MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Sunday, August 14, 2011

LE TRADUCTEUR CLEPTOMANE Dịch giả mắc bệnh chôm


LE TRADUCTEUR CLEPTOMANE

Dezsö KOSZTOLÁNYI

Traducteur: Péter Adám / Maurice Regnaut

(from Hungarian)

Dịch giả mắc bệnh chôm

Tác giả: Dezső Kosztolányi

Dịch giả: Kiến Văn

(từ bản tiếng Hung)

Nous parlions de poètes et d'écrivains, d'anciens amis qui avaient commencé la route avec nous, jadis, ils étaient ensuite restés en arrière et leur trace s'était perdue.

De temps en temps nous lancions en l'air un nom. Qui se souvient encore de?... Nous hochions la tête et nos lèvres esquissaient un vague sourire. Dans le miroir de nos yeux apparaissait un visage que nous avions cru oublié, une carrière et une vie brisées. Qui en a entendu parler? Vit-il encore? Pour toute réponse il n'y avait que le silence. Dans ce silence, la couronne desséchée de sa gloire craquelait comme les feuilles mortes dans un cimetière. Nous nous taisions.

Trong cuộc nói chuyện, chúng tôi nhắc tới tên những nhà thơ nhà văn, những người bạn xưa kia đồng hành, rồi một lúc nào đó, nửa đường đứt gánh, mất luôn tăm tích. Có ai còn nhớ... không nhỉ ? Chúng tôi gật đầu, hé môi cười. Nhìn trong mắt nhau, chúng tôi bỗng nhận ra một khuôn mặt tưởng đã quên hẳn, một sự nghiệp gãy cánh, một cuộc đời dang dở. Ai có tin tức gì của... không nhỉ ? Sống chết ra sao ? Câu trả lời duy nhất là im lặng. Trong im lặng, vòng nguyệt quế của vinh quang khô khốc rạn vỡ như những chiếc lá khô trong nghĩa địa. Chúng tôi lặng im.

Nous nous taisions toujours, depuis de longues minutes, quand voilà que quelqu'un prononce le nom de Gallus.

— Le pauvre, dit Kornél Esti. Moi je l'ai encore vu, il y a des années, ça doit faire déjà sept ou huit ans, et dans des conditions très tristes. Il lui était alors arrivé, à propos d'un roman policier, une histoire qui elle-même en est un, le plus palpitant et le plus douloureux que j'aie jamais vécu.

Cứ thế, nhiều phút, chúng tôi lặng im, rồi bỗng ai đó nói đến tên Gallus.

- Tội nghiệp anh ta, Kornél nói. Cách đây mấy năm tôi còn gặp. Bảy tám năm rồi, buồn lắm. Anh ta vấp phải một chuyện liên quan tới cuốn tiểu thuyết trinh thám. Bản thân câu chuyện tự nó đã là một cuốn tiểu thuyết rồi, bất ngờ và đau xót chưa từng thấy.

Ainsi donc vous l'avez connu, ne serait-ce qu'un peu. C'était un garçon de talent, brillant, plein d'intuition, et, qui plus est, consciencieux et cultivé. Il parlait plusieurs langues. Il savait si bien l'anglais que le prince de Galles lui-même, dit-on, aurait pris

des leçons auprès de lui. Il avait vécu quatre ans à Cambridge.

Hoá ra các bạn cũng biết anh ta, ít nhiều cũng là chỗ sơ giao. Tài năng, xuất sắc, trực giác mẫn cảm, văn hoá cao, cần mẫn chi ly. Thạo nhiều ngoại ngữ. Rất giỏi tiếng Anh, nghe đồn đã dạy thái tử Anh đấy. Anh ta sống bốn năm ở Cambridge mà.

Mais il avait un défaut fatal. Non, il ne buvait pas. Mais il raflait tout ce qui lui tombait sous la main. Il était voleur comme une pie. Que ce soit une montre de gousset, des pantoufles, ou un énorme tuyau de poêle, aucune importance. Il ne se préoccupait pas plus de la valeur de ses larcins que de leur volume et de leur dimension. Il ne voyait même pas le plus souvent leur utilité. Son plaisir consistait simplement à faire ce qu'il ne pouvait pas ne pas faire: voler. Nous, ses amis les plus proches, nous nous efforcions de lui faire entendre raison. Avec affection nous faisions appel à ses bons sentiments. Nous le réprimandions, nous le menacions. Lui, il était d'accord. Il ne cessait de promettre de lutter contre sa nature. Mais sa raison avait beau se défendre, sa nature était la plus forte. Sans arrêt il récidivait.

