MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Friday, December 9, 2011

From 9/11 to the Arab Spring Từ 11 tháng 9 đến mùa xuân Arab



From 9/11 to the Arab Spring

Từ 11 tháng 9 đến mùa xuân Arab

Omar Ashour

Omar Ashour

CAIRO – Al Qaeda’s operating environment today is vastly different from the one in which it launched its most notorious operation, the 9/11 terror attacks. Osama bin Laden, Al Qaeda’s founder and charismatic leader, was killed by United States Navy Seals in Pakistan in May. Three brutal Middle East dictatorships were removed this year – two by unarmed civil-resistance tactics and one by a NATO-assisted armed rebellion. Drone attacks have eliminated many of Al Qaeda’s most experienced commanders, including, most recently, Atiyah Abd al-Rahman.

CAIRO – Môi trường hoạt động của Al Qaeda hiện nay khác xa môi trường mà họ thực hiện chiến dịch khủng bố vào ngày 11 tháng 9 năm xưa. Osama bin Laden, là người tổ chức và lãnh tụ được nhiều người mến mộ của Al Qaeda, đã bị lựcc lượng hải quân của Mĩ giết ở Pakistan vào tháng 5 năm nay. Ba chế độ độc tài hung bạo ở Trung Đông đã bị lật đổ - hai chế độ bị lật đổ bằng chiến thuật phản đối phi quân sự của người dân, còn một thì do cuộc khởi nghĩa vũ trang được NATO yểm trợ lật đổ. Những cuộc tấn công của máy bay không người lái đã giết chết nhiều chỉ huy dầy dạn kinh nghiệm của Al Qaeda, trong đó có Atiyah Abd al-Rahman, vừa bị giết chết trong thời gian gần đây.

Has militant jihadism failed, placing Al Qaeda’s survival in doubt?

Jihadism is a modern revolutionary ideology which holds that political violence is a theologically legitimate and tactically efficient way to effect socio-political change. Terrorism dominated the armed activities of many of the groups that subscribe to this worldview, including, of course, Al Qaeda.

Nếu thánh chiến thất bại thì Al Qaeda có tồn tại được hay không?

Thánh chiến (Jihadism) là hệ tư tưởng cách mạng hiện đại, nói rằng bạo lực chính trị là chính danh về mặt thần học và hiệu quả về mặt chiến thuật nhằm thúc đẩy thay đổi về mặt chính trị và xã hội. Khủng bố là hoạt động quân sự chủ yếu của nhiều nhóm gắn bó với thế giới quan này, trong đó dĩ nhiên là có Al Qaeda.

But, while Al Qaeda maintained its ideology after 9/11, its organization changed dramatically. From a centralized, hierarchical organization, it became a highly decentralized structure, with regional branches as the dominant actors.

Nhưng trong khi Al Qaeda vẫn đi theo hệ tư tưởng này thì sau ngày 11 tháng 9 tổ chức của nó đã thay đổi một cách đáng kể. Từ một tổ chức tập quyền, có thứ bậc chặt chẽ, nó đã trở thành tổ chức phi tập trung, các chi nhánh địa phương trở thành tác nhân chủ yếu.

Al Qaeda in the Arabian Peninsula (AQAP) emerged in late 2002 as a force in Saudi Arabia, orchestrating a spectacular attack in Riyadh in 2003. This was followed by the advent of Al Qaeda in Iraq (AQI) in 2004. By 2007, Al Qaeda in the Islamic Maghreb (AQIM) had appeared as well. The “franchise model” had fully taken hold. Ten years after 9/11, however, these franchises are in check, rather than expansion.

Al Qaeda ở bán đảo Arab (AQAP) xuất hiện cuối năm 2002, là lực lượng hoạt động ở Saudi Arabia và tiến hành cuộc tấn công ở Riyadh vào năm 2003. Sau đó xuất hiện tổ chức Al Qaeda ở Iraq (AQI) vào năm 2004. Năm 2007, đến lượt Al Qaeda ở khu vực Maghreb theo Hồi giáo (thuộc ba nước là Maroc, Angerie và Tunisia – ND) (AQIM) xuất hiện. Mô hình “franchise” được áp dụng triệt để. Nhưng mười năm sau ngày 11 tháng 9 các chi nhánh này đã bị chặn lại chứ không phát triển ra được nữa.

Parallel to the “franchise” model, Al Qaeda also has adopted a “spider-web” approach that eschews organization in favor of trained operatives who form small cells to conduct specific attacks and then disband. The attackers on Madrid and London represent this model.

Bên cạnh mô hình “franchise”, Al Qaeda còn áp dụng biện pháp “mạng nhện”, tức là bỏ qua tổ chức mà ưu tiên cho những người hoạt động từ những nhóm nhỏ, được huấn luyện tốt nhằm tiến hành các vụ tấn công và sau đó thì giải tán. Những cuộc tấn công vào Madrid và London là theo mô hình này.

