MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU


A PASSAGE TO INDIA - CHUYẾN ĐI TỚI ẤN ĐỘ



Friday, April 1, 2011

A Cantata By Robert Burns - Đám người lang thang vui vẻ



A Cantata

By Robert Burns

Đám người lang thang vui vẻ (Cantata)

Robert Burns

Recitativo

WHEN lyart leaves bestrow the yird,

Or wavering like the bauckie-bird,

Bedim cauld Boreas’ blast;

When hailstanes drive wi’ bitter skyte,

And infant frosts begin to bite,

In hoary cranreuch drest;

Ae night at e’en a merry core

O’ randie, gangrel bodies,

In Poosie-Nansie’s held the splore,

To drink their orra duddies;

Wi’ quaffing an’ laughing,

They ranted an’ they sang,

Wi’ jumping an’ thumping,

The vera girdle rang,

Kể:

Khi lá vàng đây đó bắt đầu rơi,

Như cánh chim đang chao nhẹ giữa trời

Vì gió mùa đông đã thổi,

Khi bắt đầu cái lạnh cắn vào da,

Rồi mưa rơi, rồi tuyết phủ lên nhà,

Lên những cành cây trơ trọi,

Ấy là khi một tối nọ, suốt đêm,

Một đám lang thang bất hảo

Trong quán rượu, uống và say, say mèm,

Uống đến cầm quần, gán áo.

Ôi vui sao, Ôi ồn sao,

Họ nói hát, họ cười to hô hố.

Mặt đỏ gay, Họ vỗ tay,

Và dẫm chân đến nhà rung muốn đổ.

First, neist the fire, in auld red rags,

Ane sat, weel brac’d wi’ mealy bags,

And knapsack a’ in order;

His doxy lay within his arm;

Wi’ usquebae an’ blankets warm

She blinkit on her sodger;

An’ aye he gies the tozie drab

The tither skelpin’ kiss,

While she held up her greedy gab,

Just like an aumous dish;

Ilk smack still, did crack still,

Just like a cadger’s whip;

Then staggering an’ swaggering

He roar’d this ditty up—

Một anh lính đang ngồi cạnh bếp lò

Với một chồng gồm túi xách, ba lô,

Áo quần vá ngang vá dọc.

Tay anh ta đang ôm cô tình nhân.

Còn cô này thì nằm gọn trong chăn,

Mắt nhìn người yêu, nhìn cốc.

Tạm thời quên cái buồn đói khi say,

Anh lính ôm hôn cô đĩ.

Còn cô kia chìa môi như chìa tay

Kiên nhẫn chờ xin bố thí.

Rồi rất lâu

Họ hôn nhau,

Tiếng chùn chụt bay ra nghe mà chối.

Rồi bất ngờ,

Mắt lờ đờ,

Anh lính hát, rồng lên nghe mà tội.

Air

Tune—“Soldier’s Joy.”

I am a son of Mars who have been in many wars, And show my cuts and scars wherever I come;

This here was for a wench, and that other in a trench,

When welcoming the French at the sound of the drum.

My ’prenticeship I past where my leader breath’d his last,

When the bloody die was cast on the heights of Abram:

And I served out my trade when the gallant game was play’d,

And the Morro low was laid at the sound of the drum.

Hát:

Là người lính bẩm sinh,

Tôi dày dạn chiến tranh,

Mang trên ngực nhiều vết thương sâu rộng.

Vết thì do đánh nhau,

Vết - bị chém vào đầu

Trong một lần xung phong theo tiếng trống.

Tôi học nghề của tôi

Ở ngay trên ngọn đồi

Có tên gọi Abraham, vào lúc

Ngài chỉ huy hy sinh,

Còn tôi thì quên mình

Ðâm chém giặc, tai luôn nghe trống dục.

I lastly was with Curtis among the floating batt’ries, And there I left for witness an arm and a limb;

Yet let my country need me, with Elliot to head me,

I’d clatter on my stumps at the sound of a drum.

And now tho’ I must beg, with a wooden arm and leg,

And many a tatter’d rag hanging over my bum,

I’m as happy with my wallet, my bottle, and my callet,

As when I used in scarlet to follow a drum.

What tho’ with hoary locks, I must stand the winter shocks,

Beneath the woods and rocks oftentimes for a home,

When the t’other bag I sell, and the t’other bottle tell,

I could meet a troop of hell, at the sound of a drum.

Lần cuối tôi xung phong

Ðúng vào khi vượt sông

Và để lại một chân tôi ở đó.

Nhưng nếu tổ quốc cần,

Tôi lại sẽ hành quân

Cùng tiếng trống và cùng đôi nạng gỗ.

Giờ cụt chân, cụt tay,

Tôi phải đi ăn mày,

Túi cũng rỗng mà lòng cũng rỗng.

Nhưng có rượu bên người,

Có cô này xinh tươi,

Tôi lại vui như xưa, theo tiếng trống.

Dù tóc bạc trắng đầu,

Ðời còn lắm buồn đau

Và nhịn đói, ngủ đường không ít lúc,

Nhưng còn rượu, còn tình,

Quỉ thần và hy sinh

Tôi đếch sợ, chỉ cần nghe trống dục.

Recitativo

He ended; and the kebars sheuk,

Aboon the chorus roar;

While frighted rattons backward leuk,

An’ seek the benmost bore:

A fairy fiddler frae the neuk,

He skirl’d out, encore!

But up arose the martial chuck,

An’ laid the loud uproar.

Kể:

Người lính vừa hát xong,

Căn nhà rung muốn đổ,

Vì mọi người hoan hô.

Chuột nhô đầu nghiêng ngó

Một anh chàng kéo đàn

Ðứng lên kêu: Hát lại!

Nhưng đức bà tình nhân

Ðã hát to hăng hái.

Air

Tune—“Sodger Laddie.”

I once was a maid, tho’ I cannot tell when,

And still my delight is in proper young men;

Some one of a troop of dragoons was my daddie,

No wonder I’m fond of a sodger laddie,

The first of my loves was a swaggering blade,

To rattle the thundering drum was his trade;

His leg was so tight, and his cheek was so ruddy, Transported I was with my sodger laddie.

But the godly old chaplain left him in the lurch;

The sword I forsook for the sake of the church:

He ventur’d the soul, and I risked the body,

’Twas then I proved false to my sodger laddie.

Full soon I grew sick of my sanctified sot,

The regiment at large for a husband I got;

From the gilded spontoon to the fife I was ready,

I askèd no more but a sodger laddie.

But the peace it reduc’d me to beg in despair,

Till I met old boy in a Cunningham fair,

His rags regimental, they flutter’d so gaudy,

My heart it rejoic’d at a sodger laddie.

And now I have liv’d—I know not how long,

And still I can join in a cup and a song;

But whilst with both hands I can hold the glass steady,

Here’s to thee, my hero, my sodger laddie.

Hát:

Tôi từng trinh, tuy chẳng nhớ bao giờ,

Nay tôi già nhưng vẫn thích trai tơ.

Chính bố tôi là quân nhân đáng kính,

Nên dễ hiểu vì sao tôi yêu lính.

Người đầu tiên mà tôi yêu mê say,

Trẻ, đẹp trai, luôn đánh trống suốt ngày,

Dò rất cứng, rậm râu và thích nhảy...

Vâng, phải nói mê anh lính ấy.

Nhưng một ông giáo sĩ tán, yêu tôi,

Khuyên hãy đi theo Chúa - và rồi

Ông để mất tâm hồn, tôi - thể xác.

Vâng, tôi bỏ người yêu, theo kẻ khác.

Chẳng bao lâu tôi lại chán ông già,

Và lấy chồng là cả tiểu đoàn ba,

Từ lính trơn đến sĩ quan hào hiệp,

Ai cũng được tôi yêu và tiếp.

Rồi hòa bình, tôi xách bị xin ăn.

Biết làm sao, lính chết, đĩ không cần.

May tôi gặp người tôi yêu ngày nọ

Là anh lính rách bươm này khốn khổ.

Cuộc đời này tôi sống thế là lâu

Và hài lòng ta được uống cùng nhau.

Còn cốc rượu trong tay là nhất định

Tôi sẽ uống vì người yêu, vì lính.

Recitativo

Poor Merry-Andrew, in the neuk,

Sat guzzling wi’ a tinkler-hizzie;

They mind’t na wha the chorus teuk,

Between themselves they were sae busy:

At length, wi’ drink an’ courting dizzy,

He stoiter’d up an’ made a face;

Then turn’d an’ laid a smack on Grizzie,

Syne tun’d his pipes wi’ grave grimace.

Kể:

Một anh hề trước đó

Ôm một cô láng giềng

Không thèm nghe ai nói

Vì bận làm việc riêng.

Giờ anh ta vì rượu

Hoặc vì tình mà say,

Uống một hơi rồi hát

Một bài hát thế này.

Air

Tune—“Auld Sir Symon.”

Sir Wisdom’s a fool when he’s fou;

Sir Knave is a fool in a session;

He’s there but a ’prentice I trow,

But I am a fool by profession.

My grannie she bought me a beuk,

An’ I held awa to the school;

I fear I my talent misteuk,

But what will ye hae of a fool?

For drink I would venture my neck;

A hizzie’s the half of my craft;

But what could ye other expect

Of ane that’s avowedly daft?

I ance was tied up like a stirk,

For civilly swearing and quaffin;

I ance was abus’d i’ the kirk,

For towsing a lass i’ my daffin.

Poor Andrew that tumbles for sport,

Let naebody name wi’ a jeer;

There’s even, I’m tauld, i’ the Court

A tumbler ca’d the Premier.

Observ’d ye yon reverend lad

Mak faces to tickle the mob;

He rails at our mountebank squad,—

It’s rivalship just i’ the job.

And now my conclusion I’ll tell,

For faith I’m confoundedly dry;

The chiel that’s a fool for himsel’,

Guid L—d! he’s far dafter than I.

Hát:

Người thông minh thành thằng ngốc khi say,

Người dốt thành hề khi tỏ ra có học,

Nhưng làm sao đem ví những người này

Với chính tôi, ngốc có nghề, đại ngốc!

Tôi ngày xưa cũng ăn học như ai.

Bà tôi mua cho sách kinh và thước.

Thế mà học, học mãi chẳng thành tài -

Ðã là ngốc thì đòi gì hơn được!

Vì nát rượu, tôi đã suýt mất đầu.

Nửa phần đời tôi bỏ ra tìm gái.

Chẳng có gì đáng lạ - đã từ lâu

Tôi nổi tiếng một thằng hề vô lại.

Không ít khi tôi vẫn bị nhà thờ

Bắt và đánh vì nói năng vô học,

Vì dám làm các cô gái ngây thơ

Nhàu tí áo và rối đôi sợi tóc.

Tôi là hề, chuyên nhào lộn, leo dây.

Ngốc, càn quấy, nói năng không biết ngượng,

Thế mà nghe ở Luân Ðôn lúc này

Còn có hề hơn tôi là Thủ Tướng.

Các vị nhìn lão cố đạo mà xem.

Lão ta nói rất nhiều lời đẹp đẽ,

Vờ nhăn mặt khinh những kẻ làm tiền,

Nhưng chính lão còn làm ghê hơn thế.

Và cuối cùng - ừ thì không thông minh,

Nhưng chân thật, xin cho tôi được nói:

Rằng những ai ngốc chỉ ngốc cho mình,

Thì người ấy ngốc hơn tôi gấp bội!

Recitativo

Then niest outspak a raucle carlin,

Wha kent fu’ weel to cleek the sterlin;

For mony a pursie she had hooked,

An’ had in mony a well been douked;

Her love had been a Highland laddie,

But weary fa’ the waefu’ woodie!

Wi’ sighs an’ sobs she thus began

To wail her braw John Highlandman.

Kể:

Thằng ngốc im, một bà béo đứng lên,

Không còn xuân, thuộc loại biết moi tiền.

Ai ngú ngớ hay vô tình sơ ý

Là bị bà câu ngay luôn chiếc ví.

Ðã mấy phen bà bị ném xuống hồ

Cho chết chìm mà chẳng chịu chết cho.

Trước bà yêu một chàng Giôn nào đó,

Nhưng không may bị người ta treo cổ.

Giờ đứng lên bà hát, giọng đau buồn,

Về con người bà yêu quí, chàng Giôn.

Air

Tune—“O, an ye were dead, Guidman.”

A Highland lad my love was born,

The Lalland laws he held in scorn;

But he still was faithfu’ to his clan,

My gallant, braw John Highlandman.

Hát:

Giôn của tôi sinh ở chốn rừng xanh.

Chàng lớn lên rất coi thường pháp luật,

Nhưng vẫn yêu, yêu tha thiết quê mình.

Ôi chàng Giôn dịu dàng, cam đảm nhất.

Chorus

Sing hey my braw John Highlandman!

Sing ho my braw John Highlandman!

There’s not a lad in a’ the lan’

Was match for my John Highlandman.

With his philibeg an’ tartan plaid,

An’ guid claymore down by his side,

The ladies’ hearts he did trepan,

My gallant, braw John Highlandman.

We rangèd a’ from Tweed to Spey,

An’ liv’d like lords an’ ladies gay;

For a Lalland face he fearèd none,—

My gallant, braw John Highlandman.

They banish’d him beyond the sea.

But ere the bud was on the tree,

Adown my cheeks the pearls ran,

Embracing my John Highlandman.

But, och! they catch’d him at the last,

And bound him in a dungeon fast:

My curse upon them every one,

They’ve hang’d my braw John Highlandman!

And now a widow, I must mourn

The pleasures that will ne’er return:

The comfort but a hearty can,

When I think on John Highlandman.

Chorus

Sing hey my braw John Highlandman!

Sing ho my braw John Highlandman!

There’s not a lad in a’ the lan’

Was match for my John Highlandman.

Đồng Ca

Nào, nâng cốc vì Giôn.

Nào, hãy hát vì Giôn.

Trên đời này chắc chắn

Không có ai bằng Giôn!

Giôn của tôi luôn đeo kiếm bên người,

Mũ lông chim, váy nhiều màu, khăn xám,

Làm xiêu lòng bao cô gái xinh tươi,

Ôi chàng Giôn vùng cao đầy dũng cảm.

Giôn của tôi đã từng sống yên lành

Từ sông Tweed đến sông Spey tuyệt mỹ.

Không bao giờ chàng sợ đám người Anh.

Ôi chàng Giôn, Giôn của tôi yêu quí.

Thế mà chàng bị kết án đi xa,

May, lạy Chúa, khi mùa xuân vừa tới,

Giôn của tôi lại trốn được về nhà

Ôi chàng Giôn bao ngày tôi mong đợi.

Thế mà rồi chàng bị bắt, than ôi,

Bị tống ngục và bị đem treo cổ.

Tôi nguyền rủa, tôi nguyền rủa suốt đời

Kẻ đã giết chàng Giôn tôi cách đó.

Thế là tôi thành góa bụa, cô đơn,

Thương tiếc nhớ một thời không trở lại.

Nghĩ về Giôn, tôi lại thấy đau buồn.

Ôi chàng Giôn, em yêu chàng mãi mãi.

Nào, nâng cốc vì Giôn.

Nào, hãy hát vì Giôn.

Trên đời này chắc chắn

Không có ai bằng Giôn!

Recitativo

A pigmy scraper wi’ his fiddle,

Wha us’d at trystes an’ fairs to driddle.

Her strappin limb and gausy middle

(He reach’d nae higher)

Had hol’d his heartie like a riddle,

An’ blawn’t on fire.

Wi’ hand on hainch, and upward e’e,

He croon’d his gamut, one, two, three,

Then in an arioso key,

The wee Apoll

Set off wi’ allegretto glee

His giga solo.

Kể:

Một anh chàng chơi đàn viôlông,

Luôn suốt ngày ngoài bãi chợ, đám đông,

Thấy bà kia mới tỏ lòng yêu mến,

Chỉ khốn nỗi một điều -

Anh ta bé, đứng vừa cao đến bẹn,

Ðành ôm đùi người yêu.

Tay cầm đàn, mắt lim dim, anh ta

Quyết định chơi một chút để chiều bà.

Anh ta chạy một bài gam giọng thứ

Suốt một lượt từ đầu.

Rồi cuối cùng, sau một thôi cò cử.

Hát một bài như sau.

Air

Tune—“Whistle owre the lave o’t.”

Let me ryke up to dight that tear,

An’ go wi’ me an’ be my dear;

An’ then your every care an’ fear

May whistle owre the lave o’t.

Hát:

Ðể anh lau nước mắt cho em.

Hãy thành vợ của anh, lúc đó

Em sẽ quên nỗi buồn của em,

Bơ đi cho đỡ khổ!

Chorus

I am a fiddler to my trade,

An’ a’ the tunes that e’er I played,

The sweetest still to wife or maid,

Was whistle owre the lave o’t.

At kirns an’ weddins we’se be there,

An’ O sae nicely’s we will fare!

We’ll bowse about till Daddie Care

Sing whistle owre the lave o’t.

Sae merrily’s the banes we’ll pyke,

An’ sun oursel’s about the dyke;

An’ at our leisure, when ye like,

We’ll whistle owre the lave o’t.

But bless me wi’ your heav’n o’ charms,

An’ while I kittle hair on thairms,

Hunger, cauld, an’ a’ sic harms,

May whistle owre the lave o’t.

Đồng Ca

Nghề của anh là chơi đàn kiếm tiền,

Nhưng tất cả những bài hay nhất

Anh dành riêng cho phụ nữ, tất nhiên,

Còn thì anh bơ tất!

Những nơi nào có tiệc cưới, liên hoan

Là lập tức có anh đến chén.

Những việc khác ngoài ăn và đàn

Anh không thèm biết đến!

Anh và em sẽ gặm xương cùng nhau,

Ngủ đâu đó giữa màn trời chiếu đất.

Rỗi thì ngồi và chỉ hát một câu:

Ðời này ta bơ tất!

Em yên tâm mà lấy anh làm chồng.

Ðừng lo khổ, đói ăn, băng giá,

Chừng nào anh còn kéo đàn viôlông

Thì ta bơ tất cả!

Recitativo

Her charms had struck a sturdy caird,

As weel as poor gut-scraper;

He taks the fiddler by the beard,

An’ draws a roosty rapier—

He swoor, by a’ was swearing worth,

To speet him like a pliver,

Unless he would from that time forth

Relinquish her for ever.

Wi’ ghastly e’e poor tweedle-dee

Upon his hunkers bended,

An’ pray’d for grace wi’ ruefu’ face,

An’ so the quarrel ended.

But tho’ his little heart did grieve

When round the tinkler prest her,

He feign’d to snirtle in his sleeve,

When thus the caird address’d her:

Kể:

Trong khi anh chàng hát

Thì cô nàng, than ôi,

Ðã về tay người khác

Là anh thợ hàn nồi.

Anh hàn nồi cầm đũa

Suýt đâm vào bụng chàng,

Tóm lấy râu, bắt hứa

Sẽ từ bỏ cô nàng.

Anh kéo đàn khốn khổ

Quỳ xuống đất xin tha,

Và tất nhiên đến đó

Kết thúc mối bất hòa.

Nhưng anh chàng thích thú,

Dù đang đau khổ nhiều,

Cười khi nghe đối thủ

Hát nịnh bà người yêu.

Air

Tune—“Clout the Cauldron.”

My bonie lass, I work in brass,

A tinkler is my station:

I’ve travell’d round all Christian ground

In this my occupation;

I’ve taen the gold, an’ been enrolled

In many a noble squadron;

But vain they search’d when off I march’d

To go an’ clout the cauldron.

I’ve taen the gold,

Despise that shrimp, that wither’d imp,

With a’ his noise an’ cap’rin;

An’ take a share with those that bear

The budget and the apron!

And by that stowp! my faith an’ houp,

And by that dear Kilbaigie,

If e’er ye want, or meet wi’ scant,

May I ne’er weet my craigie.

And by that stowp,

Hát:

Thưa bà, tôi

Thợ hàn nồi,

Chuyên làm việc với đồng, với sắt.

Xưa và nay

Với nghề này

Tôi đã đi khắp nơi trên trái đất.

Một thời gian ở trung đoàn

Tôi là lính, chuyên cầm gươm cầm giáo,

Giờ lang thang

Tôi kiếm hàng,

Kiếm miếng ăn bằng vá xoong, vá chảo.

Tôi khuyên bà

Hãy lánh xa

Lão kéo đàn bé con kinh khủng ấy.

Theo ý tôi:

Thợ hàn nồi

Là loại người đáng cho bà tin cậy.

Lấy tôi đi,

Còn chờ gì,

Xin được thề bằng những gì tôi có,

Rằng lấy tôi,

Thợ hàn nồi,

Bà sẽ không bao giờ đói khổ.

Recitativo

The caird prevail’d—th’ unblushing fair

In his embraces sunk;

Partly wi’ love o’ercome sae sair,

An’ partly she was drunk:

Sir Violino, with an air

That show’d a man o’ spunk,

Wish’d unison between the pair,

An’ made the bottle clunk

To their health that night.

But hurchin Cupid shot a shaft,

That play’d a dame a shavie—

The fiddler rak’d her, fore and aft,

Behint the chicken cavie.

Her lord, a wight of Homer’s craft,

Tho’ limpin wi’ the spavie,

He hirpl’d up, an’ lap like daft,

An’ shor’d them Dainty Davie

O’ boot that night.

He was a care-defying blade

As ever Bacchus listed!

Tho’ Fortune sair upon him laid,

His heart, she ever miss’d it.

He had no wish but—to be glad,

Nor want but—when he thirsted;

He hated nought but—to be sad,

An’ thus the muse suggested

His sang that night.

Kể:

Hát vừa xong, bà kia trong nháy mắt

Ôm lấy cổ ông này,

Không hề ngượng, phần vì bà yêu thật,

Và một phần vì say.

Còn anh chàng viôlông thấy vậy,

Cũng không muốn xen vào,

Nên nâng cốc, bằng những lời bóng bẩy

Chúc hai người làm sao

Ngủ ngon đêm ấy.

Nhưng tiếc thay, thần tình yêu ranh mãnh

Chưa chịu rời anh ta,

Xui anh ta ôm một bà bên cạnh

Rồi đưa ra chuồng gà.

Chồng bà kia, một nhà thơ loại cỡ,

Tuy chân ngắn, chân dài,

Phát hiện thấy, làm hai người hoảng sợ,

Và thế là cả hai

Bó tay đêm ấy

Anh nhà thơ là người ưa vui vẻ.

Chuyên hát rong kiếm tiền.

Vầng, cuộc đời lắm buồn đau, tuy thế,

Anh ta chẳng than phiền.

Khát thì uống, đói thì ăn, đơn giản.

Thật là người vô lo.

Anh ta sợ cô đơn và buồn chán,

Nên đã hát ra trò

Khi say đêm ấy.

Air

Tune—“For a’ that, an’ a’ that.”

I am a Bard of no regard,

Wi’ gentle folks an’ a’ that;

But Homer-like, the glowrin byke,

Frae town to town I draw that.

Hát:

Tôi - nghệ sĩ, nhà thơ,

Nhưng bị đời làm ngơ.

Cũng chẳng sao: đến Hôme lỗi lạc

Số phận cũng như tôi

Nên yên tâm, suốt đời

Tôi lang thang hết chỗ này, chỗ khác.

Chorus

For a’ that, an’ a’ that,

An’ twice as muckle’s a’ that;

I’ve lost but ane, I’ve twa behin’,

I’ve wife eneugh for a’ that.

I never drank the Muses’ stank,

Castalia’s burn, an’ a’ that;

But there it streams an’ richly reams,

My Helicon I ca’ that.

Great love Idbear to a’ the fair,

Their humble slave an’ a’ that;

But lordly will, I hold it still

A mortal sin to thraw that.

In raptures sweet, this hour we meet,

Wi’ mutual love an’ a’ that;

But for how lang the flie may stang,

Let inclination law that.

Their tricks an’ craft hae put me daft,

They’ve taen me in, an’ a’ that;

But clear your decks, and here’s—“The Sex!”

I like the jads for a’ that.

Chorus

For a’ that, an’ a’ that,

An’ twice as muckle’s a’ that;

My dearest bluid, to do them guid,

They’re welcome till’t for a’ that

Cũng được thôi,

Cũng tốt thôi,

Sống cùng vợ nói chung là dễ chịu,

Bà cả đi

Có bà dì -

Về khoản vợ, xưa nay tôi chẳng thiếu.

Quả là chưa bao giờ

Tôi được thấy Nàng Thơ,

Hay uống nước Castalie thời cổ.

Nhưng tôi đã uống nhiều,

Và càng uống càng yêu

Cái suối thơ chảy từ thùng bia gỗ.

Tôi uống vì đàn bà,

Vì phụ nữ chúng ta,

Và với họ, tôi là thằng nô lệ

Tôi làm hết mọi điều

Ðể được họ thương yêu,

Nhưng không phạm các lời răn thượng đế.

Ta cứ yêu một cô.

Cứ hạnh phúc tha hồ,

Cứ tận hưởng hết những gì có được.

Nhưng liệu với cô này

Ta sẽ thọ mấy ngày,

Thì quả đúng là không ai biết trước.

Phụ nữ thật là phiền,

Không cho ai được yên,

Và làm ta luôn đau đầu, bực dọc.

Ây thế mà nói chung,

Ta yêu họ vô cùng,

Nào, vì họ, tôi xin mời nâng cốc!

Cũng được thôi,

Cũng tốt thôi,

Sống cùng vợ cứ cho là dễ chịu.

Bà cả đi

Có bà dì -

Về khoản vợ xưa nay tôi chẳng thiếu.

Recitativo

So sang the bard—and Nansie’s wa’s

Shook with a thunder of applause,

Re-echo’d from each mouth!

They toom’d their pocks, they pawn’d their duds,

They scarcely left to co’er their fuds,

To quench their lowin drouth:

Then owre again, the jovial thrang

The poet did request

To lowse his pack an’ wale a sang,

A ballad o’ the best;

He rising, rejoicing,

Between his twa Deborahs,

Looks round him, an’ found them

Impatient for the chorus.

Kể:

Anh nhà thơ vừa hát xong, thi nhau

Tiếng vỗ tay liền nổi dậy váng đầu.

Và để cùng vui uống tiếp,

Ðám người say lận các túi tìm tiền,

Moi từng đồng xu nhỏ còn quên,

Hay gạ gán quần, gán dép.

Mặt đỏ gay, khật khưỡng, mắt lờ đờ,

Họ uống, họ ăn, họ hát.

Và cuối cùng họ đề nghị nhà thơ

Hát thêm một bài balát.

Anh nhà thơ

Không để chờ,

Ðược hai bên hai nàng khích lệ,

Liền bắt đầu,

Và theo sau

Là cả bọn cùng đồng thanh vui vẻ.

Air

Tune—“Jolly Mortals, fill your Glasses.”

See the smoking bowl before us,

Mark our jovial ragged ring!

Round and round take up the chorus,

And in raptures let us sing—

Chorus

A fig for those by law protected!

Liberty’s a glorious feast!

Courts for cowards were erected,

Churches built to please the priest.

What is title, what is treasure,

What is reputation’s care?

If we lead a life of pleasure,

’Tis no matter how or where!

With the ready trick and fable,

Round we wander all the day;

And at night in barn or stable,

Hug our doxies on the hay.

Does the train-attended carriage

Thro’ the country lighter rove?

Does the sober bed of marriage

Witness brighter scenes of love?

Life is al a variorum,

We regard not how it goes;

Let them cant about decorum,

Who have character to lose.

Here’s to budgets, bags and wallets!

Here’s to all the wandering train.

Here’s our ragged brats and callets,

One and all cry out, Amen!

Hát:

Ðêm nay trong quán rượu,

Tay cầm cốc, ta ngồi,

Thế thì chờ gì nữa,

Nào, hãy hát cùng tôi.

Quan tòa ta đếch sợ.

Cố đạo cần nhà thờ,

Thằng hèn cần cung điện,

Ta chỉ cần tự do.

Cần quái gì chức tước,

Cần quái gì cái giàu.

Ta sống không thèm biết

Bằng gì và ở đâu.

Cùng tiếng cười, bài hát,

Suốt ngày ta lang thang.

Ðêm ta ôm bạn gái

Ngủ đâu đó ven làng.

Xe các ngài quí tộc

Dễ gì nhanh hơn ta?

Và giường cưới của họ

Chắc đã êm hơn à?

Cuộc đời đầy rối rắm

Không biết đâu mà lần.

Ai có danh cứ giữ

Còn ta thì đếch cần.

Nào, chúng ta nâng cốc,

Uống vì rượu, vì tiền.

Vì ba lô, tay nải,

Vì đàn bà,

Amen!

Chorus

A fig for those by law protected!

Liberty’s a glorious feast!

Courts for cowards were erected,

Churches built to please the priest.

Đồng ca

Quan tòa ta đếch sợ.

Cố đạo cần nhà thờ,

Thằng hèn cần cung điện,

Ta chỉ cần tự do.


Translated by Thai Ba Tan




http://thaibatan.com/index.php?option=com_content&task=view&id=854&Itemid=32