Tội một cái, anh ta có cái tật quái ác. Không, rượu chè thì không. Chỉ có cái tật là mó tay vào cái gì là cầm nhầm cái ấy. Bạ cái gì cũng thó. Đồng hồ bỏ túi, giầy dạ đi trong nhà, cái ống khói lò sưởi to đùng, cũng chôm tất tật. Bất kể to nhỏ, đắt tiền hay rẻ mạt, cũng chẳng cần biết lấy cắp để làm gì. Cái thú của anh ta, cái thú duy nhất là làm cái việc mà anh ta không thể nào không làm: ăn cắp. Lũ bạn thân chúng tôi tìm đủ cách khuyên bảo. Chúng tôi dùng tình cảm. Chúng tôi mắng, chúng tôi doạ. Anh ta cũng nghe. Anh ta hứa sẽ đấu tranh với bản thân. Nhưng vô phương. Ngựa quen đường cũ, anh ta liên tục tái phạm.

Plus d'une fois il s'est trouvé confondu et humilié en public par des inconnus, plus d'une fois il a été pris sur le fait, et nous alors, nous devions déployer d'incroyables efforts pour effacer d'une manière ou d'une autre les conséquences de ses actes. Mais un jour, dans l'express de Vienne, il a soustrait son portefeuille à un négociant morave qui sur-le-champ l'a saisi au collet et, à la station suivante, l'a remis aux gendarmes. On l'a ramené pieds et poings liés à Budapest.

Nhiều lần anh ta bị người lạ chộp được và sỉ nhục giữa nơi công cộng. Có lần bị bắt quả tang, khiến chúng tôi phải tìm cách giải quyết hậu quả hành động của anh ta. Rồi một hôm, trên chuyến xe lửa tốc hành đi Wien, anh ta nhót cái bóp của một tay lái buôn người Moldavia, bị tay này vớ được, tàu đến ga sau, trao ngay cho sen đầm. Thế là anh ta bị còng tay xích chân áp tải trở về Budapest.

De nouveau nous avons essayé de le sauver. Vous qui êtes écrivains, vous n'êtes pas sans savoir que tout dépend des mots, la valeur d'un poème aussi bien que le sort d'un homme. Nous avons tenté de prouver que c'était un cleptomane et non un voleur. Cleptomane est en général quelqu'un qu'on onnaît, voleur quelqu’un qu'on ne connaît pas. Le tribunal ne le connaissait pas, aussi l'a-t-il jugé comme voleur et condamné à deux ans de prison.

Chúng tôi lại tìm cách cứu vớt. Các bạn là nhà văn, các bạn biết sức mạnh của câu chữ. Giá trị một bài thơ, số mệnh một con người, một câu một chữ có thể thay đổi hẳn. Chúng tôi đã tìm cách chứng minh anh ta không phải là một tay ăn cắp, mà là người mắc bệnh chôm, kleptomania. Người quen mới biết là mắc bệnh, người lạ thì đổ tội ăn cắp. Toà án không quen anh ta, nên quy anh ta là ăn cắp và kết án hai năm tù.

Après sa libération, par une sombre matinée de décembre, un peu avant Noël, il fait irruption chez moi, affamé et déguenillé. Il tombe à mes genoux. Il me supplie de ne pas l'abandonner, de lui venir en aide, de lui procurer du travail. Qu'il écrive sous son propre nom, il n'en était pas question alors pour quelque temps. Mais il ne savait rien faire d'autre qu'écrire. Je suis donc allé voir un brave éditeur plein d'humanité; je l'ai recommandé et l'éditeur, le lendemain, lui a confié la traduction d'un roman policier anglais. C'était une de ces choses bonnes pour la poubelle, dont on a honte de se salir les mains. On ne les lit pas. On les traduit, à la rigueur, mais en mettant des gants. Son titre, je m'en souviens encore aujourd'hui: Le mystérieux château du comte Vitsislav. Mais quelle importance ? J'étais content d'avoir pu faire quelque chose et lui l'était d'avoir du pain et tout heureux il s'est mis à l'ouvrage. Il a travaillé avec tant de zèle que, sans même attendre le délai fixé, au bout de trois semaines il a remis le manuscrit.