Then there is the “ideological front” model, initially advocated by a famous jihadi strategist, Abu Musab al-Suri. The premise here, as with the spider-web approach, is that the most secure way to organize is without an organization. “This defeats any security arrangement,” al-Suri wrote in a 1,600-page paramilitary manual, The Call for Global Islamic Resistance.

Sau đó là mô hình “mặt trận tư tưởng”, ban đầu được chiến lược gia nổi tiếng của phong trào thánh chiến là Abu Musab al-Suri ủng hộ. Cũng giống như “mạng nhên”, đây là cách tổ chức an toàn nhất mà không cần tổ chức. “Nó có thể đánh bại mọi cơ quan an ninh”, al-Suri viết như thế trong tác phẩm có tên: Kêu gọi phong trào phản đối Hồi giáo trên toàn cầu (The Call for Global Islamic Resistance), dài tới 1.600 trang.

The model works by propagating a narrative describing the severe injustices and humiliation suffered by Muslims, advancing an ideology that identifies the means to remove the grievances, and then letting sympathizers recruit themselves to Al Qaeda or initiate their own operations. This was the model followed in the case of US Army Major Nidal Hasan, who killed 13 fellow soldiers in Fort Hood, Texas, in 2009, and by Roshonara Choudhary, who stabbed the British MP Stephen Timms in 2010.

Mô hình này hoạt động bằng cách tuyên truyền những bài viết mô tả những cảnh bất công và nhục nhã mà người Hồi giáo phải chịu đựng, tìm ra những biện pháp nhằm loại bỏ sự phẫn uất và để cho những cảm tình viên tự động ra nhập Al Qaeda hoặc tự tiến hành hoạt động. Viên thiếu tá Mĩ Nidal Hasan, kẻ đã giết 13 đồng ngũ ở Fort Hood, Texas, vào năm 2009, và Roshonara Choudhary, kẻ đã đâm nghị sĩ Stephen Timms (Anh) vào năm 2010 là theo mô hình này.

Not only has Al Qaeda mutated structurally, but its ideology is constantly open to challenge by the most unlikely suspects. After 9/11, several movements, factions, leading jihadists, and individual militants were highly critical of Al Qaeda’s behavior, and began to move towards non-violence, depriving Al Qaeda of tens of thousands of supporters. This led to the transformation of entire organizations in Egypt, Libya, and Algeria, and of a significant number of individual militants in Saudi Arabia, Yemen, Iraq, Afghanistan, Malaysia, Singapore, Indonesia, and other countries.

Al Qaeda không chỉ thay đổi về mặt tổ chức, hệ tư tưởng của nó cũng bị thách thức. Sau ngày 11 tháng 9, một số phong trào, phe phái, những người thánh chiến nổi tiếng và các chiến binh đơn độc đã phê phán mạnh mẽ hành vi của Al Qaeda và bắt đầu chuyển sang hoạt động bất bạo lực, lấy mất của Al Qaeda hàng chục ngàn ủng hộ viên. Điều đó đã dẫn tới sự chuyển hóa toàn bộ hệ thống ở Ai-cập, ở Libya và Algeria, cũng như một số lượng lớn các chiến binh đơn độc ở Saudi Arabia, Yemen, Iraq, Afghanistan, Malaysia, Singapore, Indonesia và các nước khác.

In Egypt, al-Gama’a al-Islamiyya (Islamic Group, IG), a former Al Qaeda ally that cooperated in the assassination of President Anwar al-Sadat in 1981, has abandoned and delegitimized political violence. The IG, which led an insurgency in Upper Egypt from 1992-1997 and was implicated in the 1993 World Trade Center bombing in New York, started disavowing armed tactics in 1997, and consolidated this change by releasing some 25 volumes of theological and rational arguments to promote their new ideology.

Ở Ai-cập, nhóm al-Gama’a al-Islamiyya (nhóm Hồi giáo, IG), đồng minh cũ của Al Qaeda, tức là tổ chức đã tiến hành ám sát tổng thống Anwar al-Sadat vào năm 1981, đã từ bỏ và coi bạo lực chính trị là bất hợp. IG, từng gây ra tình trạng rối loạn ở Thượng Ai-cập vào giai đoạn 1992-1997 và có dính líu vào vụ đánh bom trung tâm thương mại thế giới ở New York vào năm 1993, đã bắt đầu từ bỏ vũ lực vào năm 1997 và đã củng cố sự thay đổi này bằng cách xuất bản 25 tập sách chứa những luận cứ, cả thần học lẫn duy lí, nhằm quảng bá cho hệ tư tưởng mới của họ.

After Hosni Mubarak’s fall from power in Egypt earlier this year, the IG, rather than stockpiling weapons and rebuilding its armed wing, held internal elections. It asked its members to fill out party registration forms, organized rallies against sectarian violence, issued joint statements with the Coptic Orthodox Church of Assyut in support of peaceful coexistence, and founded a political party (Construction and Development) to stand in elections.

Sau khi Hosni Mubarak bị lật đổ, IG không những không dự trữ vũ khí và tái tổ chức cánh quân sự mà lại tiến hành những cuộc bầu cử nội bộ. Tổ chức này đề nghị các thành viên ghi danh, tổ chức các cuộc biểu tình chống bạo lực mang tính bè phái, và cùng với nhà thờ Cơ đốc giáo ra tuyên bố chung ủng hộ cùng tồn tại hòa bình, cũng như thành lập đảng chính trị (Đảng xây dựng và phát triển) để tham gia các cuộc bầu cử.

The Egyptian al-Jihad Organization, which produced Ayman al-Zawahri, Al Qaeda’s current paramount leader, also initiated a partly successful transformation process. Several of its factions still uphold armed tactics, including terrorism. Others are highly critical of Al Qaeda, and are attempting to form conventional political parties in Egypt.

Phong trào thánh chiến Ai-cập, có tên là Tổ chức al-Jihad, tức là tổ chức sinh ra Ayman al-Zawahri, lãnh đạo cao nhất của Al Qaeda hiện nay, cũng có những thắng lợi ban đầu trong việc cải tổ. Một số phe phái của nó vẫn tiếp tục chiến thuật vũ trang, kể cả khủng bố. Nhưng những phe phái khác thì phê phán triệt để Al Qaeda và đang cố gắng cải cách thành những đảng chính trị thông thường.

The Libyan Islamic Fighting Group (LIFG), another former Al Qaeda ally, abandoned the ideology between 2005 and 2010 and joined the revolution against Col. Muammar el-Qaddafi’s dictatorship. The LIFG leader, Abd al-Hakim Belhaj (a.k.a. Abu Abdullaj al-Sadiq) currently is the commander of the Military Council of Tripoli, and spearheaded the attack on Qaddafi’s Bab al-Aziziya compound.

Nhóm Hồi giáo chiến đấu ở Libya (LIFG), một đồng minh khác của Al Qaeda, cũng đã từ bỏ hệ tư tưởng này trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2010 và đã tham gia vào cuộc cách mạng chống chế độ độc tài của đại tá Muammar el-Qaddafi. Lãnh tụ của LIFG, ông Abd al-Hakim Belhaj (Abu Abdullaj al-Sadiq) hiện là chỉ huy ủy ban quân quản Tripoli, và cũng là người chỉ huy cuộc tấn công vào tổng hành dinh của Qaddafi.

After emerging victorious, Belhaj called for enhancing security, protecting property, ending vendettas, and building a new Libya. The moderate tone was generally consistent with what most of the LIFG leaders have been saying in the last six months, whether in eastern or western Libya. Overall, the Arab Spring delivered a heavy blow to jihadism and significantly undermined its rationale (that armed militancy is the most effective and most legitimate tool for change).

Sau khởi đầu thắng lợi như thế, Belhaj còn kêu gọi củng cố an ninh, bảo vệ tài sản, chấm dứt sự thù nghịch kéo dài và xây dựng một nước Libya mới. Trong suốt 6 tháng qua, đa số các nhà lãnh đạo LIFG đều có giọng điệu ôn hòa, dù ở miền Đông hay miền Tây Libya thì cũng thế. Nói một cách toàn diện, Mùa xuân Arab đã giáng cho phong trào thánh chiến một đòn choáng váng và làm suy yếu đáng kể luận cứ của nó (luận cứ cho rằng chiến đấu bằng vũ lực là biện pháp có hiệu quả nhất và chính danh nhất).

Indeed, the combined effect of intelligence operations, drone attacks, transformations within jihadi ranks, and the Arab Spring has thwarted the power of “Al Qaeda Central.” The franchises and rejigged ideology mean that some fragments of Al Qaeda will probably survive, because they are embedded more deeply within particular localities. But Al Qaeda as a global threat has been severely undermined.

Thực vậy, kết quả tổng hợp của các chiến dịch tình báo, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, sự chuyển hóa từ trong nội bộ phong trào thánh chiến và Mùa xuân Arab đã làm suy yếu sức mạnh của Al Qaeda. Các chi nhánh và hệ tư tưởng được tái cấu trúc có nghĩa là một số bộ phận của Al Qaeda có thể sẽ tiếp tục tồn tại, vì họ đã bén rễ khá sâu vào một số khu vực nào đó. Nhưng Al Qaeda, như là một mối đe dọa toàn cầu, thì đã suy yếu nghiêm trọng.

Omar Ashour is Director of Middle East Graduate Studies at the Institute of Arab and Islamic Studies, University of Exeter (UK), and a visiting fellow at the Brookings Doha Center.

Omar Ashour là giám đốc phòng nghiên cứu trung đông tại Viện nghiên cứu Hồi giáo và Arab, đại học Exeter (Anh), và là cộng tác viên của Brookings Doha Center.


Translated by Phạm Nguyên Trường

http://www.project-syndicate.org/commentary/ashour6/English

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn