MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Wednesday, October 5, 2011

Meet the New Mao Làm quen với tân Mao

http://anhbasam.files.wordpress.com/2011/10/xi_jinping2.jpg

Meet the New Mao
Làm quen với tân Mao
By Bruce Gilley - September 28, 2011
Bruce Gilley - 28-09-2011
It may be time to concede that China’s leader-in-waiting, Xi Jinping, is not the moderate that many have assumed. Indeed, evidence from his past suggests that Xi is going to steer China in a more aggressive direction, both domestically and internationally. As his time in office nears, Xi is evincing signs of being a narrow nationalist on foreign policy and of having a penchant for police actions in dealing with domestic frictions. Hence, his rise could signify that the long struggle between Maoists and reformers that characterized China’s “reform era” is now ending. That era’s replacement could be something more like the struggle that characterized the early years of the People’s Republic, when social progressives who believed in Marxist theories of social emancipation struggled against anti-Japanese (and anti-American) nationalists who were more taken with Lenin’s theories of political control. Xi is clearly in the latter camp, siding with order and power over social progress, and he may lead China in a very unpleasant direction.
Có lẽ đã đến lúc phải thừa nhận rằng, ông Tập Cận Bình, người sắp trở thành lãnh đạo Trung Quốc, không phải là người ôn hoà như nhiều người nghĩ. Thật vậy, bằng chứng trong quá khứ cho thấy, ông Tập Cận Bình sẽ lèo lái Trung Quốc theo đường hướng hung hãn hơn, cả đối nội lẫn đối ngoại. Gần đến lúc nhậm chức, ông Tập Cận Bình đã bộc lộ những dấu hiệu về chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong chính sách đối ngoại và ý muốn sử dụng bộ máy cảnh sát để đối phó với những bất đồng trong nước. Do đó, sự thăng tiến của ông ta có thể báo hiệu rằng, cuộc đấu tranh lâu dài giữa những người theo chủ nghĩa Mao và những nhà cải cách, biểu thị cho “thời kỳ cải cách” ở Trung Quốc đã đến hồi kết thúc. Sự thay đổi trong thời kỳ này có thể là điều gì đó giống như cuộc đấu tranh trong những năm đầu của nước Cộng hoà Nhân dân [Trung Hoa], khi những nhà cấp tiến xã hội tin rằng, học thuyết Mác-xít giải phóng xã hội, đấu tranh chống lại những người theo chủ nghĩa dân tộc chống Nhật (và cả chống Mỹ), là những người theo học thuyết Lênin, nắm quyền kiểm soát chính trị. Rõ ràng ông Tập Cận Bình thuộc phe chủ nghĩa dân tộc, đặt trật tự và quyền lực lên trên tiến bộ xã hội, và ông ta có thể sẽ dẫn dắt Trung Quốc theo đường hướng không mấy dễ chịu.
Foreign policy is where new Chinese leaders tend to make their mark quickly, given the small number of people involved compared to domestic policy. Thus it’s also the area where the question of who’s in charge in Beijing really matters, and the fine art of Pekingology remains important. Vice president Joe Biden came away from an August visit praising Xi as “strong” and “pragmatic.” Biden is probably right. But Xi’s strength and pragmatism do not necessarily augur well for those fearful of a rising China.
Chính sách đối ngoại là điều mà các lãnh đạo mới Trung Quốc có khuynh hướng tạo dấu ấn một cách nhanh chóng, do có ít người liên quan so với chính sách đối nội. Do vậy, đây cũng là lĩnh vực mà câu hỏi, ai đang nắm quyền ở Bắc Kinh thì thực sự quan trọng, và thuật về sự cai trị của Bắc Kinh vẫn còn quan trọng. Sau chuyến công du của Phó Tổng thống [Mỹ] Joe Binden hồi tháng 8, đã khen ngợi ông Tập Cẩn Bình là người “mạnh mẽ” và “thực tế”. Ông Biden có thể đúng, nhưng tính mạnh mẽ và thực tế của ông Tập Cận Bình chưa hẳn là điềm báo tốt đẹp cho những ai lo sợ về một nước Trung Hoa đang trỗi dậy.
The first time that Xi’s “strong” dark side emerged publicly was in 2009 when on a visit to Mexico, he told local Chinese, “Well-fed foreigners have nothing better to do but point fingers at China. But China does not export revolution, we do not export poverty and hunger, and we do not interfere in the affairs of others. So what is there to complain about?”
Mặt tối về sự “mạnh mẽ” của ông Tập Cận Bình thể hiện công khai lần đầu vào năm 2009, trong chuyến thăm Mêhicô, khi ông ta nói với những người Trung Hoa ở đó rằng: “Những người ngoại quốc ăn no rửng mỡ chẳng có gì làm tốt hơn là chỉ trích Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc không xuất khẩu cách mạng, chúng tôi không xuất khẩu nghèo đói và chúng tôi không can thiệp vào công việc nội bộ của người khác. Vậy có gì phải phàn nàn [chúng tôi]?“
Xi’s “three did nots,” as they have become known, have won plaudits from the country’s nationalists, including the authors of the vitriolic 1996 book The China That Can Say No. These nationalists express hope that Xi will be the first leader since Mao who is willing to stand up to the West. In early September, Xi told students at the Central Party School, the party’s elite training academy in Beijing, that “two overriding objectives—the struggle for both national independence and popular liberation, which is to say the realization of both state power and popular wealth—have always been closely related. The former has always been the basis of the latter.”
“Ba cái không làm” của ông Tập Cận Bình mà mọi người biết, đã được những người theo chủ nghĩa dân tộc của nước này hoan nghênh nhiệt liệt, kể cả các tác giả của cuốn sách đầy cay độc:”Trung Quốc có thể nói không“, xuất bản năm 1996. Những người theo chủ nghĩa dân tộc này bày tỏ hy vọng rằng, ông Tập Cận Bình sẽ là nhà lãnh đạo đầu tiên sau ông Mao, có thể sẵn sàng đứng lên đối đầu với phương Tây. Đầu tháng 9 vừa qua, ông Tập Cận Bình nói với các sinh viên tại Trường Ðảng Trung ương, một học viện đào tạo thành phần ưu tú của đảng ở Bắc Kinh, rằng: “Hai mục tiêu quan trọng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, mà chính là sự thực hiện cả quyền lực nhà nước và sự thịnh vượng của nhân dân, luôn luôn liên hệ chặt chẽ với nhau. Mục tiêu đầu luôn là cơ sở cho mục tiêu sau“.
Domestically, the same strongman style was evident in Xi’s support of the head-cracking Bo Xilai’s tenure in Chongqing. Another princeling who is also certain to join the ruling Politburo Standing Committee in 2012, Bo wiped out organized crime in the city with an indiscriminate 2009 sweep that ignored due process. Visiting the city in late 2010, Xi effused that the “hair-raising struggle to ‘combat triad gangs and extirpate evil criminals’” was “deeply popular” and praised the local security apparatus for “taking the lead” to root out the problem. His promotion of the “Chongqing model” has been sometimes interpreted as a return to Maoism. Instead, it is better seen as a return to the nationalist police state, more Chiang Kai-shek than Mao Zedong.
Về mặt đối nội, ông Tập Cận Bình cũng thể hiện phong cách mạnh mẽ như thế, đã ủng hộ ông Bạc Hy Lai, lãnh đạo khét tiếng đàn áp ở Trùng Khánh. Ông Bạc Hy Lai (1), một ông vua con khác, chắc chắn cũng sẽ tham gia vào Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị năm 2012, đã tiến hành triệt hạ tội phạm có tổ chức trong thành phố năm 2009, với một đợt càn quét bừa bãi, bỏ qua các thủ tục pháp lý. Khi đến thăm thành phố [Trùng Khánh] hồi cuối năm 2010, ông Tập Cận Bình đã thổ lộ rằng, “cuộc đấu tranh nguy hiểm, ‘chống lại các các băng đảng hội tam hoàng và diệt trừ tội ác’” thì “được dân chúng hoàn toàn hưởng ứng” và ca ngợi bộ máy an ninh địa phương đã “dẫn đầu” trong việc diệt trừ tận gốc nạn tội phạm. Sự khích lệ của ông ta qua “mô hình Trùng Khánh” đôi khi được hiểu như là sự trở lại của chủ nghĩa Mao (2). Thay vào đó, mô hình Trùng Khánh được xem như sự quay trở lại của nhà nước cảnh sát dân tộc chủ nghĩa, giống Tưởng Giới Thạch hơn là Mao Trạch Ðông.