Ra tù, anh ta bổ nhào lại nhà tôi, đói meo, rách rưới. Đó mà một buổi sáng tháng chạp, ảm đạm. Anh ta quỳ sụp trước mặt tôi cầu cứu, xin tôi đừng bỏ rơi, van nài tôi tìm cho anh ta một công ăn việc làm độ nhật. Viết bài mà kí tên thật thì không được rồi, ít nhất trong một thời gian. Nhưng ngoài viết lách ra, anh ta chẳng biết làm gì nữa. Tôi chỉ còn cách chạy lại một nhà xuất bản tốt bụng. Được tôi giới thiệu, ngày hôm sau nhà xuất bản trao cho anh ta dịch một cuốn tiểu thuyết trinh thám tiếng Anh. Một cuốn tiểu thuyết sờ vào thì bẩn tay, chỉ đáng vứt vào sọt rác. Không nên đọc làm gì. Chẳng may phải dịch, thì đeo găng tay mà dịch. Nhan đề cuốn truyện, đến bây giờ tôi còn nhớ: Lâu đài bí ẩn của bá tước Vitsislav. Cái tên không quan trọng. Quan trọng là tôi hài lòng vì đã giúp được anh ta, anh ta thì hài lòng vì đã kiếm được cái cần câu cơm. Và anh ta bắt tay vào việc. Làm việc rất hăng, đến nỗi chưa hết kì hạn, chỉ ba tuần sau là anh ta đem nộp bản thảo.



J'ai été infiniment surpris quand, quelques jours plus tard, l'éditeur m'a fait savoir au téléphone que la traduction de mon protégé était totalement inutilisable et qu'il n'était pas disposé à en donner même un rotin. Je ne comprenais rien. J'ai pris une

voiture et je me suis fait conduire chez l'éditeur.

Tôi bật ngửa khi mấy ngày sau, ông chủ nhà xuất bản gọi điện thoại nói bản dịch của anh ta không ra gì cả, dứt khoát ông ta sẽ không trả một xu nhuận bút. Tôi chẳng hiểu gì hết, gọi xe đến ngay nhà xuất bản.

Celui-ci, sans un mot, me met en main le manuscrit. Notre ami l'avait joliment dactylographié, avait numéroté les pages et les avait même attachées avec un ruban aux couleurs nationales. C'était bien de lui, tout ça,, car — je crois l'avoir déjà dit — en ce qui concernait la littérature, c'était quelqu'un de sûr, d'une scrupuleuse minutie.

J'ai commencé à lire le texte. Avec des cris de ravissement. Des phrases claires, des tournures ingénieuses, de spirituelles trouvailles linguistiques se succédaient, don’t cette camelote n'était peut-être même pas digne. Ahuri, je demande à l'éditeur ce qu'il avait pu trouver à redire. Il me tend alors l'original anglais, toujours sans un mot, puis il m'invite à comparer les deux textes. Je me suis plongé dedans, je suis resté une demi-heure les yeux tantôt sur le livre, tantôt sur le manuscrit. À la fin, je me suis levé consterné. J'ai déclaré à l'éditeur qu'il avait parfaitement raison.

Không nói không rằng, ông ta đặt tập bản thảo vào tay tôi. Anh bạn của chúng ta đánh máy sạch sẽ, trang nào ra trang ấy, lại còn lấy ruybăng màu cờ tổ quốc buộc chung quanh cẩn thận. Đúng là anh ta, và – hình như tôi đã nói với các bạn rồi – về văn chương, có thể tin cậy ở anh ta được, cừ lắm. Tôi bắt đầu đọc bản dịch. Thỉnh thoảng lại xuýt xoa, thú vị. Những câu văn sáng sủa, những chỗ dịch thoát tài tình, những sáng tạo ngôn ngữ hóm hỉnh, thật là một trời một vực so với nguyên tác quá tồi tệ. Tôi ngẩn người, hỏi ông chủ nhà xuất bản phàn nàn ở chỗ nào. Không nói không rằng, ông đưa cho tôi nguyên tác bằng tiếng Anh, rồi bảo tôi so sánh với bản dịch. Tôi đọc liền nửa giờ đồng hồ, đôi măt chăm chú nhìn vào bản chính rồi sang bản dịch. Cuối cùng thì tôi ngã ngửa. Tôi nói với nhà xuất bản, ông có lý, hoàn toàn có lý.

Pourquoi? N'essayez pas de le deviner. Vous vous trompez. Ce n'était pas le texte d'un autre roman qu'il avait glissé dans son manuscrit. C'était vraiment, coulante, pleine d'art et par endroits de verve poétique, la traduction du Mystérieux château du comte Vitsislav. Vous vous trompez encore. Il n'y avait pas non plus dans son texte un seul contresens. Après tout, il savait parfaitement et l'anglais et le hongrois. Ne cherchez plus. Vous n'avez encore rien entendu de pareil. C'était autre chose qui clochait. Tout autre chose.

Vì sao? Bạn đừng đoán làm gì. Thế nào cũng trật. Không phải anh ta đã dịch nhầm một tác phẩm khác. Đúng là Lâu đài bí ẩn của bá tước Vitsislav, bản dịch trôi chảy, điệu nghệ, đôi khi đầy chất thơ. Bạn lại nhầm rồi. Không có chỗ nào anh ta dịch ngược nghĩa cả. Anh ta giỏi cả tiếng Anh lẫn tiếng Hung. Bàn đừng đoán làm gì. Chưa bao giờ bạn gặp một ca như vậy. Vấn đề ở chỗ khác. Hoàn toàn khác. Ngay tôi, cũng phải từ từ, từng bước, tôi mới nhận ra.

Moi-même, je ne m'en suis rendu compte que lentement, graduellement. Suivezmoi bien. La première phrase de l'original anglais disait ceci: L'antique château rescapé de tant d'orages resplendissait de toutes ses trente-six fenêtres. Là-haut, au premier étage, dans la salle de bal, quatre lustres de cristal prodiguaient une orgie de lumière... La traduction hongroise disait: «L'antique château rescapé de tant d'orages resplendissait de toutes ses douze fenêtres. Là-haut, au premier étage, dans la salle de bal, deux lustres de cristal prodiguaient leur orgie de lumière...» J'ai ouvert de grands yeux et j'ai continué ma lecture. À la troisième page, le romancier anglais avait écrit: Avec un sourire ironique, le comte Vitsislav sortit un portefeuille bien bourré et leur jeta la somme demandée, mille cinq cents livres sterling... L'écrivain hongrois avait traduit comme suit: «Avec un sourire ironique, le comte Vitsislav sortit un portefeuille et leur jeta la somme demandée, cent cinquante livres sterling...» J'ai été pris d'un soupçon de mauvais augure qui, hélas, dans les minutes suivantes, s'est changé en triste certitude. Plus loin, au bas de la troisième page, je lis dans l'édition anglaise: La comtesse .Éléonore était assise dans un des angles de la salle de bal, en tenue de soirée, elle portait ses bijoux de famille anciens: sur sa tête, un diadème garni de diamants hérité de sa trisaïeule, épouse d'un prince électeur allemand; sur sa gorge d'une blancheur de cygne, un collier de véritables perles au reflet opalescent, et quant à ses doigts, ils ne pouvaient presque plus bouger, tant ils portaient de bagues ornées de brillants, de saphirs et d'émeraudes... Cette description haute en couleur, je n'ai pas été peu surpris de constater que le manuscrit hongrois la rendait ainsi: «La comtesse Éléonore était assise dans un des angles de la salle de bal, en tenue de

soirée...» Rien de plus. Le diadème garni de diamants, le collier de perles, les bagues ornées de brillants, de saphirs et d'émeraudes, tout cela manquait.

Nguyên tác tiếng Anh, câu đầu viết như sau: Ngôi lâu đài cổ kính trải qua bao giông tố bão bùng hiện ra nguy nga, sáng trưng ba mươi sáu khung cửa sổ. Phía trên, ở từng lầu thứ nhất, trong gian phòng khiêu vũ, bốn chùm đèn pha lê đua nhau toả sáng... Bản dịch tiếng Hung: Ngôi lâu đài cổ kính trải qua bao giông tố bão bùng hiện ra nguy nga, sáng trưng mười hai khung cửa sổ. Phía trên, ở từng lầu thứ nhất, trong gian phòng khiêu vũ, hai chùm đèn pha lê đua nhau toả sáng... Tôi trố mắt, đọc tiếp. Trang 3, tác giả người Anh viết: Bá tước Vitsislav mỉm cười mỉa mai, rút chiếc ví dầy cộp ra và ném cho chúng số tiền chúng đòi, một nghìn năm trăm bảng Anh... Nhà văn Hung dịch thành: Bá tước Vitsislav mỉm cười mỉa mai, rút chiếc ví dầy cộp ra và ném cho chúng số tiền chúng đòi, một trăm năm chục bảng Anh... Tôi bắt đầu cảm thấy ngờ ngợ, nhưng chỉ năm phút sau, sự ngờ ngợ đã trở thành chắc chắc, và đau buồn. Vẫn ở trang 3, phía dưới, tôi đọc trong nguyên tác: Bá tước phu nhân Eleonore ngồi ở góc phòng khiêu vũ. Bà vận bộ lễ phục dạ vũ, mang trên người những nữ trang thừa kế của dòng họ: trên đầu là mũ miện gắn những hạt kim cương của bà cố, phu nhân của một hoàng thân người Đức, uỷ viên hội đồng cử tri ; quanh ngấn cổ trắng ngần như con thiên nga là chuỗi ngọc trai óng ánh trong muốt ; những ngón tay của bà gần như không động đậy được nữa vì đeo đầy những nhẫn kim cương, ngọc đỏ, ngọc lam... Đoạn văn tả thực đầy màu sắc ấy, tôi không ngạc nhiên khi đọc bản dịch: Bá tước phu nhân Eleonore ngồi ở góc phòng khiêu vũ. Bà vận bộ lễ phục dạ vũ... Vậy thôi. Mũ miện, vòng ngọc trai, nhẫn kim cương, ngọc đỏ, ngọc lam không cánh mà bay.

Comprenez-vous ce qu'avait fait notre malheureux confrère, cet écrivain si digne pourtant d'un sort meilleur? Il avait tout simplement volé les bijoux de famille de la comtesse Éléonore comme il avait dépouillé avec une légèreté tout aussi impardonnable le comte Vitsislav, pourtant si sympathique, de ses mille cinq cents livres, ne lui en laissant que cent cinquante, et soustrait deux des quatre lustres de cristal de la salle de bal, et subtilisé vingt-quatre des trente-six fenêtres de l'antique château rescapé de tant d'orages. J'étais pris de vertige. Mais ma consternation a été à son comble quand j'ai constaté, tout doute exclu, que la chose, avec un fatal esprit de suite, se retrouvait du début à la fin de son travail. En quelque lieu que sa plume ait passé, le traducteur avait causé préjudice aux personnages, et ça à peine connaissance faite, et sans égard pour aucun bien, mobilier ou immobilier, il avait porté atteinte au caractère incontestable, quasi sacré, de la propriété privée. Il travaillait de diverses manières. Le plus souvent, les objets de valeur, ni vu ni connu, avaient disparu. De ces tapis, de ces coffres-forts, de cette argenterie, destinés à relever le niveau littéraire de l'original anglais, je ne trouvais dans le texte hongrois aucune trace. En d'autres occasions, il en avait chipé une partie seulement, la moitié ou les deux tiers.

Quelqu'un faisait-il porter par son domestique cinq valises dans son compartiment de train, il n'en mentionnait que deux et passait sournoisement sous silence les trios autres. Pour moi, en tout cas, ce qui m'a paru le plus accablant — car c'était nettement une preuve de mauvaise foi et de veulerie —, c'est qu'il lui arrivait fréquemment d'échanger les métaux nobles et les pierres précieuses contre des matières viles et sans valeur, le platine contre du fer-blanc, l'or contre du cuivre, le vrai diamant contre du faux ou contre de la verroterie.

Bây giờ bạn hiểu ra hành vi ông bạn tội nghiệp của chúng ta rồi chứ? Anh ta đã chôm hết bao nhiêu vàng bạc đá quý của bà bá tước cũng như đã cầm nhầm của ông bá tước khả ái một nghìn năm bảng Anh, chỉ để lại một trăm rưởi, bốn cái chùm đèn pha lê thì khuân đi hai cái, ba mươi sáu cái cửa sổ của toà lâu đài cổ kính đã trải qua bao giông tố bão bùng thì mất biến hai mươi bốn cái. Tôi choáng váng cả người. Nỗi kinh hoàng của tôi lên tới tột đỉnh khi tôi nhận ra, không một chút nghi ngờ gì nữa, là việc này đã được tiến hành một cách nhất quán, xuyên suốt từ đầu đến cuối. Ngòi bút đi tới đâu, chưa kịp làm quen với nhân vật là dịch giả đã ra tay rồi, bất kể là bất động sản hay động sản, không coi quyền tư hữu thiêng liêng của con người ra cái gì nữa. Anh ta dùng trăm phương ngàn kế. Thường thường, các đồ vật quý giá thì đơn thuần không cánh mà bay. Chẳng hạn những tấm thảm, cái két sắt, bộ dao nĩa bằng bạc... mà tác giả đã dầy công bày biện để nâng cao giá trị văn học của nguyên bản tiếng Anh, thì trong bản Hung văn, mất tiêu. Những thứ khác, anh ta không lấy tất cả, chỉ chôm một nửa hay hai phần ba. Có người sai đầy tớ khuân năm cái va li lên toa tàu, anh ta chỉ ghi là hai, lờ luôn ba cái kia. Tệ nhất, đối với tôi – đây rõ ràng là bằng chứng cố tình chơi xấu – là anh ta đánh tráo, kim loại đá quý biến thành những chất liệu vô giá trị, bạch kim biến thành thiếc, kim cương thành kim cương giả hay thuỷ tinh.

J'ai pris congé de l'éditeur l'oreille basse. Par curiosité, je lui ai demandé le manuscrit et l'original anglais. Intrigué par la véritable énigme que posait ce roman policier, j'ai poursuivi mon enquête à la maison et dressé un inventaire exact des objets volés. De une heure de l'après-midi jusqu'à six heures et demie du matin, j'ai travaillé sans aucun répit. J'ai fini par établir que dans son égarement notre confrère, au cours de sa traduction, s'était approprié au détriment de l'original anglais, illégalement et sans y être autorisé: 1 579 251 livres sterling, 177 bagues en or, 947 colliers de perles, 181 montres de gousset, 309 paires de boucles d'oreilles, 435 valises, sans parler des propriétés, forêts et pâturages, châteaux ducaux et baronniaux, et autres menues bricoles, mouchoirs, cure-dents et clochettes, dont l'énumération serait longue et peut-être inutile.

Tôi sượng người cáo từ ông chủ nhà xuất bản. Tò mò, tôi xin luôn cả bản tiếng Anh. Về tới nhà, vẫn còn bị câu chuyện này ám ảnh, tôi tẩn mẩn ngồi kiểm kê tất cả những đồ vật bị mất cắp. Tôi làm việc một mạch từ một giờ trưa cho đến sáu giờ rưỡi sáng hôm sau. Trong cơn lầm lạc, anh bạn tôi đã biển thủ một cách phi pháp và trái phép của bản thảo tiếng Anh: 1 579 251 bảng Anh, 177 chiếc nhẫn vàng, 947 chuỗi ngọc trai, 181 cái đồng hồ bỏ túi, 309 cặp hoa tai, 435 cái vali, ngoài ra không kể những cơ ngơi, rừng rú, đồng cỏ, lâu đài công hầu bá tước và trăm thứ bà rằn khác như khăn tay, tăm xỉa răng, chuông lắc kể ra cho hết thì quá dài mà cũng không thêm gì.

Où les avait-il mis, ces biens mobiliers et immobiliers, qui n'existaient tout de même que sur le papier, dans l'empire de l'imagination, et quel était son but en les volant? Un tel examen nous entraînerait loin, aussi n'irai-je pas plus avant. Mais tout ça m'avait convaincu qu'il était toujours l'esclave de sa passion coupable ou de sa maladie, qu'il n'y avait pour lui aucun espoir de guérison et que, de la société des honnêtes gens, il ne méritait pas le soutien. Dans mon indignation morale, je lui ai retiré ma protection. Je l'ai abandonné à son sort. Depuis, je n'en ai plus entendu parler.

Bao nhiêu nhà cửa, đồ đạc, vật dụng ấy, chỉ tồn tại trên trang giấy, sản phẩm của hư cấu, anh ta để đâu, mà chôm đi không biết để làm gì ? Trả lời câu hỏi ấy sẽ đi quá xa, nên tôi xin ngưng ở đây. Điều chắc chắn là anh ta đã trở thành nô lệ của sự đam mê, của chứng bệnh trầm kha vô phương cứu chữa, xã hội không thể nào dung nạp. Giận dữ, tôi quyết định mặc kệ anh ta. Tôi đoạn giao và từ đó đến nay, không nghe nói gì về anh ta cả.




No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn