MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Friday, November 25, 2011

Angela Merkel’s Vision Thing TẦM NHÌN DÀI HẠN CỦA BÀ ANGELA MERKEL


Angela Merkel’s Vision Thing

TẦM NHÌN DÀI HẠN CỦA BÀ ANGELA MERKEL

Joseph S. Nye

By Joseph S. Nye


CAMBRIDGE – As Europe struggles to save the euro, the chorus of complaints about weak leadership in the world’s major economies grows louder. Many have singled out German Chancellor Angela Merkel for failing to promote a vision of Europe similar to that of her predecessor and mentor, Helmut Kohl. Are the critics right?

CAMBRIDGE – Khi những cuộc chiến đấu của Châu Âu để cứu đồng Euro, âm thanh của các dàn hợp xướng phàn nàn càng phát ra to hơn về sự lãnh đạo yếu kém của những nền kinh tế lớn trên thế giới. Nhiều người đã chỉ trích rằng, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã thất bại trong việc thúc đẩy một tầm nhìn châu Âu, tương tự như của người tiền nhiệm và người cố vấn của bà - ông Helmut Kohl. Liệu các nhà phê bình có đúng không?

Part of what effective leaders do is communicate a vision that gives meaning to policies and inspires others to support these policies (and those who propose them). It is one of the ways in which leaders help to create shared objectives and energize common action. Usually, such a vision provides a scenario for the future that is meant to encourage change, though it may also portray the status quo – or the past – as attractive, thereby encouraging resistance to change.

Một phần những hiệu quả của các nhà lãnh đạo đã làm là truyền đạt một tầm nhìn mang lại ý nghĩa thực tế cho những chính sách và truyền cảm hứng cho những người khác để hỗ trợ các chính sách này (và những người kiến ​​nghị ra chúng). Đây là một trong những cách mà các nhà lãnh đạo làm để tạo ra các mục tiêu chia sẻ và tiếp sinh lực cho hành động chung. Thông thường, một tầm nhìn như vậy cung cấp một kịch bản cho tương lai, có nghĩa là để khuyến khích thay đổi, mặc dù nó cũng có thể giữ nguyên hiện trạng - hoặc như quá khứ – vì cái hấp dẫn của bảo thủ không muốn thay đổi.

Either way, without a vision, it is difficult to lead others anywhere. Frederick Smith, CEO of Federal Express, has argued that “the primary task of leadership is to communicate the vision and values of an organization.”

Dù làm bằng cách nào, mà không có tầm nhìn, thì đều khó khăn để lãnh đạo những người khác ở bất cứ nơi đâu. Frederick Smith - CEO của Federal Express - đã cho rằng "nhiệm vụ chính của lãnh đạo là truyền đạt tầm nhìn và các giá trị của một tổ chức."

But one must be cautious about visions. Sometimes leaders think that vision can solve most of their problems, but the wrong vision – or an overly ambitious vision – can do damage. George H.W. Bush was faulted (and faulted himself) for not having what he called “the vision thing.” When pressed by his staff to speak more boldly and expansively, he replied, “It’s just not me.”

Nhưng người ta cần phải thận trọng về những tầm nhìn của mình. Đôi khi các nhà lãnh đạo nghĩ rằng tầm nhìn có thể giải quyết hầu hết vấn đề của họ, nhưng tầm nhìn sai lầm - một tầm nhìn quá tham vọng - có thể làm hỏng việc. Cựu tổng thống George H.W. Bush đã sai lầm (và là sai lầm của bản thân ông ấy) vì không có cái mà ông gọi là “tầm nhìn dài hạn”. Khi bị nhân viên của ông thúc ép và cởi mở hơn thì, Ông trả lời: "Không phải do tôi sai lầm".

After the shock of the September 2001 terrorist attacks, his son, George W. Bush, developed a far more ambitious vision. As one former adviser put it, he was “irresistibly drawn to Big Ideas like bringing democracy to the Middle East, Big Ideas that stood in sharp contrast to the prudent small ball played by his father.” Yet the elder Bush turned out to have had the better foreign policy.

Sau cú sốc của những cuộc tấn công vào các tổ chức khủng bố hồi tháng 9 năm 2001, con trai của ông, tổng thống George W. Bush, đã phát triển một tầm nhìn đầy tham vọng hơn rất nhiều. Là một trong những cựu cố vấn, Ông ta đã "không thể cưỡng lại để rút ra các ý tưởng lớn như dân chủ hóa Trung Đông, Những Ý tưởng lớn lại đứng vị thế đối lập với sự thận trọng nhỏ trong cuộc chơi của cha ông". Tuy vậy, ông Bush cha đã có một chính sách đối ngoại tốt hơn.

Some aspiring leaders think that they must proclaim a vision that overawes their followers. In practice, however, a successful vision often arises from the needs of the group, which are then formulated and articulated by the leader. The vision that Martin Luther King, Jr., expressed in his “I Have a Dream” speech, for example, was deeply rooted not only in America’s professed values of equality and inclusion, but also in African-Americans’ experience of subordination and exclusion.

Một số lãnh đạo có tham vọng nghĩ rằng họ phải công bố một tầm nhìn đáng nễ đến với những người ủng hộ họ. Tuy nhiên, trong thực tế, một tầm nhìn thành công thường phát sinh từ nhu cầu của nhóm, sau đó được xây dựng và kết nối lại bỡi nhà lãnh đạo. Ví dụ, tầm nhìn của Martin Luther King, Jr, được thể hiện trong bài phát biểu của mình "I Have a Dream", là gốc rễ sâu xa không chỉ ở những giá trị công khai của Mỹ về bình đẳng và hòa nhập, mà còn trong kinh nghiệm của người Mỹ gốc Phi về sự bị lệ thuộc và bị loại trừ khỏi đời sống.

At the same time, the pressure to articulate a vision can get a leader into difficulty. As one university president put it: “Everyone asks, ‘What’s your vision?’ But you offend many people and get into trouble by answering too quickly. The smart response at the beginning is, ‘What do you think?’ and then listen before you articulate your vision.”

Đồng thời, áp lực cũng làm cho một tầm nhìn của một nhà lãnh đạo có thể bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Một chủ tịch trường đại học đã nói: "Mọi người đều hỏi, ‘tầm nhìn của bạn là gì?’ Nhưng bạn sẽ xúc phạm đến nhiều người và gặp rắc rối bỡi cách trả lời quá nhanh. Phản ứng thông minh ngay từ đầu là: "Bạn nghĩ gì?" và sau đó nên lắng nghe trước khi bạn nói lên tầm nhìn của bạn".

A successful vision has to be attractive to various circles of followers and stakeholders. What plays well with one group may not sit well with another. And, to be sustainable, a successful vision must also be an effective diagnosis of the situation that a group faces. Leaders must get the question right before proposing answers. To choose goals and articulate them in a vision, they need not only to solicit input from their followers, but also to understand the context of their choices. They must be able to assess reality accurately.

Một tầm nhìn thành công phải có sức hấp dẫn đối với những nhóm khác nhau cả những người theo quan điểm của bạn và những người đã đặt cược tương lai của họ vào bạn. Chơi với nhau tốt không có nghĩa là có thể ngồi làm việc với nhau được. Và, để được bền vững, một tầm nhìn thành công cũng phải là một đánh giá chính xác tình hình mà nhóm phải đối mặt. Các nhà lãnh đạo phải có được những câu hỏi ngay trước khi đề xuất câu trả lời. Việc chọn các mục tiêu và kết nối các thành viên trong một tầm nhìn, cái lãnh đạo cần không phải là chỉ thu hút các các tín đồ của họ, mà còn phải hiểu bối cảnh họ đã chọn lựa. Hay nói đúng nghĩa là các lãnh đạo phải có khả năng đánh giá thực tế chính xác.

The boldness of a vision varies with the type of leadership involved. Leaders of social movements can call forth larger visions than public officials can. A movement leader can promote a vision that is miles ahead of his followers, while a prime minister with multiple objectives and responsibilities must maintain a continuous dialogue with the public, which keeps him or her from moving too far ahead of citizens. After former US Vice President Al Gore lost his bid for the presidency in 2000, he became a leader of the social movement to combat global climate change, and his style changed from pragmatic to inspirational and prophetic.

Tính rõ ràng của một tầm nhìn thay đổi với các loại lãnh đạo khác nhau khi vào cuộc. Các nhà lãnh đạo phong trào xã hội có thể làm cho tầm nhìn của mình ra với cộng đồng lớn hơn so với các công chức văn phòng. Một nhà lãnh đạo phong trào có thể thúc đẩy một tầm nhìn có tác động với cộng đồng đi xa bằng các cộng sự của mình, vì một thủ tướng có nhiều mục tiêu và trách nhiệm để làm, phải duy trì vấn đề đối thoại liên tục với công chúng, mà lại không được xa rời công chúng. Sau khi cựu Phó Tổng thống Mỹ Al Gore bị thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2000, ông trở thành một nhà lãnh đạo của phong trào xã hội để chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu, và phong cách của ông phải thay đổi cho phù hợp với thực tế để trở thành một nhà truyền cảm hứng và tiên tri việc của ông sẽ làm.

Analysts judge a government leader’s vision in terms of whether it creates a sensible balance between realism and risk, and whether it balances objectives with capabilities. Anyone can produce a wish list, but effective visions combine inspiration with feasibility.

Các nhà phân tích đánh giá tầm nhìn một nhà lãnh đạo chính phủ là đánh giá về mặt mà lãnh đạo có tạo ra một sự cân bằng hợp lý giữa chủ nghĩa hiện thực và các nguy cơ, lãnh đạo có cân bằng được các mục tiêu với năng lực của mình hay không. Bất cứ ai cũng có thể tạo ra những ước muốn, nhưng những tầm nhìn hiệu quả phải đi với sự cảm hứng có tính khả thi.

Critics of former British Prime Minister Tony Blair, for example, acknowledged that his ability to articulate a vision was one of his great strengths as a leader, but complained about his lack of attention to detail. Similarly, two twentieth-century US presidents, Woodrow Wilson and George W. Bush, were good at articulating an ambitious foreign-policy vision, but were poor at refining and reshaping their vision when they encountered implementation challenges. Both promoted democracy, but both did so in a manner that generated a backlash against democracy promotion.

Ví dụ, những người chỉ trích cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, thừa nhận rằng khả năng của ông có tầm nhìn là một trong những điểm mạnh của ông ta như là một nhà lãnh đạo, nhưng phàn nàn về đức tính thiếu sự quan tâm đến những chi tiết nhỏ. Tương tự như vậy, thế kỷ XX, hai tổng thống Mỹ, Woodrow Wilson và George W. Bush, được xem là có một tầm nhìn chính sách đối ngoại đầy tham vọng, nhưng là những người thiếu sự tinh tế và định hình lại tầm nhìn của họ khi họ gặp phải những thách thức trong lúc thực hiện quyền lực. Cả hai ông đều phát huy dân chủ, nhưng cả hai đã thực hiện nó theo cách bị phản tác dụng dữ dội làm cho nó trở thành chống lại thúc đẩy dân chủ.

Of course, prudence is not enough. Sometimes leaders need to stretch the boundaries of realism to inspire their followers and call forth extra effort, as Winston Churchill did in Great Britain in 1940. But, without a degree of prudence based upon comprehension of the context, visions turn from grand to grandiose and undercut the values that they seek to promote.

Tất nhiên, sự thận trọng là chưa đủ. Đôi khi các nhà lãnh đạo cần mở rộng ranh giới của chủ nghĩa hiện thực để truyền cảm hứng đến người ủng hộ và kêu gọi nỗ lực lớn từ bên ngoài, như Winston Churchill đã làm ở Anh vào năm 1940(2). Tuy nhiên, không có một mức một độ thận trọng nào được dựa trên sự hiểu biết về bối cảnh, tầm nhìn từ lớn đến đại qui mô và cách cắt xén các giá trị thực tế mà họ tìm cách thúc đẩy cho tầm nhìn của mình được hiện thực.

Like Franklin Roosevelt, who acted very cautiously in trying to persuade American opinion to abandon isolationism in the 1930’s, Merkel has proceeded cautiously on saving the euro. She faced public skepticism about using German funds to bail out the Greek economy. Her coalition was divided on the issue, and her party lost state elections. If she had acted more boldly, she might have lost even more support, but the steps that she agreed to remained insufficient to reassure markets.

Giống như Franklin Roosevelt, người đã hành động rất thận trọng trong việc cố gắng thuyết phục quan điểm ​​của người Mỹ để từ bỏ chú nghĩa biệt lập trong những năm 1930s, bà Merkel đã tiến hành thận trọng về tiết kiệm đồng Euro. Bà phải đối mặt với thái độ hoài nghi của công chúng về việc sử dụng các quỹ của nước Đức để giải cứu nền kinh tế Hy Lạp. Liên minh của bà bị chia rẻ về vấn đề này, và đảng của bà đã bị thất bại trong cuộc bầu cử toàn quốc. Nếu bà hành động mạnh dạn hơn, bà có thể đã mất đi nhiều sự hỗ trợ hơn, nhưng các bước đi để dẫn đến sự đồng ý của bà vẫn không đủ để trấn an thị trường.

At the end of October, however, she finally articulated a vision of the future of Europe that persuaded the German Bundestag to agree to a package of measures to save the euro. Whether she waited too long – and whether her vision will prove convincing – will be determined in the coming months.

Tuy nhiên, vào cuối tháng Mười vừa qua, cuối cùng bà Merkel cũng đã nói rõ một tầm nhìn về tương lai của châu Âu, bà đã thuyết phục được Hạ viện Đức(German Bundestag)(3) đồng ý một gói các biện pháp để cứu đồng Euro. Cho dù bà đã chờ đợi quá lâu - và cho dù tầm nhìn của bà sẽ được chứng minh một cách thuyết phục – nhưng tầm nhìn ấy sẽ được xác định rõ trong những tháng tới.

Joseph Nye, a former US assistant secretary of defense, is a professor at Harvard and the author of The Future of Power.

Joseph Nye, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng thời tổng thống Bill Clinton, giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn Tương lai của quyền lực (The Future of Power).

Project Syndicate, 2011



Translated by BS HO HAI

http://www.project-syndicate.org/commentary/nye100/English

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn