giây phút vô định của ban ngày đóng kín lại những tiếng động bên ngoài. Và mỗi khi trở lại tâm hồn mình, đi sâu vào thế giới của chính mình mà lúc ấy nếu những vần thơ hiện đến thì ông sẽ không bao giờ băn khoăn rằng những vần thơ ấy là hay hoặc dở. Ông sẽ không tìm cách đăng lên báo bởi vì ông coi đó như là một vật sở hữu thân ái tự nhiên, cái gì gần gũi thân thiết đối với ông như là một mảnh đời, một lối sống, một tiếng nói của đời ông.

A work of art is good if it has arisen out of necessity. That is the only way one can judge it. So, dear Sir, I can't give you any advice but this: to go into yourself and see how deep the place is from which your life flows; at its source you will find the answer to, the question of whether you must create. Accept that answer, just as it is given to you, without trying to interpret it. Perhaps you will discover that you are called to be an artist. Then take that destiny upon yourself, and bear it, its burden and its greatness, without ever asking what reward might come from outside. For the creator must be a world for himself and must find everything in himself and in Nature, to whom his whole life is devoted.

Một tác phẩm nghệ thuật chỉ tuyệt vời, có hồn, là khi nào nó xuất phát từ một sự đòi hỏi nhu cầu tâm tư. Chính bản chất của nguồn gốc nó sẽ phán định nó, chứ không có gì khác nữa. Ông thân mến, tôi không có chi để khuyên ông ngoài ra điều này: ông hãy đi vào trong tâm hồn ông, dò dẫm tận những đáy lòng sâu thẳm mà từ đó đời sống ông đã phát nguồn luân lưu. Chính nơi suối nguồn ấy, ông mới tìm được câu trả lời cho câu hỏi: tôi có cần phải sáng tác hay không? Hãy nhận lấy âm hưởng của câu trả lời ấy mà đừng cưỡng bách tra tìm ý nghĩa. Có thể ông được gọi trở thành con người nghệ sĩ, thế thì hãy nhận tài mệnh của mình, gánh lấy thiên tài của mình với sức nặng và sự oanh liệt của sinh mệnh mà không bao giờ đòi hỏi phần thưởng đến từ bên ngoài. Bởi vì con người sáng tạo phải là cả một vũ trụ cho chính mình, phải tìm tất cả mọi sự trong tâm hồn mình, trong thiên nhiên mà mình đã lưu luyến kết hợp.

But after this descent into yourself and into your solitude, perhaps you will have to renounce becoming a poet (if, as I have said, one feels one could live without writing, then one shouldn't write at all). Nevertheless, even then, this self searching that I ask of you will not have been for nothing. Your life will still find its own paths from there, and that they may be good, rich, and wide is what I wish for you, more than I can say.

Có thể là sau khi đi sâu xuống hố thẳm trong tâm hồn mình, trong những gì cô liêu nhất trong tâm tư mình thì ông có thể sẽ bỏ việc làm thi sĩ; (đối với tôi, mình phải cảm thấy rằng mình có thể sống không cần viết thì mình cũng không nên cố sức viết làm gì). Lúc ấy thì dù sao sự đi xuống sâu thẳm trong tâm tư ông cũng không hoàn toàn phù phiếm. Đời sống của ông, dù trong trường hợp nào, cũng lấy hướng đi từ đó. Những hướng đi ấy có thể đối với ông tốt đẹp, giàu sang hạnh phúc và rộng rãi, tôi mong chúc ông được thế, dù khó lòng nói những gì hơn nữa.

What else can I tell you? It seems to me that everything has its proper emphasis; and finally I want to add just one more bit of advice: to keep growing, silently and earnestly, through your whole development; you couldn't disturb it any more violently than by looking outside and waiting for outside answers to questions that only your innermost feeling, in your quietest hour, can perhaps answer.

Tôi phải nói thêm gì nữa đây? Những gì đáng nói thì tôi đã nhấn mạnh rồi. Nói cho cùng, tôi chỉ muốn khuyên ông tiếp tục nẩy nở phát triển theo lề luật của tâm hồn ông, trưởng thành một cách nghiêm trọng, một cách bình thản thư thái trầm lặng. Ông chỉ làm phương hại sự trưởng thành tâm tư ông , một cách phũ phàng, khi ông soi hướng nhìn ra bên ngoài và mong đợi bên ngoài mang đến cho ông những câu trả lời mà chỉ có tình cảm thầm kín nhất trong tâm tư ông, vào giây phút thầm lặng nhất, mới có thể mang đến câu trả lời thực sự cho ông.

It was a pleasure for me to find in your letter the name of Professor Horacek; I have great reverence for that kind, learned man, and a gratitude that has lasted through the years. Will you please tell him how I feel; it is very good of him to still think of me, and I appreciate it.

Tôi rất sung sướng thấy tên giáo sư Horacek trong bức thơ ông, tôi xin tỏ lòng tôn kính và tạ ơn đối với nhà học giả khả ái ấy; lòng kính tạ ấy vẫn còn mãi với thời gian. Ông có thể chuyển lời tôi tới ông ấy? Ông ấy thực là tử tế khi còn nghĩ tới tôi và tôi xin riêng tạ tấm lòng tri ân.

The poem that you entrusted me with, I am sending back to you. And I thank you once more for your questions and sincere trust, of which, by answering as honestly as I can, I have tried to make myself a little worthier than I, as a stranger, really am.

Yours very truly,

Rainer Maria Rilke

Tôi xin gửi trả lại những vần thơ mà ông đã khả ái trao gửi cho tôi và tôi xin cảm ơn chân tình quảng đại của lòng tin cẩn của ông đối với tôi. Trong lời trả lời thành thực này được viết lên với tất cả tâm não, tôi muốn tìm cách tỏ ra xứng đáng hơn với thiện tình của ông mà chính tôi thực ra không thể xứng đáng được ông đối xử như vậy, tôi, một kẻ xa lạ mà ông không hề biết.

Chân thành và tất cả thân ái.

RAINER MARIA RILKE





LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10