In mid-July, Xi was despatched to Lhasa to preside at the “celebration” of the sixtieth anniversary of the “liberation” of Tibet. In stark contrast to the conciliatory and humane policies of former party chief Hu Yaobang, whose visit to Tibet in 1980 marked the last chance for a real reconciliation with the region, Xi’s visit was a study in domination. An overwhelming police and secret-service presence swamped the city, and nary a Tibetan was seen on the official podium. The city was in total lock-down and Xi was flanked by military and security personnel everywhere he went. He even brought his own water for drinking, cooking and bathing, according to Chinese media reports, so afraid was he of being poisoned. Xi made no attempt to mix with ordinary Tibetans and instead delivered a hard-line seventy-minute speech attacking the Dalai Lama and stressing the importance of the massive military presence in the region.
Giữa tháng 7, ông Tập Cận Bình đã được cử tới Lhasa để chủ trì “lễ kỷ niệm” lần thứ 60, ngày “giải phóng” Tây Tạng. Trái ngược với chính sách hòa giải và nhân đạo của ông Hồ Diệu Bang, cựu lãnh đạo đảng, người đã có chuyến thăm Tây Tạng năm 1980, chuyến thăm được đánh dấu là cơ hội cuối cùng để hoà giải thực sự với Tây Tạng, chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là một chuyến nghiên cứu về sự thống trị. Sự hiện diện dày đặc của mật vụ và cảnh sát tràn ngập thành phố, và không thấy một người Tây Tạng nào trên khán đài chính. Thành phố gần như hoàn toàn bị phong tỏa và ông Tập Cận Bình được đông đảo nhân viên an ninh và quân đội hộ tống ở tất cả mọi nơi mà ông ta đến. Theo tin từ truyền thông Trung Quốc, thậm chí ông ta còn mang theo cả nước để uống, nấu ăn và tắm rửa, do quá lo sợ bị đầu độc. Ông Tập Cận Bình đã không hề nỗ lực hoà nhập với người dân Tây Tạng, thay vào đó, ông đã có bài phát biểu cứng rắn dài 70 phút, tấn công Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhấn mạnh đến tầm quan trọng về sự hiện diện đông đảo của lực lượng quân đội trong vùng.
What is behind this “blood and iron” Xi? Conventional wisdom holds that this son of a CCP moderate—Xi Zhongxun, who suffered under Mao—Xi is a reformist. Indeed, his career in the south coastal provinces showed that he was keen on economic reforms and administrative effectiveness. But the reform era is over, and those debates are past. The debates now are between the Marxist progressives, many of whom earned their spurs within party organizations and in poor inland areas, and the Leninist nationalists, many of whom, like Xi, moved up through technocratic positions in government, usually in wealthy coastal areas. The Marxist progressives care most about social equity and party ideology, while the Leninist nationalists care most about national power and party discipline.
Ðiều gì đằng sau ông Tập Cận Bình “sắt và máu” này? Người ta cho rằng ông Tập Cận Bình – con trai của nhà lãnh đạo ĐCSTQ ôn hòa, ông Tập Trọng Huân (3), là người đã từng chịu đựng đau khổ dưới thời Mao – là nhà cải cách. Thực ra, sự nghiệp của ông Tập Cận Bình hồi còn ở các tỉnh duyên hải miền Nam cho thấy rằng, ông ta hăng hái trong cải tổ kinh tế và hiệu quả hành chính. Nhưng thời kỳ cải cách đó đã qua và những tranh luận [về đường lối cải cách] đã thuộc về quá khứ. Các cuộc tranh luận hiện nay giữa những người Mác-xít cấp tiến, nhiều người trong số đó có được uy tín trong các tổ chức đảng và ở các khu vực nghèo sâu trong nội địa, và với những người Lênin-nít dân tộc chủ nghĩa mà nhiều người trong số họ như ông Tập Cận Bình, đã thăng tiến qua các chức vụ kỹ trị trong chính quyền, thường ở những vùng duyên hải giàu có. Các nhà Mác-xít cấp tiến quan tâm chủ yếu đến bình đẳng xã hội và ý thức hệ của đảng, trong khi những nhà dân tộc chủ nghĩa Lênin-nít chủ yếu quan tâm đến sức mạnh quốc gia và kỷ luật Ðảng.
Xi clearly falls into the latter group. He cares little for the issues of “social harmony,” “people-centered development” and “scientific development” that have absorbed the attentions of the two Marxist progressives who have been in charge since 2002 (Hu Jintao and Wen Jiabao). Instead, his focus is on state power, exerted both domestically and internationally.
Ông Tập Cận Bình rõ ràng thuộc về nhóm sau. Ông chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề “xã hội hài hòa“, “phát triển lấy con người làm trọng tâm” và “phát triển mang tính khoa học” là những điều thu hút sự chú ý của hai nhà Mác-xít cấp tiến là ông Hồ Cẩm Ðào và ông Ôn Gia Bảo, là những người đã nắm quyền lãnh đạo từ năm 2002 cho đến nay. Thay vào đó, ông chú trọng đến quyền lực nhà nước, được áp dụng cả trong các vấn đề đối nội lẫn đối ngoại.


For the United States, while Biden’s brand of goodwill is appropriate at the diplomatic level, foreign-policy planners need to consider the growing possibility of a more confrontational foreign policy under Xi Jinping.
Ðối với Hoa Kỳ, trong khi cử chỉ đầy thiện chí của Phó Tổng Thống Biden thích hợp ở cấp độ ngoại giao, các nhà hoạch định chính sách ngoại giao [Mỹ] cần xem xét đến khả năng gia tăng về chính sách đối ngoại có tính đối đầu hơn [của Trung Quốc] dưới thời ông Tập Cận Bình.
Bruce Gilley is an assistant professor of political science at Portland State University’s Mark O. Hatfield School of Government and the author of The Right to Rule: How States Win and Lose Legitimacy.
Ông Bruce Gilley là phụ tá giáo sư khoa học chính trị tại Trường Hành chính Nhà nước Mark O. Hatfield thuộc Porland State University, và là tác giả của quyển sách “Quyền Thống Trị: các nhà nước đã có được cũng như đánh mất tính chính danh như thế nào“.
The national Interest
Ghi chú:
(1) Cha của ông Bạc Hy Lai là Bạc Nhất Ba, được xem như là một trong tám nhà lãnh đạo bất tử của Ðảng CS Trung Quốc. Ông Bạc Nhất Ba từng là ủy viên bộ chính trị, phó thủ tướng. Bị Mao thanh trừng, sau được Ðặng Tiểu Bình phục hồi, làm Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Nhà nước.
(2) Chủ nghĩa này vốn thường coi đàn áp của cảnh sát hay bạo lực chuyên chế là biệt pháp hữu hiệu duy nhất để tiêu diệt các lực lượng chống đối, bất kể là đối kháng chính trị hay tội ác xã hội.
(3) Ông Tập Trọng Huân giữ chức phó thủ tướng từ 1959 – 1962. Đến năm 1962 thì ông bị thanh trừng vì bị coi là không trung thành với Mao. Sau được Ðặng Tiểu Bình phục hồi, giữ chức Bí thư tỉnh Quảng Ðông năm 1979-1981. Ðặc biệt, về cuối đời, ông ta công khai phê phán vụ đàn áp Thiên An Môn.

Translated by Nguyễn Trùng Dương

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn